Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, việc nghiên cứu về tín ngưỡng nữ thần và công tác bảo tồn,phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần đã được nhiều nhà nghiên cứuvăn hóa đề
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN NGỌC THƠ
TP Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3Công trình “Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ nữ thần tại
thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp” là sản phẩm nghiên cứu khoa học của
chính tác giả thực hiện từ năm 2015 đến năm 2018 tại Thành phố Sa Đéc Tỉnh Đồng Tháp Đây đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa,khóa đào tạo 2015 - 2017, mã số 8229042, tại Trường Đại học Văn hóa Thànhphố Hồ Chí Minh
-Để hoàn thành công trình này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và bày
tỏ lòng kính trọng đối với PGS TS Nguyễn Ngọc Thơ - Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướngdẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ông Nguyễn NhấtThống, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, kiêm Chủ tịch Hội Khoa học Lịch
sử thành phố Sa Đéc; ông Võ Thanh Tùng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thànhphố Sa Đéc; ông Nguyễn Hữu Hiếu, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnhĐồng Tháp cùng với tập thể Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Sa Đéc; Ủyban nhân dân và cán bộ công chức văn hóa thông tin các xã phường ở Sa Đéc.Đồng thời, tôi xin cảm ơn quý Cô, Chú của Ban quản lý di tích, Ban tế tự trênđịa bàn thành phố Sa Đéc đã nhiệt tình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trìnhkhảo sát và phỏng vấn thực tế về đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Vănhóa Thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy/Cô của Khoa Sau Đại học đã tậntình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình đào tạo Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết
ơn trân trọng đến quý Thầy/Cô là thành viên trong Hội đồng chấm luận vănthạc sĩ đã có những góp ý khoa học hết sức quý báu nhằm giúp đề tài của tôiđược hoàn thiện tốt hơn Chân thành cảm ơn!
Trang 4Tôi xin cam đoan về những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả
do chính bản thân tôi nghiên cứu Đồng thời, tôi đã có dẫn nguồn đầy đủ,chính xác đối với việc kế thừa, tham khảo các kết quả của những công trìnhnghiên cứu liên quan đến đề tài
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những kết quảnghiên cứu và toàn bộ nội dung đã được trình bày trong bản luận văn
Trân trọng./
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
TÁC GIẢ
Dương Thanh Tùng
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
5 Lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Lý thuyết nghiên cứu
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
5.3 Giả thuyết nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
8 Bố cục luận văn
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.2 Một số hướng tiếp cận nghiên cứu
1.1.3 Diễn giải lý thuyết nghiên cứu
1.1.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa
1.2 Tổng quan về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc
1.2.1 Tổng quan vùng đất Sa Đéc
1.2.2 Khái quát về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc
Tiểu kết chương 1
Trang 62.1 Các hình thức tín ngưỡng nữ thần phổ biến ở thành phố Sa Đéc 36
2.1.1 Tín ngưỡng Chúa Xứ 36
2.1.2 Tín ngưỡng Ngũ Hành 39
2.1.3 Tín ngưỡng Thiên Hậu 42
2.1.4 Các tín ngưỡng nữ thần khác 45
2.2 Đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 46
2.2.1 Đặc điểm của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 46
2.2.2 Giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 50
2.3 Thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 54
2.3.1 Hệ thống tổ chức nhân sự và cơ chế hoạt động quản lý văn hóa ở Sa Đéc 54
2.3.2 Tổ chức hoạt động quản lý văn hóa ở địa phương 60
2.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý văn hóa ở Sa Đéc 70
2.4.1 Về ưu điểm, thuận lợi 71
2.4.2 Về hạn chế, khó khăn 73
Tiểu kết chương 2 77
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở SA ĐÉC 78
3.1 Tính cấp thiết và định hướng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 78
3.1.1 Tính cấp thiết của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần 78
3.1.2 Định hướng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 79
3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 82
3.2.1 Nguyên tắc, quan điểm bảo tồn và phát huy 82
3.2.2 Giải pháp bảo tồn 86
Trang 73.3.1 Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp 95
3.3.2 Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Sa Đéc 98
3.3.3 Đối với các nhà khoa học và cộng đồng tín ngưỡng 100
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 115
PHỤ LỤC 1 HÌNH ẢNH MỘT SỐ CƠ SỞ THỜ NỮ THẦN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC 1
PHỤ LỤC 2 THỐNG KÊ CƠ SỞ THỜ NỮ THẦN TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP - NĂM 2018 17
PHỤ LỤC 3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 20
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo chiếm giữ vai trò nhất định trong đời sống tinhthần của hầu hết các quốc gia, dân tộc [80] Từng địa phương và mỗi tộcngười, do điều kiện môi trường tự nhiên và bối cảnh lịch sử - xã hội khácnhau sẽ dẫn đến đời sống văn hóa của cư dân khác nhau, tín ngưỡng, tôn giáocũng khác nhau và mang đậm nét đặc trưng của địa phương đó
Vùng văn hóa Nam Bộ, với điều kiện tự nhiên trù phú, là đồng bằng nhiềuphù sa, kênh rạch đan xen, đồi núi thấp tạo điều kiện tốt cho canh tác nôngnghiệp lúa nước và nuôi trồng thủy sản phát triển Quá trình di cư và khai hoangvùng đất Nam Bộ còn nhiều hoang sơ, đến nổi “con chim kêu cũng sợ, con cávùng cũng kinh” (ca dao Nam Bộ) Với một môi trường sinh sống nhiều bất trắc
và khó khăn như vậy, đời sống tâm linh của người dân luôn ước vọng được chechở, cầu mong vạn vật sinh sôi nảy nở và các loại hình tín ngưỡng ở Nam Bộ tồntại không phân biệt ranh giới rõ ràng mà thường dung hòa với nhau, miễn sao cácloại hình tín ngưỡng đó phù hợp với nền tảng truyền thống văn hóa và các giá trịnhân văn của cộng đồng Tất cả tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu bởi sựdung hợp, giao lưu với nhau giữa dòng văn hóa tộc người chủ thể - người Việt vàdòng văn hóa các tộc người khác như Chăm, Khmer, Hoa Vì thế, một số loạihình tín ngưỡng sẽ bị chuyển hóa để thích ứng với đời sống tâm linh của cộngđồng Đây là hiện tượng dễ dàng tìm thấy trong các loại hình tín ngưỡng ở Nam
Bộ, trong đó có tín ngưỡng nữ thần
Ở Sa Đéc, do đặc thù lối sống cư dân mang tính mở thoáng, chan hòa, sựhội nhập cộng cư giữa các tộc người khá mạnh mẽ nên việc tìm hiểu nguồn gốchình thành và nhận diện giá trị tín ngưỡng nữ thần trong đời sống tâm linh củangười dân vẫn còn mờ nhạt và chưa đầy đủ Để hiểu và tận dụng lợi thế của tính
đa dạng trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa dân gian, việc tìm
Trang 9hiểu tín ngưỡng nữ thần ở Nam Bộ nói chung, ở Sa Đéc nói riêng, cần đượcquan tâm khảo cứu sâu hơn về các vấn đề cụ thể ở vùng Sa Đéc, tỉnh ĐồngTháp, bao gồm diện mạo, đặc trưng, tác động và ý nghĩa của tín ngưỡng nữthần ở địa phương Những vấn đề này vẫn đang còn bỏ ngỏ và chưa đượcquan tâm nhiều bởi những người làm công tác quản lý văn hóa ở địa phương.Bởi vì, Sa Đéc là một trong những vùng đất có bề dày lịch sử, là vùng thị tứphồn hoa của Nam Bộ từ xa xưa nên đã có sự giao lưu văn hóa giữa các tộcngười Việt, Hoa, Khmer Chính vì vậy, tín ngưỡng nữ thần hay còn gọi là tụcthờ cúng các Bà (theo cách gọi dân gian) là sản phẩm của quá trình dung hợp
đa văn hóa hết sức phong phú và có những nét giá trị đặc sắc riêng nhưngchưa được nhận diện đầy đủ Vì thế, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giátrị của loại hình tín ngưỡng này chưa được hoàn thiện
Chính từ những lý luận và thực tiễn trên mà tôi quyết định chọn đề tài
“Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ nữ thần tại thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa.
