Mục đích nghiên cứu Thông qua so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩacủa các từ ngữ chỉ hoa cũng như các hướng nghĩa biểu trưng của các thànhngữ, tục ngữ, ca dao có ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THỦY CHUNG
ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THỦY CHUNG
ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9 22 90 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS HÀ QUANG NĂNG
2 TS PHẠM HIỂN
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sửdụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trêncác trang thông tin điện tử theo Danh mục tài liệu tham khảo của luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thủy Chung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.1 Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa trên thế giới 9
1.2 Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa ở Việt Nam 10
2 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án 13
2.1 Lý thuyết về từ và nghĩa của từ 13
2.1.1 Từ 13
2.1.2 Nghĩa của từ 21
2.1.3 Thành ngữ, tục ngữ và ca dao 31
2.2 Một số vấn đề về quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 32
2.2.1 Khái niệm về văn hóa 32
2.2.2 Đặc điểm văn hóa Anh và Việt 32
2.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 33
2.3 Lý thuyết về định danh từ vựng 35
2.3.1 Khái niệm định danh 35
2.3.2 Đơn vị định danh 37
2.3.3 Cơ chế định danh của đơn vị định danh phái sinh (định danh bậc 2) 38
2.3.4 Biến thể định danh 38
2.4 Lý thuyết về đối chiếu ngôn ngữ 39
2.4.1 Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu 39
2.4.2 Các bình diện đối chiếu ngôn ngữ 39
2.4.3 Các phương pháp đối chiếu 40
2.4.4 Các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42
Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO, ĐỊNH DANH VÀ NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 43
2.1 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 43
2.1.1 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh 43
Trang 52.1.2 Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt 46
2.1.3 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 49
2.2 Đặc điểm định danh từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 51
2.2.1 Tính có lý do và không có (hoặc chưa rõ) lý do đặt tên của tên gọi 51
2.2.2 Đặc điểm định danh tên gọi các loại hoa trong tiếng Anh 52
2.2.3 Đặc điểm định danh tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt 58
2.2.4 Các biến thể tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 64
2.2.5 Đối chiếu đặc trưng dùng để định danh tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 70
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 80
2.3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh 81
2.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt 87
2.3.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 95
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 102
Chương 3: ĐỐI CHIẾU NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO CÓ CHỨA THÀNH TỐ HOA VÀ TÊN GỌI CÁC LOÀI HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 104
3.1 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố flower và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh 104
3.1.1 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Anh chứa thành tố “flower” (hoa) 104
3.1.2 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Anh chứa tên gọi các loài hoa 108
3.2 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt có chứa thành tố hoa và tên gọi các loài hoa 121
3.2.1 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa 121
3.2.2 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt có chứa tên gọi các loài hoa 133
Trang 63.3 Đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 141
3.3.1 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố
“flower” trong tiếng Anh và “hoa” trong tiếng Việt 143
3.3.2 Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 144
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tên gọi hoa trong tiếng Anh xét về mặt cấu tạo 45
Bảng 2.2: Tên gọi hoa trong tiếng Việt xét về mặt cấu tạo 47
Bảng 2.3: Bảng các kiểu định danh tên gọi các loại hoa trong tiếng Anh 53
Bảng 2.4: Bảng các kiểu định danh tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt 59
Bảng 2.5: Bảng so sánh các kiểu định danh tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 70
Bảng 2.6: Bảng tổng kết thống kê các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa trong tiếng Anh 86
Bảng 2.7: Bảng tổng kết thống kê các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa trong tiếng Việt 93
Bảng 2.8: Bảng so sánh đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 95
Bảng 3.1: Bảng đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa” và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 142
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Tam giác ngữ nghĩa của S.Ullmann
Sơ đồ 1.2: Tháp nghĩa hình học không gian của Đỗ Hữu Châu
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng nghiên cứu các lớp từ hay các nhóm từ ngữ trong ngôn ngữhọc dưới nhiều góc độ như ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng v.v đã được pháttriển từ rất lâu và có những đóng góp lớn cho thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, đặcbiệt là các nghiên cứu liên quan đến đối chiếu các lớp từ giữa các ngôn ngữ
Từ ngữ chỉ hoa có số lượng khá lớn và mang ý nghĩa phong phú, đadạng nên chúng trở thành đối tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu
từ nhiều góc độ và bình diện Trên thế giới, có các nghiên cứu theo đườnghướng khác nhau về hoa Dưới góc độ văn hóa, tác giả Huss et all (2017) đãnghiên cứu về các loài hoa (với các cách tri nhận khác nhau) được khái quáthóa như thế nào trong một nền văn hóa Về góc độ tâm lý, tác giả Haviland-Johns et all (2005) đã thực hiện các nghiên cứu khác nhau và chỉ ra hoa là mộtyếu tố mang lại cảm xúc tích cực mạnh mẽ Trong nghiên cứu củaFrownfelter (2010), các loài hoa được sử dụng như một cách nói ẩn dụ để giảiquyết những vấn đề cảm xúc có liên quan đến chủ đề giới tính nữ Ở ViệtNam, cũng có nhiều nghiên cứu về hoa chủ yếu theo góc độ ngữ nghĩa học,đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Cao Thị Thu (1995) đã xác định đượcnhững đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của tên gọi thực vật trong trường từvựng tên gọi thực vật, trong đó có đề cập tới từ chỉ hoa Lê Thị Kim Dung(2019) nghiên cứu làm rõ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và phương thứcchuyển nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán, so sánh với tiếng Việt.Ngoài ra có các nghiên cứu khác về trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ hoa sửdụng ngữ liệu nghiên cứu là các loại hình văn học dân gian như Hà Thị QuếAnh (2007); Trần Hạnh Nguyên (2014) v.v Như vậy, chưa có nghiên cứu nào
về nhóm từ chỉ hoa có đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt
Về mặt thực tiễn, người học, người sử dụng ngôn ngữ gặp nhiều khókhăn trong việc học và dịch các từ và cụm từ vì phương thức cấu tạo từ, cụm
từ, đặc điểm ngữ nghĩa của chúng phức tạp, gồm nhiều tầng bậc Nghiên cứuđối chiếu về khả năng tạo từ, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữchỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng
và khác biệt về đặc điểm văn hóa giữa hai cộng đồng ngôn ngữ sẽ giúp choviệc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và dịch thuật được thuận lợi hơn
Trang 11Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt” cho luận án của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩacủa các từ ngữ chỉ hoa cũng như các hướng nghĩa biểu trưng của các thànhngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để làmsáng tỏ những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đồng thời chỉ rađược các yếu tố văn hóa, đặc điểm tư duy của cộng đồng người sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt có thể tác động đến sự tương đồng và khác biệt này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoa dưới các góc độ khác nhau nóichung và nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa nói riêng ở trong nước và trên thế giớinhằm tổng hợp, đánh giá những kết quả nghiên cứu đã đạt được, từ đó xácđịnh những vấn đề, nội dung còn bỏ ngỏ (khoảng trống nghiên cứu) để tiếp tục nghiên cứu;
Xác lập một khung lý thuyết để làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề được đặt ra trong luận án;
Miêu tả cấu tạo, phân tích đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa
và nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt;
Đối chiếu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, đặc điểm ngữ nghĩa
và ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đơn vị từ ngữ chỉ hoa trongtiếng Anh và tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Vì từ ngữ về hoa có số lượng rất lớn biểu thị các phương diện khácnhau của hoa, chẳng hạn bao gồm các từ ngữ biểu thị: màu sắc của hoa, bộphận của hoa, đặc tính, trạng thái của hoa, tên gọi các loài hoa bởi vậy trongkhuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ giới hạn tập trung vào các từ ngữ là tên
Trang 12gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Mặc dù vậy, khi nghiên cứu vềtên gọi các loài hoa, luận án không đề cập đến phương diện từ nguyên, nguồngốc…mà chỉ tập trung nghiên cứu các bình diện sau:
+ Cấu tạo các đơn vị từ vựng trong tiếng Anh và tiếng Việt dùng để gọitên các loài hoa;
+ Phương thức định danh: Tìm hiểu cơ chế hay các đặc trưng được chọn để gọi tên hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt;
+ Đặc điểm ngữ nghĩa: phân tích thành tố nghĩa để phân giải lời địnhnghĩa từ điển thành các nét nghĩa khu biệt hay còn gọi là nghĩa vị, phản ánhnhững đặc trưng cơ bản của đối tượng được biểu thị;
+ Ý nghĩa biểu trưng: từ khối liệu thành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa thành tố hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án chỉ ra các hướng nghĩa biểu trưng trong hai ngôn ngữ, đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa và tư duy trong mỗi cộng đồng người sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt.
