Giáo trình Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y: Phần 2 trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về động vật chân đốt ký sinh, đơn bào ký sinh, bệnh do động vật chân đốt và đơn bào gây ra. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.
Trang 1Phần thứ ba
ĐỘNG VẬT CHÂN ĐỐT KÝ SINH
VÀ BỆNH DO ĐỘNG VẬT CHÂN ĐỐT GÂY RA
Chương 7
ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐỘNG VẬT CHÂN ĐỐT KÝ SINH
Động vật chân đốt ký sinh thuộc ngành Arthropoda (Arthros: chia đoạn, poda: chân) Có đặc điểm: cơ thể và chân phân thành nhiều đốt, các đốt chân
khớp động với nhau, có vỏ kitin bọc ngoài
Ngành Arthropoda hiện nay có khoảng 6 - 7 triệu loài, thuộc 5 lớp:
- Lớp Crustacea: bao gồm tôm, cua, mối và một số loài khác.
- Lớp Onychaphora: bao gồm một số loài thuộc giống Peripatus, sống tự do.
- Lớp Myriapoda: bao gồm các loài rết và những động vật nhiều chân khác.
- Lớp Insecta: bao gồm tất cả các loại côn trùng.
- Lớp Arachnida: bao gồm nhện, ve, ghẻ và các loài khác.
Trong 5 lớp trên, có 3 lớp liên quan đến Chăn nuôi thú y là lớp Insecta, Arachnida và Crustacea.
1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, CẤU TẠO VÀ PHÂN LOẠI
1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo
- Động vật chân đốt có cơ thể đối xứng 2 bên, phân đ ốt dị hình (các đốt có
xu hướng tập trung thành những nhóm đốt khác nhau) Cơ thể chia thành 3 phần:đầu, ngực, bụng
+ Đầu: gồm các đốt trên cùng, chứa bộ não, giác quan và các phần phụ miệng.+ Ngực: do 3 đốt giữa dính lại (đốt ngực trước, đốt ngực giữa và đốt ngực sau).+ Bụng: do các đốt còn lại tạo nên Ở ve, bét, các đốt bụng dính lại thành một khối
- Động vật chân đốt thường có chân, cánh (là những phần phụ gắn vào cơthể), luôn khớp động với cơ thể Chân gồm nhiều đốt, cũng có khớp động vớinhau để hoạt động dễ dàng
- Vỏ kitin là những lớp cuticun bọc ngoài cơ thể, do các tế bào hạ bì tiết ra
Vỏ kitin rất có ý nghĩa với động vật chân đốt Vỏ kitin của động vật chân đốt cóchất muối vôi (cacbonat hay photphat), hoặc các protein keo hoá, nên rất bềnvững với các nhân tố hoá học và lý học Ở các khớp động, do chất kitin nguyênchất hơn nên dễ dàng hoạt động Vỏ kitin thường có màu sắc khác nhau
Vỏ kitin là bộ xương ngoài của động vật chân đốt , có tác dụng chống lại cáctác động của ngoại cảnh Do vỏ kitin cản trở sự tăng trưởng của cơ thể nên khilớn lên, động vật chân đốt phải lột xác Hiện tượng này có tính chu kỳ, nhưngcũng có khi không đi đôi với sự lớn lên
- Hệ thần kinh: gồm hạch não, vòng thần kinh hầu và chuỗi thần kinh bụng.Hạch não tập trung thành khối, có cấu tạo phức tạp như một bộ não, gồm: não
Trang 2trước, não giữa và não sau (như ở côn trùng) Não phát triển làm giác quan cũngphát triển và dễ thích nghi với môi trường sống.