-2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn mong muốn đạt được các mục đích sau:
Nhận diện đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở thànhphố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
Nghiên cứu thực trạng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của tínngưỡng nữ thần
Đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản
lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay, việc nghiên cứu về tín ngưỡng nữ thần và công tác bảo tồn,phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần đã được nhiều nhà nghiên cứuvăn hóa đề cập đến, có thể điểm ra đây một số công trình liên quan với đề tài
Trang 10Tiền đề lý luận về các hình thức tín ngưỡng dân gian và văn hóa tínngưỡng ở Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu và văn hóa Đạo Mẫu,
được trình bày chi tiết trong công trình nghiên cứu về Tín ngưỡng và văn hóa
tín ngưỡng ở Việt Nam [73], [75] của tác giả Ngô Đức Thịnh xuất bản vào
năm 2001 và 2012 Công trình nghiên cứu của Ngô Đức Thịnh về Đạo Mẫu ở
Việt Nam [76] xuất bản năm 2012 và Đạo Mẫu Tam Phủ, Từ Phủ [77] xuất
bản năm 2014 có đề cập chi tiết về những cơ sở tiền đề lý luận về tục thờ nữ
thần, quá trình phát triển từ Nữ Thần đến Tam tòa Thánh Mẫu và vị trí củaĐạo Mẫu trong hệ thống tín ngưỡng của người Việt, cùng với các dạng thứcthờ Nữ Thần, Mẫu Thần và Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ ở ba miền Bắc - Trung -Nam của Việt Nam Đây là một trong những cứ liệu khoa học quan trọng đểtham khảo của luận văn này
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Minh San được xuất bản thành
quyển Lễ hội về nữ thần của người Việt [59] năm 2011 đã cho thấy nguồn gốc, đặc điểm và miêu tả khái lược về một số lễ hội nữ thần của người Việt và đây
cũng là điều cần tham khảo và nghiên cứu
Nhà văn Sơn Nam, một trong những nhà nghiên cứu đi đầu và có côngkhai phá các giá trị lịch sử - văn hóa ở vùng đất Nam Bộ đã cho ra đời quyển
Đình miễu và Lễ hội dân gian miền Nam [51] được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành
năm 2015 cho thấy cách tiếp cận vấn đề thiết thực bằng phương pháp điền dã,tham dự và phỏng vấn với người dân bản địa, tác giả cho thế hệ đi sau một cáinhìn đặc sắc về đình, miếu và lễ hội ở miền Nam, các lễ nghi, tín ngưỡng, củangười dân bản địa cùng với việc phân tích các nghi thức của tín ngưỡng
Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóadân gian khu vực Nam Bộ Trong luận văn này chúng tôi kế thừa một số kiến
giải thuộc các công trình của ông Cuốn Tục thờ thần qua am miếu Nam Bộ
(2015), tác giả sử dụng hướng tiếp cận diễn trình lịch sử, Nguyễn Hữu Hiếu đã
Trang 11nhận diện, khảo tả rõ ràng về cơ sở hình thành, danh xưng, diện mạo và nội dungcủa tục thờ Bà ở Nam Bộ cùng với các tục thờ thần liên quan đến đất và tục thờbàn thiên Kết quả nghiên cứu của công trình đã góp phần tích cực cho đề tài củachúng tôi về hướng tiếp cận lịch sử để nhận diện đối tượng, đồng thời, cung cấpcho chúng tôi có được cơ sở khoa học về diễn trình hình thành tục thờ nữ thần(hay còn gọi là tục thờ Bà) ở khu vực Nam Bộ [28] Để có được những cơ sở tưliệu nghiên cứu về văn hóa - con người của vùng đất Sa Đéc góp phần cho nộidung của đề tài thêm hoàn chỉnh, chúng tôi đã kế thừa những kết quả trong cuốn
Văn hóa dân gian miệt Sa Đéc (2016) của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu Trong công
trình này, tác giả đã góp phần nhận diện tổng quan về vùng đất Sa Đéc với nhữngđặc điểm về đời sống vật chất (kiến trúc, nghề thủ công, nghề truyền thống) vàđời sống tinh thần (tâm linh, văn học dân gian, nghệ thuật diễn xướng dân gian)
của người dân nơi đây [29] Trong cuốn Tục thờ Bà Chúa Xứ - Ngũ Hành và
nghi lễ bóng rỗi Nam Bộ của tác giả Nguyễn Hữu Hiếu (2017) đã cung cấp cho
chúng tôi những tư liệu khoa học về diễn trình hình thành của tục thờ Bà Chúa
Xứ, Bà Ngũ Hành ở Nam Bộ và đó cũng là một trong những đối tượng nghiêncứu của đề tài Đồng thời, tác giả cũng đã nhận diện rõ nét về đặc điểm của thựchành nghi lễ trong tục thờ Bà [30]
Cuốn về Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ [80] của Nguyễn
Ngọc Thơ (2017) đã phân tích, đánh giá chi tiết về lai lịch, hành trạng của bàThiên Hậu, đồng thời, tác giả cũng nhận diện đầy đủ những đặc trưng và giátrị của tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu trong sự tương quan với bối cảnh lịch sử
- xã hội và tộc người ở vùng văn hóa Tây Nam Bộ Từ đó, chúng tôi có đầy đủ
cơ sở để nhận diện những đặc trưng và giá trị của loại hình tín ngưỡng ThiênHậu tại Sa Đéc
Để có thêm cơ sở nhận diện về đặc trưng và giá trị của tín ngưỡng nữthần, tác giả cũng đã tham khảo thêm các công trình, bài viết như: Tác giả Phan
Trang 12An viết về “Tích hợp và dung hợp trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
Nam Bộ”, in trong Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ - Bản sắc và giá trị [1]; Cuốn Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ của Nguyễn Hữu Hiếu [25]; bài viết
“Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa - Vũng Tàu” của Nguyễn Thanh Lợi, in
trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S.1 (60) (2007), tr.34-42 [41]; Phan Thị Yến Tuyết viết về “Tín ngưỡng thờ mẫu và nữ thần từ chiều kích văn hóa biển của vùng biển đảo Kiên Hải, Kiên Giang”, in trong Tuyển tập Việt Nam
học và đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội, Số 5 (141) - 2010, tr.61-69 [89];
Và các bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Thơ mà luận văn đã tham khảo như:
“Tín ngưỡng tôn giáo ở Thoại Sơn, An Giang” in trên Tạp chí Phát triển
Khoa học và Công nghệ, Tập 18 - Số 4X (2015), tr.77-97 [78]; “Dấu tích tục
thờ Tam Phủ trong tín ngưỡng Thiên Hậu của người Việt vùng Tây Nam Bộ”
in trên Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 6/2015, tr.24-34 [79] cùng với một số bàiviết khác có liên quan đề tài Những kết quả nghiên cứu này đã đặt nền móng
về lý luận và thực tiễn cơ bản cho việc nghiên cứu tín ngưỡng nữ thần/mẫuthần ở Nam Bộ, trực tiếp hình thành cách tiếp cận nghiên cứu ở một địa bàncụ thể là Thành phố Sa Đéc của chúng tôi
Đồng thời, tác giả luận văn cũng tham khảo các công trình nghiên cứu liên
ngành về lịch sử - văn hóa, tộc người, địa lý như: Hồ sơ về Lục Châu học: Tìm
hiểu con người ở vùng đất mới dựa vào tài liệu văn, sử bằng Quốc ngữ ở miền Nam từ 1865 - 1930 của tác giả Nguyễn Văn Trung [87]; Bản Monographie De
La Province De Sa Đéc (chuyên khảo tỉnh Sa Đéc) [47] cùng với các bản Monographie De La Province De tương tự về các vùng đất Trà Vinh, Vĩnh Long,
Phú Quốc, Long Xuyên, Bến Tre, Cần Thơ v.v; Mô tả lịch sử xứ Nam Kỳ của Jean Koffler [39]; Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt của Cléopold Cadière [10]; Tôn giáo xứ Nam Kỳ của L Louvet [42] v.v Các tác
phẩm trong nước chuyên khảo tả và phân tích đánh giá lịch sử văn
Trang 13hóa và tộc người Nam Bộ có thể kể đến như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức [19]; Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu [62]; Thần người
và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường [88]; Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ của
Huỳnh Lứa (1987) [44]; Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam (1994) [50]; Văn minh miệt vườn của Sơn Nam (1992) [49]; Vấn đề dân tộc ở Đồng
bằng sông Cửu Long của Mạc Đường (1991) [20]; Văn hóa cư dân Đồng bằng sông Cửu Long của nhóm tác giả Nguyễn Công Bình (1990) [7]; Văn hóa tâm linh Nam Bộ của Nguyễn Đăng Duy (1997) [17]; Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của nhóm tác giả Thạch Phương (1992) [52]; Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo của Nguyễn Phương Thảo (1997) [67]; Sa Đéc Xưa và Nay của
Huỳnh Minh [48]; Đồng Tháp 300 năm của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Hiếu Ngô Xuân Tư - Lê Đức Hòa - Nguyễn Đắc Hiền [26]; Việt sử xứ Đàng Trong
-(1558 - 1777) cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam của tác giả Phan Khoang; Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ (từ khởi thủy đến năm 1945)
do Trần Đức Cường làm chủ biên cùng các tác giả Võ Sĩ Khải
-Nguyễn Đức Nhuệ - Lê Trung Dũng [15] Đồng thời, tác giả còn có sự thamkhảo thêm đối với các công trình luận văn, luận án chuyên ngành gần với đề tài
như: Bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ bà Thiên hậu tại Tuệ Thành Hội Quán
- Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Như Trang [85]; Tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Nam Bộ của Võ Thanh Bằng [6]; Tín ngưỡng của người Hoa ở Quận 5 - Thành phố Hồ Chí Minh của Trần Đăng Kim Trang [84]; Tín ngưỡng dân gian của người Kinh ở Thành phố Cao Lãnh của Nguyễn Thuận
Quý [58]; Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở tỉnh Đồng Tháp trong
thời kỳ đổi mới hiện nay của Nguyễn Thị Song Thương [83].
Các kết quả nghiên cứu này đã giúp cho chúng tôi xác định ngữ cảnh tại
Sa Đéc nằm trong tổng thể vùng văn hóa Nam Bộ/Tây Nam Bộ với hoàn cảnhđịa lý - lịch sử cụ thể Việc đặt Sa Đéc trong bối cảnh khu vực sẽ giúp tìm kiếm
Trang 14những kiến giải mới gắn với thực tiễn hơn là diễn giải theo trường nghĩa cốđịnh của biểu tượng hay các hiện thực văn hóa mang tính khuôn mẫu củatrường phái chức năng.
