động nước ngoài và các cơ quan nhà nước trong việc tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam… Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài theo quan điể
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI -2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGỌC BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên Ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mãsố : 8 38 01 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên
số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Ngọc Bình
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BLĐTBXH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
GRDP Tổng sản phẩm trong nước địa phương
LĐNN Lao động nước ngoài
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… …1
2.Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 7
1.1.Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài…… 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài 7
1.1.2 Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài 11
1.1.3 Vai trò của pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài 13
1.2 Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam 15
1.2.1 Quá trình phát triển các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam 15
1.2.2 Các chủ thể tham gia vào quan hệ quản lý lao động theo quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam……….17
1.2.3 Một số nội dung cụ thể của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 19
1.2.3.1 Quản lý nhà nước về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với người lao động nước ngoài làm việc tại thành Phố Hồ Chí Minh…… 19
1.2.3.2.Cấp và cấp lại Giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam………20
Trang 61.2.3.3 Thu hồi giấy phép lao động đối với lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam……… 22
1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với lao động nước ngoài……… 22
1.3 Pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài của một số quốc gia và kinh nghiệm với Việt Nam 23
- Hàn Quốc………23
- Đài Loan (Trung Quốc) 25
- Malaysia 27
- Singapore 28
- Cộng hòa Liên bang Đức 489
- Cộng hòa Pháp 49
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế-xã hội, lao động – việc làm của người lao động nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh 34
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế -xã hội của thành phố Hồ Chí Minh………34
2.1.2 Khái quát về lao động- việc làm của người lao động nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh………36
2.1.3 Nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, sự phát triển của thị trường lao động đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.45 2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh 46
2.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với việc cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài theo pháp luật Việt Nam: 46
2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về thu hồi giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 49
2.2.3 Thực trạng về hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với người lao động nước ngoài 51
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh 54
2.3.1 Kết quả và nguyên nhân 54
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 576
Tiểu kết chương 2 59
Trang 7Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 61
3.1.Phương hướng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh……… 61
3.2 Giải pháp quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài từ thực tiễn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 63
3.3 Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 687
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, vấn đề di cư quốc tế là mối quan tâm của nhiều quốc gia Đối với Việt Nam thị trường lao động cũng trở nên linh hoạt
và đa dạng hơn Dòng lao động nước ngoài dịch chuyển vào Việt Nam ngày càng đông hơn, do nhiều nguyên nhân như: đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh dẫn đến nhu cầu lao động là người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng lên
và Việt Nam có nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực mới đòi hỏi người lao động nước ngoài có kinh nghiệm và có chuyên môn đảm đương công việc mà nhân lực trong nước chưa đáp ứng được
Trên thế giới, các quốc gia đã chú trọng vấn đề di cư, trong đó có di cư với mục đích làm việc và thiết lập khung pháp lý chặt chẽ quản lý lao động nước ngoài Đối với pháp luật Việt Nam, chúng ta đã có những qui định liên quan đến quản lý lao động là người nước ngoài và được hoàn thiện dần hệ thống pháp lý để đảm bảo cơ chế quản lý của cơ quan nhà nước chặt chẽ hơn Bộ luật Lao động 1994 đã tạo bước khởi đầu cho việc xác lập cơ chế quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Tiếp theo là Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002, Bộ luật Lao động năm
2012, Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2021) bổ sung, hoàn thiện các quy định về quản lý lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường công tác quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; các văn bản pháp luật được ban hành tương đối kịp thời, phù hợp, trong đó một số văn bản từng bước được bổ sung, hoàn chỉnh theo hướng tăng cường quản lý và giảm bớt thủ tục hành chính, phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, thị trường lao động luôn biến động, các yêu cầu đặt ra cho công tác phát triển nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã thúc đẩy sự gia tăng tính phức tạp và biến động của vấn đề lao động nước ngoài làm việc tại nước ta Do đó các văn bản pháp luật có liên quan cần phải được rà soát, hoàn chỉnh để phù hợp với thực
Trang 9tiễn cũng như đảm bảo quyền lợi đối với công dân nước ngoài tham gia thị trường lao động của Việt Nam Vì vậy, nhu cầu hoàn thiện pháp luật là một tất yếu trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, số lao động nước ngoài tại TP Hồ Chí Minh được cấp giấy phép còn hiệu lực và số lao động có xác nhận không thuộc diện cấp phép là 19.534 người đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà thầu Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số lượng lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động nước ngoài làm việc tại thành phố, gồm: Nhật Bản: 3.017 người (15,5%); Hàn Quốc: 3.041 người (15,5%); Trung Quốc: 1.993 người (10,2%); Anh: 1.532 người (7,8%); Đài Loan: 1.614 người (7,6%); Hoa Kỳ: 1.393 người (5,9%), Pháp: 1.014 người (5,2%),
số lao động thuộc quốc tịch khác là 3.262 người (16,69%) [20]
Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh di cư lao động quốc tế hiện nay Pháp luật về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam là hành lang pháp lý để Nhà nước thực hiện tốt vai trò và chức năng quản lý của mình Trên cơ sở phân tích thực tiễn pháp luật quản lý nhà nước về lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam, bài viết chỉ
ra những bất cập, hạn chế của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam hiện nay
Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách pháp luật phù hợp để tăng hiệu quả của quản lý nhà nước đối với lực lượng lao động này Tuy nhiên, quá trình thực hiện các văn bản pháp luật trong những năm qua đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, điều này đã làm giảm hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam trong thời gian qua
Việt Nam là quốc gia có môi trường thu hút đầu tư khá lớn, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nước ngoài du nhập ngày càng đông Nắm bắt được xu hướng tất yếu của quá trình hội nhập và di cư lao động quốc tế, cũng như vai trò của lao động nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 10Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách pháp luật phù hợp