- Cơ quan vận động: có chân phân đốt khớp động với cơ thể, hoạt độ ngđược linh hoạt và phức tạp Một số loài có hai đôi hoặc một đôi cánh, có loài dosống ký sinh mà cánh đã bị tiêu giảm
- Hệ tiêu hoá: hệ tiêu hoá của động vật chân đốt phát triển, gồm phần phụmiệng, ống tiêu hoá phân thành nhiều phần, có tuyến nước bọt , gan và tụy để tiếtdịch tiêu hoá
- Hệ hô hấp: có nhiều dạng Động vật chân đốt ở nước, sống bằng mang ,mang là những tấm mỏng có nhiều lá nhỏ để lấy oxy trong nước và thải khí CO2cùng cặn bã khác vào nước Những loài ở cạn hô hấp bằng phổi hoặc ống khí Phổi là những túi đặc biệt, trong có nhiều lá kitin Ống khí là những ống nhỏ,phân nhánh, len lỏi đến các phần của cơ thể, nằm sâu trong cơ thể và có lỗ th ởthông với ngoài Quá trình trao đổi khí tiến hành được nhờ thân co rút
- Hệ tuần hoàn: gồm tim hình ống dài, có chỗ phình rộng thành túi tim vànhững lỗ tim để máu trở về tim Hệ mạch hở Máu từ tim chảy vào xoang huyết ởgiữa các cơ quan Một số loài ký sinh trùng nhỏ (ghẻ) thì tim và hệ mạch tiêugiảm hoàn toàn
- Hệ bài tiết: thận chỉ là những ốn g thể xoang sắp xếp ở tuyến râu, tuyếnhàm (lớp giáp xác), ở tuyến háng (lớp hình nhện) Lớp hình nhện và lớp côntrùng có những ống Malpighi làm nhiệm vụ bài tiết, đổ vào ống tiêu hoá ở ranhgiới ruột giữa và ruột sau
- Sinh sản: động vật chân đốt chỉ sinh sản hữu tính Một số loài có hiệntượng xử nữ sinh (con cái đẻ trứng, không cần thụ tinh vẫn phát triển thành phôi)
Đa số loài có phân tính: con đực, con cái riêng Động vật chân đốt đẻ trứng.Trứng phát triển có biến thái
1.2 Phân loại
Ngành Arthropoda gồm 5 lớp như đã nói ở trên Số loài ký sinh, hút máu thường tập trung vào 3 lớp: lớp giáp xác ( Crustacea), lớp hình nhện ( Arachnida)
và lớp côn trùng ( Insecta).
- Lớp giáp xác (Crustacea) gồm 2 phân lớp:
Phân lớp giáp xác thấp ( Entomostraca): nhiều loài là ký chủ trung gian của giun sán (ví dụ: thuỷ tao là ký chủ trung gian của sán dây Diphyllobothrium) Phân lớp giáp xác cao (Matacostraca): nhiều loài sống ở nơi đất ẩm trên cạn như loài Asellus, Gamarus là ký chủ trung gian của một số loài giun tròn.
- Lớp hình nhện ( Arachnida): đầu và ngực dính thành một khối.
Ví dụ: ve, mò, mạt
- Lớp côn trùng (Insecta): cơ thể chia 3 phần (đầu, ngực, bụng).
Trang 3Đặc điểm Lớp giáp xác Lớp hình nhện Lớp côn trùng
- Không râu
- 4 đôi
- Bằng phổi hay ống khí
2.1.1 Vòng phát triển của động vật chân đốt
Vòng đời của động vật chân đốt ký sinh có thể tiến hành ngay trên ký chủhoặc ngoài cơ thể ký chủ Các giai đoạn phát triển có tính chu kỳ Con đực vàcon cái giao phối xong, con đực chết, con cái đẻ trứng hoặc đẻ con Trứng nởthành ấu trùng Ấu trùng phát triển qua các các giai đ oạn khác nhau:
- Ấu trùng phát triển thành thiếu trùng, thiếu trùng tiếp tục phát triển thànhdạng trưởng thành (thường gặp ở các loài ve, ghẻ) Giai đoạn phát triển thànhthiếu trùng cũng có thể qua nhiều thời kỳ khác nhau Các giai đoạn phát triểncũng tiến hành trên cơ thể ký chủ hoặc ở ngoài thiên nhiên
Ví dụ: ve Boophilus microplus (ve 1 ký chủ) Các giai đoạn từ ấu trùng đến
thiếu trùng rồi đến ve trưởng thành đều phát triển, lột xác và hút máu ngay trên
cơ thể bò
- Ấu trùng phát triển thành nhộng, rồi tiếp tục phát triển thành dạng trưởngthành (thường gặp ở mòng, ruồi trâu ) Các giai đoạn này thường tiến hành ởngoài cơ thể ký chủ
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng và tuổi thọ của động vật chân đốt
* Đặc điểm dinh dưỡng
Mỗi loài động vật chân đốt có thức ăn, cách ăn và hoạt động sau lúc ăn khácnhau Những động vật chân đốt chỉ hút máu người thì bệnh chỉ lan truy ền giữangười và người Những động vật chân đốt hút cả máu người và máu động vật,bệnh sẽ lan truyền giữa người và động vật
Những động vật hút máu như ve, khi hút máu bám rất chắc vào ký chủ.Thời gian hút máu càng lâu thì khả năng truyền bệnh càng tăng
Thời gian tiêu máu tuỳ loài động vật chân đốt Những loài tiêu hoá nhanhthường nguy hiểm hơn , vì khi đói, chúng lại tiếp tục tìm ký chủ để hút máu Có
Trang 4đói 4 - 5 tháng trong mùa đông) Nhờ khả năng này mà động vật chân đốt có thểsống lâu ngoài thiên nhiên, trong những điều kiện sống bất lợi.