Bên cạnh đó, quyển Địa chí tỉnh Đồng Tháp (2014) [4] do Ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy Đồng Tháp xuất bản đã cung cấp thông tin về một bức tranh tổng thểcủa vùng đất Đồng Tháp Trên cơ sở sử dụng các biện pháp khảo cổ, các nhàkhoa học đã tìm ra các minh chứng chỉ dấu về cư trú trên mảnh đất Đồng Tháp
từ rất sớm Nơi đây còn có dấu tích của một trong những quốc gia phát triển thời
kỳ Đông Nam Á cổ đại - Vương quốc Phù Nam, qua kết quả khảo cổ tại khu ditích Gò Tháp Công trình này cho thấy đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuấtphát từ những biến động chính trị, xã hội và cuộc sống đã tạo nên làn sóng di cưcủa người Việt ở miền Trung (nhất là vùng đất ngũ Quảng) cùng với cư dânthuộc các cộng đồng Khmer, Hoa và Chăm đã ra sức khai phá, cải tạo thiênnhiên để góp phần làm cho vùng đất hoang sơ trở nên trù phú, màu mỡ Vớinhững kết quả đạt được của công trình cho thấy sự đóng góp quý báu, đáng tincậy về tư liệu lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng v.v giúp cho việc hoạch địnhphát triển và chính sách quản lý văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địaphương trong tỉnh được thuận lợi và trong đó có Sa Đéc
Đề tài kế thừa những kết quả đạt được về mặt khoa học và thực tiễn củacác công trình nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng và tín ngưỡng nữ thần - mẫuthần ở Bắc - Trung và Nam Bộ để thực hiện Tuy nhiên, các công trình đi trướchoặc nghiên cứu tín ngưỡng nữ thần ở phạm vi khu vực (Tây Nam Bộ, Nam Bộ)hoặc ít nhiều đề cập trên bình diện rộng, khái quát, bao hàm các yếu tố lịch sử,ngôn ngữ, tự nhiên, dân cư v.v ở một số địa phương, hoàn toàn chưa đề cậpnhiều đến tín ngưỡng nữ thần hoặc mẫu thần ở tỉnh Đồng Tháp Vì vậy, việcnghiên cứu giá trị tín ngưỡng nữ thần tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp hoàntoàn mang tính mới, không trùng lắp với bất kỳ công trình nào hiện có
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thực trạng công tác quản lý,bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Thành phố Sa Đéc -Đồng Tháp Qua đó, đề xuất giải pháp, kiến nghị cho công tác quản lý, bảotồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi không gian
Phạm vi không gian của đề tài nghiên cứu tập trung ở thành phố Sa Đécgồm 06 phường và 03 xã (Phường 1, 2, 3, 4, An Hòa, Tân Quy Đông, Xã TânQuy Tây, Tân Khánh Đông, Tân Phú Đông) Mặc dù có hơn 40 cơ sở thờ nữthần, song có thể xếp thành 4 - 5 nhóm chính (theo đối tượng được thờ: BàChúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Bà Thiên Hậu, Bà Cửu Thiên Huyền Nữ và nữ thầnkhác), do đó việc lựa chọn cơ sở để khảo sát chủ yếu dựa vào những tiêu chí
vị trí địa lý (trung tâm cộng đồng cư dân địa phương - khu vực đô thị, khu vựcnông thôn), quy mô, tính đại diện cộng đồng và nhóm tộc người
ảnh tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2017 - 2020 [31] và tiếp theo ngay sau đó là
việc ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội thành phố Sa
Đéc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [32] Qua đó, tôi có lộ trình xem
xét sự chuyển biến đời sống tín ngưỡng của người dân, xem xét công tác quản
lý, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần tại Sa Đéc trongviệc phát triển du lịch, kinh tế - xã hội tại địa phương
Trang 165 Lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Lý thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu tín ngưỡng trực tiếp liên quan tới mối quan hệ giữa hai thếgiới trần tục và cõi thiêng, có liên quan trực tiếp đến các nhóm tộc người cùngchia sẻ quá trình lịch sử - văn hóa Nam Bộ ở một địa phương cụ thể; do đóluận văn sử dụng chủ yếu nhóm Lý thuyết diễn giải văn hóa (quan điểm Đặcthù luận lịch sử (historical particularism) và quan điểm Diễn giải và tái diễngiải văn hóa gắn với ngữ cảnh cụ thể (context-based reinterpretation)) cùng
Lý thuyết cấu trúc (structuralism) nhấn mạnh mối quan hệ tương tác giữa cặpphạm trù thiêng - phàm trong đời sống tín ngưỡng (chủ yếu của EmileDurkheim) Nội dung cụ thể của hai nhóm lý thuyết này sẽ được trình bày cụthể trong Chương 1 của luận văn
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu: Tín ngưỡng nữ thần ở
Sa Đéc hình thành trên cơ sở nào và có những đặc điểm, giá trị gì? Thực trạng
và vai trò của công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng
nữ thần ở Sa Đéc trong bối cảnh xã hội hiện nay ra sao?
5.3 Giả thuyết nghiên cứu
Vùng đất Sa Đéc sớm là nơi tụ cư các dân tộc Việt, Khmer và Hoa, tínngưỡng nữ thần ở Sa Đéc hiện nay là sản phẩm của sự dung hợp đa văn hóatrên nền tảng văn hóa chủ thể tộc người Việt ở Nam Bộ Tuy nhiên vì chưađược nhận diện đầy đủ về đặc điểm, giá trị nên vai trò công tác quản lý, bảotồn và phát huy giá trị tín ngưỡng này chưa được hoàn thiện, chưa đóng góptích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sử dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp định tính,
bao gồm hai nhóm thao tác nghiên cứu:
Trang 17Thao tác tổng hợp, phân tích tài liệu thành văn
Từ các nguồn tư liệu sách, báo, tạp chí, kỷ yếu về văn hóa tín ngưỡng, tínngưỡng nữ thần và mẫu thần, lễ hội dân gian ở Bắc - Trung và Nam Bộ có liênquan đến đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thu thập, tìm hiểu, phân tích xử
lý, hệ thống hóa các tư liệu và khai thác các khía cạnh vấn đề cần nghiên cứuthêm để bổ sung hoàn thiện luận văn Đây là thao tác đầu tiên để có những tiền
đề lý luận cho quá trình nghiên cứu Đối với thao tác này, chúng tôi đã lên kếhoạch chi tiết, thời gian cụ thể để lựa chọn và hệ thống hóa 101 tài liệu giúp làmsáng tỏ các giả thuyết và đi đúng hướng mục đích nghiên cứu
Thao tác điền dã, quan sát tham dự và phỏng vấn thực địa
Đối với thao tác điền dã, quan sát tham dự có vai trò quan trọng cầnphải thực hiện khi nghiên cứu vấn đề mang tính chất định tính như các nghithức lễ, thành phần tộc người đến vía tại các điểm thờ cúng nữ thần Khi thựchiện thao tác này, chúng tôi đã linh hoạt xác định địa điểm quan sát, vị trí, đốitượng để có thể quan sát những hành vi tự nhiên của đối tượng Thao tác nàygóp phần làm cho đề tài mang tính xác thực, việc đi điền dã giúp chúng tôinhận diện được những đặc điểm, giá trị và thực trạng công tác quản lý, bảotồn, phát huy tín ngưỡng nữ thần tại địa phương
Ở thao tác phỏng vấn thực địa, chúng tôi lựa chọn có chủ đích một sốđối tượng để phỏng vấn sâu đối với: Cán bộ phòng Văn hóa - Thông tin, PhóChủ tịch phụ trách lĩnh vực văn hóa - xã hội cấp thành phố để chú trọng nắm
rõ quan điểm chỉ đạo, hướng dẫn về công tác bảo tồn và phát huy giá trị vănhóa tín ngưỡng nữ thần ở địa phương, đồng thời, nhờ sự hỗ trợ về số liệu liênquan đến nội dung đề tài
Sau đó, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu đối với người quản lý cácđiểm cơ sở tín ngưỡng để biết được vai trò, nhận thức của cộng đồng về việcthờ cúng các Bà và tầm ảnh hưởng của Bà trong đời sống tinh thần của người
Trang 18dân Tiếp theo là tiến hành phỏng vấn thuận tiện đối cộng đồng tín ngưỡng(các hộ dân xung quanh khu vực thờ nữ thần và người dân đến vía Bà) để tìmhiểu mức độ ảnh hưởng về quyền năng của nữ thần, sự tôn kính đối với các nữthần, nội dung ước nguyện gửi gắm đến các nữ thần trong tâm thức ngườidân Khi thực hiện tốt phương pháp này kết hợp với phương pháp quan sáttham dự để rút ra những nhận định, dữ liệu gắn liền với thực tiễn góp phần đitìm lời giải đáp thỏa đáng và khoa học cho các câu hỏi nghiên cứu đề ra.