để tăng hiệu quả của quản lý nhà nước đối với lực lượng lao động này Tuy nhiên, quá trình thực hiện các văn bản pháp luật trong những năm qua đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, điều này đã làm giảm hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam trong thời gian qua Vì vậy, nhu cầu hoàn thiện pháp luật là một tất yếu trong giai đoạn hiện nay
Với những lý do trên, Đề tài “Quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” được học viên chọn làm Đề tài luận văn
khoa học có tính cấp thiết
2.Tình hình nghiên cứu
Nội dung được chọn nghiên cứu là vấn đề nhận được sự quan tâm không nhỏ của các chuyên gia pháp lý, các chuyên gia kinh tế, các hiệp hội doanh nghiệp các nước hoạt động tại Việt Nam cũng như người sử dụng lao động Đã có nhiều bài viết
nghiên cứu liên quan đến tính pháp lý như “Một số vấn đề pháp lý về người nước
ngoài đến làm việc tại Việt Nam” của TS Lưu Bình Nhưỡng đăng tải trên Tạp chí
Luật học, Số 9/2009 [21]; bài viết mang tên “Thực trạng sử dụng lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp” của ThS Nguyễn Thị Thu Hương và ThS Nguyễn Thị Bích Thúy đăng tải trên Tạp chí Lao động và Xã hội, số 462/2013 [17]; bài viết
“Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam hiện nay” của ThS NCS Trần Thị Bích Nga (Giảng viên Khoa Chính trị - Luật, Trường Đại học Hà Tĩnh); hội thảo năm 2019 của Ban Kinh tế Trung ương về “Thực trạng và giải pháp quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam” [10]
Tác giả Phạm Mạnh Hùng với bài viết "Lao động nước ngoài tại Việt Nam - Góc nhìn khác" (Báo Điện tử, Đài Tiếng nói Việt Nam – VOV.VN, ngày 16/8/2011)
đã đề cập đến hiện tượng người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam một cách khách quan, tránh tạo ra những tâm lý cực đoan trong xã hội thực trạng lao động nước ngoài tại Việt Nam, những bất cập trong công tác quản lý và đề xuất chính sách
Trang 11với người lao động tại Việt Nam, lao động Việt Nam ra nước ngoài Tác giả Sally Baber và Max Tunon, Văn phòng Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Lao động Quốc tế với bài viết "Hội nhập ASEAN tác động đến lao động di cư Việt Nam như thế nào?" (tại trang web: www.ilo.org ngày 27/12/2013) đã đề cập đến vấn đề di
cư lao động và cơ hội khi Việt Nam gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, vai trò của
Tổ chức lao động quốc tế trong việc cam kết với Chính phủ, Tổ chức sử dụng lao động và bảo vệ người lao động di cư Tác giả Lê Quốc Lý, Lê Văn Cương (Tạp chí kinh tế và dự báo số 24 (440), tháng 12/2008) "Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề việc làm ở Việt Nam" đã đề cập đến những thuận lợi, thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề việc làm, cạnh tranh thị trường lao động Từ đó đề xuất
9 giải pháp liên quan đến sử dụng, quản lý lao động di cư vào Việt Nam và xuất khẩu lao động của Việt Nam Đề tài KX.02.01/11-15 "Vấn đề lao động người nước ngoài tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế", do TS Nguyễn Thị Lan Hương, chủ nhiệm đã nghiên cứu những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng dòng lao động nước ngoài vào Việt Nam, các yếu tố tác động và ảnh hưởng Đồng thời chỉ ra những vấn
đề đặt ra về lao động nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới đối với việc thực hiện pháp luật đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam [14] Ngoài ra, còn một số bài báo và nghiên cứu khác cũng đề cập đến tình hình lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam như: "Những điểm mới về lao động nước ngoài tại Việt Nam" của tác giả Trần Quang Minh đăng trên Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 09/3/2016; "Một số vấn đề về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần được sửa đổi" của Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội ngày 30/6/2016; "Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam" của ThS Phạm Thị Hương Giang đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ngày 28/01/2017 Những công trình nghiên cứu nêu trên đã tiếp cận một số khía cạnh của công tác quản lý lao động nước ngoài Đây là nguồn tư liệu tham khảo hữu hiệu, là cơ sở kế thừa cho những nghiên cứu tiếp theo
Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình sau: Trần Thu Hiền (2011), Pháp luật
Trang 12về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [16]; Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội, 2011; Trung tâm Quyền con người – Quyền công dân thuộc Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, PGS.TS Lê Thị Hoài Thu (Chủ biên), Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013
Mỗi bài viết, chuyên đề nghiên cứu đều đề cập một số khía cạnh trong quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, theo nhận định của học viên, về vấn
đề phân tích cụ thể đối với hoạt động quản lý nhà nước cụ thể tại một địa phương cần phải có sự quan tâm nghiên cứu chuyên sâu để có những đề xuất phù hợp cho từng địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu các quy định về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài như cấp, cấp lại giấy phép lao động và thanh tra, kiểm tra sau khi cấp giấy phép lao động từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở nghiên cứu sẽ nhận thấy được những yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý người lao động nước ngoài và từ đó có nhận định về thực trạng thực hiện pháp luật quản lý nhà nước từ thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh Từ những bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật đối với nguời lao động nước ngoài như: cấp, cấp lại giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với người lao động nước ngoài; công tác phối hợp trong việc quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh
Từ đó, có những đề xuất xây dựng, khắc phục những hạn chế, bất cập còn vướng mắc khi thực hiện pháp luật và từng bước nâng cao hiệu qủa quản lý nhà nước trong
việc thực hiện, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực về lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài, nêu việc thực hiện pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về lao động nước ngoài tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
- Phân tích, đánh giá các quy định về quản lý lao động nước ngoài nói chung
và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng; chỉ ra những bất cập, hạn chế của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể, luận văn nghiên cứu về mối quan hệ lao động mà một bên là công dân nước ngoài (gọi tắt là lao động nước ngoài) làm việc tại Việt Nam là đối tượng bị quản lý và các biện pháp nhằm quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu Các quy định của pháp luật hiện tại của Việt Nam liên quan đến việc quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu trong giai đoạn 2015-2019
- Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, luận văn không
đi sâu vào các qui định cụ thể đối với từng loại lao động nước ngoài mà chỉ đề cập tới qui định chung
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 14Phương pháp luận nghiên cứu Đề tài luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp phân tích qui phạm, phương pháp phân tích vụ việc và phương pháp mô hình hóa, điển hình hóa các quan hệ xã hội Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh
để làm rõ các vấn đề liên quan đến quản lý lao động nước ngoài giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, qua đó thấy được sự tương đồng, khác biệt của Việt Nam
và quốc tế làm luận cứ xác thực cho việc đưa ra các giải pháp khắc phục những bất cập của pháp luật hiện nay về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn làm sáng tỏ hơn những vấn đề về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài: Vừa quản lý chặt chẽ, vừa khuyến khích lao động có trình độ và tay nghề cao, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Về thực tiễn, Đề tài luận văn sẽ giúp cho cán bộ quản lý nhà nước các sở, ban ngành của Thành phố Hồ Chí Minh về các biện pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể:
- Chương 1: Khái quát chung và quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật và tăng cường
Trang 15quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, với chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng và nhà nước
ta, nhu cầu về lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam ngày càng tăng Di chuyển lao động nước ngoài là xu thế tất yếu đối với mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình tiếp nhận lao động nước ngoài đến làm việc sẽ mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam trong quá trình hội nhập Do vậy, quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài đang được đặt trước nhiều vấn đề lý luận cũng như thực tiễn cần quan tâm giải quyết [1, tr.63] Trong đó, việc làm rõ khái niệm quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một vấn đề lý luận cần làm rõ để làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
Trang 16Hiểu một cách chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [2, tr.48] Quản lý gồm quản lý đối với thế giới tự nhiên và quản lý xã hội Quản lý đối với thế giới tự nhiên là sự tác động lên các sự vật, hiện tượng thuộc về thế giới tự nhiên (như các thiết bị máy móc,
cơ thể sinh học Quản lý xã hội là sự tác động (điều khiển, chỉ đạo) của các chủ thể
là con người lên các đối tượng cũng là con người theo những cách thức và với những hình thức nhất định nhằm đạt được mục tiêu đề ra[2, tr.49] Quản lý xã hội nảy sinh tất yếu khi có hoạt động chung của nhiều người, tồn tại dưới bất kỳ xã hội nào, từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội có giai cấp Quản lý xã hội diễn ra ở nhiều phạm vi và với các hình thức, phương pháp cụ thể khác nhau trong các cộng đồng người: trong một gia đình, trong các bộ tộc, bộ lạc…hay trong các tổ chức, đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp, trong các tổ chức tôn giáo, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp và rộng lớn hơn là trong một nhà nước[3, tr.17]
Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc quản lý đối với xã hội do nhà nước đảm nhiệm Từ đó xuất hiện một hình thức quản lý xã hội mới, đó là hoạt động quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là hình thức quản lý xã hội sâu rộng nhất, quan trọng nhất, có hiệu lực và ảnh hưởng quyết định nhất đối với xã hội
Theo Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt thì quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, chỉ đạo của nhà nước (bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước) bằng quyền lực nhà nước đối với các hành vi của con người hay hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay toàn bộ nhà nước nhằm đạt được mục đích mà nhà nước đề ra[4, tr.22] Từ khái niệm này, có thể hiểu, quản lý nhà nước được tiếp cận ở hai nghĩa (tương ứng hai phạm vi), theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là sự tác động của các chủ thể mang quyền
lực nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước (bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp vận hành như một thể thống nhất nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước) [5, tr.207]
Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chính là hoạt động hành chính nhà nước hay
Trang 17đôi khi còn được gọi là hoạt động chấp hành - điều hành do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp Theo đó, quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với đối tượng quản lý của nhà nước
Ở góc độ khoa học, hiện nay có hai quan điểm phổ biến khi xác định nội hàm của khái niệm “quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài”
Quan điểm thứ nhất cho rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài là một bộ phận của quản lý nhà nước đối với người nước ngoài nói chung Theo đó, quản lý nhà nước đối với người nước ngoài là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động của người nước ngoài nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đó là hoạt động quản lý bằng pháp luật của nhà nước mà chủ yếu là bằng các luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, hướng dẫn về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, hoạt động (trong đó có lao động) của người nước ngoài tại Việt Nam Hoạt động này do nhiều
cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền cùng thực hiện
Quan điểm thứ hai cho rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài là một hoạt động quản lý nhà nước độc lập, đặc thù Ở phương diện này, nhà nước có vai trò là người tạo khung pháp lý và môi trường bình đẳng cho các chủ thể tham gia thị trường lao động hợp tác và phát huy tốt năng lực của mình Đồng thời, nhà nước còn trực tiếp đóng vai trò tổ chức để thị trường lao động phát triển Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài nằm trong hệ thống các biện pháp quản
lý nhà nước về lao động nói chung Trong đó, bản chất là tập trung vào quản lý việc tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; trình tự, thủ tục cấp phép lao động và sử dụng giấy phép lao động; trách nhiệm của người lao
Trang 18động nước ngoài và các cơ quan nhà nước trong việc tuyển dụng và quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam…
Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài theo quan điểm này là
sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các quan hệ lao động và hoạt động của người lao động nước ngoài, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành khai thác, sử dụng hiệu quả nhất nguồn lao động này nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quan điểm này đã chỉ rõ nhà nước căn cứ vào nhu cầu lao động, xác định mục tiêu và sử dụng pháp luật để tác động, điều chỉnh các quan hệ và hoạt động của nguồn lao động nước ngoài Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng và có mối quan hệ mật thiết với các khách thể quản lý khác, đặc biệt là các vấn
đề về việc làm, thị trường lao động trong nước, kinh tế, an ninh…Mục đích cần phải đạt được trong quản lý người lao động nước ngoài là khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế[1, tr.64]
Qua sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm “quản lý nhà nước đối với người
lao động nước ngoài là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật nhằm thực hiện trong đời sống hằng ngày các chức năng của nhà nước trong quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, lao động của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, ngăn chặn những vấn đề phức tạp phát sinh từ nguồn lao động nước ngoài cũng như bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ khi làm việc tại Việt Nam”
Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có các đặc điểm nổi bật sau:
Một là, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một quá trình
gắn bó chặt chẽ với việc bảo vệ quyền con người và có tính quốc tế sâu sắc Có quan điểm cho rằng về cơ bản quyền con người trong lao động là những quyền con người
