1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn huyện đam rông, tỉnh lâm đồng

103 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tạo thuận lợi cho người, trình tự, thủ tục đăng kí hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa… Với những kết quả đã đạt được, công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ngày càng khẳng đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HOÀNG NHÂN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN HUYỆN

ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP, LUẬT HÀNH CHÍNH

Lâm Đồng, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HOÀNG NHÂN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN HUYỆN

ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Ngành: Luật Hiến Pháp, Luật Hành Chính

Mã Số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN MẠNH HÙNG

Lâm Đồng, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Mạnh Hùng Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Đỗ Hoàng Nhân

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7

7 Kết cấu của Luận văn 7

Chương 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm vai trò của quản lí nhà nước về hộ tịch 8

1.2 Nội dung và trách nhiệm của quản lý nhà nước về hộ tịch 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hộ tịch 21

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 32

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN 32

HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 32

2.1 Những yếu tố ảnh hường đến quản lý nhà nước về hộ tịch tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 32

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 36

Trang 5

2.3 Đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện

Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 41

Tiểu kết chương 2 55

Chương 3 56

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 56

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 56

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 56

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 57

Tiểu kết chương 3 69

KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý nhà nước về hộ tịch là công tác quan trọng Mọi quốc gia trên thế giới hiện nay không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế đều phải quan tâm thực hiện công tác này Nếu việc thực hiện đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch tốt sẽ tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận

và bảo hộ các quyền nhân thân phi tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản của cá nhân Do đó những vấn đề lý luận và pháp lý có liên quan đến vấn

đề quản lý nhà nước về hộ tịch cần được làm sáng tỏ để phục vụ cho việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động này của các chủ thể trong xã hội, cũng như hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan vấn

đề này

Ở Việt Nam, quản lý hộ tịch và quản lý đất đai là hai vấn đề được thực hiện một cách trình tự và hệ thống xuyên suốt các thời kì lịch sử Quản lý nhà nước về hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản

lý nhà nước về dân cư Chính vì vậy, vấn đề quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta được thực hiện từ rất sớm (từ thời nhà Trần) Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 tới nay, công tác này tiếp tục được phát triển và hoàn thiện Điều đó cho thấy công tác quản lý nhà nước về hộ tịch vô cùng quan trọng và luôn được duy trì trong mọi hoàn cảnh

Công cuộc cải cách hành chính nói chung và ngành tư pháp nói riêng ở nước ta hiện nay được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Thực tiễn cho thấy, việc triển khai các giải pháp nhanh chóng, đồng bộ, thống nhất trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng Công tác xây dựng thể chế được tăng cường; việc phổ

Trang 8

biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng Nhằm tạo thuận lợi cho người, trình tự, thủ tục đăng kí hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa… Với những kết quả đã đạt được, công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý nhà nước và xã hội, góp phần bảo đảm ngày một tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đang trong giai đoạn phát triển với

tỷ lệ tăng trưởng dân số khá cao nên công tác thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Huyện Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ, chính quyền địa phương, công tác quản lý nhà nước về

hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông từng bước được thực hiện đầy đủ, kịp thời, chính xác Tuy nhiên, thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch ở huyện Đam Rông cho thấy những bất cập về hành lang pháp lý

Đứng trước thực trạng đó và những đòi hỏi của tình hình mới, để luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý Nhà nước về hộ tịch, việc

chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn huyện Đam Rông,

tỉnh Lâm Đồng” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến

pháp và Luật Hành chính là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Quản lý nhà nước về hộ tịch là vấn đề nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều người, cụ thể:

Phạm Trọng Cường (2003), “Quản lý nhà nước về hộ tịch - lý luận, thực trạng và phương hướng đổi mới”, Luận văn thạc sĩ thực hiện tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả của Luận văn đã đề cập và phân tích

Trang 9

một cách có hệ thống các vấn đề lý luận, pháp lý liên quan đến công tác Quản

lý nhà nước về hộ tịch Trong đó nổi bật là tác giả đã đề cập và phân tích tương đối toàn diện khái niệm “hộ tịch” Luận văn có phạm vi nghiên cứu rất rộng, do đó công tác quản lý nhà nước về hộ tịch của UBND cấp huyện chưa được Luận văn quan tâm nghiên cứu nhiều Đồng thời, Luận văn được thực hiện trước năm 2003, khi Luật Hộ tịch và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP chưa được ban hành, vì vậy nhiều vấn đề mà tác giả Luận văn đề cập đã không còn phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành Nhưng, Luận văn vẫn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, đặc biệt là hệ thống các quan điểm về khái niệm “hộ tịch” và vai trò của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch

Bùi Thị Tư (2014), “Quản lý nhà nước về hộ tịch qua thực tiễn ở Hải Phòng”, Luận văn thạc sĩ thực hiện tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã làm rõ thực trạng quy định các chủ thể quản lý nhà nước về hộ tịch, kinh nghiệm quản lý nhà nước về hộ tịch Từ đó phân tích, đánh giá và chỉ ra những hạn chế của các quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết các vấn đề hộ tịch Trên cơ sở đó tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị

Ông Văn Tuân (2015), “Quản lý nhà nước về hộ tịch tại các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số (từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng)”, Luận văn thạc sĩ luật được thực hiện tại Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Có thể nói Luận văn đã đề cập và phân tích một cách có hệ thống và tương đối sâu sắc các vấn

đề lý luận, pháp lý có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số với đời sống kinh tế còn khó khăn và trình độ nhận thức còn hạn chế Luận văn đã khảo sát thực tiễn quản

lý nhà nước về hộ tịch tại các huyện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, qua đó chỉ

Trang 10

ra được những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng, trên cơ sở đó Luận văn đã đề cập một số giải pháp có tính khả thi Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị

Ngoài ra còn một số công trình, bài báo, sách chuyên khảo có liên quan Tuy nhiên, qua tìm hiểu cho thấy hiện chưa có công trình nào đề cập một cách sâu sắc và toàn diện đến vấn đề quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh Luật Hộ tịch năm 2014