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 03 chương như sau:
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Trình bày cơ sở lý luận về các khái niệm cơ bản như: nữ thần, mẫu thần,tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng; hướng tiếp cận nghiên cứu; vận dụng lý thuyếtnghiên cứu; quan điểm của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, di sảnvăn hóa; trình bày về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - văn hóa - xã hội ở Sa Đéc
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO TỒN, PHÁT HUY TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở
SA ĐÉC
Trình bày về các đặc điểm, giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần quaviệc thờ cúng phổ biến Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Bà Thiên Hậu Đồng thời,chúng tôi phân tích thực trạng về vai trò công tác quản lý, bảo tồn và phát huygiá trị tín ngưỡng nữ thần của cơ quan, ban ngành địa phương
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở SA ĐÉC
Trình bày về tính cấp thiết và những định hướng cùng với các giảipháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn,phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần tiếp tục đáp ứng nhu cầu của cộngđồng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sa Đéc
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN
Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
Theo nghĩa từ nguyên Hán Việt, “tín ngưỡng” (信信) được ghép bởi từ “tín”(信) hiểu là “tin tưởng/ lòng tin/ niềm đức tin”, từ “ngưỡng” (信) hiểu là “ngưỡngmộ/ ngưỡng vọng/ ngưỡng - ngẫng lên” hoặc hiểu theo nghĩa xa hơn là “sự kính
mến” [12, tr.17,26], [2, tr.52,282] Điều 2 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo ghi “tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn
liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho
cá nhân và cộng đồng” [56] Trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở
Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn “tín ngưỡng
được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiênhay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với “cái trầntục” hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ởđây là niềm tin của tín ngưỡng, niềm tin của “cái thiêng” Do vậy, niềm tin củacái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sốngtâm linh của con người” [73, tr.16] Có những quan điểm đồng nhất tín ngưỡngvới tôn giáo nhưng vẫn có quan điểm cho thấy sự khác biệt giữa tín ngưỡng và
tôn giáo như quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm trong quyển Tìm về bản sắc
văn hóa Việt Nam thì “đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng tuân theo những
phong tục lâu đời và khi trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộvào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng làmột hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giáctheo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có
Trang 21giáo chủ, cơ sở thờ tự v.v tín ngưỡng có thể trở thành tôn giáo” [70, tr.262].Tín ngưỡng không có đầy đủ yếu tố cấu thành hệ thống như tôn giáo Điềuquan trọng của tín ngưỡng là đức tin vào cái thiêng nhưng chỉ có niềm tin vàocái thiêng thì tín ngưỡng và mê tín có khi đồng nhất Ở đây, chúng tôi khôngphân tích sâu khái niệm mê tín dị đoan mà chỉ quan niệm theo nghĩa phổ quát,
đó là “sự tin tưởng một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây tổn hạisức khỏe, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và
xã hội” [43, tr.9] Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi quan niệm tínngưỡng hay tục thờ là hệ thống giá trị niềm tin mang đặc trưng tính tâm linh
do con người tạo ra nhằm gửi gắm những nguyện vọng, mong ước đến mộtđối tượng được thần thánh hóa hay thế lực siêu nhiên để được che chở, cứurỗi tránh khỏi những bất trắc, tai họa hay những nỗi sợ hãi về tinh thần trongthế giới quan mà con người đang sinh sống nhằm mục đích hướng con ngườiđến những giá trị đạo đức tốt đẹp
Tác giả Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “nếu tín ngưỡng đồng nghĩa với tâmlinh (niềm tin thiêng liêng), thì văn hóa tín ngưỡng có thể được hiểu là “văn hóabiểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiệnniềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [17, tr.29] Còn theotác giả Ngô Đức Thịnh, “văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ hiện tượng và giá trị vănhóa được sản sinh, tích hợp, bảo lưu trong môi trường tôn giáo tín ngưỡng, thỏamãn nhu cầu về nhận thức, lối sống, ứng xử và thẩm mỹ của con người Chúng làhiện tượng phái sinh gắn bó với tôn giáo và lễ hội Đó là những hiện tượng vănhóa như múa nghi lễ, múa thiêng, tranh thờ, lễ hội, một số hiện tượng văn họcdân gian gắn với tín ngưỡng” [74, tr.215] Tín ngưỡng chính là môi trường sảnsinh, tích hợp và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian Con người muốn gửigắm ước nguyện của mình đến thần linh thì cần phải có các công cụ, phương tiệnnhư: múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm vật, nơi thờ cúng,
Trang 22v.v Như vậy, văn hóa tín ngưỡng chính là sự gắn kết từ một đức tin nhất định,rồi tích hợp các giá trị văn hóa khác như: di tích, lễ hội, truyền thuyết dân gian,diễn xướng, nghệ thuật có liên quan Từ góc độ tiếp cận những giá trị văn hóavật thể, văn hóa phi vật thể thông qua cơ sở thờ tự, nghi thức thờ cúng, các giaithoại dân gian, địa danh và lễ hội có liên quan đến các hình thái tín ngưỡng sùngbái con người; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt v.v thì
văn hóa tín ngưỡng được hiểu là “hệ thống giá trị về cung cách ứng xử của con
người đối với môi trường sống (tự nhiên và xã hội) nhằm đạt được những ướcvọng tốt lành cho cuộc sống của mình Sản phẩm của những cung cách ứng xử
ấy vừa phản ánh các điều kiện tương ứng với môi trường sống vừa hàm chứa trithức dân gian được đúc kết qua lịch sử được thể hiện dưới một cấu trúc đa tầngcủa những ý nghĩa ẩn thị và hiển thị” [80, tr.21]
1.1.1.2 Nữ thần và mẫu thần
Theo quan niệm dân gian, nữ thần là lực lượng tạo tác ra vũ trụ, loài ngườihoặc là những vị nữ tướng hy sinh vì dân vì nước, những người nữ có công giúpdân khai mương, xây cầu, lập chợ, truyền dạy kinh nghiệm sản xuất, nhữngngười bà, người mẹ, người chị có tài năng hoặc đức cao vọng trọng Từ đó,người dân đã tạo tác ra những điều kỳ vĩ nhằm nâng lên thế giới tâm linh như
một giao thức thần thánh hóa tôn vinh lên hàng nữ thần Do vậy, nữ thần là
những người phụ nữ mà đó là nhân vật lịch sử hay nhân vật truyền tích/huyềnthoại hoặc vạn vật được người dân nhân cách hóa mang tính nữ và thần thànhhóa để thờ phụng với niềm đức tin, ngưỡng vọng của mỗi người hoặc của cộngđồng Trong đó, có vị được tôn vinh là mẫu thần - thánh mẫu Như vậy, “mẫuthần có xuất thân từ nữ thần nhưng không phải nữ thần nào cũng đều là mẫu”
[75, tr.93-94] Vì vậy, theo quan niệm của chúng tôi về mẫu thần là sự tin tưởng,
ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ gắn liền với các hiện tượng tựnhiên, vũ trụ (trời, đất, sông, nước, núi, rừng) được con người cho rằng có
Trang 23quyền năng như Mẹ làm sinh sôi nảy nở, che chở cho cuộc sống của conngười, phù hộ cho người yên vật thịnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốttươi, giúp con người thoát khỏi thiên tai, địch họa.
Tín ngưỡng nữ thần là một loại hình tín ngưỡng dân gian của tộc ngườiViệt, Hoa, Khmer trên vùng đất Sa Đéc, được hình thành từ ngàn đời xưa đốivới mỗi tộc người, đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người và đóng vai tròquan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc Cho đến nay, tínngưỡng nữ thần vẫn đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của
người dân Như vậy, tín ngưỡng nữ thần là một bộ phận của ý thức xã hội để
tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng là đại diện tiêubiểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội và được tônthờ lên hàng thần - thánh để người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp
đỡ, phù hộ, độ trì của các lực lượng siêu nhiên này Cho dù hiểu như thế nàothì vị trí của nữ thần trong tiềm thức của người Việt luôn là sự thành kính, sựtôn trọng trong đời sống của họ Sa Đéc nói riêng và Nam Bộ nói chung làvùng đất đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với đặc điểm nổi bật là sự mở thoáng, sựbao dung, sự hòa hợp lẫn nhau của các tôn giáo, vì thế ở đồng bằng sông CửuLong theo thống kê năm 2008 của Cục Văn hóa cơ sở hiện nay có 1.234/7.966