Trang 19liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng Nếu hiểu mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động bao gồm các nội dung liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động thì quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là quá trình tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đến các điều kiện lao động và sử dụng lao động của những người lao động nước ngoài Như vậy có thể thấy rằng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có liên quan đến các mối quan hệ quốc tế và việc bảo vệ quyền con người Ở Việt Nam hiện nay vấn đề lao động di trú có tầm quan trọng lớn trong chính sách kinh tế và chính sách ngoại giao Thực hiện các cam kết quốc tế về lao động, hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài ở Việt Nam hướng đến bảo vệ quyền của những người lao động nước ngoài Đây là đặc điểm quan trọng không chỉ liên quan đến thiết kế chính sách, thiết lập cơ chế quản lý, xây dựng pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài mà còn liên quan đến các hoạt động tác nghiệp quản lý cụ thể
Hai là, quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài là một quá trình
liên quan tới nhiều ngành, tất cả các địa phương và nhiều quan hệ lao động Để bảo đảm người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có nhiều vấn đề quản lý nhà nước phải đặt ra như: nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, cấp phép lao động, điều kiện lao động và sử dụng lao động, việc làm, giáo dục, y tế, công đoàn, bảo hiểm xã hội,
an ninh, trật tự… Người lao động nước ngoài có thể làm việc, cư trú, đi lại, nghỉ ngơi
ở tất cả các địa phương trong cả nước và họ có thể tham gia vào nhiều quan hệ lao động khác nhau kể cả lao động giản đơn hay lao động đòi hỏi trình độ cao Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài bao gồm nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương Mỗi cơ quan
sẽ được giao thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng phù hợp với từng đặc thù trong hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
Nội dung của hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài thể hiện qua các chức năng và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước đối với
Trang 20các đối tượng này, bao gồm các hoạt động cụ thể sau: (i) xây dựng các chiến lược, chính sách, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý người lao động nước ngoài; (ii) tổ chức bộ máy và xây dựng nguồn nhân lực quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài; (iii) điều hành và hướng dẫn thi hành các hoạt động quản lý nhà nước cụ thể đối với người lao động nước ngoài; (iv) thanh tra, kiểm tra,
xử lý vi phạm pháp luật đối với người lao động nước ngoài; (v) bảo đảm tài chính và cung cấp dịch vụ công trong quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
1.1.2 Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
Ở góc độ lý luận, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội để bảo vệ lợi ích, thực hiện mục đích của giai cấp thống trị, đồng thời duy trì sự tồn tại, phát triển và vì lợi ích của cả xã hội [6, tr.77] Quan điểm khác cho rằng pháp luật là hệ thống các quy tắc có tính bắt buộc chung của pháp luật, do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế, là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp[7, tr.207]
Về mặt thuật ngữ, pháp luật được hiểu là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ
và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong các nhà nước bóc lột) [8, tr.204]
Để hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài đạt được hiệu quả đòi hỏi nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật để tạo ra các quy tắc
xử sự chung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc quản lý người lao động nước ngoài tại Việt Nam Việc xây dựng các quy định pháp luật tạo ra hành lang pháp lý vững chắc và cụ thể để các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản
lý người lao động nước ngoài với các nội dung cụ thể về thực hiện thủ tục xin giấy
Trang 21phép lao động, xác lập quan hệ lao động, thực hiện hợp đồng lao động… Qua đó góp phần bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài đạt hiệu quả
Về mặt khái niệm, “pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước
ngoài là tổng thể các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc nhà nước tác động vào đối tượng bị quản lý là những người lao động nước ngoài nhập cư vào một quốc gia để làm ăn, sinh sống với tư cách cá nhân hoặc gia đình của họ với các nguyên tắc cơ bản là tôn trọng quyền con người, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm hiệu quả kinh tế và bảo vệ việc làm của người lao động trong nước; đồng thời tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý và gắn với việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội”
Xuất phát từ tính chất quốc tế trong việc quản lý người lao động nước ngoài
có thể thấy đối tượng bị quản lý khá phức tạp với nhiều chủ thể đến từ các quốc gia khác nhau đòi hỏi trong những tình huống nhất định phải có quy chế pháp lý khác nhau để điều chỉnh Do đó có thể thấy rằng nguồn của pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài khá phong phú, có thể bao gồm: (i) Văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, điều ước quốc tế, các đạo luật và các văn bản lập pháp ủy quyền; (ii) Tiền lệ pháp cả trên bình diện quốc gia và quốc tế; (iii) Tập quán pháp (cả quốc gia và quốc tế); (iv) Học thuyết pháp lý; (v) Lẽ công bằng Các nguồn này là nơi chứa đựng các quy tắc hay tiêu chuẩn xử sự trong hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài Tuy nhiên, lĩnh vực pháp luật dành cho hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài luôn gắn chặt với chính sách của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nên các quy tắc hay tiêu chuẩn phải được giải thích theo những nguyên tắc phù hợp với các mục tiêu cụ thể nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài[9, tr.30]
Trang 221.1.3 Vai trò của pháp luật quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài
Pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có các vai trò cơ bản sau:
Một là, pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có
vai trò bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội
Người nước ngoài đến Việt Nam để xác lập quan hệ lao động bên cạnh những hữu ích mang lại cho sự phát triển kinh tế - xã hội thì trong nhiều trường hợp cũng gây ra những rắc rối về an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; không ít vụ việc những người lao động nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian lao động tại Việt Nam Một lượng lớn người lao động nước ngoài đến từ nhiều quốc gia khác nhau do vậy tiềm ẩn các nguy cơ sử dụng lao động nước ngoài để gây ảnh hưởng đến chính trị trong nước Do đó, các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài đóng vai trò lớn trong việc bảo đảm an ninh chính trị của đất nước
Bên cạnh đó, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài Hiện trạng trên thế giới người lao động di cư ồ ạt từ Bắc Phi và Trung Đông sang châu Âu cho thấy việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong quản lý lao động nước ngoài là vấn đề quốc gia tiếp nhận lao động cần chú trọng Do vậy, các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài giúp kiểm soát nguồn lao động nhập cư để loại trừ các hiểm họa về dịch bệnh, bạo lực, lao động trái phép, tệ nạn xã hội đối với xã hội trong nước
Hai là, pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài góp
