Phương pháp nghiên cứu - Thu thập nội dung các phương pháp giảm bậc mô hình, các thuật toán điều khiển cân bằng xe hai bánh thông qua sách, các tạp chí chuyên ngành và qua mạng Ý nghĩa
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác
Thái nguyên, ngày 20/7/2020
Tác giả luận văn
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, lời cảm ơn sâu sắc tới
thầy giáo TS Vũ Ngọc Kiên, người đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn em trong
suốt thời gian qua
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với các thầy cô giáo trong Khoa, bộ môn
cùng đông đảo bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ rất nhiều cho việc thực hiện luận văn
này
Mặc dù được sự chỉ bảo sát sao của thầy hướng dẫn, sự nỗ lực cố gắng của
bản thân Song vì kiến thức còn hạn chế, nên chắc chắn luận văn này không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo
và sự góp ý chân thành của các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỞ ĐẦU
Tăng tốc độ xử lý và tính toán hiện nay là một hướng ưu tiên nghiên cứu trong lĩnh vực kỹ thuật Để tăng tính toán, có một số hướng tiếp cận sau:
1 Sử dụng tối ưu thông lượng bộ nhớ cho các vi xử lý song song
2 Phân rã các bài toán và lập trình song song theo nghĩa tính toán hiệu năng cao
3 Quay về dùng các chip tương tự như mạng nơ ron tế bào (CNN)
4 Tìm cách giảm độ phức tạp của thuật toán mà vẫn đảm bảo sai số theo yêu cầu
Giảm độ phức tạp của thuật toán chính là giảm bậc mô hình mà luận văn sẽ tập
trung nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về giảm bậc mô hình xe hai bánh tự
cân bằng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Một trong những khó
khăn nhất của vấn đề nghiên cứu xe hai bánh là khả năng duy trì cân bằng ổn định
trong những địa hình khác nhau Trong đó, một vấn đề khó khăn là nghiên cứu điều
khiển cân bằng xe hai bánh Để giải quyết vấn đề cân bằng xe hai bánh, có ba
phương pháp cơ bản như sau:
(i) điều khiển cân bằng bằng bánh đà,
(ii) điều khiển cân bằng sử dụng lực ly tâm
(iii) điều khiển cân bằng cách thay đổi tâm của trọng lực
Trong số ba phương pháp đó, cân bằng nhờ sử dụng bánh đà có ưu điểm là đáp ứng
nhanh và có thể cân bằng ngay cả khi xe không di chuyển
Do xe hai bánh thường phải làm việc trong các điều kiện khác nhau, tải trọng mang theo có thể thay đổi, ngoại lực tác động vào xe có thể thay đổi nên việc mô
hình hóa xe hai bánh tự cân bằng gặp nhiều khó khăn và có thể coi xe hai bánh là
đối tượng bất định Do tính chất bất định của mô hình xe hai bánh nên thuật toán
điều khiển bền vững như trong nghiên cứu là thích hợp nhất
Lý thuyết điều khiển H∞ là một lý thuyết điều khiển hiện đại cho việc thiết kế
Trang 5đổi hoặc chịu tác động của nhiễu bên ngoài Tuy nhiên, thiết kế bộ điều khiển theo
lý thuyết điều khiển H∞, bộ điều khiển thu được thường có bậc cao (bậc của bộ điều
khiển được xác định là bậc của đa thức mẫu) Bậc của bộ điều khiển cao có nhiều
bất lợi khi chúng ta đem thực hiện điều khiển trên xe hai bánh, vì mã chương trình
phức tạp Vì vậy, việc giảm bậc bộ điều khiển mà vẫn đảm bảo chất lượng có một ý
nghĩa thực tiễn
Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu và đánh giá ưu nhược điểm của các phương pháp giảm bậc mô
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các thuật toán giảm bậc mô hình, xe hai bánh tự cân bằng
- Phạm vi nghiên cứu: Thuật toán chặt cân bằng cho hệ tuyến tính ổn định và không ổn định; bài toán điều khiển cân bằng xe hai bánh
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập nội dung các phương pháp giảm bậc mô hình, các thuật toán điều
khiển cân bằng xe hai bánh thông qua sách, các tạp chí chuyên ngành và qua mạng
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Áp dụng thuật toán chặt cân bằng để giảm bậc bộ điều khiển bậc cao sẽ giúp giảm độ phức tạp của thuật toán điều khiển, giảm thông tin thừa, tăng tốc độ xử lý
Mô hình giảm bậc được sử dụng sẽ giúp xử lý tín hiệu một cách đơn giản, tăng tốc
Trang 6độ tính toán, thiết kế hệ thống điều khiển đơn giản hơn đồng thời vẫn đảm bảo độ chính xác yêu cầu
Nội dung cơ bản của luận văn gồm các chương sau:
Chương 1: Tổng quan về giảm bậc mô hình
Chương 2: Thuật toán giảm bậc mô hình
Chương 3: Ứng dụng giảm bậc mô hình cho bài toán điều khiển cân bằng xe hai
bánh
Sau thời gian tìm hiểu và nghiên cứu và đặc biệt dưới sự hướng dẫn của
Thầy TS Vũ Ngọc Kiên luận văn của em đã được hoàn thành
Trong quá trình thực hiện luận văn, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót Em rất mong được sự chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo và sự góp ý chân thành
của các bạn
Trang 7
MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU iii
MỤC LỤC vi
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị ix
Danh mục các ký hiệu viết tắt xii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIẢM BẬC MÔ HÌNH 1