* Tuổi thọ của động vật chân đốt
Tuổi thọ của động vật chân đốt khác nhau tuỳ loài Những loài sống lâu thìnguy hiểm hơn, vì chúng giúp cho các loại mầm bệnh hoàn thành chu kỳ pháttriển trong cơ thể chúng Phương pháp tính tuổi của động vật chân đốt thườngdựa vào việc x ác định số lần đẻ của chúng (sau mỗi lần đẻ có một nút xuất hiệntrên ống dẫn trứng, đếm số nút trên ống dẫn trứng sẽ xác định được số lần đẻ củađộng vật chân đốt)
2.2 Vai trò gây bệnh của động vật chân đốt ký sinh
Bản thân động vật chân đốt ký sinh có thể gây bệnh trực tiếp, làm hại giasúc, gia cầm Một số loài là ký sinh trùng vĩnh viễn trên cơ thể động vật (rận,ghẻ ), một số loài là ký sinh trùng tạm thời (ve, muỗi, ruồi ) Trong quá trình
ký sinh, chúng hút máu, làm rách da, phá hoại lông gia súc, làm gia súc chậmlớn, sinh sản kém Nhiều loài động vật chân đốt làm thủng, rách da ký chủ, tiếtđộc tố và các chất độc khác, gây ngứa, viêm các tổ chức dưới da và lỗ chân lông.Một số loài gây bệnh nặng cho gia súc ( ví dụ: bệnh dòi, bệnh ghẻ)
Nguy hiểm hơn cả là vai trò cơ giới hoặc trung gian truyền các mầm bệnhvirut, vi khuẩn, ký sinh trùng đường máu, giun sán , gây thành những vụ dịchlớn, giết hại nhiều gia súc và người Động vật chân đốt ký sinh truyền các mầmbệnh bằng 3 cách:
* Truyền bệnh cơ giới
Khi hút máu, động vật chân đốt hút cả mầm bệnh cùng máu ký chủ vào ốngtiêu hoá Mầm bệnh sống ở đó một thời gian ngắn và không sinh sản, phát triểnđược Khi hút máu ký chủ khác, chúng lại truyền mầm bệnh cho ký chủ mới.Như vậy, động vật chân đốt chỉ làm nhiệm vụ vận chuyển mầm bệnh từ ký chủnày sang ký chủ khác một cách máy móc (cơ giới)
Ví dụ: bọ chét hút máu động vật có vi khuẩn gây bệnh dịch hạch Trongđiều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích hợp, trong bọ chét sẽ hình thành nút chứa vikhuẩn ở tiền vị dạ dày, làm tắc đường dẫn máu vào dạ dày Vì vậy, máu của kýchủ không vào dạ dày bọ chét được sẽ bị ứ lại ở thực quản, nên bọ chét luôn cócảm giác đói và tiếp tục hút máu Khi hút máu ký chủ khác, do tác động co thắtcủa thực quản, vi khuẩn dịch hạch bị đẩy ra và xâm nhập vào ký chủ mới.Trường hợp này bọ chét là vật môi giới (truyền bệnh một cách cơ học)
* Truyền bệnh sinh học
Động vật chân đốt hút máu súc vật ốm, mầm bệnh theo máu vào ống tiêuhoá của động vật chân đốt và phát triển , sinh sản ở đó Sau một thời gian nhấtđịnh, mầm bệnh mới có khả năng gây nhiễm cho động vật khác Trường hợp này ,động vật chân đốt đóng vai trò là ký chủ trung gian truyền bệnh
Như vậy, động vật chân đốt - ký chủ trung gian làm nhiệm vụ vận chuyểnmầm bệnh từ ký chủ này sang ký chủ khác một cách sinh học Mỗi loại mầm
Trang 5Ví dụ: lê dạng trùng phải qua thời gian phát triển trong cơ thể ve rồi mới cóthể gây nhiễm cho bò khác được - ve là ký chủ trung gian.