4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện được các nhiệm vụ đặt ra của luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp miêu tả: Đây là phương pháp nghiên cứu để miêu tả đặc
điểm cấu tạo, định danh, ngữ nghĩa và nghĩa biểu trưng của từ ngữ thuộctrường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ hoa xuất hiện trong ngữ cảnh là các câu thànhngữ, tục ngữ và ca dao trong tiếng Anh và tiếng Việt
Phương pháp đối chiếu: Đây là phương pháp nghiên cứu chính để giải
quyết các vấn đề của luận án Luận án sử dụng phương pháp đối chiếu haichiều Phương pháp này được sử dụng để tìm ra sự giống nhau và khác nhaumang tính đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa và tư duy ở người Anh và người Việtthông qua các từ ngữ chỉ hoa
Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Đây là phương pháp được sử
dụng để phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ các loài hoa để pháthiện các nét nghĩa/ nghĩa vị khu biệt, từ đó tìm ra nét nghĩa làm cơ sở cho sựchuyển nghĩa và sự biểu trưng hóa được thể hiện trong ca dao, thành ngữ, tụcngữ tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 13Thủ pháp thống kê phân loại: Các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ có
những đặc trưng về chất mà còn có cả đặc trưng về lượng nên thủ pháp thống
kê phân loại được sử dụng nhằm thống kê và phân loại các từ ngữ chỉ các loàihoa và các ý nghĩa của chúng trong từ điển giải thích tiếng Anh, từ điển giảithích tiếng Việt, từ điển, sách báo và các trang mạng để làm ngữ liệu cho việcnghiên cứu đối chiếu của luận án
4.2 Ngữ liệu nghiên cứu
Để có ngữ liệu đối chiếu trong luận án, chúng tôi thu thập và phân chiangữ liệu của luận án thành hai nhóm chính: nhóm ngữ liệu 1 gồm các từ ngữchỉ tên gọi loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt; nhóm ngữ liệu 2 là cácthành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa từ hoa và tên các loài hoa trong tiếngAnh và tiếng Việt Các nhóm ngữ liệu này được dùng vào các mục đích sau:
Nhóm ngữ liệu 1: được sử dụng vào việc khảo sát, miêu tả và phân tích
đặc điểm cấu tạo từ, đặc điểm định danh, biến thể định danh và đặc điểm ngữnghĩa của các từ ngữ chỉ tên loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Nhómngữ liệu này bao gồm 347 từ ngữ chỉ tên hoa trong tiếng Anh và 355 từ ngữchỉ tên hoa trong tiếng Việt được thu thập từ các nguồn từ điển giải thích, từđiển sinh học, từ điển trực tuyến, từ điển, sách, báo và các trang mạng về hoa
và nghệ thuật cây cảnh (Xem phụ lục I và II)
Đặc biệt, đối với từ điển ngữ văn (từ điển giải thích), ngoài việc thuthập từ ngữ chỉ các loài hoa, luận án còn sử dụng định nghĩa tên các loài hoatrong từ điển giải thích để phân tích các nét nghĩa hay nghĩa vị Do các nguồn
từ điển hiện nay khá đa dạng nên luận án sử dụng các định nghĩa trong từ điển
của Oxford Advanced Learner’s Dictionary, Nxb ĐH Oxford, tb 2015 và Từ
điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb Từ điển Bách Khoa, 2012).
Nhóm ngữ liệu 2: được sử dụng để phân tích và làm rõ các hướng biểu
trưng của từ hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Do ngữnghĩa liên tưởng được đặt trong bối cảnh nên ngữ liệu chúng tôi thu được làcác thành ngữ, tục ngữ và ca dao gồm 75 thành ngữ, tục ngữ và ca dao trongtiếng Anh và 156 thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong tiếng Việt Nhóm ngữ liệunày được thu thập từ các nguồn từ điển thành ngữ, tục ngữ trực tuyến, từ điểnthành ngữ, tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt và kho tàng ca dao (Xem phụ lụcIII và IV)
Trang 14Tiêu chí thu thập ngữ liệu: Để có nguồn ngữ liệu chính xác và đầy đủ,
luận án căn cứ vào định nghĩa của từ hoa trong từ điển sinh học, từ điển giảithích tiếng Anh và tiếng Việt để thu thập:
Trong thực vật học, hoa (phương ngữ miền bắc) hay bông (phương ngữ
miền nam) là bộ phận chứa cơ quan sinh sản, đặc trưng của thực vật có hoa,
cụ thể là một chồi rút ngắn mang những lá biến đổi làm chức năng sinh sảncủa cây Về mặt cấu trúc thực vật học, hoa là một dạng cành đặc biệt Các loàihoa chiếm một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của conngười, và một số (chẳng hạn như sen, đào và hồng) mang ý nghĩa văn hóa vàbiểu tượng rộng rãi
Theo Advanced Learner’s Dictionary (2015), flower (hoa) có các nghĩa sau: 1 The coloured part of a plant from which the seed or fruit develops.
Flowers usually grow at the end of a stem and last only a short time (Bộ phận
có màu sắc của cây mà từ đó hạt hoặc quả phát triển) 2 A plant grown for the
beauty of its flowers (Một cây được trồng để lấy hoa đẹp) 3 A flower with its stem that has been picked as a decoration (Một bông hoa có cuống được hái
để trang trí)
Theo Hoàng Phê (2012), hoa được định nghĩa như sau: 1 Cơ quan sinh
sản hữu tính của cây hạt kín, thường có màu sắc và hương thơm 2 Cây trồng
để lấy hoa làm cảnh 3 Vật có hình đẹp tựa như bông hoa 4 (id) Hoa tai (nói tắt) 5 (kng) Đơn vị đo khối lượng, bằng một phần mười lạng, ngày trước được đánh dấu hoa thị trên cán cân 6 (dùng phụ sau d) Hình hoa trang trí 7 (kết hợp hạn chế) Dạng chữ đặc biệt, to hơn chữ thường, thường dùng ở đầu câu và đầu danh từ riêng.
Trên cơ sở định nghĩa về hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án sẽ
khảo sát và thống kê số lượng từ ngữ chỉ tên hoa theo hai tiêu chí:
1 Cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín, thường có màu sắc và hương thơm như: lotus (hoa sen), cherry blossom (hoa anh đào), peach blossom (hoa
đào) và hoa bưởi, hoa khế, hoa sen v.v.
2 Cây trồng để lấy hoa làm cảnh như: orchid (hoa lan), rose (hoa hồng), lily
(hoa loa kèn) và hoa hồng, hoa lan, hoa thược dược v.v.
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thu được 75 thành ngữ, tục ngữ và cadao chứa thành tố “flower” và tên các loài hoa trong các từ điển thành ngữ,
Trang 15tục ngữ và sách về ca dao, dân ca trong tiếng Anh Trong tiếng Việt, hoa vàtên gọi các loài hoa xuất hiện rất nhiều trong loại hình văn học dân gian nhưthành ngữ, tục ngữ và đặc biệt là ca dao, vì vậy luận án thu thập cả thành ngữ,tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa và tên các loài hoa và chúng tôi thu được
156 thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố “hoa” và “tên các loài hoa” từ
các từ điển thành ngữ, tục ngữ và kho tàng ca dao người Việt Đối với các ngữliệu này (thành ngữ, tục ngữ và ca dao) trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận ánchỉ khảo sát thống kê những thành ngữ, tục ngữ và những câu ca dao có chứa
tên các loài hoa và bộ phận của hoa như: màu sắc của hoa, cánh hoa, búp
hoa, bông hoa v.v.
4.3 Phương pháp thu thập ngữ liệu nghiên cứu
Nguồn ngữ liệu phục vụ cho luận án được tiến hành thu thập trongkhoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 4/2018 đến tháng 10/2018) Cách thức thuthập ngữ liệu được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Tìm tất cả tên các loài hoa và định nghĩa của chúng trong các
từ điển giải thích, từ điển về hoa, sách báo, tạp chí bằng tiếng Anh và tiếng
Việt… Đánh từ khóa chỉ tên các loài hoa như rose hay hoa hồng trên các
trang mạng về hoa và cây cảnh Khi thu thập ngữ liệu luôn dựa trên tiêu chí
đã đặt ra
Bước 2: Tìm tất các thành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa thành tố flower và thành tố hoa hay tên các loài hoa trong các từ điển thành ngữ, tục
ngữ bằng tiếng Anh và tiếng Việt và trong kho tàng ca dao, dân ca Anh và
Việt Đánh các từ khóa flower và hoa hay cụm từ khóa các thành ngữ tục ngữ
có chứa từ flower, hoa và tên các loài hoa trên các trang mạng để thực hiện
việc tìm kiếm
Bước 3: Thống kê và phân tích đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ tên
các loài hoa dựa trên tiêu chí của từ đơn, từ ghép, từ phái sinh, từ láy và các
cụm từ (ngữ) Phân tích đặc điểm định danh trong tiếng Anh dựa trên từ điển
chí hay đặc trưng đã được xác định trong nghiên cứu cách định danh thực vậtgiữa các ngôn ngữ Nga, Anh và Kazakstan của G.I.Ujukbaeva Các tiêu chí
đó bao gồm: 1 Hình thức (a Các sự vật khác, b Động vật, c Bộ phận cơ thể
động vật, d Bộ phận cơ thể người); 2 Màu sắc; 3 Kích cỡ; 4 Số lượng bộ
Trang 16phận; 5 Ứng dụng trong đời sống; 6 Ứng dụng trong y học; 7 Nơi sinh trưởng; 8 Mùi; 9 Vị và 10 Thuộc tính khác Trong tiếng Việt, hiện nay chưa
có từ điển từ nguyên nên việc xác định đặc trưng định danh tên các loài hoachủ yếu dựa vào các tiêu chí trong kết quả nghiên cứu của G.I.Ujukbaeva vàđặc tính vốn có của sự vật hiện tượng Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa dựa trêncác định nghĩa tên các loài hoa trong từ điển giải thích tiếng Anh và tiếng Việt
để xác định nét nghĩa hay nghĩa vị khu biệt như nét nghĩa phân loại, màu sắc,
hình thức/cấu tạo, kích cỡ v.v.