lễ hội cả nước [14] Theo số liệu thống kê của tác giả Nguyễn Xuân Hồng,đồng bằng sông Cửu Long hiện nay có 683 lễ hội (trong đó, có 635 lễ hội tạiđình, 10 lễ hội tại đền, 23 lễ hội tại miếu, 9 lễ hội tại lăng - dinh - miếu thờ cáông và 6 lễ hội tại dinh - lăng - mộ - điện - gò) [33, tr.65] Kết quả thống kêtrên cho thấy mặc dù số lượng lễ hội tại miếu là không nhiều, nhưng nếu dàycông khảo sát thì số lượng miếu thờ là rất phong phú Nhân vật được thờ tựtrong các miếu gồm nhiều thần linh, không gian thờ bao phủ từ cộng độnglàng xã đến từng hộ gia đình
Trang 241.1.1.3 Bảo tồn và phát huy
“Bảo tồn” theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là “giữ lại cho nguyên vẹn, không
để cho suy suyển, mất đi như là bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dântộc”, còn “phát huy” là “làm cho cái hay, cái tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy
nở thêm” [99, tr.39,616] Theo cách hiểu của Nguyễn Lân, “phát huy là làm chotác dụng lan rộng ra hoặc phát triển lên” [40, tr.1433] Như vậy, chúng tôi tiếp
thu các quan điểm trước đó để đưa ra nhận định về bảo tồn là những hoạt động
đưa ra nhằm mục đích giữ gìn các giá trị và bảo vệ sự tồn tại của đối tượng tronghoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể theo dạng thức vốn có của nó trong quá khứ
Phát huy là quá trình vận dụng các cách thức, phương pháp để làm cho giá trị
văn hóa (tín ngưỡng, lễ hội) tồn tại được trong bối cảnh xã hội hiện tại như chínhgiá trị bản chất vốn có của nó với những mặt tích cực phải được giữ gìn, pháttriển và những mặt tiêu cực, không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại thì cầnphải hạn chế và loại bỏ Hiểu theo cách khác, phát huy có nghĩa là những hànhđộng nhằm đưa các giá trị văn hóa (tín ngưỡng, lễ hội) vào trong thực tiễn xãhội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng, góp phần thúc đẩy sự phát triển xãhội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tínhmục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội Chúng tôi giải nghĩa về
bảo tồn và phát huy tín ngưỡng nữ thần là những hoạt động đưa ra nhằm mục
đích giữ gìn các giá trị và bảo vệ sự tồn tại của tín ngưỡng nữ thần trong bốicảnh lịch sử xã hội cụ thể theo dạng thức vốn có của nó trong quá khứ và lấy đólàm nguồn lực tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại nhữnglợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóađối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 251.1.2 Một số hướng tiếp cận nghiên cứu
1.1.2.1 Tiếp cận từ góc nhìn giao lưu - tiếp biến văn hóa
Ở góc nhìn giao lưu tiếp biến văn hóa, Sa Đéc giống như nhiều thành phố,thị tứ tiêu biểu khác ở Tây Nam Bộ là nơi hội tụ đa tộc người, đa văn hóa, làvùng đất diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, tuy âm thầm nhưng sâu sắcgiữa yếu tố chủ thể và yếu tố các tộc người thiểu số (chủ yếu là người Khmer vàngười Hoa), tất cả cùng đan xen tồn tại và làm nền tảng cho sự tồn tại và pháttriển tín ngưỡng truyền thống ở Sa Đéc Những vị thần linh được tôn kính khôngchỉ là vị thần linh của một dân tộc cụ thể nào đó mà một khi đã giao lưu, hộinhập vào tín ngưỡng chung của cả cộng đồng hoặc vùng miền thì các vị thần linhhay tín ngưỡng sẽ trở thành đức tin chung với tất cả các tộc người cùng chungsống trên một địa bàn Các vị nữ thần trong tín ngưỡng của người Hoa cũng trởnên phổ biến trong đời sống tâm linh của các tộc người ở Sa Đéc thông qua việcthờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan Âm Bồ tát, Ngũ Hành Nương Nương v.v Bóngdáng Mẹ xứ sở trong tín ngưỡng của người Chăm cùng với tín ngưỡng NéangKhmau của tộc người Khmer cũng được cư dân tiếp biến, tôn thờ qua hình tượng
bà Chúa Xứ Vì vậy, kết quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa mang tínhtộc người trong tín ngưỡng nữ thần và thờ mẫu của cư dân vùng đất Sa Đéc đượcthể hiện qua các loại hình tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ, Ngũ Hành NươngNương, Thiên Hậu dưới ba dạng thức tiếp nhận, biến đổi, dung hòa/đồng hòa tínngưỡng của tộc người này thành tín ngưỡng của tộc người mình hoặc là tiếp thunguyên vẹn đưa vào từng tự cùng hệ thống tín ngưỡng của tộc người mình(trường hợp này ít), hoặc là hai tộc người cùng thờ chung một nữ thần, chỉ khácnhau về chi tiết cách thờ và cách cúng lễ Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi sửdụng góc nhìn giao lưu - tiếp biến văn hóa để diễn giải quá trình thay đổi hoặcbiến đổi một số loại hình văn
Trang 26hóa trong đó có văn hóa tín ngưỡng nữ thần diễn ra do sự tiếp xúc trực tiếp vàlâu dài giữa các nền văn hóa khác nhau của những tộc người ở Sa Đéc.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn nghiên cứu dựa trên góc nhìn sinh thái vănhóa để thấy được Sa Đéc cùng với Mỹ Tho, Cái Bè, Vĩnh Long là vùng đất khaikhẩn sớm hơn so với nhiều nơi khác ở Tây Nam Bộ Vùng đất này có vị trí, địahình địa mạo, điều kiện tự nhiên - sinh thái đặc thù có ảnh hưởng trực tiếp và sâusắc đến việc hình thành, tồn tại của các dạng thức tín ngưỡng, tôn giáo trongvùng Nét đặc thù ấy của Sa Đéc nằm ở các điểm (1) vị trí gò đất cao ven sôngTiền, kết nối với vùng Sài Gòn - Gia Định qua hai ngã chính: đường sông từ SaĐéc qua Mỹ Tho - sông Bảo Định - kênh Chợ Đệm - Chợ Lớn; đường bộ Sa Đéc
Cái Bè Sài Gòn; (2) sự tổng hòa của ba yếu tố vườn (trái cây) đồng ruộng sông nước Cả ba yếu tố này kết hợp đã làm cho vùng Sa Đéc sớm trở thành nơisản xuất, trung chuyển hàng hoá nông nghiệp từ đồng bằng đi Sài Gòn - ChợLớn và hàng thủ công nghiệp từ Sài Gòn - Chợ Lớn về đồng bằng Với thế đấtcao ven sông Tiền ít bị ngập lụt, chợ Sa Đéc từ rất lâu đã trở thành nơi giao lưu -trao đổi hàng hóa mật tập vào bậc nhất nhì ở Nam Bộ
-1.1.2.2 Tiếp cận từ góc nhìn biến đổi văn hóa
Bắt nguồn từ kết quả của quá trình hỗn dung và biến đổi văn hóa đã làmcho hệ thống nữ thần - mẫu thần ở Sa Đéc hiện nay rất phong phú, phản ánh sựtích hợp văn hóa của các tộc người qua tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ, Thiên HậuThánh Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ, Kim Hoa NươngNương, Mười hai Bà Mụ, Bà Cố Hỷ và phối kết giữa tín ngưỡng nữ thần - mẫuthần của miền Bắc, miền Trung Quá trình tiếp biến văn hóa của tín ngưỡng nữthần, mẫu thần ở Sa Đéc trong quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa với ngườiChăm, người Khmer, người Việt đã đạt tới được mức độ chuyển hóa những yếu
tố văn hóa của Chăm, Khmer thành cái của riêng mình Lớp văn hóa Chăm,Khmer trong tín ngưỡng Bà Chúa Xứ của người Việt đã lắng đọng xuống tầng
Trang 27sâu, khi nhìn một cách khái quát vào hiện tại chúng ta chỉ biết đây là vị thầncủa người Việt Nhưng đối với người Hoa, cộng đồng này tiếp thu tín ngưỡngcủa người Việt, họ vẫn giữ nguyên thần tích, cách thờ cúng Tức là, ngườiHoa tiếp nhận nguyên vẹn tín ngưỡng Bà Chúa Xứ của người Việt không biếnđổi thành nét văn hóa riêng của tộc người mình Cùng với sự tương đồng này,người Việt tiếp nhận tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa và dễ dàngnhận ra chủ nhân ban đầu của tín ngưỡng này tại một cơ sở tín ngưỡng của tộcngười khác Đối với trường hợp khác, hai tộc người cùng ảnh hưởng văn hóaqua lại với nhau, cùng thờ chung nữ thần điển hình như: tín ngưỡng CửuThiên Huyền Nữ, Mười hai Bà Mụ, Ngũ Hành Nương Nương.
1.1.3 Diễn giải lý thuyết nghiên cứu
Để triển khai phân tích vấn đề chúng tôi chủ yếu dựa vào hai lý thuyếtchính: diễn giải văn hóa và lý thuyết cấu trúc
Trong nhóm lý thuyết diễn giải văn hóa (cultural interpretation), chúng
tôi chủ yếu sử dụng quan điểm Đặc thù lịch sử (historical particularism) với
hai đại diện tiên phong là Franz Boas (1858 1942) và Alfred Kroeber (1876
-1960), và quan điểm Diễn giải và tái diễn giải văn hóa gắn với ngữ cảnh cụ
thể (context-based reinterpretation) của Robert P Weller, Edward Sapir
(1934) và Robert P Weller (1953 - ~).
Đối với quan điểm đặc thù lịch sử, theo Franz Boas (1858 - 1942) vàAlfred Kroeber (1876 - 1960) đã khẳng định một cách hoàn toàn có lý rằng:
“Những nét văn hóa đơn lẻ phải được nghiên cứu trong bối cảnh của xã hội
mà nó đã xuất hiện Văn hóa của mỗi một dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa
lý cụ thể” [37, tr.24] Vì vậy, chúng tôi sử dụng khung lý thuyết này để xem
xét đối tượng tín ngưỡng nữ thần khi đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể với
sự tương quan môi trường xã hội của Sa Đéc để nhận diện về nguồn gốc, đặc
Trang 28trưng và các giá trị của loại hình tín ngưỡng này Từ đó, đề xuất các giải phápthực thi bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần được phù hợp với đặcđiểm địa phương nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thời gian tới.
Ở quan điểm diễn giải văn hóa theo bối cảnh, Edward Sapir (1934: 200-
205)từng nhận định “Văn hóa không phải là thứ đã sẵn có mà là cái con
người khám phá dần dà qua thực tiễn cuộc sống” [60] Còn theo Robert P.