phần bảo vệ việc làm của người lao động trong nước và bảo đảm hiệu quả kinh tế
Số lượng người lao động nước ngoài gia tăng đồng nghĩa với việc số lượng và
cơ hội việc làm của người lao động trong nước bị thu hẹp Vì vậy, nếu không kiểm soát nguồn lao động nước ngoài có thể tạo ra sức ép về giải quyết nhu cầu việc làm của người lao động trong nước, từ đó làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp khi
Trang 23tình trạng thất nghiệp gia tăng Không ai có thể phủ nhận việc gia tăng số lượng người lao động nước ngoài làm cho người sử dụng lao động có thêm nhiều cơ hội trong việc lựa chọn nguồn nhân lực phù hợp và thúc đẩy cạnh tranh Nhu cầu sử dụng lao động có trình độ chuyên môn cao có thể được đáp ứng qua đó cải thiện và nâng cao hiệu quả lao động, gia tăng lợi ích về mặt kinh tế Ở một số quốc gia khi cơ cấu dân số có xu hướng dịch chuyển sang dân số già thì việc thu hút người lao động nước ngoài giúp nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay cơ cấu dân số đang ở giai đoạn lý tưởng khi độ tuổi lao động chiếm tỷ
lệ cao, vì thế việc bảo đảm nhu cầu việc làm của người lao động trong nước là vấn đề nhà nước phải thực hiện Do vậy, pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài có vai trò trong việc thiết lập các điều kiện lao động của người nước ngoài tại Việt Nam, hạn chế tình trạng người lao động nước ngoài thực hiện các công việc phổ thông mà người lao động trong nước cũng có thể đáp ứng Do đó, pháp luật nước ta hiện nay chỉ khuyến khích những người lao động nước ngoài có trình độ cao để đáp ứng các công việc mà lao động trong nước chưa thể đáp ứng yêu cầu về chuyên môn hoặc người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp, thực hiện dự án đầu tư để góp phần phát triển kinh tế của đất nước
Ba là, pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài bảo
đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động nước ngoài
Điều 1 Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di
trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 quy định “Công ước này được áp dụng,
trừ khi được quy định khác sau đó, đối với mọi người lao động di trú và các thành viên gia đình họ, không có bất kỳ sự phân biệt nào như giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, quốc tịch, độ tuổi, địa vị kinh tế, tài sản, tình trạng hôn nhân, thành phần xuất thân và các địa vị khác” Bên cạnh đó, Điều 7 Công ước
này cũng nêu rõ: “Theo các văn kiện quốc tế về quyền con người, các Quốc gia thành
viên cam kết tôn trọng và bảo đảm cho người lao động di trú và các thành viên gia
Trang 24đình họ trong lãnh thổ hoặc thuộc quyền tài phán của mình được hưởng các quyền theo quy định trong Công ước này mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, quốc tịch, độ tuổi, thành phần kinh
tế, tài sản, tình trạng hôn nhân, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác” Để thực
hiện các nội dung của Công ước với tư cách là quốc gia thành viên, nhà nước ta đã
cụ thể hóa thông qua các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài, trong đó xây dựng các quy định bảo đảm quyền lao động của người nước ngoài tại Việt Nam cũng như các cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình làm việc tại Việt Nam Điều này phản ánh uy tín của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về lao động cũng như mở rộng khả năng thu hút nguồn lao động nước ngoài đến đầu tư và làm việc tại Việt Nam
1.2 Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động
nước ngoài tại Việt Nam
1.2.1 Quá trình phát triển các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với
người lao động nước ngoài tại Việt Nam
Ở nước ta, tính từ thời kỳ đổi mới năm 1986 cho đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Từ Đại hội Đảng lần thứ VI cho đến Đại hội Đảng lần thứ XII, trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn Đảng ta đều có những chủ trương, chính sách, đường lối đúng đắn, phù hợp Từ những định hướng của các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ lao động đối với người nước ngoài cư trú, làm việc tại Việt Nam Theo đó, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là văn bản đầu tiên tạo ra môi trường pháp lý cho đối tượng là người lao động nước ngoài Từ năm 1990, Luật được nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam cũng như bảo đảm các cam kết với cộng đồng quốc tế, hiện nay là Luật Đầu tư năm 2014, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và trên cơ
sở các văn bản hướng dẫn
Trang 25Đặc biệt, các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài được quy định trong các văn bản pháp luật về lao động qua các thời kỳ Đầu tiên là Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành đã đưa lao động là người nước ngoài vào một mục riêng – Mục V chương 11 với 5 điều (từ Điều 131 đến Điều 135) Tính đến nay, cơ sở pháp lý cho người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam
đã trải qua gồm: Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002,
2006, 2007) và Bộ luật Lao động năm 2012 Ngoài ra, còn có nhiều luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư có liên quan hướng dẫn về quản lý nhà nước đối với người nước ngoài lao động tại Việt Nam Có thể kể ra một số văn bản nổi bật như Cụ thể như: Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 08/7/2014 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2014; Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về LĐNN tại Việt Nam; Thông tư số 41/2014/TT-BCT ngày 05/11/2014 của Bộ Công Thương quy định căn cứ, thủ tục xác định người LĐNN di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới không thuộc diện cấp giấy phép lao động…
Theo đó, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện và điều hành phù hợp với thực tiễn địa phương, như: Quyết định
số 13/QĐ-UBND ngày 03/01/2014 về việc ủy quyền xem xét chấp nhận việc sử dụng LĐNN theo Nghị định số 102/2013/NĐ-CP của Chính phủ; Công văn số 4279/UBND-VX ngày 27/8/2014 về việc cấp giấy phép lao động cho lao động là người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam; Quyết định số 5467/QĐ-UBND ngày 06/11/2014 về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội…
Tất cả những văn bản trên đã tạo ra công cụ pháp lý hữu hiệu để các cơ quan chức năng triển khai hoạt động QLNN đối với LĐNN
Chính phủ rất quan tâm tới việc bảo vệ thị trường lao động trong nước, thể hiện qua Nghị định số 34/2008/NĐ-CP, quy định về tuyển dụng và quản lý người
Trang 26nước ngoài làm việc tại Việt Nam Tháng 6/2011, Chính phủ lại ban hành Nghị định 46/2011/NĐ-CP để bổ sung nhiều qui định mới theo hướng quản lý chặt chẽ, hợp lý hơn việc sử dụng người lao động nước ngoài Theo những văn bản trên, để đưa được người lao động vào làm việc tại Việt Nam, các tổ chức, doanh nghiệp phải tuân theo những điều kiện rất nghiêm nghặt và các thủ tục rất chặt chẽ Trách nhiệm của các ngành như Công an, Tư pháp, Công thương, Lao động-Thương binh và Xã hội, vv… cũng được quy định rất rõ ràng Như vậy, vấn đề chính nằm ở khâu thực thi pháp luật Nếu các cơ quan chức năng liên quan làm đúng và làm hết trách nhiệm, thì rất khó có kẽ hở để lao động nước ngoài bất hợp pháp lọt vào thị trường lao động Việt Nam
1.2.2 Các chủ thể tham gia vào quan hệ quản lý lao động theo quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam
Quản lý nhà nước về lao động có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra các điều kiện về môi trường pháp lý, tạo ra sân chơi cho các quan hệ lao động được xác lập, duy trì và phát triển; điều tiết các quan hệ lao động trong mọi thành phần kinh tế, trong đó đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động
Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước đối với sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, đảm bảo hiệu quả hoạt động của pháp luật lao động trong việc điều tiết các quan hệ lao động Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có tác động đến hoạt động thi hành pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Theo quy định của pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài ở Việt Nam bao gồm (Điều 235 Bộ Luật lao động năm 2012):
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính
Trang 27phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động
Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước về lao động
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình.Nhằm thu hút nguồn nhân lực nước ngoài có chất lượng cũng như tạo điều kiện cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, các văn bản pháp luật quy định việc quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ theo hướng chủ động và tăng cường quản lý
Đối tượng quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài bao gồm hai đối tượng cơ bản là người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động nước ngoài
Theo quy định người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là người
có quốc tịch nước ngoài và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc; có
đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
Không phải là người đang trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích hoặc đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật Việt Nam;
Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ trường hợp quy định tại Điều 154 của Bộ luật Lao động Việt Nam
Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam và được pháp luật Việt Nam bảo vệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
Người sử dụng lao động nước ngoài:
Sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là hành vi của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu khai thác sức lao động của công
Trang 28dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam tuân theo các điều kiện của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế
Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu chỉ được tuyển dụng người lao động nước ngoài vào làm vị trí công việc quản lý, điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh
Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân trước khi tuyển dụng người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nhà thầu trước khi tuyển và sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải kê khai cụ thể các vị trí công việc, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc, thời gian làm việc cần sử dụng lao động nước ngoài để thực hiện gói thầu và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.3 Một số nội dung cụ thể của pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
1.2.3.1 Quản lý nhà nước về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với người lao động nước ngoài:
- Quốc hội ban hàn Bộ luật Lao động năm 2012;
- Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy
định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 sửa đổi, bổ sung các Nghị định có liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binhh và
Xã hội
- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2016 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Thông tư số
Trang 2918/2018/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh tham mưu
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy chế số 13/2015/QĐ-UBND ngày 27/02/2015 về phối hợp quản lý lao động nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức, chủ đầu tư, nhà thầu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 16/2020/QĐ-UB ngày 07/07/2020 ban hành quy chế thực hiện liên thông nhóm thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 1541/QĐ-UBND ngày 01/4/2016 về việc ủy quyền xem xét chấp thuận việc sử dụng lao động nước ngoài theo nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2016 của chính phủ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 5467/QĐ-UBND ngày 06/11/2014 về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Lao Động - Thương Binh Và Xã Hội…
- Phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh tuyên truyền hổ biến pháp luật người lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh và pháp luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đến người lao động nước ngoài nước ngoài, người sử dụng lao động nước ngoài, cán bộ phụ trách lao động của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội của 24 quận-huyện
1.2.3.2.Cấp và cấp lại Giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam:
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lao động cho người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Theo quy định của Bộ luật Lao động, Điều 169, điều kiện của lao độ ng là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam
1 Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Trang 30b) Có trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc;
c) Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật ViệtNam và pháp luật nước ngoài;
d) Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ các trường hợp theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật này
2 Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác và được pháp luật Việt Nam bảo vệ
Tại Điều 151 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định 03 khoản tăng 01 khoản
so với Bộ luậ Lao động năm 2012, có sự thay đổi cơ bản về điều kiện là độ tuổi vào Việt Nam làm việc là đủ 18 tuổi trở lên, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc, có đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế…Như vậy Bộ luật Lao động quy định độ tuổi tối thiểu không quy định về độ tuổi tối đa khi người nước ngoài vào Việt Nam làm việc
Tại Điều 170 Bộ luật Lao động đã quy định về điều kiện tuyển dụng lao động
là công dân nước ngoài
1 Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu trong nước chỉ được tuyển lao động là công dân nước ngoài vào làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh
2 Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu nước ngoài trước khi tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài vào làm việc trên lãnh thổ Việt Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Điều 152 Bộ luật Lao động năm 2019 có thay đổi về tên Điều như: “Điều kiện tuyển dụng, sử dụng người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam” và tăng thêm
Trang 3101 khoản so với Bộ luật Lao động năm 2012, quy định cụ thể trách nhiệm của nhà thầu trước khi tuyển và sử dụng lao động lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Điều 175 Bộ luật Lao động xác định rõ việc cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép lao động và Điều 157 Bộ luật Lao động năm
2019 quy định nội dung tương tự như Bộ luật Lao động năm 2019 nghĩa là về mặt nội dung không thay đổi
Chính phủ quy định cụ thể điều kiện cấp, việc cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép lao động đối với lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam
Từ Điều 8 đến Điều 12 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm
2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Điều 6 và Điều 7 Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 10 năm 2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thông tư số 18/2018/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
- Cấp lại Giấy phép lao động cho người lao động nước làm việc tại Việt Nam:
Việc cấp lại Giấy phép cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam cũng được quy định rõ tại Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2016 quy
Trang 32định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, từ Điều 13 đến Điều 16
Điều 8 và Điều 10 Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 10 năm 2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thông tư số 18/2018/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
1.2.3.3 Thu hồi giấy phép lao động đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Việc thu hồi Giấy phép lao động trong những trường hợp theo luật định đã
được quy định rõ tại Điều 17 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm
2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Điều 12 Thông tư số 40/2016/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 10 năm 2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Điều 13 Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Điều 9 Thông tư số 18/2018/TT-BLĐTBXH
Trang 33ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với lao động nước ngoài
Thanh tra, kiểm tra lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được quy
định tại Khoản 5 Điều 235 Bộ luật Lao động quy định thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật Cụ thể, tại Điều 238 Bộ luật lao động quy định về Thanh tra lao động: 1) Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về lao động; 2) Việc thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng
vũ trang do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp của thanh tra chuyên ngành về lao động Tại Khoản 5 Điều 212 Bộ luật Lao động
năm 2019 quy định kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu
nại, tố cáo về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật, như vậy Bộ luật Lao động năm 2019 có sự thay đổi so với Bộ luật Lao động năm
2012 là kiểm tra trước thanh tra sau Trong quá trình kiểm tra có thể lồng ghép nội dung tuyên tuyền các quy định của pháp luật, hướng dẫn người lao động và người
sử dụng lao động tuân thủ các quy định của pháp luật, trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về lao động thì có thể chuyển cho cơ quan thanh tra lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền để xem xét xử lý theo quy định Về thẩm quyền quản
lý nhà nước về lao động của Bộ luật Lao động năm 2012 có 03 khoản thì Bộ luật Lao động năm 2019 có 04 khoản, như vậy là tăng 01 khoản so với Bộ luật Lao động năm 2012 nhưng nội dung vẫn không thay đổi
Nội dung kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu
nại, tố cáo về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật, được quy định cụ thể tại Điều 215 Bộ luật Lao động năm 2019 có sự thay đổi: về
Trang 34tên gọi như: Bộ luật Lao động năm 2012 “ Thanh tra lao động” thì Bộ luật Lao động năm 2019 “Thanh tra chuyên ngành về lao động” quy định thẩm quyền thanh tra chuyên ngành về lao động thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra Nhưng không quy định về trình tự hay là quy trình kiểm tra điều này có thể dẫn đến sự kiểm tra một cách tùy nghi gây khó khăn cho người sử dụng lao động Do đó, cần
có quy định cụ thể về chế định kiểm tra trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động năm 2019
1.3 Pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài của
một số quốc gia và kinh nghiệm với Việt Nam
Ngày 15/8/2003, Quốc hội Hàn Quốc phê chuẩn Luật cấp phép cho người lao động nước ngoài (Foreign Employment Permit Law), có hiệu lực từ 1/8/2004 Đạo luật số 6967 quy định về việc sử dụng lao động nước ngoài với mục đích đảm bảo quan hệ cung cầu về lao động thông qua việc giới thiệu và quản lý lao động nước ngoài một cách có hệ thống Lao động nước ngoài thực hiện các quy định theo Luật lao động Hàn Quốc; đồng thời, Luật xuất nhập cảnh quy định về lao động đặc biệt có trình độ cao hoặc thời gian ngắn và Luật lao động quy định lao động không cần chuyên môn cao (lao động phổ thông) và lao động là người nước ngoài nhưng có quốc tịch Hàn Quốc
Người lao động nước ngoài là người không có quốc tịch Hàn Quốc làm việc cho các doanh nghiệp hoặc công xưởng tại Hàn Quốc Luật này không áp dụng đối với thuyền viên không có quốc tịch Hàn Quốc, làm việc trên các tàu hàng hải và chủ tàu sử dụng thuyền viên đó
Trang 35Trước đây chưa có quy định về tuyển lao động nước ngoài, tại Hàn Quốc chỉ theo quy định về Luật xuất nhập cảnh, sau đó thị trường phát triển có nhu cầu tuyển lao động nước ngoài (tu nghiệp sinh) làm việc tại Hàn Quốc tương tự như tại Nhật Bản Như vậy, Hàn Quốc cho phép tuyển lao động phổ thông, khác với Việt Nam chỉ cho phép tuyển lao động theo 3 vị trí quản lý điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật Có 3 đối tượng lao động nước ngoài tại Hàn Quốc gồm: 1) lao động đặc biệt
có trình độ cao hoặc thời gian ngắn; 2) lao động không cần chuyên môn cao (lao động phổ thông), (3) lao động là người nước ngoài nhưng có quốc tịch Hàn quốc Hiện nay Hàn Quốc tiếp nhận 900.000 lao động từ các quốc gia khác nhau, trong đó
có 24.000 lao động chuyên gia
Ủy ban quản lý chính sách lao động nước ngoài được thành lập nhằm xem xét, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của hệ thống sử dụng lao động nước ngoài theo quy định của Bộ Lao động Bộ Tư pháp quản lý đối tượng lao động đặc biệt có trình độ cao hoặc thời gian ngắn Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc quản lý lao động không cần chuyên môn cao và lao động là người nước ngoài nhưng
có quốc tịch Hàn Quốc
Hội đồng thẩm định (thành viên là một số Bộ, ngành có liên quan) sẽ quyết định quy mô, định mức được tuyển lao động nước ngoài dựa trên thống kê, đánh giá từng ngành nghề, tổ chức điều tra quy mô doanh nghiệp
Doanh nghiệp muốn tuyển lao động nước ngoài thì phải ký hợp đồng lao động trước khi nhập cảnh và làm thủ tục cấp giấy phép lao động
Người sử dụng lao động phải ký hợp đồng lao động đối với lao động nước ngoài và giới hạn thời gian làm việc không quá 01 nãm Người lao động nước ngoài chỉ được phép làm việc tại Hàn Quốc tối đa là 03 năm kể từ ngày nhập cảnh và chỉ được tuyển dụng lại sau khi đã rời nước này hơn 01 năm Thời hạn của chuyên gia dưới 5 năm Nếu muốn gia hạn thêm sau 5 năm thì chuyên gia sẽ được tạo cơ hội nhiều hơn về quyền và nghĩa vụ Với việc thiếu hụt nhân lực, thời hạn làm việc của người lao động được điều chỉnh theo hướng kéo dài thời hạn làm việc, tối đa là 5
Trang 36Ngày 28/1/2014, Hàn Quốc đã sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật để kiểm soát lao động bất hợp pháp, trong đó quy định từ ngày 29/7/2014 sau khi lao động nước ngoài về nước mới nhận được tiền bảo hiểm Đồng thời, Hàn Quốc đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật để nâng cao năng lực chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài
- Đài Loan (Trung Quốc)[10, tr5-9]
Đài Loan có nền công nghiệp phát triển hiện đại, có nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, ngoài ra còn có nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ Các xí nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần tạo nên sự tăng trưởng kinh tế của Đài Loan cũng là nơi sử dụng lao động nước ngoài nhiều nhất Từ năm 1990, Đài Loan bắt đầu nhận lao động của các nước Thái Lan, Philipinnes, Indonesia, Malaysia vào làm việc và từ tháng 11 năm 1999 đến nay, Đài Loan tiếp nhận thêm lao động Việt Nam
Lao động nước ngoài làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường và