Người ta chia phương thức sống của mầm bệnh trong động vật chân đốt - kýchủ trung gian - thành 3 loại:
+ Phương thức phát triển: có loại mầm bệnh (ví dụ, ấu trùng giun chỉ) có thểsống trong cơ thể muỗi và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm , nhưng chúngkhông sinh sản được trong cơ thể muỗi
+ Phương thức sinh sản: mầm bệnh sinh sản trong ký chủ trung gian, đếnmột số lượng nào đó mới có thể thông qua ký chủ trung gian mà truyền bệnh chovật khác được (ví dụ: xoắn trùng)
+ Phương thức phát triển - sinh sản: ví dụ, lê dạng trùng và nhiều bào tửtrùng khác, sau khi phát triển và sinh sản trong cơ thể ve mới đủ sức cảm nhiễm
và gây bệnh cho ký chủ mới
ve đời I bị cảm nhiễm mầm bệnh, song ve đời II lại có tác dụng truyền bệnh).Trong phương thức này, mầm bệnh có tính ch ọn lọc nhất định đối với ký chủtrung gian
Như vậy, nếu không có động vật chân đốt ký sinh truyền bệnh thì các ổ dịchthiên nhiên không thể lan tràn được
2.3 Biện pháp cơ bản để phòng và diệt động vật chân đốt ký sinh
2.3.1 Phòng hộ cá nhân đối với động vật chân đốt ký sinh
Động vật chân đốt ký sinh hút máu và truyền bệnh cho người Khi hút máu
có thể gây đau, buốt ngay hoặc sau vài ngày mới thấy ngứa, nổi mẩn Vì vậy, khivào rừng, đi trên đồng cỏ hoặc các chuồng gia súc, cần phải kiểm tra quần áo vàcác phần của cơ thể (bẹn, nách ) để bắt sạch động vật chân đốt Tốt hơn cả làthay quần áo, ngâm vào nước trong nửa ngày để diệt động vật chân đốt Diệtđộng vật chân đốt ở trong nhà, không ngồi lâu trên các đồng cỏ, bụi cây, khôngmang vác thú săn bắt được trên người Những nơi có dịch (nhất là dịch sốt phátban) thì không cho chó vào nhà, vì chó đem động vật chân đốt mang mầm bệnh
từ bên ngoài vào
Khi phải đi vào vùng có dịch và có chân đốt ký sinh, cần phải mặc quần liền
áo và có cổ cao Cổ tay và gấu quần phải có chun Chân đi tất dài hoặc xà cạp
Trang 6Trước lúc vào rừng hoặc vào chuồng gia súc, gia cầm , cần bôi thuốc xuađộng vật chân đốt ký sinh.