đã có hiệu lực; Đồng thời cũng chưa có công trình nào nghiên cứu từ thực tiễn

huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Do đó, đề tài “Quản lý nhà nước về hộ

tịch từ thực tiễn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng” là tương đối mới mẻ và

cần thiết quan tâm đầu tư nghiên cứu Đây cũng là một lý do đề tài được lựa chọn để nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận giải những vấn đề lý luận, pháp lý của công tác quản lý nhà nước

về hộ tịch; đánh giá thực trạng công tác này trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch với hi vọng công tác này sẽ đi sâu vào đời sống thực tiễn Kiến nghị những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về

hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn Huyện trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

Với mục đích nghiên cứu được trình bày ở trên, Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Thứ nhất, luận giải một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch thông qua việc xác định các khái niệm có liên quan như khái niệm hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch, vai trò quản

lý nhà nước về hộ tịch

Thứ hai, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Từ đó đưa ra những đánh giá về nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác này

Thứ ba, đề xuất phương hướng, hệ thống giải pháp đủ cơ sở khoa học nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những quan điểm lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch

Các quy định pháp luật về quản lý nhà nước về hộ tịch ở Việt Nam Thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các xã: Đạ Long, Đạ Tông, Đạ M’Rông, Đạ K’Nàng, Rô Men, Đạ R’Sal, Phi Liêng, Liêng S’Rônh

Trang 12

Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch từ năm 2014 đến năm 2019

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý nhà nước; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước về hộ tịch

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn cụ thể như sau:

Phương pháp thống kê: đây là phương pháp được sử dụng trong chương 2, 3 của Luận văn, để thu thập và xử lý dữ liệu phục vụ nghiên cứu định lượng để làm rõ vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong Luận văn nhằm mục đích làm rõ các vấn đề nghiên cứu, đồng thời tổng hợp những luận cứ thành các nhận định và luận điểm của Luận văn

Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng trong chương 1 của Luận văn nhằm tìm ra những điểm giống và khác nhau của các vấn đề nghiên cứu, từ đó phân tích, đánh giá vấn đề khoa học và chính xác hơn

Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để khảo sát thực tế quản lý nhà nước về hộ tịch tại 8 xã trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; Theo đó cung cấp các căn cứ thực tiễn cho những kiến nghị tại chương 3 của Luận văn

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp luật quản lý nhà nước

về hộ tịch; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua Luận văn nêu lên những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực của quản lý nhà nước về hộ tịch và hiệu quả nó trên địa bàn Huyện

Các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính quyền trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý nhà nước về hộ tịch Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về quản lý nhà nước về hộ tịch cho các học viên, sinh viên

7 Kết cấu của Luận văn

Kết cấu chính của luận văn gồm phần mở đầu, nội dung chính, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương cụ thể sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về hộ tịch Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ

TỊCH 1.1 Khái niệm, đặc điểm vai trò của quản lí nhà nước về hộ tịch

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch

Hộ tịch là một khái niệm tương đối phức tạp, xét dưới góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố

có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính Xét về mặt từ loại thì đây

là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng [32; tr211] Từ

“tịch” có nghĩa là: “sổ sách” hoặc “là sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”, ghi chép liên quan đến tình trạng nhân thân (thân trạng) của mỗi người theo mối quan hệ về gia đình trong các việc sinh, tử, kết hôn… Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành từ danh từ “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ và được sử dụng với thuộc tính là kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả năng tổ hợp của từ ngữ) Chính do tính chất đặc biệt ấy nên hiện nay, nếu khảo cứu qua các từ điển Tiếng Việt thì có thể thấy có rất nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau Dưới đây là một số ví dụ:

Quan niệm của các tác giả trong một số từ điển Hán – Việt:

“Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [39; tr814]

“Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [41; tr321]

Quan niệm của các tác giả trong một số từ điển Tiếng Việt:

“Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [59; tr442]

Trang 15

“Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [36; tr385]

Như vậy, thuật ngữ “hộ tịch” nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau Tác giả của các cuốn từ điển Hán – Việt 1 đều cho rằng hộ tịch là quyển sổ (của chính quyền) ghi chép thông tin có liên quan đến những người dân đang sinh sống trên địa bàn, bao gồm các thông tin về số lượng người, họ tên, quê quán, nghề nghiệp của từng người

Trái lại, tác giả của một số từ điển tiếng Việt lại có quan điểm khác cho rằng “hộ tịch” bản thân nó là những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của mỗi người và những sự kiện này chịu sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, cũng có một số tác giả lại đồng nhất 2 thuật ngữ “hộ tịch” với thuật ngữ “hộ khẩu” khi cho rằng hộ tịch là sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ

Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/1998

về đăng ký hộ khẩu Theo đó, “hộ tịch” được hiểu: “là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến chết” [30; điều1] Cách giải thích này tiếp tục được giữ lại trong Nghị định 158/2005/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch Cách định nghĩa này vẫn được duy trì, nhưng được làm rõ hơn (theo phương pháp luật kê) trong Luật Hộ tịch năm 2014 Cụ

1 Ít nhất là 4 cuốn từ điển Hán – Việt có uy tín ở Việt Nam

2 Có thể nói đây là một sự nhầm lẫn khá phổ biến trong nhận thức của nhiều người hiện nay, do tác giả luận văn sẽ phân biệt thuật ngữ “hộ tịch” và thuật ngữ “hộ khẩu” tại mục 1.2.1 của luận văn

Trang 16

thể: “hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác

định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” [26;

khoản1 Điều 2] Theo đó, điều 3 của Luật Hộ tịch ghi nhận các sự kiện sau

đây: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải cách hộ

tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử; Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người đã mất tích,

đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Nhằm làm rõ nội hàm

một số thuật ngữ ở trên, Luật tiếp tục giải thích:

Thay đổi hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay

đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật dân sự

Xác định lại dân tộc là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký

xác định lại dân tộc của cá nhân theo quy định của Bộ Luật Dân sự

Cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi

những thông tin hộ tịch của cá nhân trong trường hợp có sai sót khi đăng ký

hộ tịch

Bổ sung hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cập nhật

những thông tin hộ tịch còn thiếu cho cá nhân đã được đăng ký

Như vậy dưới góc độ của ngôn ngữ và quy định của pháp luật có thể

hiểu khái niệm “hộ tịch” như sau: Hộ tịch là những sự kiện xảy ra trong cuộc

sống của mỗi cá nhân từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi mà theo quy định của pháp luật nó được dùng để xác định tình trạng nhân thân của người đó