Weller (1987: 7), không phải nền văn hóa, hiện thực văn hóa nào cũng đượcđịnh hình sẵn hệ thống các giá trị bất biến để có thể soi chiếu cho mọi cá thể,
nhóm cá thể qua các thời đại Ông nói, “hầu hết các thực hành văn hóa, tuy
nhiên, đều không phải là những hệ thống đã được định chế hóa hay lý tưởng hóa hoàn chỉnh Thay vào đó, nó tồn tại như là một quá trình diễn giải và tái diễn giải thực tế” [100] Do đó, ở vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa như Đồng
bằng sông Cửu Long nói chung, Sa Đéc nói riêng, diện mạo, hình hài và đặcđiểm của nhiều hiện thực văn hóa, trong đó có tín ngưỡng nữ thần, là sảnphẩm của quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa trên nền tảng văn hóa của dântộc chủ thể (người Việt Nam Bộ) Khi phân tích, diễn giải vấn đề, chúng tôiđặc biệt lưu ý vai trò chủ chốt của người Việt trong quá trình hình thành, tiếpthu, “nhào nặn” và phát triển các loại hình tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc.Ngoài nhóm người Việt, người Hoa (và xa hơn là người Khmer) đóng vai trò
“ngoại diện” trong mối quan hệ tương tác với người Việt
Trên thực tế, hầu hết các tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ đều trải qua biếnđổi văn hóa Mọi biến đổi văn hóa đều phải dựa vào nền tảng tương tác vớingoại cảnh Robert P Weller (1987) nói, “rất nhiều hiện thực văn hóa, tuy nhiên,không hề được định chế hóa hay tư tưởng hóa Nó tồn tại như một quá trình diễngiải và tái diễn giải theo thực tế” “Một số người coi văn hóa và xã hội là một,một số người khác liên tưởng văn hóa với các nhóm cộng đồng bên trong thựcthể xã hội ấy” Các nhóm khác nhau có phong cách diễn giải văn
Trang 29hóa khác nhau, chúng hoàn toàn có thể thay đổi ngay khi các điều kiện xã hộithay đổi Robert P.Weller (1987) viết tiếp, “chính những mối quan hệ xã hội
đa dạng đã thúc ước cách thức diễn giải văn hóa, và tất cả các đức tin đều ởdạng mở để được tái diễn giải ý nghĩa ngay khi thể chế và các trải nghiệm xãhội chứa đựng đằng sau chúng thay đổi” [100]
Ở nhóm lý thuyết thứ hai, lý thuyết cấu trúc (structuralism) chúng tôi ápdụng quan điểm của Emile Durkheim (1858 - 1917) về mối quan hệ tương tácgiữa cặp phạm trù thiêng - phàm để nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa, đặc điểm củacác tục thờ nữ thần ở Sa Đéc cùng những biến đổi của chúng theo thời gian Vớicái lõi là đức tin tâm linh (cái thiêng), người dân Sa Đéc đã hình thành hệ
thống liên kết đức tin - thực hành tín ngưỡng - sinh hoạt văn hóa, qua đó mộtphần của cuộc sống thực tại được tái hiện và thậm chí “lên khuôn” trong cáchoạt động tín ngưỡng Để tránh rơi vào bẫy cấu trúc nhị nguyên và bẫy chứcnăng luận, chúng tôi đặc biệt chú ý đến yếu tố bối cảnh, nhấn mạnh vai tròcủa việc diễn giải văn hóa theo ngữ cảnh được minh chứng qua tài liệu khảosát thực địa và phỏng vấn cá nhân
1.1.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa
Hiện nay, vấn đề quản lý di sản văn hóa và các chính sách quản lý di sảnvăn hóa tín ngưỡng đang được quan tâm với vai trò là nền tảng của sự phát triển.Quan điểm quản lý thể hiện khác nhau ở từng góc nhìn, bối cảnh của thời đại, xãhội, nghề nghiệp, nên có nhiều cách hiểu khác nhau Từ đầu thế kỷ XXI, cáchthức giải thích về quản lý có nhiều thay đổi, nhất là các xu hướng coi quản lý làquan niệm, quá trình, là trách nhiệm chứ không phải kỹ thuật, hiện tượng vàquyền lực Theo Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn, “quản lý là hoạt động nhằmbảo đảm sự vận hành của hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chứcnăng Chúng ta thường nói đến quản lý văn hóa với tư cách là một khoa
Trang 30học, trong đó quản lý: dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của cácđối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay quy luật xã hội” [21, tr.24] Đồngthời, tác giả cũng cho rằng “những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liềnvới hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của conngười và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt Mục đích, nộidung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị -
xã hội” [21, tr.24] Vì vậy, công tác quản lý văn hóa thông qua việc ban hànhcác văn bản pháp luật đã giúp tạo ra hành lang pháp lý an toàn, thuận tiện, tạo
cơ chế mở cho việc thực thi bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của địaphương Đồng thời, quan điểm pháp lý của Nhà nước cũng thể hiện tính đảmbảo tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được thể hiện
qua Điều 6 trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Mỗi người có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Mỗi người cóquyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôngiáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo” [56]
Theo cách lý giải ở trên, tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc được xem như làmột loại hình di sản văn hóa phi vật thể thuộc sở hữu của cộng đồng người dân
Sa Đéc và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người dân ở đây Điều 5 trong
Luật di sản văn hóa [53] quy định cụ thể: “Nhà nước thống nhất quản lý di sản
văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tậpthể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác
về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật” Cũng trong Luật này tại Điều 17quy định “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiếnhành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sảnvăn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc làm giàu khotàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản
Trang 31văn hóa cũng được thể hiện cụ thể tại Điều 59: “Nhà nước ưu tiên đầu tư ngânsách cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt,bảo tàng quốc gia, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản vănhóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu” và điều đó cũng cho thấy rõ tại Điều 61,
“Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa” - tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc có những giátrị đặc sắc bởi nó gắn liền với đời sống tinh thần và các phong tục tập quánvăn hóa của người dân, luôn được cả cộng đồng trân trọng và liên tục lưutruyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau
Theo định nghĩa của Luật Di sản văn hóa tại Điều 1, Chương 1, “Di sản
văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sảnphẩm tinh thần, vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
[53] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa giải thích tại
Điều 1 về di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồnghoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưutruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề,
trình diễn và các hình thức khác” [54] Còn theo Công ước về bảo vệ di sản văn
hóa phi vật thể năm 2003, “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán,
các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng - cũng như những công cụ, đồvật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan - mà các cộng đồng, cácnhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần disản văn hóa của họ” [91, tr.3] Cũng theo phân tích và diễn giải của Công ướcnày tại Khoản 2, Điều 2 về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Các truyền thống
và biểu đạt truyền khẩu, bao gồm ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóaphi vật thể; Nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và
Trang 32lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ côngtruyền thống [91, tr.4].
Vì lẽ đó, tín ngưỡng nữ thần cùng với các hình thức sinh hoạt lễ hội vía
Bà ở Sa Đéc cũng là một loại hình thuộc di sản văn hóa phi vật thể Tác giả BùiHoài Sơn cho rằng “lễ hội là một hiện tượng xã hội tổng thể, trong đó có một sốđặc trưng chủ yếu: là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng - tâm linh; là dịp biểudương sức mạnh của cộng đồng địa phương; là dịp đoàn kết, giáo dục truyềnthống cộng đồng; là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùngkhác; là dịp tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi giải trí, thể thao; là địađiểm hành hương, du lịch cho các thành viên của cộng đồng tín ngưỡng nóichung” [64, tr.21] Theo quan niệm của Nguyễn Xuân Hồng, “lễ hội là một hìnhthái văn hóa diễn ra nhân một sự kiện xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,trong một không gian và thời gian thiêng liêng và bằng những lễ thức trang trọngcùng với các sinh hoạt văn hóa cộng đồng hướng tới sự kiện đó” [33, tr.12-13].Đồng thời, tác giả còn cho rằng “Lễ hội của người Việt ở Đồng bằng sông CửuLong là sự tiếp nối, phát triển lễ hội của người Việt ở châu thổ sông Hồng trongquá trình di cư mở mang đất nước Trong quá trình này, một mặt lễ hội kế thừacác giá trị văn hóa truyền thống có từ cội nguồn; mặt khác, nó phát triển trongkhông gian, thời gian và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, những điềukiện kinh tế, văn hóa - xã hội cụ thể” [33, tr.12-13] Theo đó, các lễ hội xuất phát
từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, thường diễn ra như dịp để con người thểhiện tấm lòng sùng kính của mình với đức tin đã chọn Đặc trưng tính chất tínngưỡng của lễ hội thể hiện rõ trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa tínngưỡng và lễ hội, thực chất đó là mối quan hệ của văn hóa giao tiếp với văn hóatâm linh Từ đó, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước cùng với các vănbản và cơ chế quản lý trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng và di sản văn hóa làhoàn toàn phù hợp với chức năng, ý nghĩa, giá trị
Trang 33của tín ngưỡng và sinh hoạt tín ngưỡng, trong đó có cả tín ngưỡng nữ thần ởđịa phương.
1.2 Tổng quan về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc
1.2.1 Tổng quan vùng đất Sa Đéc
1.2.1.1 Tên gọi Sa Đéc và đặc điểm tự nhiên
Về tên gọi Sa Đéc, trước đây là hạt thanh tra từ 16/8/1867 do đổi tên từhạt thanh tra Tân Thành, là một trong số 24 hạt thanh tra toàn Nam Kỳ lúc bấygiờ Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, Nhà nước giải thểcác đơn vị hành chính trước đó và nhập Sa Đéc vào tỉnh Đồng Tháp Sa Đéctrở thành thị xã của tỉnh lỵ Đồng Tháp từ ngày 30/4/1975 với 06 xã Ngày10/9/1981, ranh giới các xã được điều chỉnh, lập thành 04 phường Ngày29/4/1994, trung tâm hành chính Đồng Tháp dời từ thị xã Sa Đéc đến thị xãCao Lãnh Cuối năm 2004, thị xã Sa Đéc có 04 phường 1, 2, 3, 4 và 04 xã:Tân Khánh Đông, Tân Quy Tây, Tân Quy Đông, Tân Phú Đông [34, tr.922-924] Đến ngày 14/10/2013, thị xã Sa Đéc được nâng cấp lên thành phố trực
thuộc tỉnh Đồng Tháp theo Nghị quyết số 113/NQ-CP [11] của Chính phủ.