2.3.2 Biện pháp diệt động vật chân đốt ký sinh
* Dùng biện pháp tổng hợp: diệt động vật chân đốt trên cơ thể gia súc,
gia cầm và cả ở ngoài thiên nhiên bằng các biện pháp hoá học, tiệt sinh, sinhhọc , trong đó, biện pháp hoá học là quan trọng nhất Bởi vì, biện pháp này cóthể tiến hành được nhanh và trên quy mô lớn Muốn có hiệu quả, cần phải điềutra thành phần loài, mối quan hệ của chúng với gia súc, gia cầm và người; nơisống, phát triển cũng như mùa vụ xuất hiện và hoạt động của chúng
- Diệt động vật chân đốt ở ngoài thiên nhiên và chuồ ng trại: động vật chân đốt
ký sinh thường sống trên đồng cỏ, xung quanh hoặc trong chuồng trại Diệt chúngrất khó khăn và chỉ đạt được kết quả nhất định Có 3 biện pháp thường dùng:
+ Phun hoá chất trên đồng cỏ và quanh chuồng trại
+ Vệ sinh chuồng trại và phát quang đồng cỏ
+ Cách ly cho động vật chân đốt chết đói
- Diệt động vật chân đốt ký sinh trên cơ thể súc vật nuôi: những đàn gia súc
có số lượng ít thì có thể xát, bôi hoặc rắc thuốc bột lên cơ thể Những đàn giasúc, gia cầm có số lượng lớn phải phun, tắm các loại thuốc hoá học thích hợp
- Biện pháp tiệt sinh hay vô sinh: từ năm 1955 người ta đã dùng tia phóng xạ
để gây vô sinh cho động vật chân đốt Sau đó, đã tìm ra các thuốc hoá học gây vôsinh cho các côn trùng ký sinh và dùng phương pháp di truyền học để chọn thuốcgây vô sinh có hiệu quả Thường dùng thuốc gây vô sinh kết hợp với thuốc nhửcôn trùng tự động tiếp xúc hoặc ăn thuốc này để trở thành vô sinh
Thuốc gây vô sinh đã được áp dụng rộng rãi cho nhiều loài côn trùng gâyhại Với ve, bét thì thuốc còn đang được thử nghiệm
- Biện pháp sinh học: trong thiên nhiên, có nhiều loài là kẻ thù tự nhiên (haythiên địch) của động vật chân đốt ký sinh Đó là các loài động vật chân đốt ănthịt; nhiều loài chim ăn ve, bét, côn trùng có hại; nhiều lo ài nấm, vi khuẩn, virut ;nhiều loài cây cỏ cũng có tác dụng xua hoặc diệt động vật chân đốt
- Biện pháp xua đuổi: bôi thuốc xua đuổi động vật chân đốt ký sinh lên cơthể; phun thuốc lên da, lông của gia súc, gia cầm; phun vào quần áo, lán trại củangười ở trong rừng Biện pháp này có hiệu quả cao với các côn trùng ký sinh nhưruồi, muỗi, mòng
* Dùng thuốc diệt động vật chân đốt ký sinh: đa số các thuốc diệt côn
trùng (Insecticido) cũng có tác dụng diệt ve, bét (Acaricido) và được gọi chung là Insecto - Acaricido - thuốc diệt ve, bét và côn trùng.
Các thuốc này không chỉ có tác dụng với ve, bét và côn trùng mà thuốc còn
có thể tích lũy trong cơ thể ký chủ (ở các mô và sữa) Tuỳ theo độ độc đối với cơthể động vật mà chia thành các loại sau:
Thuốc có độc lực cao (Lindan )
Thuốc có độc lực trung bình (Chlorophos, Trichlometaphos - 3 )
Trang 7Dựa vào cấu trúc hoá học của thuốc diệt ve, bét và côn trùng, người ta chiathành 3 nhóm:
1 Hợp chất phosphororganic:
Gồm các thuốc sau:
Chlorophos (Dipterex): là thuốc tốt nhất của nhóm, có phạm vi tác dụng