1.1 Giới thiệu về giảm bậc mô hình 1
1.2 Bài toán giảm mô hình 2
1.3 Các phương pháp giảm bậc mô hình 3
1.3.1 Các nghiên cứu giảm bậc mô hình trên thế giới 3
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về giảm bậc 5
1.4 Kết luận chương 1 6
CHƯƠNG 2 THUẬT TOÁN GIẢM BẬC MÔ HÌNH 7
2.1 Một số phép tính toán sử dụng trong giảm bậc mô hình 7
2.1.1 Một số phép phân tích ma trận 7
2.1.2 Gramian điều khiển và quan sát của hệ tuyến tính 7
2.2 Thuật toán chặt cân bằng cho hệ ổn định 9
2.3 Thuật toán chặt cân bằng cho hệ không ổn định 11
2.3.1 Gramian điều khiển và Gramian quan sát của hệ không ổn định 13
2.3.2 Thuật toán chặt cân bằng gián tiếp cho hệ không ổn định 16
2.3.3 Thuật toán chặt cân bằng trực tiếp của Zhou 17
2.4 Kết luận chương 2 18
CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG GIẢM BẬC MÔ HÌNH CHO BÀI TOÁN ĐIỀU KHIỂN CÂN BẰNG XE HAI BÁNH 20
3.1 Mô hình xe hai bánh tự cân bằng 20
Trang 83.2 Mô hình hóa xe hai bánh tự cân bằng 21
3.3.Thiết kế bộ điều khiển bền vững RH∞ 28
3.3.1 Khái niệm cơ bản về lý thuyết điều khiển RH∞ 28
3.3.2 Mô tả không gian H∞ và RH∞ 29
3.3.3 Xác định tập ( )R s các bộ điều khiển làm hệ SISO ổn định 31
3.3.4 Tìm ( )R s trong R s để hệ có độ nhạy nhỏ nhất 33 ( )
3.3.5 Thiết kế tối ưu RH∞ cho bài toán cân bằng xe hai bánh 34
3.4 Ứng dụng giảm bậc mô hình cho bài toán điều khiển cân bằng xe hai bánh 42 3.4.1 Giảm bậc bộ điều khiển cân bằng xe hai bánh 42
3.4.2 Sử dụng bộ điều khiển giảm bậc để điều khiển cân bằng xe hai bánh 47
3.5 Kết luận chương 3 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
A KẾT LUẬN 62
B KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 9Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Các thông số của mô hình xe hai bánh tự cân bằng 21
Bảng 3.2 Kết quả giảm bậc phân hệ ổn định của bộ điều khiển bậc cao 43
Bảng 3.3 Kết quả giảm bậc bộ điều khiển bậc cao 43
Bảng 3.4 Kết quả giảm bậc bộ điều khiển bậc cao 45
Trang 10Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Hình 3.4 Sơ đồ cấu trúc hệ thống điều khiển bền vững RH∞ 30
Hình 3.5 Mô hình Simulink xe hai bánh tự cân bằng 38
Hình 3.6 Sơ đồ Simulink hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh tự cân
bằng
38
Hình 3.7 Đáp ứng góc lệch θ của xe khi tham số mô hình danh định 39
Hình 3.8 Đáp ứng góc lệch θ của xe khi tham số mô hình thay đổi 40
Hình 3.9 Đáp ứng góc lệch θ của xe khi tham số mô hình thay đổi 41
Hình 3.10 Đáp ứng bước nhảy của bộ điều khiển gốc và các bộ điều khiển
giảm bậc theo thuật toán chặt cân bằng gián tiếp
44
Hình 3.11 Đáp ứng tần số của bộ điều khiển gốc và các bộ điều khiển giảm
bậc theo thuật toán chặt cân bằng gián tiếp
44
Hình 3.12 Đáp ứng bước nhảy của bộ điều khiển gốc và các bộ điều khiển
giảm bậc theo thuật toán chặt cân bằng trực tiếp
46
Hình 3.13 Đáp ứng tần số của bộ điều khiển gốc và các bộ điều khiển giảm
bậc theo thuật toán chặt cân bằng trực tiếp
46
Hình 3.14 Mô hình Simulink hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh 47
Hình 3 15 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 5 theo thuật toán chặt cân bằng
gián tiếp
48
Trang 11Hình 3 16 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển bậc 4 theo thuật toán chặt cân bằng gián tiếp
49
Hình 3 17 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 5 khi thông của mô hình xe hai
bánh thay đổi
50
Hình 3 18 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 5 khi thông của mô hình xe hai
bánh thay đổi
51
Hình 3.19 Mô hình Simulink hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh 52
Hình 3 20 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 5 theo thuật toán chặt cân bằng
trực tiếp
53
Hình 3 21 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 4, bậc 3, bậc 2 theo thuật toán
chặt cân bằng trực tiếp
54
Hình 3 22 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 5 theo thuật toán chặt cân bằng
trực tiếp
55
Hình 3 23 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 4, bậc 3 theo thuật toán chặt
cân bằng trực tiếp
56
Hình 3 24 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 2 theo thuật toán chặt cân
bằng trực tiếp
57
Hình 3 25 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 5 theo thuật toán chặt cân bằng
58
Trang 12trực tiếp
Hình 3 26 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 4, bậc 3 theo thuật toán chặt
cân bằng trực tiếp
59
Hình 3 27 Đáp ứng đầu ra của hệ thống điều khiển cân bằng xe hai bánh sử
dụng bộ điều khiển gốc và bộ điều khiển bậc 4, bậc 3 theo thuật toán chặt
cân bằng trực tiếp
60
Trang 13Danh mục các ký hiệu viết tắt
LQG Linear Quadratic Regulator
SVD Singular Value Decomposition
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIẢM BẬC MÔ HÌNH
1.1 Giới thiệu về giảm bậc mô hình
Vì sao có bài toán giảm bậc mô hình ?