Với cách định nghĩa này, “hộ tịch” không được hiểu là “quyển sổ” dùng để ghi chép các “sự kiện hộ tịch”, thay vào đó bản thân nó chính là các

Trang 17

“sự kiện hộ tịch” và những sự kiện hộ tịch này chính là căn cứ để xác định tình trạng nhân thân của một cá nhân cụ thể trong xã hội với tư cách là một chủ thể cơ bản trong quan hệ pháp luật Để xác định được quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong một quan hệ pháp luật, công việc đầu tiên cần xác định chủ thể là ai? Rõ ràng không có cách nào khách là căn cứ vào tình trạng nhân thân của họ Trong khoa học hình sự khi cần, người ta lấy mẫu vân tay để có cơ sở

so sánh và kết luận Trong hộ tịch, việc xác định các thành tố như họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, thời điểm chết hoặc các quan hệ thân nhân khác như quan hệ cha con, vợ chồng, nghề nghiệp, nơi cư trú… là những cơ sở để phân biệt các chủ thể với nhau

Quản lý nhà nước về hộ tịch là một nội dung trong quản lý nhà nước về Hành chính – Tư pháp Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật làm công cụ để điều chỉnh hành vi của con người trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Hiện nay, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ quản lý nhà nước được hiểu theo hai phạm vi: nghĩa rộng và nghĩa hẹp [46; tr51]

Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở để thi hành hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên nhằm đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của cá nhân, tổ chức, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Trên cơ sở nội hàm khái niệm quản lý nhà nước và khái niệm hộ tịch có

thể hiểu quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động của các cơ quan hành

chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước

Trang 18

thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Như đã đề cập, khi phân tích khái niệm hộ tịch, hiện nay trong thực tế nhiều người đang có sự nhầm lần giữa quản lý nhà nước về hộ tịch với quản

lý nhà nước về hộ khẩu Theo quy định của Luật Cư trú năm 2006: “Đăng ký

thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp

hộ khẩu cho họ” Luật này tiếp tục quy định: “Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân” Như vậy, quản lý nhà nước về hộ tịch và quản lý

nhà nước về hộ khẩu đều là quản lý nhà nước dân cư Tuy nhiên hai khái niệm này có thể được phân biệt dưới một số góc độ sau:

Thứ hai, về phương diện bảo vệ quyền nhân thân

Trang 19

Quản lý nhà nước về hộ khẩu chỉ là biện pháp bảo vệ quyền tự do cư trú hợp pháp của cá nhân, còn quản lý nhà nước về hộ tịch là phương tiện để mỗi cá nhân thực hiện tổng thể rất nhiều quyền nhân thân cơ bản của mình Đơn vị “hộ” được dùng làm đơn vị quản lý nhà nước về dân cư của cả quản lý nhà nước về hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ khẩu, nhưng trong quản lý nhà nước về hộ tịch, mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ chỉ có thể là mối quan hệ gia đình hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Trong quản lý nhà nước về hộ khẩu, thì cùng một đơn vị

hộ khẩu chỉ cần ở chung một nhà cũng có thể đăng ký theo một đơn vị hộ khẩu, không nhất thiết các thành viên phải có quan hệ gia đình với nhau

Thứ ba, về chủ thể quản lý

Theo pháp luật hiện hành thì quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động chuyên môn của ngành Tư pháp3, còn quản lý nhà nước về hộ khẩu là hoạt động chuyên môn của ngành Công an Các vấn đề về hộ tịch và hộ khẩu có sự phân biệt tương đối rõ ràng được thể hiện ở trên, nhưng trong thực tiễn đời sống của mỗi cá nhân thì các vấn đề này có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, chẳng hạn:

Sau khi đã kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn là giấy tờ cần có để làm căn cứ cho việc chuyển hộ khẩu của người vợ về nơi cư trú của người chồng Hoặc cơ quan quản lý nhà nước về hộ khẩu phải căn cứ vào giấy chứng tử của một người đã chết trong gia đình để xóa tên người đó trong hộ khẩu gia đình Thủ tục đăng ký hộ tịch bao gồm khai sinh, khai tử, kết hôn, nuôi con nuôi…, các giấy tờ về hộ khẩu như sổ hộ khẩu hoặc giấy xác nhận tạm trú có thời hạn được xem là loại giấy tờ quan trọng trong hồ sơ đăng ký hộ tịch các loại giấy

tờ này cần phải có Giấy tờ hộ khẩu thể hiện vai trò quan trọng của mình trong

3 không phải Tòa án và Viện Kiểm soát

Trang 20

hoạt động đăng kí hộ tịch, từ đây cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để đăng

ký hộ tịch theo quy định của pháp luật

Từ quan niệm, luận giải nêu trên, cho thấy, quản lý nhà nước về hộ tịch

có các đặc điểm như sau:

Đầu tiên, quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong những hoạt động

của quản lý nhà nước, thể hiện quyền lực nhà nước đây là Quyền hành pháp Quản lý nhà nước về hộ tịch được thể hiện thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước về hộ tịch mang tính chất quyền lực nhà nước trong các hoạt động về hộ tịch có liên quan Việc tổ chức thực hiện các văn bản này thể hiện ý chí của nhà nước thông qua các hoạt động áp dụng pháp luật bằng các mệnh lệnh cá biệt để đưa pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch vào thực tiễn

Thứ hai, quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện bởi các chủ thể

được nhà nước giao quyền là các cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức trong các cơ quan này thực hiện các công việc có liên quan về hộ tịch Các cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ được giao quyên là: Chính phủ, Bộ, các cơ quan chuyên môn có liên quan thuộc UBND, Ủy ban Nhân dân và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý về tư pháp - hộ tịch

Thứ ba, quản lý nhà nước về hộ tịch được tổ chức chặt chẽ từ Trung

ương tới địa phương và có tính thống nhất cao Tồn tại song song đó còn có một số đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội vậy nên

để tạo sự sáng tạo, chủ động trong việc điều hành, quản lý các vấn đề liên quan tới hộ tịch vẫn còn được tổ chức theo hướng trao quyền, phân cấp, giao nhiệm vụ cụ thể cho địa phương