rộng với các loài ve, bét và côn trùng ký sinh Thuốc có tác dụng khi tiếp xúc,hun, xông (qua cơ quan hô hấp và qua ruột ngay từ lúc côn trùng mới ký sinh).Thời gian tác dụng lên côn trùng hút máu là 10 ngày, tác dụng lên ve , bét sau 7ngày phun hoặc xát thuốc lên da súc vật Sau khi đã phun chlorophos, khôngđược mổ thịt gia súc trong thời gian 2 tuần Trong môi trường kiềm, chlorophos
bị khử hydro và clo thành dimetyl dichlor vinulphosphat có tác dụng tốt hơn 6 - 8lần chlorophos Tuy nhiên, thuốc này đã bị cấm sử dụng từ năm 2002
Trichlometaphos - 3: dùng diệt ve, bét và côn trùng Thường dùng tiêm
dưới da cho trâu, bò hoặc phun lên da, để chống ruồi, muỗi, ve, ghẻ Thuốc còndùng diệt ve trong nhà ở Vì thuốc có mùi đặc trưng nên gia súc trước khi giếtthịt 60 ngày không được bôi thuốc này
Phosmamid: thuốc có mùi khó chịu, tác dụng với ve, bét trong khoảng 7
-10 ngày, tác dụng lên ruồi trong 2 tháng Khi dùng c hế thành nhũ tương để bôilên da ngựa, trâu, bò để chống ruồi, muỗi, ve (không dùng cho bò sữa)
Chế phẩm carbophos: có tác dụng lên ve 7 - 9 ngày Thường được trộn vào
phân, rác để diệt ấu trùng của ruồi; hoà chế phẩm này vào nước để diệt bọ gậy;phun vào chuồng trại để diệt côn trùng có hại; phun lên da súc vật để chốngmuỗi, đỉa vào mùa hè; phun lên lông gia cầm để chống rận ăn lông, mạt
2 Hợp chất chlororganic Gồm các thuốc sau:
- Hexachloral (666): là loại thuốc clo hữu cơ Trước đây dùng để chống ve,
bét và côn trùng ký sinh Súc vật mẫn cảm với 666 Ngựa, trâu, bò (đặc biệt là bênon dưới 6 tháng tuổi) mẫn cảm nhất, lợn chịu đựng tốt hơn Có thể dùng dạngnhũ tương ( trong mùa xuân) hoặc dạng bột (trong mùa đông) để bôi, rắc, phunlên cơ thể gia súc
Từ lâu, người ta đã cấm dùng 666 vì thuốc xâm nhập vào các cơ quan, lưulại trong mỡ và tiết vào sữa, gây độc cho gia súc và người tiêu dùng sản phẩmchăn nuôi
Trong thú y thường dùng chế phẩm creolin hexachloral - dung dịch nâusẫm, bôi lên da để chống ve, ghẻ Chú ý: không dùng cho súc vật trước khi giết
mổ 1 tháng
Nicochloral: chế từ hexachloral và nicotin, nhựa thông, dầu hoả, trộn thành
nhũ tương Nhũ tương này dùng diệt ve, rận ăn lông của gia cầm, diệt muỗi và ấu
Trang 8Polychlorpinet: pha với nước ấm thành nhũ tương bền vững dùng để diệt
dĩn, ruồi nhà, ruồi trâu và cả ve, ghẻ Thuốc còn dùng để diệt bọ gậy trong nước.Không phun, tắm cho bò sữa và súc vật khác trước lúc giết mổ 1 tháng
Ete dicresyl: dễ hoà tan trong các dung môi hữu cơ Dùng diệt ve mềm, rận ăn
lông, ve cứng, ghẻ Thuốc được dùng khá rộng rãi để diệt động vật chân đốt ký sinh
3 Hợp chất vô cơ :
Gồm các loại sau:
Arsenic natri: thuốc dễ bị phân huỷ trong không khí nên phải bảo quản
trong thùng sắt kín Dùng dưới dạng dung dịch tắm để diệt ve cho trâu , bò, cừu,xát hoặc phun cho ngựa V ì đây là thuốc độc (bảng A), ve lại dễ quen thuốc nên
ở nhiều nước không dùng loại này
Thuốc xua đuổi (repello): thuốc làm côn trùng , ve, bét ghê sợ và tránh xa.
Thuốc không độc cho gia súc Thuốc gián tiếp làm giảm số lượng, thành phầncôn trùng hút máu (do không hút được máu nên mất khả năng sinh sản) Thườngdùng các loại thuốc xua đuổi sau:
Hexeamid: pha thành nhũ tương 3%, phun lên gia súc.
Dietyltoluamid: pha thành nhũ tương 3%, phun lên gia súc.