cả trong lĩnh vực giúp việc gia đình, bệnh viện và các khu điều dưỡng (khán hộ công), số lượng lao động nước ngoài thường xuyên có mặt tại Đài Loan vào khoảng trên 320.000 người Riêng Việt Nam có khoảng hơn 80.000 lao động, trong đó có gần 60.000 lao động giúp việc gia đình và khán hộ công
Trang 37Người sử dụng lao động được ký hợp đồng lao động với lao động nước ngoài mỗi lần là 2 năm, khi hết hạn, nếu muốn thuê tiếp, người sử dụng lao động được xin gia hạn thêm 1 năm nữa Những lao động làm việc tốt, không vi phạm pháp luật trong 3 năm đó có thể được ký hợp đồng làm việc ở Đài Loan thêm 3 năm nữa, nhưng phải làm thủ tục xuất cảnh về nước sau đó mới được tái nhập cảnh làm việc
Trước khi xuất cảnh sang Đài Loan, người sử dụng lao động gửi cho Công ty Việt Nam bản giới thiệu công việc và hợp đồng để người lao động ký kết Hợp đồng được ghi rõ về thời hạn, tên chủ thuê, mức lương, chi phí ăn ở, công việc địa chỉ, thời gian làm việc, các quy định bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động phải thực hiện
Về quyền khiếu nại và chấm dứt hợp đồng, người lao động có quyền khiếu nại với cơ quan lao động và có quyền chấm dứt hợp đồng nếu người sử dụng lao động hoặc các thành viên trong gia đình chủ có hành vi bạo lực, xúc phạm hoặc không trả lương theo đúng họp đồng đã ký
Luật Tiêu chuẩn lao động của Đài Loan quy định riêng đối với lao động trong nhà máy, công trường và lao động giúp việc gia đình và chăm sóc người già, bệnh tật Lao động trong nhà máy, công trường, xí nghiệp đều áp dụng chế độ làm việc mỗi ngày 8 giờ và hưởng các quyền, lợi ích theo quy định của pháp luật Trong lĩnh vực giúp việc và khán hộ công trong bệnh viện và các khu điều dưỡng, do tính chất đặc thù của công việc là phải phục vụ nên không áp dụng chế độ ngày làm 8 giờ Thời gian làm việc, nghỉ ngơi, làm thêm giờ đều căn cứ theo hợp đồng do người lao động ký Người lao động phải hoàn thành công việc được chủ thuê lao động giao, hết việc trong ngay thì được nghỉ Vì vậy, người lao động cần hiểu rõ để xác định thái độ làm việc và không được yêu cầu chủ thuê phải thực hiện theo luật
Trong vòng 15 ngày sau khi nhập cảnh vào Đài Loan, người sử dụng lao động phải làm giấy phép lao động và xin cấp thẻ cư trú cho người lao động nước ngoài Mỗi năm, người lao động phải xin giấy phép lao động và thẻ cư trú một lần
Ngày 30/01/2012, Ủy ban lao động Đài Loan công bố việc thực hiện nội dung
Trang 38sửa đổi Luật Dịch vụ việc làm, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/02/2012 Trong đó, nội dung sửa đổi điều 52 Luật này liên quan trực tiếp đến người lao động nước ngoài,
Lao động nước ngoài (bao gồm lao động phổ thông, thuyền viên tàu cá, lao động làm việc trong gia đình) có tổng thời gian làm việc tại Đài Loan không quá
12 năm; trước khi sửa đổi, thời gian này là không quá 09 năm
Việc sửa đổi này tạo thuận lợi cho người lao động nước ngoài được phép làm việc trong thời gian dài hơn ở Đài Loan
- Malaysia[10, tr9-10]
Malaysia là một nước trong khu vực Đông Nam Á thu hút nhiều lao động nước ngoài vào làm việc Đây là lực lượng lao động quan trọng trong lĩnh vực chế tạo, nông nghiệp cũng như giúp việc gia đình Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội của Việt Nam, lượng lao động Việt Nam được đưa sang thị trường Malaysia mỗi năm khoảng trên hai mươi nghìn người Từ tháng 2 năm 2002, Chính phủ Malaysia thực hiện chính sách mới về việc tiếp nhận lao động nước ngoài Theo đó, việc tuyển dụng lao động nước ngoài phải dựa trên các Hiệp định cấp Chính phủ giữa hai nước về cung ứng và tiếp nhận lao động
Thời hạn lao động của người nước ngoài căn cứ vào thời hạn hợp đồng lao động Thông thường hợp đồng có thời hạn là 3 năm, và được gia hạn tối đa không quá 02 năm đôi với lao động phổ thông và 03 năm đối với lao động có chuyên môn
Hiện nay, hàng vạn lao động nước ngoài làm việc tại Malaysia tới hơn 10
Trang 39năm, trong đó nhiều người nhập cảnh nước này hợp pháp nhưng lao động bất hợp pháp vì không có giấy phép lao động và do người sử dụng lao động làm trái hợp đồng đã ký kết Tất cả những người hết hạn thị thực có thể tham gia chương trình hồi hương tự nguyện Họ chỉ cần nộp một khoản tiền nhỏ để trở về nước, nếu không sẽ
bị bắt giam Thời hạn chót của chương trình này là 16/05/2010 Những người đã ở tới 13 năm sẽ không được xem xét cấp thị thực mới
Ngoài ra việc cưỡng bức hồi hương những lao động đã làm việc lâu năm ở Malaysia cũng sẽ là một tổn thất lớn đối với ngành sản xuất nước này bởi họ đều là những lao động lành nghề Có quan điểm cho rằng Chính phủ Malaysia nên giải quyết vấn đề trên thông qua các biện pháp ngoại giao
Về cơ bản, người lao động nước ngoài được hưởng đầy đủ các chế độ và phải
có quyền, nghĩa vụ đối với người sử dụng lao động và với nhà nước Malaysia như những lao động bản địa
- Singapore[10, tr.10-11]
Singapore là một nước có tốc độ tăng trường GDP cao so với tốc độ tăng dân
số vì vậy Singapore không đủ nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh
tế nhanh của đất nước Ngoài ra các nguyên nhân khác như sự già hóa dân số, tỷ lệ sinh thấp, xu hướng di cư ra nước ngoài v.v khiến Chính phủ Singapore bắt buộc phải khuyến khích người nước ngoài nhập cư vào Singapore và thực hiện các chính sách nhập cư lao động nước ngoài để phục vụ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là lao động chuyên môn cao Trong những năm gần đây, để đạt được mục tiêu tăng trường dài hạn thì Singapore lại thắt chặt chính sách nhập cư, giảm bớt nguồn lao động nước ngòai
Singapore đã áp dụng các Bộ luật khác nhau để quản lý và điều tiết lao động nước ngoài vào Singapore, trong đó có Luật sử dụng lao động nước ngoài (Employment of Foreign Manpower Act 1990, revised edition 2009); Theo luật này:
Người lao động nước ngoài là người nước ngoài, trừ lao động tự do, tìm kiếm hoặc được mời làm việc tại Singapore hoặc một người hay nhóm người khác mà Bộ
Trang 40trưởng có thể quy định bằng việc công bố trên công báo
Người nước ngoài có nghĩa là người không phải công dân hoặc người thường trú của Singapore
Người sử dụng lao động có nghĩa là người sử dụng lao động nước ngoài, vì mục đích theo đơn xin cấp giấy phép lao động, và bất cứ người nào dự định sử dụng người lao động nước ngoài
Người lao động nước ngoài vào làm việc phải có Giấy phép lao động Giấy phép lao động có nhiều loại căn cứ mức lương, trình độ, nghề nghiệp Nghiêm cấm việc sử dụng người lao động nước ngoài không có giấy phép lao động
Không ai được sử dụng người lao động nước ngoài trừ khi người lao động nước ngoài có giấy phép lao động có hiệu lực
Không người lao động nước ngoài nào làm việc cho người sử dụng lao động mà không có giấy phép lao động còn hiệu lực
Không ai được sử dụng người lao động nước ngoài không đúng với các điều kiện trong giấy phép lao động của người lao động nước ngoài
Ngoài ra, Bộ luật này còn quy định về các công chức chính phủ có thẩm quyền quản lý người lao động nước ngoài là Kiểm soát viên về Giấy phép lao động
và thanh tra lao động do Bộ trưởng bổ nhiệm Kiểm soát viên về Giấy phép có thầm quyền xem xét Đơn xin cấp giấy phép và quyết định cấp hoặc từ chối cấp Giấy phép
và có quyền thay đổi hoặc hủy bỏ điều kiện hiện hành với Giấy phép
Singapore xử lý rất nghiêm với lao động nhập cư bất hợp pháp Luật quy định mức phạt; thủ tục xử phạt đối với những người sử dụng lao động vi phạm quy định
về thuê người nước ngoài; người lao động nước ngoài vi phạm các quy định về làm việc tại Singapore với nhiều loại chế tài (phạt tiền, đình chỉ, hủy bỏ giấy phép lao động) và hình sự hóa các hành vi vi phạm với hình thức phạt tiền nặng và án tù
Quy định rõ việc xử lý vi phạm pháp luật của lao động nước ngoài không được có sự can thiệp của các nghiệp đoàn đại diện cho người lao động