Đến năm 2016, thành phố Sa Đéc có 6 phường và 3 xã với tổng diện tích 60ki-lô-mét vuông, dân số thành phố 105.006 người, phân bổ tập trung nhiều ởkhu vực thành thị là 67.048 người, hoạt động kinh tế của người dân chủ yếubằng các ngành nghề thương mại và dịch vụ Khu vực nông thôn là 37.958người hoạt động kinh tế chủ yếu nông nghiệp hoặc chăn nuôi gia súc, thủy sản
và số ít đi làm thuê trong các khu công nghiệp [13]
Địa danh Sa Đéc còn được biết đến với ba luận giải sau: (1) Theo ghi chép
của Vương Hồng Sển trong Tự vị Tiếng Việt miền Nam dựa vào di cảo của cụ
Trương Vĩnh Ký (Le Cisbassac), ghi chú về tên của sông Sa Đéc bằng tiếngKhmer là “Tonplé Phsar Dèk” và có giải thích thêm cho rằng: “Phsar - nghĩa làchợ; Dèk - nghĩa là sắt; ghép hai từ Phsar Dèk nghĩa thành chợ lớn bán sắt thời
Trang 34Miên” [61, tr.563] Trong bản Monographie de da Province de Sa Đéc (1903) ghi
“au Cambodge et portait le nom de Phsr-Dek, qui signitie Marché au fers” [4,tr.79] Tuy nhiên, Sơn Nam và nhiều nhà nghiên cứu khác không chắc chắn vớiluận điểm này; (2) Sa Đéc là tên gọi một vị thủy thần của người Chân Lạp, cónhiệm vụ phò trợ cho nhân dân trong vùng, thường được thờ trên sông Xưa kia,vàm rạch Sa Đéc có miếu thờ thần Phsar-Dek [29, tr.24-25]; (3) Sa Đéc là tên
một vị thần, được thờ nhiều nơi Sách Đại Nam nhất thống chí - Lục tỉnh Nam
Việt, phần Tự quán, có ghi: “Chùa Tô Sơn ở địa phận thôn Hưng Nhượng, huyện
Hà Dương, tỉnh An Giang Phía sau núi về phía tây có viên đá hình con rùa,người xưa tương truyền rằng: khi gặp trời hạn hán thì đến đây cầu đảo rấtnghiệm ắc có được mưa cho nên người địa phương ở đây lập đền thờ ở chân núigọi là Sa Đét (tức là chùa thờ/ miếu thờ thủy thần)” [57, tr.226]
Vùng đất Sa Đéc nằm giữa hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu) nênkhí hậu ôn hòa, thoáng mát, đất đai màu mỡ, lượng nước ngọt quanh năm với độnhiễm phèn thấp, nên thuận lợi cho việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, trồngcây ăn trái Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật vàcây trồng chịu nước, cho nên thảm thực vật tự nhiên nơi đây luôn xanh tốt,phong phú đa dạng nhiều chủng loài Giao thông thuận lợi về đường thủy lẫnđường bộ góp phần phục vụ an sinh và phát triển kinh tế Mặc dù đến năm 1757,vùng đất Sa Đéc mới chính thức trở thành đạo Đông Khẩu của dinh Long Hồ,nhưng trên thực tế, lưu dân người Việt đã đến vùng đất này khai hoang lập
nghiệp từ lâu trong diễn trình mở cõi như Gia Định thành thông chí mô tả vùng
đất này như một vùng địa linh, đô hội: “Ở bờ phía Nam Tiền Giang, rộng 42 tầm,sâu 28 thước ta, cách trấn về phía Tây 56 dặm rưỡi Trước chỗ này cách 4 dặm, ở
bờ phía Nam có sông nhỏ Cái Sơn, rộng 9 tầm, sâu 10 thước ta có cầu ngangthông với chợ Sa Đéc ( ) Nước sông trong ngọt, vườn ruộng rất tốt, nhân dânđông đúc giàu có, có đạo Đông Khẩu đóng ở phía Nam, chợ phố liền
Trang 35nhau, thuyền bè đông đúc, là chỗ đại đô hội của trấn này Phía trái có xóm TiênPhổ thuộc Tân Quy Đông, cát trắng ngăn đục như cái mõm nhô môi ra, gió mát,sông lặng, người ta thường đậu thuyền nơi đây, không hề có ruồi muỗi quấynhiễu, nên mới gọi là Tiên Phía phải có cồn Phụng Nga như bức la thành hộ vệ,núi sông hiểm yếu, bờ cõi vững bền Chảy qua Tây Nam 33 dặm có Rạch Dầu(Du Câu) ở bờ phía Tây, rạch Nàng Hai (Nhị Nương) ở bờ phía Đông, rạch SaNhân ở bờ phía Tây, rồi đến ngã ba Nước Xoáy, mạch đất như cuốn bó lại nguồn
xa của dòng nước, để giữ lấy vượng khí” [19, tr.77] Theo tác giả Nguyễn HữuHiếu, “Sa Đéc nằm là vùng đất trù phú được khai phá sớm với đặc trưng là hoạtđộng thủ công, thương nghiệp và dịch vụ với trung tâm là chợ Sa Đéc - khu buônbán sầm uất, nơi quy tụ nhiều sản vật từ khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ kể cảlượng hàng hóa đổ về từ vùng Đông Nam Bộ và cũng là nơi gặp gỡ, giao lưu củanhiều cộng đồng tộc người, nhiều dòng văn hóa của người Việt, Hoa, Khmer)[29, tr.21-22] Còn theo mô tả của Joseph Athanase Paul Doumer (1857 - 1932)
trong cuốn L’Indo - Chine francaise: Souvenirs (Xứ Đông Dương: Hồi ký) về vùng đất Sa Đéc như sau: “Trong ba tỉnh lỵ bên sông Mê Kông mà tôi đi thăm
đầu tiên, thành phố đẹp nhất chắc chắn là tỉnh lỵ Sa Đéc, nằm ở phía thượng lưu
và cách Vĩnh Long khoảng 30 cây số Trung tâm thành phố rất thú vị với cáchoạt động thương mại nhộn nhịp, với những cửa tiệm của người An Nam vàngười Hoa; tại đó người ta sản xuất và bán các loại hàng hóa, đồ gia dụng, đồ nộithất; tô điểm cho Sa Đéc thêm vẻ duyên dáng và lôi cuốn là các công viên,những cảnh đồng quê quanh thành phố Không có nơi nào thảm thực vật nhiệtđới lại duyên dáng hơn ở Sa Đéc Cái gốc thiên đường hạ giới xinh đẹp gán choSri Lanka không thể vượt được Sa Đéc” [16, tr.128 - 129] Đó chính là nhữngđiều kiện “thiên phú” dành riêng cho Sa Đéc, vì vậy mà ngay từ buổi đầu khẩnhoang vùng đất này đã hấp dẫn và thu hút nhiều lưu
Trang 36dân đến đây sinh sống, từ đó hình thành cho nơi đây kiểu thức phố thị đôngđúc, nhộn nhịp từ rất sớm.
1.2.1.2 Điều kiện dân cư và thành phần tộc người
Lưu dân người Việt đã đến khai hoang mở cõi từ rất sớm nhưng số lượngcòn thưa ít nên dân cư nhìn chung là người Khmer phổ biến Mãi đến thế kỷ XVI
- XVII đã xuất hiện tiến trình nhập và cộng cư của đại đa số lưu dân người Việt
và người Hoa ở cả vùng Sa Đéc xưa Nhìn chung, đặc điểm cư dân ở Sa Đéc là
sự cộng cư của các tộc người và chủ yếu chịu sự tác động của văn hóa tộc ngườiHoa mang đậm dấn ấn kinh doanh, mua bán, phố xá, thị tứ sầm uất, náo nhiệt.Hiện nay, các tộc người trên vùng đất Sa Đéc đã an cư lạc nghiệp, có cuộc sốngngày càng sung túc, đời sống kinh tế lẫn đời sống văn hóa ngày càng phong phúphát triển Theo số liệu do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
-thành phố Sa Đéc cung cấp về thành phần tộc người cũng khá phong phúbao gồm chủ yếu là người Việt (102.833 người), tộc người Hoa (2.086 người),tộc người Khmer (67 người) và số lượng còn lại là tộc người Tày, Thái, Nùng,
Ê Đê, Lào, Lô Lô, tất cả cùng chung sống chan hòa, đoàn kết với nhau trênmảnh đất Sa Đéc phồn thịnh (Tài liệu điền dã 2017)
1.2.1.3 Điều kiện kinh tế và văn hóa - xã hội
Chính quyền và nhân dân thành phố Sa Đéc đã khẳng định sự nổi tiếngcủa mình về mức độ hưng thịnh từ khi mới thành lập cho đến hôm nay Sa Đéc
chính thức được công nhận đô thị loại II theo Quyết định số 210/QĐ-TTg ngày
10 tháng 02 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ [81] Từ đây, Sa Đéc trởthành trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ và là khu đô thị công nghiệp pháttriển bậc nhất của tỉnh Đồng Tháp Điều đó cho thấy tình hình kinh tế, vănhóa - xã hội của thành phố đang từng ngày vươn mình phát triển và lớn mạnhthể hiện qua những kết quả đạt được sau đây:
Trang 37Đối với sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Ước tính giá trịsản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thực hiện được 1.798,5 tỷ đồngnâng tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp những tháng đầu năm 2017đạt 3.674,8 tỷ đồng Các sản phẩm có mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm
2016 như: chế biến thủy sản tăng 71,5% (phần trăm) và bánh phồng tôm tăng30,5% Tính theo giá thực tế giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp ước thực hiện 2.221,5 tỷ đồng
Về thương mại, dịch vụ và du lịch: Lượng hàng hóa lưu thông trên thịtrường khá dồi dào, phong phú về chủng loại đáp ứng yêu cầu mua sắm củangười dân Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 1.015 tỷđồng, nâng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ những tháng đầunăm 2017 thực hiện được 2.068 tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13 triệuUSD (đơn vị tiền tệ của Mỹ), nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thực hiện được26,3 triệu USD Các khu, điểm lịch sử, văn hóa, tham quan giải trí trên địa bànThành phố như: (1) địa điểm thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa có Làng hoa SaĐéc, Kiến An Cung, Thất phủ Thiên Hậu cung, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, nhà cổTrần Phú Cương, nhà cổ Nguyễn Thành Giung, Trụ sở Ủy ban khởi nghĩa, Tòahành chính tỉnh Sa Đéc xưa, Đình Vĩnh Phước, Đình Tân Quy Tây, Xóm Rẫy Cụ
Hồ, Đài bia tưởng niệm Chi đội Trần Phú (2) địa điểm vui chơi và tham quan cóCông viên Sa Đéc và Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu quảng trường và giỏhoa tươi lớn nhất Việt Nam, khuôn viên đảo Phụng Hoàng và thác hoa tươi lớnnhất Việt Nam, khu mua sắm có Chợ Sa Đéc, hệ thống siêu thị Coopmart,Vinafood, trung tâm thương mại Vincom Plaza, Điện máy Chợ Lớn, Thế giới diđộng, Điện máy xanh và các cửa hàng thời trang vô cùng phong phú trên khắp SaĐéc (3) địa điểm lưu trú và nghỉ dưỡng với hệ thống nhà hàng, khách sạn đạtchuẩn chất lượng phục vụ du lịch đã thu hút trên 22.000
Trang 38lượt du khách trong nước và quốc tế (có khoảng trên 900 lượt khách quốc tế)đến tham quan, vui chơi, nghỉ dưỡng và mua sắm.
Sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi: Tổng diện tích sản xuất hoa kiểngtrên địa bàn đạt 485,5 héc-ta, với khoảng 2.300 hộ dân gieo trồng Ước tính sốlượng hoa kiểng tiêu thụ trên 14 triệu giỏ các loại, với tổng doanh thu trên 249
tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2016 Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bànhiện có 188,2 héc-ta với sản lượng thủy sản thu hoạch 5.063,3 tấn
Về văn hóa - xã hội: Thành phố tập trung tổ chức thực hiện tốt các hoạtđộng văn hóa - văn nghệ, hoạt động lễ hội truyền thống; các buổi họp mặt truyềnthống với nhiều hình thức phong phú thu hút khoảng hơn 10.000 người dân đếntham gia Thành phố tiếp tục duy trì và giữ vững các hoạt động phong trào vănhóa, văn nghệ, thể dục, thể thao như: tổ chức giao lưu các Câu lạc bộ thể dụcdưỡng sinh; các Câu lạc bộ múa Lân - Sư - Rồng; giải đua xuồng; giải cờ tướng
và giải quần vợt v.v Hoạt động thể dục thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi, rộngkhắp với nhiều nội dung phong phú, thu hút nhiều người tham gia Nhu cầu vềvăn hóa tinh thần và vui chơi giải trí của người dân được đáp ứng đầy đủ với hệthống Khu Công viên Sa Đéc có quảng trường, công viên cây xanh, khu vui chơidành cho thiếu nhi, khu ẩm thực giải khát, sân khấu ngoài trời v.v có sức chứa20.000 người, rộng 22 ha, phục vụ nhu cầu vui chơi, thưởng ngoạn thư giãn chongười dân Bên cạnh đó, hệ thống các khu điểm du lịch, nhà cổ, làng hoa Sa Đéc,các di tích lịch sử - văn hóa, đình - chùa - miếu nằm ở khắp nơi trong khu vựcthành phố đã đem lại sự thuận tiện và đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân vànhu cầu tham quan của du khách phương xa Trong thời gian tới, chính quyềnthành phố Sa Đéc đang triển khai xây dựng nhiều dự án phát triển đô thị như:Trung tâm mua sắm Vincom Plaza, khu thương mại - tài chính, khu đô thị mớiv.v hứa hẹn sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân địaphương và những khu vực xung quanh
Trang 391.2.2 Khái quát về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc
1.2.2.1 Văn hóa vật thể
Theo Khoản 2, Điều 4, Chương 1, Luật Di sản văn hóa năm 2001 [53]
thì “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổvật, bảo vật quốc gia” Vùng đất Sa Đéc với địa thế sông liền sông, chợ liềnchợ nên đã sớm trở thành khu thị tứ phát triển, nhà cửa, phố xá đông đúc, cácgiá trị văn hóa vật thể biểu hiện đầy đủ thông qua lối kiến trúc tín ngưỡng, tôngiáo như Thất phủ Thiên Hậu Cung, Kiến An Cung, Đình Vĩnh Phước, ĐìnhTân Quy Tây, Tân Quy Đông, Tân Khánh, Tân Đông, Tân Phú Đông; Miếu
Bà Chúa xứ, Miếu Ngũ Hành; Miếu Cửu Thiên Huyền Nữ, Chùa Hương,Chùa Phước Lâm; Nhà thờ Hòa Khánh, Nhà thờ Tân Quy, Nhà thờ Tin Lànhv.v cùng với nhiều công trình kiến trúc khác
1.2.2.2 Văn hóa phi vật thể
Theo Khoản 1, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản
văn hóa thì “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưutruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn
và các hình thức khác” [54] Ở Sa Đéc, bên cạnh đời sống vật chất phong phúcủa người dân trong sự giao thoa, tiếp biến văn hóa, đời sống tinh thần và nhữnggiá trị văn hóa phi vật thể cũng khá đa dạng Khi xem xét đời sống tâm linh củangười dân trên địa bàn Sa Đéc, chúng tôi thấy có các dạng tín ngưỡng QuanCông, Ông Địa, Ông Thần Tài, tục thờ Thổ thần, Bàn Thiên và các phong tụccưới hỏi, tang ma, giỗ tết, đặc biệt là sự phong phú của tín ngưỡng nữ thần trongcộng đồng và tại gia đình mà đề tài chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu Bêncạnh đó, kho tàng văn học dân gian cũng có những
Trang 40đặc sắc và đa dạng như các truyện kể dân gian, giai thoại về địa danh, tênsông rạch tại Sa Đéc, giai thoại về chợ Nàng Hai1 [27, tr.216-218], giai thoại
về Cô Hai Hiên2 [82, tr.111-117] và kho tàng phong phú về ca dao, tục ngữchủ đề quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình; các vần thơ,câu hò, bài vè về thiên nhiên sông nước miệt vườn, thế sự nhân tình Đặc biệt
là các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian như hát múa bóng rỗi, hát bội,đờn ca tài tử như chia sẻ của ông N.N.T cho biết: “Nghệ thuật diễn xướng dângian ở Sa Đéc vô cùng phong phú như loại hình múa bóng rỗi ở Sa Đéc ra đời
và tồn tại trong môi trường tín ngưỡng dân gian từ lâu mà đặc biệt là tínngưỡng nữ thần hay còn gọi là tục thờ Bà Ngoài ra, còn có hai tuyến nghệthuật hát bội và đờn ca tài tử cũng một thời nổi tiếng nức danh ở vùng Sa Đéc
và các tỉnh miền Tây Nam Bộ” [PL3: Biên bản phỏng vấn số 4, tr.26-27]
1.2.2.3 Vai trò của tín ngưỡng nữ thần trong tổng thể văn hóa dân gian vùng đất Sa Đéc
Tín ngưỡng nữ thần qua thời gian đã giữ vai trò riêng trong đời sống tinhthần của cư dân các tộc người ở Sa Đéc, chúng tôi nhận thấy những vai trò đóbiểu hiện như sau: (1) Nữ thần cai quản xứ sở như bà Chúa Xứ, bà Ngũ Hành, bà
Cố Hỷ v.v phù hộ cho đất đai tốt tươi, mùa màng bội thu, quán xuyến, trông coitoàn bộ vùng đất, xứ sở, thậm chí là độ mạng cho nữ giới (2) Nữ thần cai quảnkhông gian vũ trụ như Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ,
1Dân gian tương truyền, khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, tại vàm rạch giữa hai làng Tân Quy Tây và Tân Quy Đông, có một gia đình nông dân già, trong nhà có hai người con gái sinh đôi tuổi vừa 16 dựng quán nước, đưa đò để bí mật hoạt động cách mạng Vì muốn cứu giúp nghĩa quân thoát khỏi sự vây bố của giặc nên hai nàng đã dùng thân mình chịu đạn và hy sinh trong lúc đưa đoàn nghĩa quân qua sông Về sau mỗi khi
đi ngang vàm rạch này, người dân thường nhắc lại những việc hai nàng đã làm và gọi rạch này là rạch Hai Nàng, qua năm tháng nói trại thành Nàng Hai, tên chợ Nàng Hai bên vàm rạch cũng bắt nguồn từ đó.
2Theo chuyện kể trong dân gian, Cô Hai Hiên tên thật là Phạm Thị Hiên con gái duy nhất của Hương cả Phạm Văn Cần Càng lớn lên thì Cô Hai Hiên càng xinh đẹp cộng với tính tình nết na, thùy mị nên đến năm
18 tuổi, Cô Hai Hiên nức danh tài sắc, chẳng khác tiên nữ giáng trần ở vùng Nha Mân - Sa Đéc xưa kia Một hôm, Cô đang dạo chơi bên bờ sông bổng nghe tiếng gọi đò của bà lão bên kia bờ nhưng người chèo đò đi vắng, thấy vậy, Cô liền chèo đò qua rước bà lão Chẳng ngờ, ra đến giữa sông, dòng nước chảy xiếc, Cô bị sút tay chèo rồi té nhào xuống sông chết Những ngày sau, dân làng thường thấy Cô hiển linh về giúp đỡ mọi người nên được tôn kính và súng bái đến ngày hôm nay.