Bước 4: Nhập các ngữ liệu vào phần mềm máy tính để phân tích số
liệu, tính tỷ lệ phần trăm (%)
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đối chiếu có hệ thống và chuyên sâu vềnhóm từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ở bình diện cấu tạo, định danh vàngữ nghĩa Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp một phần nhất định vàoviệc nghiên cứu lý thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu cũng như đối chiếu mộtnhóm từ ngữ cụ thể giữa các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ khác nhau Trên
cơ sở phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ, đặc điểm định danh và ngữnghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án sẽ chỉ ra sựtương đồng và khác biệt trong cách tạo từ, định danh và ngữ nghĩa của các từngữ chỉ các loài hoa trong hai ngôn ngữ, từ đó rút ra một số đặc trưng văn hóacủa ngôn ngữ và tư duy của hai cộng đồng người Anh và Việt
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần vào việc nghiên cứumột số vấn đề lý thuyết về nghĩa và nghĩa biểu trưng của một nhóm từ trongcác ngôn ngữ thuộc loại hình khác nhau Chính sự đối chiếu ngữ nghĩa nóichung, nghĩa biểu trưng nói riêng của các từ ngữ chỉ các loài hoa trong tiếngAnh và tiếng Việt có thể giúp thấy được một số đặc trưng văn hóa - dân tộctrong ngôn ngữ và tư duy của hai cộng đồng người Anh và Việt Do vậy, cáckết quả nghiên cứu đã góp thêm tiếng nói khẳng định vai trò của lí thuyết vềngữ nghĩa chưa phải đã lỗi thời mà vẫn có giá trị đối với việc nghiên cứu từvựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ
Trang 176.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đối chiếu nhóm từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếngViệt có đóng góp thiết thực cho thực tiễn giảng dạy tiếng Anh cho người Việt
và dạy tiếng Việt cho người Anh với tư cách là những ngoại ngữ Đồng thời,
nó cũng giúp cho việc phân tích, bình giá các từ ngữ chỉ hoa xuất hiện với tưcách là những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương bằng tiếng Anhhay tiếng Việt
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án cũng phục vụ cho công tácbiên, phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh – Việt, Việt – Anh
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cụcluận án bao gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Trong
chương này, các nghiên cứu liên quan đến các nhóm từ và nhóm từ chỉ hoađược tổng hợp và phân tích Một số vấn đề lý luận chung về từ, cụm từ, nghĩacủa từ, định danh, ngôn ngữ học đối chiếu, văn hóa cũng được trình bày trongchương này
Chương 2 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩa của
từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này xác định đặc
điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa giữa haingôn ngữ Anh và Việt, sau đó được so sánh dựa trên các đặc điểm văn hóadân tộc
Chương 3 Đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương 3 tập trung phân tích sự kết hợp của flower (hoa) và tên các loài
hoa với các yếu tố khác trên trục ngữ đoạn nhằm làm rõ các hướng nghĩa biểutrưng của thành ngữ, tục ngữ và ca dao chứa thành tố hoa và tên các loại hoatrong tiếng Anh và tiếng Việt Mỗi tiểu loại được so sánh đối chiếu để tìm racác điểm tương đồng và khác biệt; lý giải sự tương đồng và khác biệt này dựatrên các đặc trưng văn hóa dân tộc
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa trên thế giới
Trên thế giới, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về các nhóm từ
ngữ chỉ màu sắc; chỉ khái niệm sắc đẹp; nhóm các từ ngữ về ánh sáng và
bóng tối v.v và có một số nghiên cứu cụ thể về nhóm từ ngữ chỉ hoa dưới các
góc độ khác nhau
+ Nghiên cứu dưới góc độ văn hóa:
Một nghiên cứu tiêu biểu ở góc độ này là của Huss et all (2017) với đề
tài “The meaning of Flowers: A Cultural and Perceptual Exploration of
Ornamental Flowers” (Ý nghĩa của các loài hoa: Một nghiên cứu theo hướng
văn hóa và tri nhận về các loài hoa trang trí) Trong công trình này, các tác giả
đã tìm hiểu các loài hoa khác nhau (với các cách tri nhận khác nhau) đượckhái quát hóa như thế nào trong một nền văn hóa Họ đã sử dụng phươngpháp kết hợp để điều tra sở thích của 150 khách thể đối với 4 loại hoa khácnhau, khai thác lý do tại sao họ chọn những loài hoa đó Các tác giả còn điềutra cách tri nhận của khách thể về khái niệm hoa nói chung và so sánh nó vớihình tròn tượng trưng cho tôn giáo của vũ trụ Từ đó, các tác giả chuyển sangcác lý thuyết về tâm lý, tri nhận và văn hóa thông qua việc sử dụng bản đồkhái niệm (concept – map) để tiếp cận những hiểu biết văn hóa về các loài hoa
cụ thể Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tất cả 4 loài hoa đều được lựa chọnngang nhau như là sự lựa chọn đầu tiên vì vậy tác giả đã giới thiệu khái niệm
phổ quát về hoa đó là làm tăng thêm sự bình tâm và hạnh phúc của con người Khái niệm hoa được xếp hạng cao hơn so với hình tròn tượng trưng cho tôn giáo của vũ trụ vì hoa đem lại niềm hạnh phúc còn hình tròn tượng trưng chỉ
mang lại sự quan tâm Các loài hoa cũng được xếp hạng và phân biệt theo ýnghĩa văn hóa mà các yếu tố hình ảnh khác nhau của chúng gợi lên trong bốicảnh văn hóa của đất nước Do Thái Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng cómối tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố nhận thức phổ quát và yếu tố văn hóa
cụ thể liên quan đến các loài hoa Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy một khái
niệm trung tâm về hoa (flower) bao quát hơn các ý nghĩa văn hóa cụ thể của
các loài hoa
Trang 19+ Nghiên cứu dưới góc độ tâm lý:
Công trình đầu tiên nghiên cứu về hoa từ góc độ tâm lý là của nhóm tác
giả Haviland-Jones et all (2005) thuộc Khoa tâm lý và di truyền học trường
đại học New Jersey “An Environmental Approach to Positive Emotion:
Flowers” (Một nghiên cứu theo cách tiếp cận môi trường đối với cảm xúc tích
cực: Các loài hoa), trong đó các tác giả đã thực hiện ba nghiên cứu khác nhau
và chỉ ra hoa là một yếu tố mang lại cảm xúc tích cực mạnh mẽ Trong nghiên cứu thứ nhất, kết quả cho thấy hoa, khi được tặng cho những người phụ nữ,
luôn tạo ra cho họ nụ cười thực sự (true smile) Những người phụ nữ nhận
hoa được cho rằng có tâm trạng tích cực hơn cho đến ba ngày sau đó Trong
nghiên cứu thứ hai, một bông hoa được tặng cho những nam giới hay phụ nữ
trong thang máy thì đều tạo ra những ứng xử xã hội tích cực hơn là các yếu tố
kích thích khác Trong nghiên cứu thứ ba, hoa được tặng cho những người già
(trên 55 tuổi), kết quả cho thấy những người già cũng có tâm trạng tích cực và
cải thiện được trí nhớ Có thể nói hoa có những tác động tức thì hay tác động
lâu dài đến đến phản ứng cảm xúc, tâm trạng, hành vi xã hội và thậm chí cả trínhớ đối với cả nam giới và nữ giới Hiện nay, có rất ít lý thuyết trong cácngành học có thể giải thích được những phát hiện này Tác giả cũng cho rằng
hoa rất hữu ích bởi vì chúng đã tiến hóa để nhanh chóng tạo ra những cảm
xúc tích cực ở loài người
Ngoài ra, Frownfelter (2010) có công trình nghiên cứu “Flower
Symbolism as Female Sexual Metaphor’ (Biểu tượng hoa trong ẩn dụ giới tính nữ) Trong nghiên cứu này, qua những bức tranh màu nước tác giả vẽ từ năm
2009 đến 2010, Frownfelter đã sử dụng các loài hoa như một cách nói ẩn dụ để
giải quyết những vấn đề và cảm xúc có liên quan đến chủ đề giới tính nữ
1.2 Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường
từ vựng ngữ nghĩa nói chung và từ ngữ chỉ hoa nói riêng Các công trìnhnghiên cứu chủ yếu dưới góc độ ngữ nghĩa học và cú pháp học
+ Dưới góc độ ngữ nghĩa học
Nghiên cứu trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt, tác giảCao Thị Thu (1995) đã chỉ ra được những đặc điểm định danh và ngữ nghĩacủa tên gọi thực vật trong trường này, trong đó cũng đề cập đến từ chỉ hoa
Trang 20Cao Thị Thu còn tìm hiểu đặc điểm dân tộc của cách định danh thực vật trongtiếng Việt và có đối chiếu với một số ngôn ngữ Anh, Nga, Kazakstan Trái lại,
nghiên cứu về “Khả năng liên tưởng nghĩa của từ hoa trong truyện Kiều”,
Phan Thị Huyền Trang (2007) không đi sâu nghiên cứu về đặc điểm địnhdanh và đặc điểm ngữ nghĩa của hoa và đối chiếu giữa các ngôn ngữ, mà đisâu phân tích, lý giải sự lan toả ý nghĩa của từ “hoa” từ tâm ra ngoại vi, cũngnhư sợi dây gắn kết về ngữ nghĩa từ ngoại vi hướng về tâm Đồng thời tác giảcũng phác thảo phần nào cơ chế sản sinh khái niệm, cơ chế sản sinh ý nghĩamới của một từ qua tương tác ngữ cảnh, cũng như cơ cấu tổ chức từ vựngtrong ngôn ngữ Theo đó, từ “hoa” trong “Truyện Kiều” xuất hiện 133 lần với
3 tư cách khác nhau: Hoa với tư cách là yếu tố cấu tạo từ: tài hoa, hào hoa,
phồn hoa (7 trường hợp), Hoa với tư cách là từ nhân danh: con Hoa, Hoa Nô
(4 trường hợp) và Hoa với tư cách là một thực từ với sự hội tụ đầy đủ hai mặt
biểu đạt - được biểu đạt và khả năng hoạt động độc lập: 122 trường hợp Trên
cơ sở đó tác giả tìm hiểu khả năng liên tưởng nghĩa của từ “hoa” dưới góc độngôn ngữ - văn hoá Nguyễn Thị Thanh Hường (2014), trong luận văn thạc sỹ
của mình “Trường từ vựng ngữ nghĩa về hoa và mẹ trong thơ Dương Kiều
Minh” đã khảo sát sáu tiểu trường từ vựng về hoa được nói đến trong thơ
Dương Kiều Minh đó là: trường từ vựng về các loài hoa, trường từ vựng về
đặc điểm, tính chất hoa, trường từ vựng về thời gian và không gian hoa xuất hiện, trường về danh từ đơn vị dùng để chỉ hoa, trường về các bộ phận của hoa và tiểu trường các từ chỉ trạng thái của hoa Trường từ vựng về các loài
hoa là một trường từ vựng lớn, phong phú nhất trong trường từ vựng về hoatrong tác phẩm của Dương Kiều Minh Tác giả cũng cho rằng ngoài trường từvựng về các loài hoa thì trường từ vựng về đặc điểm, tính chất cũng là mộttrường khá tiêu biểu, với rất nhiều từ nói về hình dáng hoa, kích thước hoa,hương hoa, màu sắc hoa được nhà thơ miêu tả rất chi tiết cụ thể Tiếp đến làtrường từ vựng về thời gian và không gian hoa xuất hiện, tác giả đã thống kêvới 161 từ chỉ không gian, thời gian xuất hiện 302 lần Dương Kiều Minh đãđưa vào trong thơ mình cả một kho từ vựng về thời gian hoa nở, không gianhoa xuất hiện trong thiên nhiên Bên cạnh đó, trường từ vựng về hoa còn cócác tiểu trường khác như các danh từ đơn vị dùng để chỉ hoa, trường các bộphận của hoa và trường về trạng thái của hoa Đây cũng là những trường từ
Trang 21phong phú gồm nhiều hệ thống từ khác nhau, số lượng từ lớn, tạo thành mộttập hợp từ miêu tả về hoa đầy đủ, chi tiết, giàu hình ảnh sắc thái về thiênnhiên hoa cỏ trong thơ Dương Kiều Minh Tiếp đó tác giả đi phân tích, bìnhluận về vai trò của trường từ vựng về hoa thể hiện trong thơ Dương KiềuMinh Nó đã góp phần thể hiện bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, và góp phầnthể hiện tình cảm, tâm trạng của tác giả trước thiên nhiên, trước cuộc đời.