Trong rất nhiều lĩnh vực kỹ thuật (như kỹ thuật hàng không, kỹ thuật điều khiển, kỹ thuật ô tô, động lực, …), mô hình toán học được sử dụng để mô hình hóa,
điều khiển và phân tích cho các hệ thống lớn và các hiện tượng vật lý Do sự phát
triển của các phần mềm thiết kế mô hình chuyên dụng và tính toán chính xác trên
máy tính nên mô phỏng số ngày càng được sử dụng để mô phỏng các hệ thống phức
tạp hoặc hiện tượng vật lý và rút ngắn thời gian phát triển sản phẩm và giảm giá
thành Tuy nhiên, do yêu cầu tăng cường tính chính xác của các mô hình đã dẫn đến
việc tăng cường số lượng các biến (biến trạng thái) và khối lượng tính toán cần
được xử lý làm tăng chi phí tính toán mô phỏng Hơn nữa, theo quan điểm của điều
khiển học, khi mô hình đối tượng bậc cao hoặc bộ điều khiển bậc cao sẽ dẫn đến :
+ Sự gia tăng thời gian mô phỏng và khó khăn trong việc phân tích tính chất
của mô hình như tính chất bất định, thay đổi thông số, tính phi tuyến
+ Khó khăn khi tổng hợp bộ điều khiển hiện đại (như điều khiển LQG, điều khiển bền vững H∞, H∞,/H2, MPC ) cũng như hệ thống điều khiển sẽ khó có khả
năng đáp ứng yêu cầu điều khiển thời gian thực
Vì vậy nếu có một mô hình toán học có bậc nhỏ hơn mà có thể mô tả một
cách tương đối chính xác đối tượng hoặc bộ điều khiển bậc cao thì :
- Mô hình giảm bậc tạo điều kiện để tìm hiểu về hệ thống hoặc để có sự hiểu
biết ban đầu về hệ thống dễ dàng hơn: Mô hình giảm giúp hiểu về hệ thống đơn
giản hơn
- Mô hình bậc thấp sẽ giảm thời gian tính toán: Mô hình bậc thấp giúp quá
trình tính toán nhanh hơn
- Mô hình bậc thấp chỉ ra được các đặc điểm (hành vi) bền vững của mô hình
gốc: Mô hình giảm bậc là mô hình đáng tín cậy hơn
Trang 15- Mô hình giảm bậc làm cho việc thiết kế điều khiển được thuận lợi hoặc dễ
dàng hơn: Bộ điều khiển thu được có cấu trúc đơn giản và dễ dàng hơn để hiểu và
thiết kế cũng như đáp ứng được yêu cầu điều khiển thời gian thực
Từ thực tế đó, yêu cầu xác định mô hình bậc thấp từ mô hình gốc bậc cao đáp ứng một số yêu cầu nhất định là một yêu cầu cấp thiết Các thuật toán để xác
định mô hình bậc thấp từ mô hình bậc cao đáp ứng một số yêu cầu cơ bản (như bảo
toàn tính ổn định, sai số giảm bậc nhỏ, ) hình thành nên lĩnh vực được gọi là “giảm
bậc mô hình” (MOR: Model Order Reduction)
1.2 Bài toán giảm mô hình
Mô hình giảm hay giảm bậc mô hình là một thuật toán để tìm một hệ bậc
thấp hơn so với hệ gốc dạng hệ phương trình vi phân thường (ODEs – ordinary
differential equations) Ý tưởng chính của thuật toán là chuyển véctơ trạng thái bậc
cao thành một véctơ trạng thái bậc thấp trong không gian trạng thái, cụ thể như sau:
Cho một hệ tuyến tính, liên tục, tham số bất biến theo thời gian, có nhiều đầu vào, nhiều đầu ra, mô tả trong không gian trạng thái bởi hệ phương trình sau:
x∈R u∈R y∈R A∈R B∈R C∈R Mục tiêu của bài toán
giảm bậc đối với mô hình mô tả bởi hệ phương trình đã cho trong (1.1) là tìm mô
hình mô tả bởi hệ các phương trình:
Sao cho mô hình mô tả bởi phương trình (1.2) có thể thay thế mô hình mô tả bởi
phương trình trong (1.1), đồng thời đáp ứng được một số yêu cầu sau:
1 Sai số giảm bậc nhỏ và tồn tại một giới hạn lỗi toàn cục;
Trang 162 Thuật toán giảm bậc cần tính toán hiệu quả, ổn định;
3 Thuật toán giảm bậc có thể thực hiện tự động dựa trên giới hạn sai số;
4 Các tính chất quan trọng của hệ thống gốc cần được bảo toàn trong hệ giảm bậc như tính ổn định và thụ động, …
1.3 Các phương pháp giảm bậc mô hình
1.3.1 Các nghiên cứu giảm bậc mô hình trên thế giới
Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu để giải quyết
bài toán giảm bậc mô hình bậc cao được công bố và đề xuất, trong đó hầu hết các
công trình tập trung giải quyết bài toán giảm bậc cho hệ tuyến tính Tuy nhiên theo
[1, 32], đối với một hệ bậc cao cho trước, các phương pháp đã đề xuất có thể được
phân loại như sau
Nhóm phương pháp bảo toàn những giá trị riêng quan trọng của mô hình
gốc bậc cao để xác định bậc của mô hình bậc thấp Và các tham số của mô hình bậc
thấp được xác định sao cho trước tác động của tín hiệu tại đầu vào, đáp ứng của mô
hình bậc thấp gần đúng với đáp ứng của mô hình gốc Đề xuất được quan tâm nhiều
nhất của nhóm là phương pháp điểm cực trội của Rommes [22, 23, 24], trong những
nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra được khái niệm hay tiêu chuẩn đánh giá tính quan