1.1.2 Nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

1.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch

Trang 21

Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch tức là những việc mà chủ thể quản lý nhà nước về hộ tịch thực hiện trong lĩnh vực hộ tịch Luật Hộ tịch và trước đây là Nghị định số 158/2005/NĐ-CP không có điều riêng quy định về những nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung cũng như chúng ta thường gặp trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực quản lý nhà nước khác Thay vào đó, Luật Hộ tịch quy định cụ thể nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch cho từng chủ thể có thẩm quyền trong lĩnh vực hộ tịch, cụ thể Luật quy định từ Điều 65 (bắt đầu từ Chính phủ) cho đến Điều 71 (kết thúc ở UBND cấp xã) Tuy nhiên, khái quát lại chúng ta có thể thấy quản

lý nhà nước về hộ tịch có những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, ban hành theo thẩm quyền hoặc soạn thảo để trình cơ quan

có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch Trong đó thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản được thực hiện theo đúng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định

Thứ hai, thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật Hiện

nay, theo hướng phân cấp mạnh thẩm quyền đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch quy định việc đăng ký hộ tịch do UBND cấp huyện, UBND cấp xã và cơ quan đại diện (viên chức ngoại giao, lãnh sự) thực hiện Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch được quy định từ Điều 13 đến Điều 56 Luật Hộ tịch, những quy định này tiếp tục được làm rõ tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP

Thứ ba, Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về hộ

tịch theo thẩm quyền thông quan Thông quan việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới sẽ giúp cấp dưới thực hiện đúng nhiệm vụ của mình, hạn chế tình trạng buông lỏng quản lý của cấp dưới hoặc những sai phạm do cán bộ, công chức gây ra Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch giúp đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của

Trang 22

cá nhân, đồng thời cũng khôi phục trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực này

bị xâm phạm Thẩm quyền, trình tự, thủ tục hoạt động thanh tra tuân theo quy định của pháp luật về thanh tra, hoạt động giải quyết khiếu nại tuân thủ pháp luật khiếu nại, hoạt động giải quyết tố cáo tuân thủ pháp luật về tố cáo, hoạt động xử lý vi phạm pháp luật tuân thủ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

và xử lý vi phạm kỉ luật

1.1.2.1 Trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

Trên cơ sở cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước cùng tham gia vào quản lý nhà nước về hộ tịch nên pháp luật về hộ tịch quy định về trách nhiệm của các cơ quan đó trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch gắn với nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được giao

Chủ thể quản lý cao nhất đối với Quản lý nhà nước về hộ tịch là Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Bởi Quản lý nhà nước về hộ tịch là một nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp Tại Khoản 3, Điều 6 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý nhà nước về hộ tịch Luật này được sửa đổi năm 2019: Chính phủ “Thống nhất quản lý công tác hành chính tư pháp, các hoạt động về luật sư, giám định tư pháp, công chứng và bổ trợ tư pháp; tổ chức và quản lý công tác thi hành án, quốc tịch, hộ khẩu, hộ tịch” Tuy nhiên, với vị trí pháp lý là cơ quan đứng đầu hệ thống hành pháp, có quyền quyết định tối cao đối với việc giải quyết mọi vấn đề thuộc địa hạt quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực, trên phạm vi toàn quốc (trừ những vấn

đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước), Chính phủ được coi là chủ thể quản lý đặc biệt Các hoạt động quản lý trên các lĩnh vực đều phải thông qua các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc cơ cấu của Chính phủ như Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ Điều đó

Trang 23

cho thấy từ góc độ tính chất hoạt động, Chính phủ được xem như chủ thể hình thức

Từ năm 1987 về trước, Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Hội đồng Bộ trưởng thực hiện việc quản lý nhà nước về hộ tịch thống nhất trên toàn quốc Từ năm

1987 đến nay nhiệm vụ này được chuyển giao cho Bộ Tư pháp và UBND các cấp trên cơ sở trên cơ sở Nghị định số 219/HĐBT ngày 20/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

Hiện nay, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta được

tổ chức theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Ta thấy với mỗi cơ quan quản lý có thẩm quyền chung của một cấp hành chính sẽ đi cùng một cơ quan chuyên ngành cùng cấp nhằm giúp cơ quan quản lý thẩm quyền chung đó thực hiện tốt nhiệm vụ của mình về quản lý nhà nước về hộ tịch Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch theo Mục 1 chương 6 Luật

Hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ V/v Quy định một số điều và biện pháp thi hành luật Hô tịch, có thể được biểu diễn bằng mô hình

1.2 Nội dung và trách nhiệm của quản lý nhà nước về hộ tịch

Quản lý nhà nước về hộ tịch có ý nghĩa rất quan trọng để Nhà nước thực hiện quản lý dân cư và quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh Đồng thời tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ các quyền nhân thân phi tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản cá nhân

Có thể nói, trong xã hội hiện đại, khi khái niệm quyền con người đã được nhận thức như một giá trị chung của nhân loại thì cùng với nó, hầu như tất cả các quốc gia đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước về hộ tịch Nếu quản lý nhà nước về dân cư được xem là nội dung quan

Trang 24

trọng nhất trong tổng thể hoạt động quản lý xã hội thì quản lý nhà nước về hộ tịch, với các lợi ích của nó được xác định ở vị trí trung tâm của hoạt động quản lý nhà nước về dân cư

Về mặt lý luận, quản lý nhà nước về hộ tịch là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước, có những ý nghĩa quan trọng xét trên ba phương diện cơ bản:

Một là, quản lý nhà nước về hộ tịch là căn cứ để Nhà nước đưa ra các

chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, an ninh - quốc phòng …và và thực hiện các chính sách đó một cách hiệu quả Với hệ thống quản lý dữ liệu

hộ tịch có chính xác, đầy đủ thông tin và được cập nhật thường xuyên, liên tục sẽ là nguồn thông tin hết sức quan trọng, quý giá luôn sẵn sàng hỗ trợ một cách có hiệu cho việc hoạch định các chính sách phát triển an sinh, xã hội một cách tốt nhất, có tính khả thi, giảm thiểu chi phí thực hiện Chính vì số liệu thống kê hộ tịch của chúng ta trong thời gian qua không đáng tin cậy nên định

kì 10 năm một lần, Nhà nước ta phải bỏ ra vài trăm tỉ cho các cuộc Tổng điều tra dân số (năm 2009 chi tới trên 400 tỉ đồng), trong khi nếu số liệu về hộ tịch đầy đủ, chính xác sẽ được sử dụng ngay mà không phải tốn nhiều chi phí cho công tác điều tra, thu thập số liệu Cũng chính vì số liệu thống kê không kịp thời, đầy đủ, thiếu chính xác nên không đủ độ tin cậy để làm cơ sở hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước

Hai là, quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước

đối với việc thực hiện các quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015, ví dụ như quyền đổi với họ tên, quyền đổi với quốc tịch, quyền xác định dân tộc, quyền kết hôn, quyền li hôn, quyền được nuôi con nuôi Ở phương diện này, đăng ký

hộ tịch chính là phương tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền

Trang 25

nhân thân đó Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn…) là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua đó các cơ quan

tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không

Ba là, quản lý nhà nước về hộ tịch có vai trò rất quan trong đối với việc

đảm bảo sự ổn định trật tự xã hội Có thể thực hiện truy vết nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng nhờ Hệ thống sổ bộ hộ tịch Sự khẳng định chính thức của nhà nước về vị thế của một cá nhân trong gia đình và xã hội là các chứng thư hộ tịch do người có thẩm quyền lập theo thủ tục chặt chẽ Trong thực tế hoạt động thuộc lĩnh vực tư pháp để đánh giá năng lực chủ thể của một đối tượng nào đó các cơ quan tiến hành tố tụng thường căn cứ vào giấy khai sinh của cá nhân đó Giấy khai sinh có đầy đủ các dữ liệu căn bản, quan trong của

cá nhân như ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tich, họ tên cha mẹ… Vậy nên các thông tin thể hiện trên giấy khai sinh có thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, Trên cơ sở quan trọng của quản lí nhà nước về hộ tịch nên quốc gia luôn chú trọng đến vấn đề xây dựng hệ thống quản lý nhà nước về hộ tịch, khai thác và sự dụng hiệu quả các dữ liệu này

Quản lý nhà nước về hộ tịch có vai trò quan trọng, đây chính là quản lý

về thông tin nhân thân, xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra cho tới khi chết đi Nhà nước bảo vệ các quyền con người của mỗi

cá nhân được bảo hộ thông qua các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành cụ thể như quyền về nhân thân được Hiến pháp năm 2013 và Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về các quyền như: công dân có quyền được khai sinh, quyền thay đổi họ, tên, quyền xác định dân tộc, quyền được kết hôn, quyền được ly hôn, quyền được khai tử Điều đó thể hiện hộ tịch cũng như

Trang 26

quản lý nhà nước về hộ tịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạch định, quản lý, điều hành các chiến lược của nhà nước trong việc về phát triển kinh

tế - xã hội, quốc phòng - an ninh

Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về hộ tịch còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhiều lĩnh vực khác nhau trong hệ thống chính trị chung của nhà nước và của các địa phương bởi lĩnh vực này quản lý về thông tin cá nhân của từng con người cụ thể từ lúc sinh ra cho tới khi chết đi Quản lý nhà nước về

hộ tịch còn có vai trò to lớn đối với việc quản lý về dân cư của một quốc gia Đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước… nhằm thể chế hóa mối quan

hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lý

Chung quy lại, quản lý nhà nước về hộ tịch là nhiệm vụ đặc biệt quan

trọng, được chính quyền các cấp thực hiện thường xuyên để theo dõi thực trạng, sự thay đổi hay biến động về hộ tịch; từ đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được kết hôn khi đủ tuổi theo quy định, quyền được thừa kế, quyền được giám hộ, quyền được bảo vệ Trên cơ sở đó các cấp quản lí có thẩm quyền xây dựng chính sách phù hợp dựa trên dân số theo độ tuổi, giới tính, nguồn nhân lực … những yếu tố này cơ sở để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phong, thể dục - thể thao, xây dựng cơ sở y tế, trường học, bố trí giáo viên, chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân, đảm bảo cân bằng giới tính, phục vụ an ninh - quốc phòng cũng như về dân số, kế hoạch hóa gia đình…

Trang 27

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hộ tịch

1.3.1 Nhu cầu đăng ký hộ tịch trong thực tiễn

Xét từ phương diện lý luận thì quản lý nhà nước về hộ tịch có vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư Đây là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia hiện đại, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển, đều phải quan tâm Sự ổn định về anh ninh, chính trị của một đất nước có quan hệ mật thiết, song hành với chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý dân cư nói chung và quản lý nhà nước về hộ tịch nói riêng Điều

đó cho thấy các vấn đề pháp lý về quản lý nhà nước về hộ tịch có đóng vai trò quan trọng như các vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, pháp lý về quốc tịch, hay về biên giới quốc gia, Chính quyền các cấp có thẩm quyền coi việc quản lý nhà nước về hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của, để nắm bắt tình hình, thực trạng hay sự thay đổi, biến động về hộ tịch nhằm làm căn cứ để hoạch định chính sách phát triển kinh tế, an sinh xã hội

Việc ban hành Nghị định thay thế Nghị định 83/1998/NĐ-CP, tiếp đến

là Luật Hộ tịch 2014, Nghị định 123/2015/NĐ-CP đã tạo bước chuyển biến tích cực, tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong quản lý nhà nước về hộ tịch trong cả nước, đồng thời là bước đơn giản hóa thủ tục đăng ký hộ tịch Qua số liệu thống kê cho thấy: Việc quản lý nhà nước về hộ tịch có nhiều sự biến động khác nhau qua các năm, đặc biệt là các thủ tục về đăng ký khai sinh, khai tử và ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác Trong những năm gần đây việc chấp hành đăng ký các sự kiện hộ tịch được nâng cao do ý thức pháp luật của người dân ngày càng tăng trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch Việc chấp hành pháp luật về hộ tịch của người dân ngày càng được cải thiện về chiều rộng lẫn chiều sâu đặc biệt là tỷ lệ đi đăng ký khai sinh đúng hạn, đăng kí kết hôn theo quy đinh, khai tử đúng hạn Song hành cùng đó vai

Trang 28

trò, trách nhiệm của các cấp thẩm quyền có liên quan cũng nhận ra và ngày càng chú trọng hơn đến quản lý nhà nước về hộ tịch

1.3.2 Mức độ hoàn thiện của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch

Mức độ hoàn thiện của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch được đánh giá trên nhiều tiêu chí khác nhau nhưng nếu xét từ mục đích của quản lý nhà nước về hộ tịch thì những tiêu chí cơ bản nhất, có giá trị đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên toàn hệ thống là các tiêu chí đăng ký