Nghiên cứu “Trường nghĩa hoa trong ca dao” (2014), Trần Hạnh Nguyên đã
phân tích đặc điểm cấu tạo, hình thức của các từ chỉ hoa, nghĩa của các đơn vị
từ vựng thuộc trường nghĩa hoa trong ca dao, bao gồm cả sự chuyển nghĩa củachúng Từ đó, tác giả làm rõ nghĩa biểu trưng các từ thuộc trường tên gọi cácloài hoa trong ca dao bằng việc tập trung khảo sát bốn loài hoa xuất hiện
nhiều nhất trong trong ca dao người Việt như: Đào, mai, sen và hồng.
Gần đây nhất, trong luận án “Ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng
Hán (liên hệ với tiếng Việt)”, Lê Thị Kim Dung (2019) đã nghiên cứu làm rõ
đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và phương thức chuyển nghĩa của các từ chỉ hoatrong tiếng Hán so sánh với tiếng Việt, tìm ra những điểm tương đồng và khácbiệt về ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ, từ đó làm nổi rõ hàm
ý văn hóa và đặc điểm nhận thức của người Trung Quốc và Việt Nam thể hiệnqua ý nghĩa của nhóm từ này
+ Dưới góc độ cú pháp học và ngữ nghĩa học
Trong công trình “Đặc trưng ngữ pháp – ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa
trong ca dao Việt Nam”, Hà Thị Quế Anh (2007) đã phân tích đặc điểm ngữ
pháp, đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong kho tàng ca dao Việt
Nam, từ đó đi sâu tìm hiểu nghĩa biểu trưng của từ hoa trong ca dao.
Từ các nghiên cứu trên có thể nhận thấy cho đến nay chưa có côngtrình nào nghiên cứu đối chiếu từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt
Do đó, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và hệ thống vềnhóm từ ngữ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ này, cũng như đặc điểm cấu tạo, đặcđiểm định danh của các từ ngữ chỉ hoa, sự chuyển nghĩa của chúng và thôngqua đó giải thích một phần nào về đặc trưng văn hóa dân tộc của hai cộngđồng ngôn ngữ Anh và Việt
Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu đối chiếu nhóm từ ngữ chỉhoa trong tiếng Anh và tiếng Việt cho luận án của mình
Trang 222 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án
2.1 Lý thuyết về từ và nghĩa của từ
2.1.1 Từ
2.1.1.1 Khái niệm về từ
Mặc dù trong ngôn ngữ học hiện đại có sử dụng khái niệm “từ” và coi đó
là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng việc nhận thức về bản chất của “từ” vàđưa ra các tiêu chuẩn để nhận diện nó lại cũng rất khác biệt, thậm chí có nhiềuđiểm mâu thuẫn nhau
Buhler là người đầu tiên nêu định nghĩa về từ trong tiếng Anh Ông cho
rằng “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ
các âm vị và có thể tạo thành trường” [89] Còn Schmidt thì cho rằng “Từ không phải là tổng số có tính số học của vật chất âm thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính vật chất âm thanh và ý nghĩa” [132] Đứng dưới góc độ ngữ nghĩa học Sapir (1921) đã khái quát “Từ
là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân có thể làm thành một câu tối giản” [131] Như vậy có thể thấy, mỗi tác giả quan niệm về
từ theo một cách khác nhau Định nghĩa của Buhler thiên về ngữ âm, địnhnghĩa của Schmidt mang tính chung chung không cụ thể, không bao quát, cònđịnh nghĩa của Sapir thiên về ngữ nghĩa
Nguyễn Hòa (2004) đưa ra định nghĩa về từ tiếng Anh “Words are
regarded as the smallest indivisible meaningful units of a language which can operate independently” (Từ được xem là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa nhỏ nhất
không thể phân chia được và có thể hoạt động một cách độc lập)
Vấn đề xác định "từ" trong tiếng Việt cũng rất phức tạp và khác nhau giữa
các nhà Việt ngữ học Do đó mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về từ
tiếng Việt theo quan điểm và tiêu chí xác định riêng của mình Có thể nêuđịnh nghĩa về từ tiếng Việt của một số tác giả tiêu biểu như sau:
- Định nghĩa từ của M.B Emeneau: "Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vịhọc, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị
- Định nghĩa từ của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê: "Từ là âm cónghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn tả một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không
Trang 23thể phân tích ra được" Theo Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, nhữngtiếng không độc lập cũng được coi là từ, miễn là chúng có nghĩa: "Những âm
nhách, vô, gia, đình đã là âm có nghĩa, lại có thể đứng một mình Vậy thì
những âm ấy là "tiếng" của Việt ngữ hay là từ” Bên cạnh khái niệm “từ”,Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê còn dùng khái niệm “ngữ” được cácông hiểu tương tự như “từ ghép” (mot composé) Cả “từ đơn”, “từ kép” và
“ngữ” đều nằm trong khái niệm “tiếng” Như vậy, thuật ngữ tiếng của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê tương tự như thuật ngữ từ của các tác giả khác, các thuật ngữ từ đơn, từ kép, ngữ tương ứng với các kiểu từ cụ thể của
- Định nghĩa từ của Nguyễn Kim Thản: "Từ là đơn vị cơ bản của ngônngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độclập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và
- Định nghĩa từ của Hồ Lê: "Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng địnhdanh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả
- Định nghĩa từ của Đỗ Hữu Châu: "Từ của tiếng Việt là một hoặc một số
âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu"5
Và còn rất nhiều định nghĩa của các học giả khác về khái niệm "từ" trong tiếng Việt
Trong luận án này chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa ‘từ’ theo Nguyễn
Hòa và Đỗ Hữu Châu để làm cơ sở cho việc khảo sát từ ngữ chỉ hoa trongtiếng Anh và tiếng Việt
2.1.1.2 Đơn vị cấu tạo từ
a Khái niệm đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh
Theo Bloomfield (1887-1949) “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhấtmang nghĩa và có giá trị hoặc chức năng về mặt ngữ pháp” [87] Hình vị đượcphân loại như sau:
2 Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Huế, tr 61.
3Nguyễn Kim Thản (1963), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Khoa học, Hà Nội, tr 64.
4Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 104.
5Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 139.
Trang 24+ Dựa vào nghĩa, hình vị được chia thành hình vị chính tố và hình vịphụ tố
- Hình vị chính tố (hay căn tố): là loại hình vị mang ý nghĩa cơ bản của
từ và các hình vị khác phải phụ thuộc vào nó Ví dụ: teach (dạy học); employ
(thuê)…
- Hình vị phụ tố: biểu thị ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ
pháp Ví dụ: phụ tố -er hay able ở từ comfortable (thoải mái) mang ý nghĩa từ
vựng bổ sung, phụ tố -s trong từ books biểu thị ý nghĩa ngữ pháp số nhiều
Căn cứ vào vị trí đối với chính tố, phụ tố được chia thành tiền tố, hậu tố và
liên tố Tiền tố là phụ tố đặt trước chính tố như tiền tố -un trong các từ
unsuccessful (không thành công), unsuitable (không phù hợp) Hậu tố là phụ
tố đặt sau chính tố như hậu tố -tion trong các từ distribution (phân bố),
information (thông tin)… Và liên tố là phụ tố đặc biệt, có chức năng liên kết
các chính tố trong từ phức như liên tố -o trong từ speedometer (công tơ mét).
+ Dựa vào hoạt động, hình vị được chia thành hình vị tự do và hình vị hạn chế
- Hình vị tự do: là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách
những từ độc lập Ví dụ: table, teacher, sleep, white, woman, play etc.
- Hình vị hạn chế: là những hình vị chỉ có thể xuất hiện với vai trò đi
kèm, phụ thuộc vào hình vị khác Ví dụ: - ing, - ed, - s, - ity etc.
b Khái niệm đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt
Hiện nay, nói chung các nhà Việt ngữ học đều coi đơn vị cấu tạo từ trong
tiếng Việt là hình vị, nhưng giữa các tác giả vẫn có những quan điểm khác
nhau Có hai loại quan điểm đối lập nhau trong việc xác định hình vị
Thứ nhất, quan điểm coi hình vị trùng với âm tiết
Các tác giả tiêu biểu của quan điểm này là Nguyễn Tài Cẩn, Cao XuânHạo, v.v… Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất của tiếngViệt, vừa là hình vị, vừa là âm tiết, có ý nghĩa và có giá trị về mặt hình thái;
còn gọi là tiếng một, chữ, hình vị, từ tố Ăn, học, đẹp, cao, và, sẽ, thức là
những tiếng trong tiếng Việt (…) Trong quan niệm của chúng tôi, mỗi tiếngnhư thế chính là một một đơn vị gốc - một hình vị - của ngữ pháp tiếng Việt;
Trang 25tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng: “đơn giản về tổ chức” và “có giá trị về
Nguyễn Tài Cẩn phân loại tiếng như sau:
+ Dựa vào ý nghĩa, có thể chia tiếng thành tiếng tự thân có nghĩa, ví dụ như thôn trong nông thôn; đẹp trong đẹp đẽ; trưởng trong viện trưởng v.v và
tiếng tự thân vô nghĩa như cộ trong xe cộ; lụng trong làm lụng; đủng, đỉnh
trong đủng đỉnh v.v.