trọng của điểm cực dựa trên cở sở đóng góp của điểm cực vào đáp ứng xung đầu ra
từ đó làm cơ sở phân loại các điểm cực và bảo lưu các điểm cực trong hệ giảm bậc
Nhóm phương pháp dựa trên thuật toán phân tích giá trị suy biến SVD:
Đề xuất đầu tiên của nhóm phương pháp này là phương pháp chặt cân bằng (cân
bằng nội) do Moore đề xuất [18] Phương pháp chặt cân bằng được thực hiện bằng
cách áp dụng điều kiện tương đương lên quá trình đường chéo hóa đồng thời hai ma
trận gramian điều khiển và quan sát động học của hệ trong tư duy hệ hở Việc tương
đương hóa hai ma trận đường chéo như thế cho phép chuyển mô hình gốc biểu diễn
trong hệ cơ sở bất kỳ thành hệ tương đương biểu diễn theo hệ tọa độ trong không
gian cân bằng nội Từ không gian cân bằng đó, mô hình bậc thấp có thể tìm được
Trang 17bằng cách loại bỏ các giá trị riêng ít đóng góp cho sự tạo dựng mối quan hệ giữa
đầu vào và đầu ra của hệ Những nghiên cứu gần đây [10] tập trung vào hoàn thiện
thuật toán cho từng ứng dụng cụ thể của thuật toán cắt ngăn cân bằng Ngoài
phương pháp cân bằng nội thì còn có một số phương pháp cân bằng khác như
phương pháp cân bằng ngẫu nhiên [17, 31], cân bằng giới hạn thực, cân bằng thực
dương [26], cân bằng LQG [9], cân bằng trọng tần số [35], phương pháp xấp xỉ
chuẩn Hankel (Hankel-Norm Approximation) [2], …
Nhóm phương pháp Singular Perturbation Approximation được đề xuất
đầu tiên bởi Y Liu và B D O Anderson [34] và được hoàn thiện thêm thuật toán
và ứng dụng trong các nghiên cứu [1, 28, 29]
Nhóm phương pháp dựa trên không gian con Krylov (moment matching
của hệ giảm bậc và hệ gốc Sự hấp dẫn chủ yếu của nhóm phương pháp này nằm ở
chỗ tính toán đơn giản hơn so với các phương pháp khác Nhóm phương pháp này
được phát triển từ phương pháp lấy xấp xỉ khi tích phân gần đúng hàm theo chuỗi
của Pade [21] Một hạn chế lớn của phương pháp gần đúng Pade là đôi khi các mô
hình bậc thấp tìm được có thể không ổn định dù rằng mô hình gốc bậc cao ổn định
Để khắc phục nhược điểm trên đã có nhiều phương pháp được đề xuất trong đó
quan trọng nhất là phương pháp giảm bậc ổn định sử dụng phương pháp gần đúng
theo chuỗi Chebyshev Pade do Bistritz và Lanholz đề xuất [5] và phương pháp thời
điểm phù hợp (Pade approximants - moment matching) dựa trên không gian Krylov
[13, 16, 32] và được chia làm 3 nhóm nhỏ hơn là 1) thực hiện theo quy trình
Arnoldi [33] 2) thực hiện theo quy trình Lanholz [13], 3) thực hiện theo tỷ số năng
lượng [16] Các kỹ thuật thuật toán này đảm bảo cho việc lựa chọn điểm trùng khớp
phù hợp, cung cấp giới hạn lỗi, đảm bảo được sự ổn định của mô hình, có thể áp
dụng cho hệ nhiều vào nhiều ra, hệ tính toán song song,…
Nhóm phương pháp dựa trên Gramian và hàm dấu ma trận (Low-rank
Gramian approximants and matrix sign function method): Nhóm phương pháp này
Trang 18là sự kết hợp của phương pháp dựa trên SVD và phương pháp thời điểm phù hợp
(moment matching) dựa trên không gian con Krylov: Nhóm phương pháp này tìm
cách kết hợp ưu điểm của các thuật toán dựa trên SVD và các thuật toán dựa trên
phương pháp thời điểm phù hợp Đề xuất đầu tiên của nhóm phương pháp này là
của Li [25] đề xuất cách giải 2 phương trình Lyapunov bằng phép chiếu không gian
con Krylov Tiếp theo hiện có rất nhiều tác giả tiếp tục nghiên cứu và đưa ra nhiều
phương pháp khác nhau để kết hợp 2 nhóm phương pháp trên [4, 5, 8, 11, 12]
Nhóm các phương pháp khác: Đánh quan tâm nhất là nhiễu loạn được
Sannuti và Kokovic đề xuất [27], phương pháp này đặc biệt tiện lợi khi hệ thống
gốc có đặc tính biến đổi theo hai mức thời gian Các trạng thái động học của hệ
được phân chia thành các nhóm thuộc mode “chậm” và mode “nhanh” và việc giảm
bậc được thực hiện bằng cách cho các đạo hàm theo thời gian của các trạng thái
thuộc mode “nhanh” bằng không để các trạng thái thuộc thuộc mode “nhanh” được
loại bỏ
Ngoài ra con có các phương pháp như phương pháp kết hợp phép chiếu trực
giao thích hợp (POD) với phương pháp cắt ngắn cân bằng (POD-BT), hay phương
pháp dùng các thuật toán PSO hoặc GA tìm thông số của mô hình giảm bậc cố định
cho hệ SISO,
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về giảm bậc
Theo tìm hiểu của tác giả thì ở trong nước hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về giảm bậc mô hình, xin nêu ra ở đây một số công trình mà tác giả đã
tìm hiểu được