* Hiện nay, thường dùng một số thuốc trị động vật chân đốt sau :
- Diệt ve, ghẻ, rận: Ivermectin và các chế phẩm của Ivermectin, Hantoxspray, Hantox 200
- Diệt ruồi, muỗi: Permethrin 50 EC, Termosant 10 SC, Fendona, Termido
25 EC, Viper 50 EC, K - Othrine 2 EM
Hình 180a Một số thuốc diệt ve, ghẻ, rận
Trang 9Chương 8
VE, GHẺ, CÔN TRÙNG KÝ SINH VÀ GÂY BỆNH
1 VE VÀ GHẺ
Ve, ghẻ thuộc bộ ve, bét, gồm nhiều loài ký sinh ở gia súc, gia cầm
Bộ ve, bét thuộc lớp hình nhện ( Arachnida), ngành chân đốt (Arthropoda).
Có đặc điểm: phần phụ miệng tách khỏi phần thân làm thành đầu giả
(Capitulum) Sự phân đốt của cơ thể yếu hoặc mờ hẳn Giai đoạn ấu trùng chỉ có 3 đôi
chân, giai đoạn thiếu trùng và trưởng thành có 4 đôi chân Có thể có một rãnh thắtngang chia thân làm hai phần: phần trước và phần sau thân Bộ ve, bét có 5 phân bộ:
- Phân bộ 1 - Onychopalpida Đặc điểm: xúc biện kiểu đặc biệt, có nhiều
đôi lỗ thở trên thân
- Phân bộ 2 - Gamasoidea (mạt) Đặc điểm: chỉ có một đôi lỗ thở ở ngoài gốc
háng Lỗ thở thường liên hệ với bao thở dài Một số loài chuyên ký sinh ở đường hôhấp của động vật có xương sống Tấm dưới miệng không thích nghi với chích hút
- Phân bộ 3 - ve Ixodoidea Đặc điểm: có một đôi lỗ thở ở sau hay ngoài gốc
háng Lỗ thở liên hệ với tấm thở ngắn Tấm dưới miệng có răng hướng về phía
sau, rất thích hợp với kiểu chích đốt Có cơ quan cảm giác Haller ở bàn chân 1.
Là ve đa ký chủ
- Phân bộ 4 - mò Trombidiformes Đặc điểm: có một đôi lỗ thở nằm trên vòi
hay gần vòi, ít khi thiếu lỗ thở Xúc biện tự do, khá phát triển Kìm có cấu tạothích ứng với chích đốt, không có giác hậu môn
- Phân bộ 5 - ghẻ Sarcoptiformes Đặc điểm: là những loài không có tấm
thở Hệ thống ống khí thông với những vùng có nhiều lỗ thở trên cơ thể Phầnphụ miệng có kìm với 2 càng khoẻ Xúc biện đơn giản Có lỗ thở giả hoặc không
có Có giác hậu môn
1.1 Phân bộ Ixodoidea
Tất cả các loà i ve thuộc phân bộ này đều ký sinh Gồm 3 họ:
1.1.1 Họ ve cứng (Ixodoidae)
* Hình thái, cấu tạo: có mai lưng bằng kitin cứng phủ ở mặt lưng ve
trưởng thành, ấu trùng và trĩ trùng Cơ thể gồm 2 phần chính: đầu giả và thân.Trên đầu giả mang một đôi kì m, tấm dưới miệng có nhiều hàng gai nhọn hướng
về phía sau và một đôi xúc biện Đáy đầu giả có 2 hố hình tròn hoặc bầu dục ởmặt lưng với nhiều lỗ nhỏ là cơ quan cảm giác Mặt lưng có mai lưng phủ kín(như ở ve đực) hoặc chỉ phủ một phần phía trước (như ở ấu trùng, thiếu trùng, vecái) Trên mai lưng thường có mắt, rãnh cổ, rãnh cạnh, rãnh giữa sau và mấuđuôi Mặt bụng mang 4 đôi chân Mỗi chân gồm các đốt: háng, chuyển, đùi, ống,trước bàn, bàn và đệm vuốt, vuốt Lỗ sinh dục ở phía trước bụng Lỗ hậu môn ở
phía nửa sau bụng ve Hầu hết ve cứng đều có rãnh hậu môn (trừ ve Boophilus)
và các mai cạnh hậu môn, mai phụ, mai dưới hậu môn Ve đực thường có nhữngtấm mai bụng Tấm thở hình tròn, bầu dục, hình trứng hoặc hình dấu phẩy, ở
Trang 10Hình 181 Ve cứng (Ixodoidae)
* Vòng đời: ve đực và cái giao phối trên cơ thể ký chủ, sau khi hút no máu
rơi xuống đất Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đ ất, có màng nhày bảovệ Trứng venhỏ, hình cầu, màu vàng nâu hay nâu sẫm Sau một thời gian, trứng nở ra ấu trùng
Ấu trùng bò lên cây cỏ, ẩn dưới lá cây (nhất là những lá cây có lông như sim, mua,
cỏ tranh) Khi ký chủ đi qua, ấu trùng nhanh chóng bám vào ký chủ, hút no máurồi biến thái ngay trên ký chủ đó hoặc rơi xuống đất thành thiếu trùng Thiếu trùnglại hút no máu và phát triển thành ve trưởng thành Chu kỳ lại tiếp tục như trên.Mỗi loài ve trong vòng đời cần có số lượng ký chủ khác nhau Chia 3 nhóm:+ Nhóm ve một ký chủ: tất cả các giai đoạn phát triển đều hút máu và biến
thái ngay trên cùng một ký chủ (ví dụ: ve Boophilus microplus).