+ Dựa vào cách dùng, tiếng có thể được chia thành: loại tiếng độc lập
và loại tiếng không độc lập
- Tiếng độc lập là loại tiếng không bị ràng buộc vào một hay một số tổhợp nào nhất định, nó có thể tách ra khỏi tổ hợp chứa đựng nó để tham giavào sự thành lập tất cả mọi tổ hợp mà điều kiện ý nghĩa và từ loại cho phép.Nói cách khác, mỗi tiếng độc lập có thể tách ra làm thành một từ đơn Ví dụ:
báo trong báo chí, đảng trong đảng viên, học trong học hành v.v.
- Ngược lại, tiếng không độc lập là loại tiếng chỉ đứng làm thành tố củamột hay một số tổ hợp nhất định Nó không thể thoát ra khỏi tổ hợp chứađựng nó để tự do tham gia vào sự thành lập những tổ hợp khác Tiếng không
độc lập là tiếng không thể đem dùng như một từ Ví dụ: thảo trong thảo luận,
xôi trong xa xôi, mẽ trong mạnh mẽ v.v “Tiếng của tiếng Việt không phải là một hình vị bình thường như hình vị ở nhiều ngôn ngữ khác Tiếng là một loại hình vị đặc biệt: một hình tiết” [4, tr 38].
Cao Xuân Hạo cũng theo quan điểm tiếng trùng với hình vị và trùng với
âm tiết Ông còn cho rằng, tiếng có thể trùng với cả âm vị Cao Xuân Hạo
viết: “Trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ (…)”7
Thứ hai, quan điểm coi hình vị không hoàn toàn trùng với âm tiết
Các nhà Việt ngữ học theo quan điểm này cũng có ý kiến khác nhau về khái niệm “hình vị”
Theo Ðỗ Hữu Châu: “Hình vị là những đơn vị được tạo ra từ các âm vị,
tự thân có nghĩa nhưng không được dùng trực tiếp để giao tiếp, tức không trựctiếp được dùng để kết hợp với nhau tạo thành câu… Hình vị (hay yếu tố cấutạo từ) tiếng Việt là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất với
6 Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội, tr 12-13.
Trang 26dạng chuẩn tối thiểu là 1 âm tiết, tự thân có nghĩa (từ vựng hay ngữ pháp), có
Tác giả Hồ Lê lại gọi đơn vị cấu tạo từ là nguyên vị và cho rằng: “Nguyên
vị là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa ngữ ngôn Từ nguyên vị, không thể tách ramột đơn vị ngữ ngôn nào nhỏ hơn (…) Trong tiếng Việt, nguyên vị thường
có hình thức một âm tiết Ví dụ: nhà, đi, đẹp, đẽ (trong đẹp đẽ), núc (trong
bếp núc), ngoại, giao… Nhưng bên cạnh đó, cũng có nguyên vị có hình thức
Ðái Xuân Ninh cho rằng: “Hình vị tiếng Việt là yếu tố nhỏ nhất về mặt tổchức mà có ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp”; và “đứng về mặt
âm tiết, có thể chia hình vị tiếng Việt ra hai loại: loại đơn âm tiết (ăn, uống,
con, cái), loại đa âm tiết (cà phê, rađiô,… thằn lằn, cà cuống, v.v…)”10
2.1.1.3 Phương thức cấu tạo từ
Về cơ bản, việc cấu tạo từ trong các ngôn ngữ khác nhau được thựchiện bằng các phương thức khác nhau Nói cách khác, chúng ta có những cáchkhác nhau khi sử dụng các hình vị để tạo từ Cụ thể, tiếng Anh là một ngônngữ tổng hợp tính (có pha phân tích tính), có biến hình từ, còn tiếng Việt làngôn ngữ đơn lập, từ không có sự biến đổi hình thái, vì vậy các ngôn ngữ Anh
và Việt có cách cấu tạo từ không giống nhau Sau đây là một số phương thứccấu tạo từ tiêu biểu trong tiếng Anh và tiếng Việt:
a Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm cónghĩa nhỏ nhất, tức hình vị Greenbaum (1973) phân chia phương thức cấu tạo
từ trong tiếng Anh thành 3 loại chính: từ đơn (simple word), từ ghép(compoundings) và từ phái sinh (derivatives) [101, tr 430]
* Từ đơn (simple word = root word): là những từ được cấu tạo bằng
một hoặc nhiều hơn một âm tiết Từ đơn được dùng để tạo ra từ ghép và từ
phái sinh Ví dụ: stock (hoa hoàng anh), lotus (hoa sen), daffodil (hoa thủy
tiên) v.v.
* Từ ghép (compoundings): Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, từ ghép
là những từ đa tiết, vì vậy các từ khi đi cùng nhau để hình thành từ ghép có
8 Ðỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb ÐH&THCN, Hà Nội, tr 5.
9Hồ Lê (1985), Phương thức suy phỏng - một phương thức cấu tạo từ tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 4, tr 75.
Trang 27thể được tạo thành một từ viết liền nhau (gồm có 2 hình vị) như: sunflower
(hoa hướng dương); hai từ nối với nhau bằng dấu gạch ngang (gồm có 2 từ): birth – control (kiểm soát sinh đẻ); hay hai từ viết riêng lẻ: evening primrose (hoa anh thảo muộn) v.v Từ ghép trong tiếng Anh được chia thành hai loại
từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
* Từ phái sinh (derived word): Từ phái sinh được cấu tạo bằng cách sử
dụng phụ tố (affixation) bao gồm tiền tố (prefix) và hậu tố (suffix) để bổ sung
ý nghĩa từ vựng cho chính tố để tạo nên một từ mới Nó cũng có thể được sửdụng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của từ như danh từ, động từ, tính từ haytrạng từ Tiếng Anh có thể thêm tiền tố hoặc hậu tố vào gốc từ (root) hoặc một
từ có sẵn để tạo ra các từ phái sinh (derived words), ví dụ: kind (tốt bụng) có thể thêm tiền tố un thành unkind (tính từ trái nghĩa – xấu tính) hay hậu tố
ness thành kindness (danh từ - lòng tốt).
Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng thì phần lớn các từ ghép tiếng Anh có
quan hệ chính phụ yếu tố chính đứng sau: corn flower (hoa ngô) Trật tự của từ
ghép đóng vai trò quyết định nội dung ý nghĩa của từ đó nên khi thay đổi trật tự
thì ý nghĩa của từ cũng thay đổi Ví dụ: schoolgirl (nữ sinh), khi đổi trật tự từ thành girlschool (trường học dành cho nữ) mang một ý nghĩa khác Bên cạnh đó,
từ ghép cũng có thể quan hệ đẳng lập với nhau Nội dung của những từ ghép này
thường có ý nghĩa của cả hai từ: bitter – sour (chua – cay) v.v.
Ngoài 3 phương thức cấu tạo từ chính nêu trên, Greenbeau (1973) cũng
đề cập đến một số phương thức khác như phương thức chuyển loại (conversion), phương thức rút gọn (clippings / shortening), phương thức viết
tắt (abbreviations/acronyms), phương thức láy (reduplicatives).
b Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, hình vị được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất cónghĩa Hình vị được sử dụng để tạo ra các từ Theo Đỗ Hữu Châu (2005), từ
tiếng Việt được tạo nên bởi ba phương thức tác động vào hình vị đó là: từ hóa
Trang 28tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga,… Xét về mặt số lượng, tuykhông nhiều bằng từ ghép và từ láy (Theo thống kê của A.Drode, từ đơnchiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bảnnhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quanđến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.
* Từ ghép: Là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với
nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, cóthể phân từ ghép ra làm hai loại chính:
Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố
cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp.Yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn,yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặctrưng đó Về ý nghĩa, từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa
Từ ghép đẳng lập: Là từ ghép có những đặc trưng chung là quan hệ ngữ
pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng Từ ghép đẳng lập cótính chất hợp nghĩa
* Từ láy: Là từ tạo nên từ hơn hai tiếng, tiếng đứng ở vị trí đầu tiên là
tiếng gốc (thường thì tiếng gốc có nghĩa) và tiếng đứng sau láy lại âm hoặcvần của tiếng gốc Từ láy cũng có hai loại: láy hoàn toàn (lặp lại cả âm lẫn
vần của tiếng gốc: bìm bìm, dành dành, chôm chôm,…) và láy bộ phận (chỉ lặp lại hoặc âm hoặc vần của tiếng gốc: thài lài, bằng lăng, chà là,…).
Như vậy, nếu phân loại từ tiếng Anh và từ tiếng Việt theo phương thức
cấu tạo, tiếng Anh có 3 loại từ chính từ đơn, từ ghép, từ phái sinh và một số từ khác, còn trong tiếng Việt ta có từ đơn, từ ghép và từ láy.