Luận văn tiến sĩ của Đào Huy Du [20] đề xuất phương pháp giảm bậc kết
hợp giữa phương pháp dựa trên SVD với bảo toàn giá trị riêng quan trọng và áp
dụng thuật toán giảm bậc cho bài toán viễn thông
Các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc San [7] đề xuất phương pháp giảm bậc tối
ưu đầu ra, đảm bảo bảo lưu các trạng thái các trạng thái của mô hình gốc bậc cao
Trang 19trong mô hình giảm bậc và áp dụng thuật toán giảm bậc cho các bài toán trong
mạng viễn thông
Luận văn tiến sĩ của Vũ Ngọc Kiên [32] để xuất thuật toán giảm bậc bảo toàn
các điểm cực trội theo chuẩn H2, H∞ trong quá trình giảm bậc hệ ổn định và không
ổn định và áp dụng thuật toán vào bài toán điều khiển
1.4 Kết luận chương 1
Qua quá trình tìm hiểu các phương pháp giảm bậc mô hình, cho thấy phương
pháp "tốt nhất" hiện nay, tức là một phương pháp giảm bậc đáp ứng mọi yêu cầu,
chưa tồn tại Mỗi phương pháp giảm bậc đều có những ưu nhược điểm riêng và cần
sử dụng theo một nhu cầu thích hợp
Với mục tiêu của luận văn là nghiên cứu giảm bậc ứng dụng cho bài toán
điều khiển, cụ thể là ứng dụng cho bài toán điều khiển xe hai bánh tự cân bằng thì
phương pháp giảm bậc cần phải đảm bảo sai số giảm bậc nhỏ, hiệu quả tính toán
cao, đồng thời do bộ điều khiển bậc cao thu được theo các phương pháp điều khiển
bền vững H∞ có thể là không ổn định nên các thuật toán giảm bậc cần phải giảm bậc
được cho cả đối tượng ổn định và không ổn định
Trang 20CHƯƠNG 2 THUẬT TOÁN GIẢM BẬC MÔ HÌNH 2.1 Một số phép tính toán sử dụng trong giảm bậc mô hình
trong đó Σ =diag(σ σ1, 2, σn)là ma trận đường chéo, với σ1 >σ2 > >σn là căn
bậc hai của giá trị riêng *
AA Phép phân tích *
A= ΣU V được gọi là phép phân tích
giá trị suy biến của ma trận A [1]
2.1.1.2 Phân tích Schur
Cho ma trận vuông A∈ nxn
C Khi đó tồn tại ma trận unita U ∈ nxn
C sao cho
*,
A=U U∆
trong đó: ∆ là ma trận tam giác trên với các giá trị riêng của ma trận A nằm trên
đường chéo chính của ma trận ∆
2.1.1.3 Phân tích Cholesky
Cho ma trận A∈ nxn
C là ma trận xác định dương Khi đó tồn tại một ma trận
tam giác trên R ∈ nxn
C sao cho
* ,
Ma trận R còn được gọi là thừa số cholesky của A
2.1.2 Gramian điều khiển và quan sát của hệ tuyến tính
Xét một hệ tuyến tính, liên tục, tham số bất biến theo thời gian, ổn định tiệm
cận như mô tả trong (1.1)
Trang 21Do A là ma trận ổn định (tất cả các giá trị riêng của A đều có phần thực âm)
và hệ mô tả bởi phương trình trong (1.1) có khả năng điều khiển và quan sát hoàn
toàn Khi đó Gramian đặc trưng cho khả năng điều khiển P và cho khả năng quan
sát Q của hệ (2.1) được định nghĩa như sau:
Gramian điều khiển P và Gramian quan sát Q thỏa mãn hai phương trình
Lyapunov sau đây:
T T
Gramian là đại lượng dùng để đo năng lượng điều khiển và năng lượng quan sát của
hệ Ý nghĩa vật lý của các Gramian được cho trong bổ đề [2]:
đó
(i) Năng lượng nhỏ nhất để điều khiển hệ từ trạng thái 0 tại thời điểm t = 0 tới
trạng thái x r tại thời điểm t = ∞ là x P*r −1xr
(ii) Năng lượng lớn nhất để quan sát trạng thái ban đầu x 0 của hệ là x Q0* x0
Nhận xét: Tính chất (i) và (ii) của Gramian điều khiển và quan sát cho chúng ta biết
biến trạng thái nào là khó điều khiển hoặc dễ điều khiển (cũng như khó quan sát hay
dễ quan sát) Cụ thể, những biến trạng thái nằm trong vùng các vector riêng của P
tương ứng với giá trị riêng lớn nhất sẽ là dễ điều khiển nhất vì chỉ cần năng lượng nhỏ để điều khiển những biến này Tương tự, những biến trạng thái nằm trong
Trang 22vùng các vector riêng của Q tương ứng với giá trị riêng lớn nhất sẽ dễ quan sát nhất
vì chỉ cần năng lượng nhỏ để quan sát những biến này
Tính chất (ii) cho chúng ta ý tưởng về khái niệm cân bằng, tức là dùng một phép đổi
biến để sắp xếp lại các biến trạng thái từ theo thứ tự dễ điều khiển/dễ quan sát đến
khó điều khiển/khó quan sát Nếu ta sử dụng một phép biến đổi T để đưa hệ
(A B C D, , , ) trong (1.1) về dạng tương đương (T AT T B CT D−1 , −1 , , ) thì các Gramian
sẽ được biến đổi như sau:
1
ˆˆ
T T
=
=Khi này tích của hai Gramian mới P Qˆ, ˆ là ˆPQ T PQ Tˆ = ( ) − 1 Điều này đồng nghĩa
với việc mắc dù phép đổi biến T đã làm thay đổi các Gramian của hệ nhưng lại
không làm thay đổi các giá trị riêng của tích các Gramian P và Q Do đó, ta có
mệnh đề sau:
Mệnh đề 2.1.2 Các giá trị riêng của tích các Gramian P và Q là dương và bất
biến đối với các phép biến đổi không suy biến.