“kịp thời, đầy đủ, chính xác” mọi sự kiện hộ tịch Chất lượng của hệ thống pháp luật là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến việc thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch Muốn thực hiện tốt pháp luật về hộ tịch đòi hỏi phải có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch hoàn thiện, đảm bảo được những thuộc tính: tính toàn diện, đồng bộ, tính phù hợp, tính thống nhất

và trình độ kỹ thuật lập pháp

Một là, tính toàn diện và đồng bộ

Tính toàn diện và đồng bộ có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch, nó đòi hỏi chế định pháp luật này phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu điều chỉnh của pháp luật trên những mối quan hệ xã hội nảy sinh trong lĩnh vực hộ tịch mà chủ yếu là mối quan hệ giữa công dân và cơ quan hành chính nhà nước Tính toàn diện và đồng bộ của quản lý nhà nước

về hộ tịch thể hiện ở chỗ từng quy phạm pháp luật phải có cấu trúc logic, chặt chẽ; chế định pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch phải có đầy đủ các quy phạm đáp ứng nhu cầu phát triển của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hộ tịch

Hai là, tính thống nhất của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch

Tính thống nhất của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện ở chỗ: giữa các quy phạm pháp luật trong chế định pháp luật này phải thống

Trang 29

nhất, không trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau Việc quy định không thống nhất, chồng chéo sẽ gây khó khăn, cản trở việc thực hiện pháp luật Tính thống nhất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc thực pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch, muốn việc thực pháp luật quản lý nhà nước về

hộ tịch được thống nhất thì chế định pháp luật này phải đảm bảo tính thống nhất

Ba là, tính phù hợp của hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch

Tính phù hợp của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện mối tương quan giữa trình độ pháp luật với trình độ phát triển kinh tế - xã hội Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, không được cao hơn hoặc thấp hơn Nếu trình độ của pháp luật chênh lệch so với trình độ phát triển kinh tế - xã hội thì pháp luật sẽ những vướng mắc trong việc thực hiện, gây ra những khó khắn, cản trở hoặc

có thể không thực hiện được, tính phù hợp của pháp luật được thể hiện ở nhiều mặt, nhưng cần quan tâm hơn cả là sự phù hợp đối với kinh tế, chính trị

và các thiết chế xã hội khác

Bốn là, tính khả thi của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch

Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch muốn phát huy được vai trò và giá trị của mình trong quá trình thực hiện thì phải đảm bảo tính khả thi Thực

tế cho thấy, nhiều quy định của pháp luật ban hành không có tính khả thi nên không thực hiện được Yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quan trong đến việc thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch là chất lượng của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, phù hợp… sẽ tạo cơ sở cho việc quản lý nhà nước về hộ tịch được dễ dàng, nghiêm minh và ngược lại

Trang 30

1.3.3 Ý thức pháp luật của nhân dân khi tham gia quản lý nhà nước về

hộ tịch

Vai trò, trách nhiệm của người dân trong tham gia xây dựng chính quyền nhà nước nói chung được thực hiện dưới hai hình thức: Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Trong đó, quản lý nhà nước về hộ tịch cần hết sức coi trọng các hình thức dân chủ trực tiếp, cụ thể như việc lấy ý kiến nhân dân

về công tác đánh giá cán bộ, công chức; trực tiếp tổ chức, thực hiện việc đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, góp phần duy trì trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ và công bằng

xã hội

Do các cấp uỷ, chính quyền địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch, nên đã quan tâm, đầu tư hơn cho công tác tuyên truyền Qua đó, người dân đã nhận thức được việc đăng ký

hộ tịch vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình nên đã tự giác đi đăng ký hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn…) Theo Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch về đăng ký khai sinh, kết hôn, quản lý và sử dụng Sổ hộ tịch trong giai đoạn Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa được vận hành thống nhất trên cả nước (sau đây gọi là giai đoạn chuyển tiếp); đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra

do mang thai hộ; khai sinh, kết hôn, nhận cha, mẹ, con, khai tử tại khu vực biên giới; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; đăng ký khai sinh cho trẻ

em sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam; đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại UBND cấp huyện; ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài; đăng ký lại khai sinh, kết

Trang 31

hôn, khai tử; việc bố trí công chức tư pháp - hộ tịch làm công tác hộ tịch chuyên trách và một số biện pháp thi hành Luật Hộ tịch Những quy định này

đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia vào công tác quản lý nhà nước về hộ tịch Khi người dân tham gia tốt vào công tác quản lý nhà nước về

hộ tịch thì tạo sự thuận lợi cho việc đăng ký, quản lý nhà nước về hộ tịch; giám sát quá trình đăng ký, quản lý nhà nước về hộ tịch của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền; góp ý, hiến kế để công tác quản lý nhà nước về hộ tịch được đổi mới góp phần từng bước nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước về hộ tịch, phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu bảo đảm, thực hiện các quyền của công dân

Như vậy, đã có văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch phù hợp và thuận lợi, có đội ngũ cán bộ, công chức đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ thì kết quả đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào ý thức của người dân Nếu người dân cho rằng chưa vội phải đăng ký hộ tịch (chết thì đã được chôn rồi, khai sinh thì còn lâu mới đi học…), thì công tác đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch vẫn sẽ chưa được kịp thời và đầy đủ

1.3.4 Năng lực quản lý nhà nước về hộ tịch của cơ quan nhà nước, cán

Trang 32

Đảng, nhà nước đến với nhân dân, là người vừa tuyên truyền cho nhân dân hiểu các quy quy định của nhà nước, vừa là người thực hiện các quy định đó Bên cạnh đó các thông điệp từ người dân cũng được cán bộ, công chức chuyển tải lại cho cơ quan ban hành, để có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với sự vận động phát triển của quản lý Theo tư tưởng của Bác Hồ thì

“cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [31] Trên thực tế quản lý nhà nước ở tại các cấp chính quyền đều phải phụ thuộc vào yếu tố con người Con người