2.1.1.4 Khái niệm về cụm từ (ngữ)
a Khái niệm cụm từ (ngữ) trong tiếng Anh
Cụm từ (phrase) được định nghĩa trong Oxford Advanced Learner’s
Dictionary (2015) là Cụm từ (hay ngữ) là một nhóm từ nhỏ không có một động
từ xác định, nó vừa có ý nghĩa riêng vừa đóng vai trò là thành phần của một câu” (Phrase is a small group of words without a finite verb that together have a
particular meaning and that typically form part of a sentence) [127, tr 1154]
Greenbeau (1993), trong công trình “A University Grammar of
English”, không định nghĩa cụ thể về cụm từ (phrase) nhưng ông cho rằng
Trang 29trong tiếng Anh có năm loại cụm từ: Cụm danh từ (noun phrase), cụm động từ(verb phrase), cụm tính từ (adjective phrase), cụm trạng từ (adverb phrase),cụm giới từ (prepositional phrase) Luận án chỉ tập trung vào cấu tạo của từngữ chỉ hoa và định danh các loài hoa (là các danh từ) nên chỉ đi sâu tìm hiểucụm danh từ Cụm danh từ (noun phrase) được cấu tạo bởi một danh từ hoặcmột đại từ còn được gọi danh từ chính và các thành phần bổ nghĩa khác Cụmdanh từ trong tiếng Anh gồm có cụm danh từ đơn (basic noun phrase) và cụmdanh từ phức (complex noun phrase).
Cụm danh từ đơn (basic noun phrase) được cấu tạo: Determiners +
Head (Các từ hạn định + danh từ chính) Ví dụ: some red roses (mấy bông
hoa hồng đỏ)…
Cụm danh từ phức (complex noun phrase) được cấu tạo: Pre-modifiers+ Head + Posmodifiers (Từ bổ nghĩa phía trước + Danh từ chính + Từ bổ
nghĩa phía sau) Ví dụ: white lily of the valley (hoa huệ thung trắng)…
Trong ngữ pháp thang độ và phạm trù (Scale and category grammar) vàngữ pháp chức năng hệ thống (functional grammar) của M.A.K Halliday,
cụm từ là “sự mở rộng của một từ (an expansion of a word) theo quan hệ
chính phụ với tư cách là các đơn vị ở thứ hạng nằm giữa từ và mệnh đề, với
sự phân biệt ba kiểu cụm từ (trong tiếng Anh) là cụm danh từ, cụm động từ và cụm trạng từ” [1, tr 156].
b Khái niệm cụm từ (ngữ) trong tiếng Việt
Mặc dù có nhiều điểm chung về nguyên tắc cấu tạo nhưng việc tạo racụm từ trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn giống nhau Cụm từ lànhững đơn vị do sự kết hợp của từ với từ một cách có tổ chức và có nghĩa,được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội – ngôn ngữ Khi
đề cập đến cụm từ, các nhà Việt ngữ đưa ra những thuật ngữ khác nhau để gọitên chúng Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu gọi cụm từ là từ tổ, TrươngVăn Chình, Nguyễn Hiến Lê gọi là từ kết, Nguyễn Tài Cẩn và nhóm tác giả
công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt gọi là đoản ngữ, Cao Xuân Hạo lại gọi đó là ngữ đoạn, v.v Theo Diệp Quan Ban: “Cụm từ là những kiến trúc
gồm hai từ trở lên kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức năng ngữ pháp của kiến trúc này”) [2, tr.6] Ông cho rằng các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất
Trang 30của tiếng Việt có thể có ba kiểu quan hệ cú pháp bao gồm: quan hệ chủ - vị;quan hệ chính – phụ; và quan hệ bình đẳng.
Theo Nguyễn Tài Cẩn, cụm từ với ba loại quan hệ khác nhau sẽ có ba
loại tổ hợp tự do khác nhau: “loại tổ hợp gồm nhiều trung tâm nối liền với
nhau bằng quan hệ đẳng lập gọi là liên hợp, loại tổ hợp gồm hai trung tâm nối liền với nhau bằng quan hệ tường thuật gọi là mệnh đề và loại tổ hợp gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ gọi
là đoản ngữ” [3, tr.148]
Thông qua các định nghĩa, chúng ta có thể hiểu cụm từ như sau:
Thứ nhất, về cấu tạo: Cụm từ là một kiểu kết cấu cú pháp được tạo
thành bởi hai hoặc nhiều hơn hai thực từ trên cơ sở quan hệ ngữ pháp phụthuộc, chi phối hay liên hợp Trong cụm từ, từ luôn có vai trò chủ yếu về ngữnghĩa và ngữ pháp và được gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành
tố chính là thành tố phụ Thành tố chính là các danh từ, động từ hay tính từ
Thứ hai, về quan hệ giữa các thành tố: Các thành tố trong cụm từ nhỏ
nhất của tiếng Việt có ba kiểu quan hệ cú pháp phổ biến sau: quan hệ giữa chủngữ và vị ngữ (ta có cụm chủ - vị); quan hệ giữa thành tố chính và thành tốphụ về ngữ pháp (ta có cụm chính – phụ); quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng
về ngữ pháp (ta có cụm đẳng lập)
Thứ 3, về chức năng: Cụm từ, giống như từ, cũng là phương tiện định
danh sự vật, hiện tượng, phẩm chất, trạng thái, quá trình v.v Ngoài ra, cụm từcòn có chức năng biểu thị sự tình các quan hệ trong phát ngôn hay trong câu,chức năng làm thành phần khác trong câu
Tóm lại, cụm từ là một phần quan trọng trong hệ thống từ vựng của mộtngôn ngữ Nó đóng góp một phần đáng kể trong việc mang lại tính chất phongphú sinh động của một ngôn ngữ, nó góp phần tạo ra sức sống luôn xanh tươicho ngôn ngữ Chúng tôi vận dụng lý thuyết về từ và phương thức cấu tạo từ
để triển khai nội dung chương hai của luận án đó là phân tích đặc điểm cấutạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.1.2 Nghĩa của từ
2.1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ
Cho đến nay, trong giới ngôn ngữ học ở Việt Nam và thế giới có rấtnhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ Chẳng hạn, địnhnghĩa : “Nghĩa của từ là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan
Trang 31mă từ biểu thị” (Nguyễn Văn Tu)11; "nghĩa của từ lă khâi niệm"(A.R.
Ullman cho rằng “nghĩa của từ lă mối liín hệ liín tưởng giữa đm thanh
của từ (name) vă nội dung khâi niệm (ý nghĩa) của nó” Trong tiếng Anh, người
ta dùng từ sense - ý nghĩa - để chỉ sở biểu (câi được biểu đạt) vă meaning - nghĩa
để chỉ quan hệ giữa năng biểu vă sở biểu [Dẫn theo 29, tr.1-3]
Sense Meaning
Name - - - Thing
Sơ đồ 1.1: Tam giâc ngữ nghĩa của S.Ullmann [Lí Quang Thiím (2008):79]
Hiện nay, quan điểm coi nghĩa của từ vị lă chính câi sự vật, hiện tượng,
nhiều kiểu loại từ khâc nhau vă nghĩa của chúng cũng khâc nhau Câch địnhnghĩa về nghĩa của từ như níu trín chỉ mới phù hợp với câc thực từ (chủ yếugồm danh từ, động từ vă tính từ, v.v ) có nghĩa cụ thể Còn những từ hư như
liín từ, giới từ (vă, nếu, tuy, với, v.v ) thì nghĩa của chúng không phù hợp
với định nghĩa níu trín
Ở Việt Nam, những kiến giải nghĩa tín hiệu đầu tiín xuất hiện trong câcsâch dẫn luận ngôn ngữ học hay từ vựng ngữ nghĩa học hay trong nghiín cứuchuyín đề bắt đầu văo những năm 1960 Với quan điểm đânh giâ cao vai tròcủa chủ thể con người trong việc tạo ra, sử dụng vă lưu giữ nghĩa, Lí Quang
Thiím quan niệm rằng “nghĩa lă một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại
trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ của giao tiếp vă tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng
11Nguyễn Văn Tu (1976), Từ vă vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH&THCN, Hă Nội.
12Âóôăêîđ Ð.Ă (1958), Đđơôởỉơ đ íẳíó î ÿìûíơ, Ì., êîñ ó÷ơâíîïơôăêỉ÷ ỉìô Ìỉí ïðîñđ ÐÑÔÑÐ.
13Đỗ Hữu Chđu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giâo dục, Hă Nội.
14Nguyễn Thiện Giâp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giâo dục, Hă Nội; chi tiết hơn về vấn đề năy, xem tr 119-125.
15Xem Nguyễn Thiện Giâp (1998), Tăi liệu đê dẫn, tr 122-123.