Ký hiệu {σ σ1, , ,1 σn} là các giá trị riêng của tích PQ , với giả thiết
σ ≥σ ≥ ≥σ thì ta có định nghĩa sau:
Định nghĩa 2.1.2 Tập các giá trị {σ σ1, , ,1 σn} được gọi là các giá trị suy biến
Hankel của hệ
Giá trị suy biến Hankel σi được coi là “năng lượng” của mỗi trạng thái của hệ
2.2 Thuật toán chặt cân bằng cho hệ ổn định
Thuật toán chặt cân bằng (balanced truncation) là phương pháp giảm bậc được giới thiệu đầu tiên bởi Moore [18], sau đó đã được nhiều tác giả phát triển và
hoàn thiện thuật toán [3, 6, 14, 15, 30]
Trang 23Ý tưởng của thuật toán chặt cân bằng là tìm một phép biến đổi không suy
biến T để chéo hóa đồng thời hai ma trận Gramian điều khiển P và ma trận
Gramian quan sát Q như đã thảo luận trong Mục 2.1.2, sau đó áp dụng kỹ thuật
chặt (tức là bỏ đi những biến không quan trọng), để thu được hệ giảm bậc Nội dung
cụ thể của thuật toán như sau:
Xét hệ (A B C D, , , ) ổn định tiệm cận và biểu diễn ở dạng tối thiểu như được
mô tả trong (1.1)
Thuật toán 2.2: Thuật toán chặt cân bằng
Bước 1: Tính hai ma trận Grammian quan sát Q và Grammian điều khiển P của hệ
bằng cách giải hai phương trình Lyapunov (2.3) và (2.4)
Bước 2: Phân tích Cholesky cho ma trận P , tức là tìm ma trận tam giác trên R sao
các giá trị Hankel suy biến của hệ
T− =R UΣ−
Bước 5: Tính (A bal,B bal,C bal)=(T AT T A CT−1 , −1 , )
Bước 6 : Chọn số bậc cần rút gọn r sao cho r n< và σr >σr+1
Bước 7: Biểu diễn (A bal,B bal,C bal) ở dạng khối như sau
Trang 24Hankel quan trọng nhất của hệ ban đầu là ( , , , )σ σ1 2 σr
(iii) Hệ rút gọn (A B C11, ,1 1) thu được từ Thuật toán 2.2 có đánh giá sai số
như sau:
trong đó G s( )=C sI( −A)−1B G s, r( )=C sI1( −A11)−1B1 là biểu diễn dạng hàm
truyền của hệ gốc (1.1) và hệ rút gọn, (σr+1,σr+2, ,σn) là các giá trị suy biến
Hankel bị lược bỏ
2.3 Thuật toán chặt cân bằng cho hệ không ổn định
Từ định nghĩa về Gramian điều khiển và Gramian quan sát xác định trong (2.1) và (2.2) thì thuật toán chặt cân bằng không thể áp dụng cho hệ không ổn định
do tích phân trên sẽ bằng vô cùng (unbounded) khi hệ không ổn định
Tuy nhiên bài toán giảm bậc trong thực tế, đặc biệt là bài toán giảm đối tượng điều khiển và giảm bậc bộ điều khiển thì đối tượng gốc bậc cao hoặc bộ điều
khiển gốc bậc cao có thể không ổn định vì thế rất cần mở rộng thuật toán chặt cân
Trang 25bằng cho cả hệ không ổn định để có thể áp dụng thuật toán chặt cân bằng cho mọi
đối tượng của bài toán giảm bậc (đối tượng ổn định hoặc không ổn định)
Thực tế, hệ phương trình Lyapunov (2.3), (2.4) vẫn có thể được giải ngay cả
khi A là không ổn định Chúng ta có một cách giải duy nhất khi và chỉ khi
( )A ( ) 0A
λ +λ ≠ Vì vậy, Gramian điều khiển và quan sát của một hệ thống có thể
không ổn định G s( )=C sI( −A)−1B có thể được định nghĩa như là nghiệm (nếu nó
tồn tại) của hệ phương trình Lyapunov sau:
Kết quả này đã được chứng minh trong các nghiên cứu [3, 6, 13, 14]
Phép biến đổi cân bằng cho hệ không bền vững được định nghĩa [3, 6, 13,
14] là một chuyển đổi sao cho P Q= = Σ , trong đó Σ là ma trận đường chéo (và
không xác định) nếu chuyển đổi đó tồn tại Ta có thể thu được một giới hạn lỗi giảm
bậc nếu thực hiện cắt ngắn mô hình theo phép biến đổi không suy biến trên
Nhưng không may là, phép biến đổi cân bằng trên không tồn tại cho tất cả các hệ không bền vững [3] Thực tế, hệ phương trình Lyapunov (2.6), (2.7) có thể
không giải được cho mọi trường hợp
bằng không thể áp dụng được nên không thể thu được một hệ giảm bậc
Một giới hạn khác của phép biến đổi cân bằng trên là, ngay cả khi (2.5), (2.6)
có thể giải được thì có thể không tồn tại một phép biến đổi cân bằng
Trang 26Ví dụ: Một hệ G s( )=C sI( −A)−1B được cho trong [14] như sau
Hai ma trận trên không thể được chéo hóa đồng thời bởi một phép biến đổi
không suy biến do PQ có một cặp giá trị riêng phức
Những ví dụ trên cho thấy rằng phương pháp chặt cân bằng ở trên áp dụng cho hệ không ổn định là không thích hợp Như vậy rất cần phát triển một thuật toán