ở đây chính là cán bộ, công chức, người xây dựng chính sách, người chuyển tải chính sách đó đến với người dân, là người thực hiện chính sách Trong một chừng mực nào đó, cán bộ vừa là chủ thể quản lý, nhưng cũng đồng thời là đối tượng quản lý Vì thế trong quản lý nói chung và trong quản lý nhà nước

về hộ tịch nói riêng thì đội ngũ cán bộ là một trong những thành tố quan trọng quyết định tính hiệu quả của quản lý nhà nước về hộ tịch, điều đó được cấu thành bởi các yếu tố như sau:

Một là, trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch Yếu tố năng lực của đội ngũ làm công tác hộ tịch thể hiện qua việc có thể đảm nhiệm được công việc được giao phó, đây cũng là khẳng định khả năng hoàn thành công việc chuyên môn, là người có khả năng kiểm soát được công việc, thực hiện các thao tác, chủ động giải quyết các vấn đề trong phạm vi chức trách của mình Năng lực ở đây vừa phản ánh trình độ, vừa phản ánh tinh thần trách nhiệm dám làm và dám chịu trách nhiệm với công việc của mình Khả năng thực hiện pháp luật chủ thể áp dụng pháp luật thể hiện sự thành thạo trong công việc, có tinh thần trách nhiệm cao, tránh hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, giấy tờ hình thức Thực tế cho thấy sự quan liêu, chậm trễ, thiếu tinh thần trách nhiệm của một số cơ quan và cán bộ, công chức trong giải quyết đơn thư khiếu nại của nhân dân trong quản lý nhà nước về hộ tịch

Trang 33

dẫn đến nhiều vụ việc đơn giản trở nên phức tạp, nhiều sự oan ức, bất bình trong nhân dân không được giải quyết

Hai là, sự hiểu biết pháp luật và cách thức quản lý đây là nội dung để đánh giá đội ngũ làm công tác hộ tịch Cán bộ làm công tác hộ tịch là những người trước hết phải hiểu biết pháp luật, hành pháp luật nghiêm chỉnh, phải luôn tiên phong đi đầu trong thực thi và chấp hành pháp luật Song song với

đó là cách thức quản lý, ngoài việc thực thi nhiệm vụ, nó còn cho thấy cách thức quản lý như thế nào cho khoa học, tiện lợi và hiệu quả Cụ thể phản ánh phương pháp điều hành, tổ chức, khai thác, cập nhật, tổng hợp, lưu trữ trong quá trình thực thi công việc Mục tiêu đặt ra ở đây là hiệu quả công việc cao, tốn ít thời gian và chi phí nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc trong hiện tại

và có hướng hữu ích trong tương lai như đáp ứng khả năng sử dụng, khai thác, tìm kiếm cơ sở dữ liệu của ngành

Ba là, đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý nhà nước về hộ tịch cần có

sự đổi mới và thay đổi Ngoài việc thực hiện các quy định chung thì đội ngũ này cần sự linh động, sáng tạo, biết cách vận dụng trong quản lý sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tiễn, cũng như hoàn cảnh của từng địa phương Các nhà quản lý nhận điều này từ quá trình quản lý và trở thành hành động, nó là sự phản hồi từ cách thức quản lý và thực hiện của cả một hệ thống, nhằm rút ra những kinh nghiệm từ đó có hướng vận hành mới với thực tiễn Làm được những điều đó thì quản lý nhà nước về hộ tịch sẽ có một diện mạo mới, trật tự mới cùng với đó là niềm tin và sự hài lòng của người dân

Bốn là, đạo đức nghề nghiệp theo Chủ tịch Hồ Chí Minh người cán bộ bên cạnh việc thực hiện tốt công việc chuyên môn có năng lực, hiệu quản thì còn phải có các đức tính tốt là “Nhân – Nghĩa- Trí - Dũng - Liêm” Trong đó

“Nhân” là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào, kiên

Trang 34

quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân, sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, không ham giầu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền; “Nghĩa” là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có lợi ích riêng phải lo toan;

“Trí” là không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng.; “Dũng” chính là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm, có gan sửa chữa;

“Liêm” chính là không tham địa vị, không tham tiền tài, vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa Vậy nên đạo đức công vụ của người quản lý không nằm ngoài các yếu tố trên Khi thực hiện công việc của mình thì người quản lý phải làm việc có tĩnh thần - trách nhiệm, cố gắng hết sức và năng lực của mình, không nghĩ đến lợi lộc của bản thân, không phiền hà, hách nhiễu nhân, gây khó khắn cho dân… Phài là những người cán bộ tư cách đạo đức tốt, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm và thực sự là những con người của công việc đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của ngành và xứng đáng sự tin tưởng của nhà nước và nhân dân

Bên cạnh đó, điều kiện vật chất - kỹ thuật đảm bảo việc quản lý nhà

nước về hộ tịch Kinh phí, cơ sở vật chất trang thiết bị cho hoạt động thực hiện pháp luật là một trong những điều kiện cần thiết để quản lý nhà nước về

hộ tịch được hiệu quả Trong điều kiện hiện nay việc hoàn thiện hệ thống cơ

sở dữ liệu quốc gia, nhanh chóng áp dụng chính phủ điện tử là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo quản lý nhà nước hộ tịch

Tổ chức bộ máy, nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta hiện nay thực hiện theo Luật Hộ tịch gồm 7 cơ quan có thẩm quyền quản lý, thể hiện sâu sắc ở sự vận dụng tư duy mới về cải cách hành chính và

tổ chức bộ máy, nhân lực thực hiện “Phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương nhằm quy định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm

Trang 35

quyền, trách nhiệm của mỗi cấp trong hệ thống hành chính Nhà nước; phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương trong giải quyết công việc cho dân nhanh chóng, thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và của cả nước”

Mặt khác, Luật Hộ tịch đã thực hiện sự phân cấp mạnh mẽ theo hướng chuyển giao một số loại việc trước đây thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh cho Sở Tư pháp, UBND cấp huyện và UBND cấp xã Đây được coi là điểm mốc đánh dấu sự vận dụng một tư duy mới về phân cấp quản lý nhà nước trong công tác hộ tịch “việc nào, cấp nào thực hiện tốt hơn thì giao cho cấp đó”, đồng thời cũng thể hiện sự đánh giá cao hơn về khả năng đảm nhận những nhiệm vụ ngày càng phức tạp hơn của hệ thống UBND cấp xã và UBND cấp huyện