Trang 32khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn ngôn” [73, tr.58] Trong
quan niệm này của Lê Quang Thiêm, nhân tố chính quy định nghĩa là “người
nói”; “văn cảnh”; “ngữ cảnh”; và “chức năng tín hiệu học” Đồng thời tác
giả cũng đưa ra nhận định rằng nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữnghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học ngữ pháp, và ngữ nghĩa học ngữ dụng [73,tr.86-87] Tác giả Hoàng Phê (1989) cũng cho rằng: (1) ngữ nghĩa quan hệtrực tiếp với nhận thức và qua nhận thức, quan hệ với hiện thực, nhờ đó ngônngữ thực hiện chức năng chủ yếu của nó là công cụ tư duy và công cụ giaotiếp (2) nghĩa của từ cần được nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt,không những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn quan hệvới cấu trúc nội tại, cũng như trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp vớinhững nghĩa từ khác trong ngữ, trong câu, trong lời” [61]
Nguyễn Thiện Giáp (1999, 122-125), đã tổng hợp khá kỹ các quanniệm về nghĩa của các học giả nổi tiếng trên thế giới và ông đã rút ra được haikhuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất cho nghĩa của từ là một bản thể nào
đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh …) Khuynh hướng thứ 2 cho nghĩacủa từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng hoặc quan hệ của
từ với khái niệm …)” Tác giả thấy rằng “những ý kiến cho nghĩa của từ làquan hệ gần gũi với chân lý hơn” “nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp,bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như: “nghĩa sở chỉ”, “nghĩa sở biểu”,nghĩa sử dụng” và “nghĩa kết cấu”
Tuy nhiên, tác giả có công trình nghiên cứu tập trung nhất về nghĩa của
từ là Đỗ Hữu Châu, sau khi đi kiến giải về tam giác nghĩa của các học giả nổitiếng, ông đã đưa ra sơ đồ “hình tháp nghĩa hình học không gian” thay thế tamgiác hình học phẳng của Sterm dưới đây:
Sơ đồ 2: Tháp nghĩa hình học không gian [Đỗ Hữu Châu (2015):750]
Trang 33Khắc phục những thiếu sót của Stern, Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: Ở
đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần hình thức và
ý nghĩa Ở mỗi đỉnh của đáy là những nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa,
lần lượt là sự vật, hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái niệm), nhân tốngười sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), các chức năng tín hiệu học, cấu trúccủa ngôn ngữ Số lượng các đỉnh của đáy sẽ tăng lên tùy thuộc vào số lượngnhững nhân tố được phát hiện thêm Ưu điểm của mô hình tháp nhọn là mộtmặt tách được những thực thể đang xem xét (từ, các nhân tố) ra khỏi nhauđồng thời vạch ra được những quan hệ giữa chúng (bằng các cạnh của hìnhtháp) Những quan hệ này đồng thời cũng chỉ ra những phương diện cầnnghiên cứu khi nghiên cứu nghĩa của từ (mối quan hệ giữa hình thức và ýnghĩa được thể hiện trong từ bằng mô hình mà F.De Sausure đã đưa ra Cũng
từ “hình tháp”, ông đã tập trung phân tích các loại nghĩa như: “ý nghĩa biểuvật”, “ý nghĩa biểu niệm”, “ý nghĩa liên hội” và “ý nghĩa biểu thái” [10:750]
Từ các quan niệm về nghĩa khác nhau nêu trên có thể khái quát về
nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu hiện bao gồm
những hiểu biết, những tri thức thông thường được thể hiện trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ của người nói Nghĩa được hình thành do sự kết hợp và tác động của cả nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ (như sự vật, hiện tượng thực tế khách quan, tư duy của con người) và nhân tố nằm trong ngôn ngữ (chức năng tín hiệu học, hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ), trong đó những nhân tố có tính quyết định là người sử dụng ngôn ngữ, văn cảnh, ngữ cảnh và chức năng tín hiệu học Đồng thời, những đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ cũng được bộc lộ thông qua nghĩa.
2.1.2.2 Các thành phần ý nghĩa của từ
a Các thành phần ý nghĩa của từ trong tiếng Anh
Khi nghiên cứu về nghĩa, Bloomfield cũng phân định nghĩa thành hailoại: nghĩa từ vựng (lexical meaning) và nghĩa ngữ pháp (grammaticalmeaning) Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quan niệm củaBloomfield về nghĩa từ vựng là ông đã phân biệt được những ý nghĩa thôngthường, trọng tâm (normal/ central meanings) với những nghĩa cận biên(nghĩa ẩn dụ hay nghĩa chuyển) (marginal or metaphoric and tranferredmeaning) [87, tr.173-174]
Trang 34Nguyễn Hòa (2004) xác định các thành phần nghĩa của từ (components
of word meaning) trong tiếng Anh bao gồm: denotative meaning (nghĩa biểuvật), connotative meaning (nghĩa biểu thái), structural meaning (nghĩa cấutrúc) và category meaning (nghĩa phân loại)
Denotative meaning: (nghĩa biểu niệm) bao gồm có nghĩa khái niệm
(conceptual meaning) và nghĩa biểu vật (referential meaning) Nghĩa kháiniệm còn được gọi là nghĩa định nghĩa, nghĩa đen, nghĩa thực hay nghĩa phổbiến của một từ (the definitional, literal, obvious or common meaning of a
word) Ví dụ: A table may be defined as a piece of furniture used for writing
at… (một chiếc bàn có thể được định nghĩa như là một loại đồ nội thất được
sử dụng để viết trên đó…) Nghĩa biểu vật là khả năng quy chiếu đến những
đồ vật của từ (the ability to refer to objects or things) Ví dụ: Can you give me
a book?
Connotative meaning: (nghĩa biểu thái) là giá trị giao tiếp mà một từ
hay cụm từ có được nhờ vào những gì nó quy chiếu đến, ngoài cái nghĩa kháiniệm đơn thuần của nó Nghĩa biểu thái thay đổi đáng kể theo nền văn hóa,giai đoạn lịch sử và trải nghiệm của cá nhân
Structural meaning: (nghĩa cấu trúc) gồm có 4 loại nghĩa khác là nghĩa
được phản chiếu (reflected meaning), nghĩa kết hợp (collocative meaning),nghĩa gắn kết (associative meaning) và nghĩa chủ đề (thematic meaning)
b Các thành phần ý nghĩa của từ trong tiếng Việt
Ở Việt Nam, thông qua hình tháp nghĩa hình học không gian, Đỗ HữuChâu (2005) đã chỉ ra mối quan hệ giữa từ và các yếu tố góp phần tạo nên ýnghĩa của từ Tác giả khẳng định rằng từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hìnhthành nên ý nghĩa biểu vật; từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thànhcác ý nghĩa biểu niệm; từ mối quan hệ với nhân tố người dùng hình thành các
ý nghĩa phong cách và liên hội; từ mối quan hệ với chức năng sẽ hình thànhcác giá trị chức năng của từ; từ mối quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ (vớicác từ khác) sẽ hình thành ý nghĩa cấu trúc và từ quan hệ giữa ý nghĩa với cácthành phần hình thức để hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữpháp Như vậy, từ sự phân định trên của Đỗ Hữu Châu, chúng ta nhận thấy cóhai thành phần nghĩa lớn của từ đó là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp
Trang 35Theo Đỗ Hữu Châu [2005:101-102], nghĩa của từ bao gồm các thành
phần sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp Trong đó ba thành phần nghĩa nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu
thái hình thành nên ý nghĩa từ vựng của từ:
Nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là thành phần nghĩa của từ liên
quan đến sự vật hoặc phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng trong thế giới mà
từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
Ý nghĩa biểu niệm (significative meaning): Là thành phần nghĩa của
từ liên quan đến hiểu biết về ý nghĩa biểu vật của từ Sự vật, hiện tượng trongthực tế khách quan có các thuộc tính được phản ánh vào tư duy và hình thànhnên khái niệm Vì vậy, khái niệm là một phạm trù của tư duy được hình thành
từ những hiểu biết trong thực tế Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật,hiện tượng Khi các dấu hiệu bản chất đó được phản ánh vào ngôn ngữ sẽhình thành nên các nét nghĩa Tập hợp các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ chính
là ý nghĩa biểu niệm của từ
Nghĩa biểu thái (connotative meaning): Là phần nghĩa của từ có liên
quan đến thái độ, cảm xúc, cách đánh giá Sự vật, hiện tượng được biểu thịtrong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã dược nhận thức, được thểnghiệm bởi con người
2.1.2.3 Cấu trúc nghĩa của từ
Ngữ nghĩa học hiện đại đã chứng minh được rằng nghĩa của từ là sựphản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và được thể hiện ở ngôn ngữ
Sự phản ánh đó tồn tại trong từ dưới dạng một cơ cấu, do một chùm nhữngthành tố có quan hệ hữu cơ với nhau, được tổ chức theo một tôn ti nhất định
Từ luận đề chung này có thể suy ra rằng:
"1 Nghĩa của phần lớn các từ không phải là không phân tích ra được nữa;
2 Nghĩa bao hàm những đơn vị nhỏ hơn gọi là nét nghĩa Nét nghĩa là đơn vị
cơ bản phản ánh thuộc tính hoặc quan hệ có giá trị khu biệt của hiện tượng, sựvật trong thế giới khác quan Nhưng nét nghĩa không phải bao giờ cũng là yếu
tố trực tiếp tạo ra nghĩa từ Nó thường là yếu tố tạo nên những thành tố trựctiếp của nghĩa từ;
3 Thành tố nghĩa là đơn vị trung gian giữa nét nghĩa và nghĩa từ, nó do một hay nhiều nét nghĩa tạo nên." [36, tr.33]
Trang 36U.Weinreich (1971), nhà ngôn ngữ học Mỹ, cho rằng: “Mong muốnphân tích một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một cấp hệ (hệthống tôn ti cấp bậc) giữa các thành tố luôn luôn là một trong những động cơchủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa học” [139, tr.317] Theo đó, muốn xác địnhthành tố nghĩa cơ sở để tạo nên nghĩa từ vựng của từ cần phân tích từ thành
nét nghĩa Vì vậy, trong từ điển có thể thấy qua các ví dụ khi giả định rằng
một số nghĩa từ điển được phân tích, giải nghĩa theo nét nghĩa
Ở Việt Nam, việc sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa đểphân tích nghĩa từ vựng của từ ra thành nét nghĩa đã được các nhà ngôn ngữhọc như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Lê Quang Thiêm…vậndụng vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt trong các công trình nghiên cứu củamình Trong đó, hai nhà ngôn ngữ học Hoàng Phê và Đỗ Hữu Châu là nhữngtác giả tiêu biểu đi tiên phong đã có nhiều đóng góp đáng kể trong lĩnh vực
này Trong bài “Phân tích ngữ nghĩa” của Hoàng Phê, trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa của các từ đại diện, tác giả đã kết luận rằng: “Nói tóm lại, nghĩa
của từ nói chung: + Là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; + Giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cập bậc) biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; + Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối [83, tr.15] 2.1.2.4 Các phương thức chuyển nghĩa (meaning transference)
Để có thể hình thành và phát triển thêm nghĩa của từ, có nhiều phương
thức chuyển nghĩa trong ngôn ngữ như ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ, châm biếm,
nói giảm nói tránh hay uyển ngữ…, nhưng hai phương thức chuyển nghĩa phổ
biến và quan trọng nhất trong các ngôn ngữ đó là chuyển nghĩa ẩn dụ(metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy)
a Các phương thức chuyển nghĩa trong tiếng Anh
Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ (metaphor):
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của một vật này sang một vật khácdựa trên sự giống nhau giữa hai vật hay nói cách khác chúng ta gọi tên củamột vật này bằng tên của một vật khác bởi vì chúng ta so sánh hai vật và tìm
ra các đặc điểm chung giữa chúng Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống chính
là những sự so sánh ngầm
Trang 37Ví dụ: Khi một người nói “John is a snake” (Anh ta là một con rắn
độc) không có nghĩa một con rắn có tên là John hay John là một con rắn hiểu
theo nghĩa đen mà ở đây ám chỉ đến một người nham hiểm và đầy mưu mô
Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ có thể dựa trên sự giống nhau vềhình dạng (shape), vị trí (position), sự di chuyển (movement), chức năng(function), màu sắc (colour) hay kích cỡ (size)
Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ (metonymy)
Hoán dụ được hiểu là sự thay thế của một vật này cho một vật khác mà nó
có sự gắn kết với Hoán dụ hoạt động dựa trên sự tương đồng hơn là sự giốngnhau, thay cho việc sử dụng tên của một vật hay một khái niệm này chúng ta sửdụng tên của một vật khác bởi những vật này có sự gắn kết và liên quan chặt chẽ
với nhau Ví dụ: chúng ta sử dụng “The kettle boils” (cái ấm sôi) thay cho “The
water in the kettle boils” (nước ở trong ấm sôi); “crown” (vương miện) thay cho
“monarchy” (chế độ quân chủ); “The big apple” thay cho “New York”
Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có các loại chuyển nghĩa khác như ngoa
dụ (hyperbole), mỉa mai, châm biếm (irony), nói giảm, nói tránh (litotes) và uyển ngữ (euphemism).