chặt cân bằng hoàn thiện có thể áp dụng cho mọi hệ không ổn định
2.3.1 Gramian điều khiển và Gramian quan sát của hệ không ổn định
Xét hệ thống được mô tả như trong (1.1) có thể là ổn định hoặc không ổn
định khi đó Gramian điều khiển P và Gramian quan sát Q của hệ được định nghĩa
lại như sau:
Định nghĩa trên chứng tỏ P và Q là Gramian điều khiển và quan sát của hệ
thống nếu A là ổn định Vì vậy ta có thể coi P và Q là Gramian điều khiển và
quan sát tổng quát có thể áp dụng cho hệ không bền vững (1.1) Vì vậy chúng ta có
kết quả sau:
Trang 27Định đề 2.3.1: Hệ thống (2.1) là điều khiển được và quan sát được khi và chỉ khi
0
P > và Q > 0
Định lý 2.3.1: Giả sử A không có giá trị riêng nào nằm trên trục ảo và giả sử T là
một phép biến đổi không suy biến sao cho:
với P , 1 Q là Gramian điều khiển và quan sát của hệ 1 (A B C1, ,1 1) và P , 2 Q là 2
Gramian điều khiển và quan sát của hệ (−A B C2, ,2 2) Khi đó P và Q được định
nghĩa trong (2.7) và (2.8) có thể được phân chia thành:
Hệ quả 2.3.1: σi = giá trị thứ i lớn nhất của { λ(PQ1 1), λ(P Q2 2)}
Trang 28Điều này chỉ ra rằng các giá trị Hankel suy biến chung có thể thu được bằng
cách tính toán các giá trị Hankel suy biến của phần ổn định và phần không không ổn
Định lý 2.3.2 được chứng minh chi tiết trong [15]
Trong trường hợp A là bền thì X =Y = và P , Q sẽ chính xác là Gramian 0
điều khiển và quan sát của hệ ổn định Trong trường hợp khác, nếu A là không ổn
định, ( A− sẽ là không ổn định) thì P= X−1> và 0 Q=Y−1> , … P và Q là 0
Gramian điều khiển và quan sát của hệ (−A B C, , )
Ta sẽ gọi hệ cân bằng (có thể là hệ không ổn định) nếu
( 1, 2, , n)
P=Q= Σ =diag σ σ σVới σ1≥σ1≥ ≥σn ≥ 0
Từ các kết quả trên ta thấy để thực hiện giảm bậc cho hệ không ổn định thì
có hai phương pháp cơ bản:
G s =G s+ +G s− , trong đó G s+( ) là phân hệ không ổn định và G s−( ) là phân
hệ ổn định Sau đó thực hiện giảm bậc phân hệ ổn định G s−( ) thu được hệ rút gọn
Trang 29ổn định ˆ ( )G s− , kết quả giảm bậc của hệ không ổn định G s sẽ là ( )
ˆ( ) ˆ ( ) ( )
G s =G s− +G s+
Phần nội dung sau đây sẽ trình bày chi tiết nội dung các phương pháp giảm
bậc cho hệ không ổn định thực hiện theo hai phương pháp trên
2.3.2 Thuật toán chặt cân bằng gián tiếp cho hệ không ổn định
Xét hệ thống (A B C D, , , ) không ổn định được mô tả trong (1.1) và biểu diễn ở dạng
tối thiểu
Thuật toán 2.3.2: Thuật toán chặt cân bằng gián tiếp cho hệ không ổn định
Bước 1: Chuyển hệ thống về dạng tựa tam giác ta thu được hệ thống có dạng
2
n m xp t
Trang 30mxp d
2
n m xp d
2.3.3 Thuật toán chặt cân bằng trực tiếp của Zhou
Xét hệ thống không ổn định được mô tả trong (1.1) và biểu diễn ở dạng tối
thiểu
Thuật toán 2.3.3: Thuật toán chặt cân bằng trực tiếp của Zhou [15]
Bước 1: Tính X và Y phần ổn định của hệ phương trình (2.9) và (2.10)
P=R R , với R là ma trận tam giác trên
Trang 31Bước 5: Phân tích SVD ma trận T T 2
RQR =U ΣU , trong đó U là ma trận unitary
n
U U =UU =I Σ =diag σ σ σ , với σ1≥σ1≥ ≥σn ≥ là các giá trị 0
Hankel suy biến của hệ
Bước 6: Tính ma trận T không suy biến
T− =R UΣ−
Bước 7: Tính (A ubal,B ubal,C ubal)=(T AT T A CT−1 , −1 , )
Bước 9: Biểu diễn (A ubal,B ubal,C ubal) ở dạng khối nhau sau
Nhận xét: Tính chất (ii) của Định lý 2.4.3.2 cho nghĩa rút gọn (A B C11, ,1 1) giữ lại r
giá trị suy biến Hankel quan trọng nhất của hệ ban đầu là ( , , , )σ σ1 2 σr
2.4 Kết luận chương 2
Ý tưởng của thuật toán chặt cân bằng là tìm một phép biến đổi không suy
biến T để chéo hóa đồng thời hai ma trận Gramian điều khiển P và ma trận
Trang 32Gramian quan sát Q sau đó áp dụng kỹ thuật chặt (tức là bỏ đi những biến không
quan trọng), để thu được hệ giảm bậc Thuật toán chặt cân bằng ban đầu của Moore
[18] chỉ áp dụng cho hệ ổn định Để mở rộng thuật toán chặt cân bằng cho hệ không
ổn định có hai giải pháp là giảm bậc trực tiếp hệ không ổn định và giảm bậc gián