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Có thể nói, Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi như họ, tên, cha, mẹ, sinh, tử, kết hôn, ly hôn, xác định thành phần dân tộc, quốc tịch … gắn chặt với cá nhân con người Hộ tịch vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, gắn liền quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi công dân Việc quản lý nhà nước về hộ tịch

là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số - kế hoạch hóa gia đình Trên cơ sở pháp lý thống nhất, ổn đinh và lâu dài cho công tác quản lý nhà nước về hộ tịch và tạo sự thay đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, để phù hợp với sự phát phát triển của nước ta trong thời kỳ đổi mới Thì việc có hệ thống các quy định pháp luật sẽ tạo thành cơ

sở pháp lý vững chắc cho quản lý nhà nước về hộ tịch

Qua kết quả nghiên cứu của chương 1, có thể rút ra một số vấn đề sau: Thứ nhất, Luận văn nghiên cứu làm rõ các nội dung về hộ tịch, quản lý nhà nước về hộ tịch, vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch Thứ hai, quản lý nhà nước về hộ tịch bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chất lượng pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch; công tác tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch; cơ sở vật chất; năng lực quản lý nhà nước về hộ tịch của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền; nhu cầu đăng

ký hộ tịch trong thực tiễn, ý thức pháp luật của nhân dân khi tham gia quản lý nhà nước về hộ tịch Những nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch sẽ là nền tảng và điều kiện quan trọng để nghiên cứu, phân tích thực tiễn

Trang 37

quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng hiện nay

Trang 38

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Những yếu tố ảnh hường đến quản lý nhà nước về hộ tịch tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

2.1.1 Yếu tố về tự nhiên

Về Vị trí địa lý: Đam Rông là một huyện vùng sâu, vùng xa vùng đặt biệt khó khăn nằm ở phía Bắc tỉnh Lâm Đồng trên trục đường Quốc lộ

27 từ Lâm Đồng đi Đắk Lắk Được thành lập ngày 17/11/2004 trên cơ sở tách

3 xã từ huyện Lạc Dương và 3 xã thuộc huyện Lâm Hà Huyện Đam Rông nằm trên cao nguyên Lâm Viên; phía Bắc giáp: Tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp: Huyện Lâm Hà, phía Đông giáp huyện Lạc Dương, phía Tây giáp: Tỉnh Đắk Nông

Về Điều kiện tự nhiên: Với tổng diện tích tự nhiên là 873,7 km², trong

đó diện tích đất Lâm nghiệp chiếm 77,1% diện tích tự nhiên khoảng 66.909

ha Đam Rông là một trong số 61 huyện nghèo của cả nước Địa hình có hướng cao dần từ phía bắc và đông bắc lên phía nam và tây nam Địa hình đa

số là núi cao đồi thấp và thung lũng, có thể phân thành 3 dạng chính sau:

- Địa hình núi cao: Được phân bổ hình cánh cung từ phía nam kéo sang đông bắc và tây bắc với độ cao từ khoảng 1000 đến 1300m Vùng này có diện tích khoảng 63.400 ha, chiếm 73.4 % tổng diện tích toàn huyện

- Địa hình đồi thấp: Được tập trung ở khu vực phía bắc của huyện và ở giữa, độ cao trung bình từ khoảng 600 đến 700 m với diện tích khoảng 18.000

ha, chiếm 20.8 % diện tích của cả huyện

Trang 39

- Địa hình thung lũng: Được phân bố tập trung ở khu vực phía đông bắc Vùng này có độ cao khoảng từ 400 đến 500m với một phần nhỏ diện tích khoảng 5.000 ha, chiếm 5.8 % diện tích toàn huyện,

Yếu tố tự nhiên của huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng có đặc thù là đồi núi hiểm trở, cư dân phân bố rải rác, không tập trung, xa khu trung tâm Các yếu tố này đã ảnh hưởng đến quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch Vấn đề này được xem là rất quan trọng đối với thông tin mỗi cá nhân đang cư trú, sinh sống, là cơ sở cho quản lý các lĩnh vực khác trên địa bàn thuộc một đơn vị hành chính cụ thể, có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý đối với việc được hưởng các quyền và nghĩa vụ của mình được nhà nước bảo hộ

Với sự nỗ lực của Nhà nước, chính quyền các cấp và bà con nhân dân trên địa bàn huyện trải qua nhiều năm hình thành, phát triển diện mạo của một Huyện mới đã có nhiều thay đổi; Đặc biệt đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện nhiểu về vật chất lẫn tinh thần Đáng kể nhất là tình hình an ninh - chính trị, trật tự - xã hội luôn được giữ vững và ổn định Tỷ lệ

Trang 40

hộ nghèo giảm mạnh theo các năm, đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,5%

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 12,1%/năm (KHNQ 11,5%/năm); trong đó nông - lâm - thủy sản tăng 9,1%, công nghiệp - xây dựng tăng 14,7%; dịch vụ tăng 15,7%

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; trong đó: ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản 47,12% (KHNQ 47-50%), công nghiệp - xây dựng 14,92% (KHNQ 14-17%), dịch vụ 37,96% (33-35%)

- Tổng thu ngân sách nhà nước tăng 0,7%, trong đó thuế phí tăng bình quân 14,4%/năm (KHNQ 14-15%)

- Tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt 4.561,6 tỷ đồng/ KHNQ 3.947,3 tỷ đồng, bằng 115,6% KH

Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng có hệ thống cơ sở hạ tầng thuộc loại khó khăn nhất cả nước Người dân có sự hạn chế về vật chất, trình độ dân trí thấp, có ít vốn xã hội như y tế, giáo dục và tiếp cận xã hội còn hạn chế do chủ yếu sinh sống ở các vùng xa xôi, cách trở nên khả năng tiếp cận với môi trường bên ngoài còn hạn chế dẫn đến việc không cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật, trong đó có các văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước

về hộ tịch

2.1.3 Yếu tố dân cư, văn hóa – xã hội

Tính đến nay dân số của huyện Đam Rông là 11.964 hộ với 47.069 nhân khẩu, Chủ yếu là người dân tộc thiểu số gốc tây nguyên với 8.787 hộ/35.018 nhân khẩu chiếm 74,4% dân số của toàn huyện Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số đồng bào dân tộc thiểu số di cư từ các tỉnh Miền núi phía Bắc đến sinh sống, như: Tày, Mông, Nùng,Thái, Hoa, Dao, Mường, …

Ngày đăng: 27/12/2020, 05:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w