b Các phương thức chuyển nghĩa trong tiếng
Việt Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn
dụ:
Ẩn dụ là phương thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự liên tưởng so sánhnhững mặt, những thuộc tính giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên
Ví dụ:
thể người hay động vật, dùng để đi, đứng Trên cơ sở so sánh nhiều sự
vật khác có vị trí tương tự, người ta đã chuyển “chân” sang gọi tên cho phần dưới cùng của một số vật: chân giường, chân bàn, chân núi,…
có nghĩa phái sinh như nêu trên: the foot of the mountain…
Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ:
Hoán dụ là phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ lô gíchgiữa các đối tượng được gọi tên Phương thức này lấy tên gọi A của x để gọi ynếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và
y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người Cho nên các hoán
dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ [11, tr.155]
Trang 38dụ Tức là, phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ có thể ở trong cùngmột từ.
2.1.2.5 Khái niệm nghĩa biểu trưng/tượng trưng (symbol)
"Trong kí hiệu học, một kí hiệu mà đặc tính của nó là thuần túy võ đoán
hoặc hoàn toàn quy ước, tức không có căn cứ, như màu "đen" hay "trắng"
tượng trưng cho sự tang tóc" [1, tr.67] Theo Hoàng Tiến Tựu thì: “Biểu trưng
là cách lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính chất tượng
trưng, ước lệ một cái gì đó khác mang tính trừu tượng Đó là hiện tượng kháphổ biến và quen thuộc đối với các dân tộc và phản ánh quan niệm ngây thơ,dân gian của mỗi tộc người đôi khi được cố định hoá trong ngôn ngữ Khi một
sự vật, hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ gợi lên trong ý thức ngườibản ngữ sự liên tưởng khá bền vững” [82, tr.145]
2.1.2.6 Quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc
Quá trình chuyển nghĩa của từ góp phần quan trọng vào việc sáng tạonghệ thuật Quá trình chuyển nghĩa có thể là quá trình biểu trưng hóa của tínhiệu, một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lí của nó trong đời sống xã hội vàđược ghi lại một cách tế nhị và độc đáo trong ngôn ngữ Pierce cho rằng biểutrưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ
mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh nào đó Nghĩa đó là do conngười trong cộng đồng xã hội đặt ra mà thôi
Tính chất ước lệ này chỉ ra những lí do về mặt lịch sử xã hội trong việc
sử dụng của biểu trưng; chỉ ra việc lựa chọn chất liệu - cái biểu hiện nào làmbiểu trưng đều có lí do Biểu trưng ở một mặt nào đó, vừa có tính hình tượnglại vừa cụ thể Chẳng hạn, cái biểu hiện của biểu trưng phải là một đối tượng
Trang 39nào đó được quy chiếu từ hiện thực nhưng ý nghĩa xã hội của biểu trưng đóphải được cả cộng đồng sử dụng ngôn ngữ chấp nhận Điều này lí giải vì sao,
người Việt chọn tín hiệu thuyền làm vật quy chiếu cho biểu trưng chỉ người ra
đi (chàng trai), còn bến làm vật quy chiếu biểu trưng cho người ở lại (cô gái)
trong kho tàng ca dao người Việt [82, tr.145]
2.1.2.7 Các phương thức thể hiện nghĩa biểu trưng
Biểu trưng thường là có lí do, có thể hình thành dựa trên đặc điểm tồntại khách quan của đối tượng, đồng thời còn có thể dựa trên sự gán ghép chủ
quan của con người Theo Đỗ Hữu Châu, “Với tư cách là thể chất của thành
phần văn học, ngôn ngữ văn học là hệ thống thành phần bao gồm: tín hiệu thông thường thực hiện chức năng giao tiếp lí trí (tái tạo hiện thực) và tín hiệu thẩm mĩ chứa tư tưởng, tình cảm của tác giả, thông qua quá trình biểu trưng hóa, khái quát hóa nghệ thuật” [6, tr.153] Như vậy, cái gọi là tín hiệu
thẩm mĩ, thực chất là một yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện củanghệ thuật mang giá trị biểu trưng Loại tín hiệu này có liên quan chặt chẽ vớitín hiệu ngôn ngữ (tín hiệu thông thường) Theo quan điểm của chủ nghĩa cấutrúc [64], tín hiệu ngôn ngữ gồm hai mặt thống nhất là cái biểu đạt (CBĐ) vàcái được biểu đạt (CĐBĐ) CBĐ là hình thức âm thanh (hoặc chữ viết),CĐBĐ là nội dung ý nghĩa mà tín hiệu đó biểu đạt Tín hiệu thẩm mĩ cũng làmột loại tín hiệu nên nó mang những đặc trưng của tín hiệu nói chung Khibước vào thế giới nghệ thuật, những tín hiệu ngôn ngữ thông thường có sựchuyển hóa nhất định để trở thành tín hiệu thẩm mĩ mang ý nghĩa biểu trưngmang đặc thù của nghệ thuật Do đó, tín hiệu thẩm mĩ là một yếu tố thuộc các
phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Theo Đinh Trọng Lạc, “Tín hiệu ngôn
ngữ đóng vai trò là hệ thống tín hiệu thứ nhất, làm cơ sở cho hệ thống tín hiệu thứ hai là tín hiệu thẩm mĩ” [48, tr.137] Nhà ngôn ngữ học Đan Mạch,
L.Hjemslev đã đưa ra sơ đồ sau để chỉ rõ mối tương quan giữa tín hiệu ngônngữ với tín hiệu thẩm mĩ:
CBĐ
-CĐBĐTín hiệu thẩm mĩ -
CĐBĐ - Ý nghĩa thẩm mĩ (ý nghĩa biểu trưng)
Trang 40Theo sơ đồ này, thì cả hợp thể CBĐ và CĐBĐ của tín hiệu ngôn ngữtrở thành CBĐ cho một CĐBĐ mới là ý nghĩa thẩm mĩ, ý nghĩa biểu trưngtrong tác phẩm văn học.
Tín hiệu thẩm mĩ được hình thành từ tín hiệu ngôn ngữ nhưng đã có sựvượt cấp Khi đó, một tín hiệu ngôn ngữ (gồm cả hai mặt CBĐ và CĐBĐ) trởthành CBĐ cho tín hiệu thẩm mĩ, còn CĐBĐ của tín hiệu thẩm mĩ là một ý nghĩamới được tạo ra theo cơ chế chuyển nghĩa (theo ẩn dụ hay hoán dụ) từ nghĩathông thường sang nghĩa nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ, giá trị biểu trưng
2.1.3 Thành ngữ, tục ngữ và ca dao
2.1.3.1 Thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Anh
Thành ngữ (idioms): Trong từ điển Longman về giảng dạy ngôn ngữ và
ngôn ngữ học ứng dụng, thành ngữ được định nghĩa là “một cụm từ có chức
năng như một đơn vị độc lập mà nghĩa của nó không thể tách ra thành các nghĩa riêng lẻ” [122] Cowie, Mackin & McCaig (1993) cũng có cùng quan
điểm trên khi quan niệm rằng: “thành ngữ là các nhóm từ có nghĩa cố định
không thể phân tách nghĩa ra thành nghĩa của các bộ phận riêng biệt” [91]
Trong công trình “English idioms” (1988), thành ngữ được Seidl và McMordie định nghĩa là: “thành ngữ có thể là một số các từ, khi đi với nhau,
có nghĩa khác với mỗi nghĩa của từ riêng lẻ” [133, tr.12-13] Hai tác giả này
cho rằng thành ngữ trong tiếng Anh có nhiều dạng và nhiều cấu trúc khácnhau, thành ngữ có thể có cấu trúc có quy tắc hoặc có thể không có quy tắc,
và thậm chí không đúng cấu trúc ngữ pháp Sự mạch lạc rõ ràng về nghĩa của
thành ngữ không không phụ thuộc vào “tính đúng ngữ pháp”.
Tục ngữ (proverbs): Theo từ điển Advanced Learner’s Dictionary
(2015), tục ngữ là “một cụm từ hoặc một câu ngắn gọn để đưa ra lời khuyên
hoặc phổ biến một số thực tế và kinh nghiệm trong cuộc sống” [127].
2.1.3.2 Thành ngữ, tục ngữ và ca dao trong tiếng Việt
Thành ngữ: Trong công trình “777 khái niệm ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện
Giáp (2010) quan niệm rằng: “Thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú
pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ các
ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả cá từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó” [27].