tiếp hệ không ổn định
Trang 33CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG GIẢM BẬC MÔ HÌNH CHO BÀI TOÁN ĐIỀU
KHIỂN CÂN BẰNG XE HAI BÁNH 3.1 Mô hình xe hai bánh tự cân bằng
Xét mô hình xe hai bánh tự cân bằng được xây dựng trong [32] như sau:
Hình 3.1 Mô hình xe hai bánh tự cân bằng
Mô hình xe hai bánh tự cân bằng được xây dựng dựa trên định luật bảo toàn
động lượng như sau: Nếu không có một mô men xoắn (mô men lực) bên ngoài nào
tác động lên một đối tượng hay hệ thống (hoặc tổng mô men xoắn - mô men lực tác
động vào một đối tượng bằng không) thì tổng mômen động lượng của đối tượng đó
sẽ được bảo toàn
Xe hai bánh tự cân bằng trang bị một bánh đà và sử dụng bánh đã để duy trì
cân bằng của xe Một động cơ một chiều có tác dụng tạo ra mô men xoắn cho bánh
đà và do đó khi xe bị nghiêng khỏi vị trí cân bằng thì động cơ xe quay bánh đà và
gây ra một mô mem xoắn tương ứng tác động lên xe theo chiều ngược chiều
nghiêng của xe có tác dụng kéo xe trở lại vị trí cân bằng
Nhiệm vụ của hệ thống điều khiển cân bằng xe đó là: Khi xe bị nghiêng khỏi
phương thẳng đứng một góc θ , thì hệ thống sẽ dựa vào tín hiệu góc nghiêng θ của
xe để tạo ra tín hiệu điện áp U đặt vào động cơ 1 chiều để quay bánh đà tạo ra mô
men xoắn tương ứng tác động lên xe theo chiều ngược chiều nghiêng của xe có tác
dụng kéo xe trở lại vị trí cân bằng
Trang 343.2 Mô hình hóa xe hai bánh tự cân bằng
Xét mô hình xe hai bánh như sau
Hình 3.2 Mô hình xe hai bánh từ cân bằng
Các ký hiệu trên sơ đồ
I là mô men quán tính của bánh đà
θ là góc nghiên của robot so với phương thẳng đứng
ϕ là góc quay của bánh đà
Ta có:
Vận tốc góc của robot quanh vị trí thẳng đứng là θɺ
Vận tốc góc của bánh đà quanh trục quay là ϕɺ
Vận tốc tuyệt đối của điểm A là v A =h1θɺ
Vận tốc tuyệt đối của điểm B là v B =h2θɺ
Trang 35Để xây dựng mô hình động học của hệ, trong nghiên cứu [32], tác giả sử dụng
Với T11 là động năng chuyển động thẳng của điểm A
T12 là động năng chuyển động quay của xe hai bánh
Trang 36Với q i = , phương trình Lagrange trở thành θ
Trang 37Với T m là mô men xoắn của trục động cơ
Thay phương trình (3.13-3.17) vào phương trình (3.12) ta thu được phương trình
Xét một động cơ điện một chiều có tỷ số truyền là a:1, thì mô mem xoắn của
động cơ DC truyền động cho bánh đà như sau:
K là hằng số sức điện động của động cơ;
R, là điện trở của động cơ
Phương trình (3.11) và (3.20) chính là hệ phương trình động học của hệ Rõ
ràng với các phương trình động lực học trên thì hệ là phi tuyến
Trang 38Tuyến tính hóa mô hình và chuyển về dạng không gian trạng thái
Tuyến tính hóa phương trình (3.11) quanh điểm cân bằng (θ =ϕ= , 0
sinθ = ) ta thu được hệ phương trình sau: θ
Trang 39A aK
Bảng các thông số danh định của xe hai bánh tự cân bằng
Bảng 3.1 Các thông số của mô hình xe hai bánh tự cân bằng [32]
Mô men quán tính của bánh đà (I2) 0,03289 Kg.m2
Chiều cao của trọng tâm bánh đà (h ) 2 0,205 m
Trang 40Khối lượng của robot (m1) 10,024 Kg
Hằng số sức điện động của động cơ (K e) 0,045 V.s
I = m h coi xe như một thanh thẳng có chiều dài h = 0,205 (m), 2
khối lượng xe là m = 10,034 1
Thay số vào hệ phương trình (3.27) ta thu được các thông số như sau
47.2048 0 0.0100-47.2048 0 -0.1248
U
Nhận xét: Mô hình hóa xe hai bánh tự cân bằng cho thấy đây là đối tượng phi tuyến
và có một số tham số của xe hai bánh tự cân bằng là bất định như: chiều cao trọng
tâm xe hai bánh, khối lượng tải, điện trở động cơ, đồng thời khi hoạt động xe hai
bánh có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố bất định từ bên ngoài như: ngoại lực, địa
hình chuyển động bất định, do đó mô hình xe hai bánh thực chất là một đối tượng
bất định Các yếu tố bất định có thể làm giảm tính chính xác của mô hình toán học
của xe hai bánh từ đó dẫn tới giảm chất lượng điều khiển, thậm chí có thể làm hệ
thống trở nên mất ổn định Do đó để đảm bảo yêu cầu điều khiển ổn định xe hai