+ Nhóm ve hai ký chủ: ấu trùng hút no máu và biến thái thành thiếu trùngtrên cùng một ký chủ Sau khi hút no máu, thiếu trùng rơi xuống đất biến tháithành ve trưởng thành Ve này bò lên loài ký chủ khác (có khi lại vào loài ký chủcũ) để hút máu Hầu hết ve hai ký chủ ký sinh ở các loài chân guốc (bò, cừu).+ Nhóm ve ba ký chủ: mỗi giai đoạn phát triển từ ấu trùng, thiếu trùng đếntrưởng thành, sau khi hút no máu đều rơi xuống đất, biến thái, rồi lại bám vào ký chủmới (ký chủ này có thể thuộc nhiều loài hay là các cá thể khác nhau của cùng loài)
Sự phát triển của ve cứng có thể tóm tắt như sau:
Trứng →Ấu trùng →Thiếu trùng →Trưởng thành
(3 đôi chân) (4 đôi chân) (4 đôi chân)
* Bệnh do ve cứng truyền cho người và gia súc: các bệnh ký sinh trùng
đường máu (bệnh lê dạng trùng, biên trùng, bệnh Richketsia ) cho gia súc nhai
lại, ngựa, chó
* Một số giống thuộc họ ve cứng
- Giống Boophilus
+ Ở nước ta chỉ phát hiện được loài Boophilus microplus, có đặc điểm:
ve đực nhỏ hơn ve cái, có mấu đuôi nhỏ, nhọn Háng I và III đều có 2 cựa Tấm
Trang 11cạnh hậu môn có 2 cựa hẹp Ve cái: háng I có cựa 2 tròn, rộng, cách xa nhau, ởkhoảng giữa lõm thành hình chữ V.
Hình 182 Ve giống Boophilus
+ Ve Boophilus là ve một ký chủ Ký chủ thích hợp là trâu, bò, dê Ngoài
ra còn thấy ở thú ăn thịt, gặm nhấm, chim, chó Các giai đoạn phát triển đều kýsinh trên ký chủ
+ Ve B microplus ở nước ta đẻ 3 - 4 lứa/ năm Mỗi ve cái đẻ trung bình
2.500 trứng (tối đa là 3.500 trứng) Khi thời tiết hanh khô, trứng bị teo lại Mưanhiều thì khả năng đẻ của ve giảm Ve thích bám chỗ da mỏng (tai, vú, bẹn ) và
có thể sống ở khắp cơ thể ký chủ Ve xuất hiện nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 8hàng năm
Ấu trùng ve B microplus hút máu trong 4 - 13 ngày, lột xác thành thiếu trùng
sau 6 - 14 ngày Ấu trùng có thể nhịn đói 4 - 5 tháng, có thể sống tới 7 tháng
Thiếu trùng ve B microplus hút máu trong 5 - 11 ngày, lột xác thành ve
trưởng thành sau 5 - 14 ngày
Ve cái hút máu 6 - 8 ngày, sau khi rơi xuống đất 3 - 15 ngày bắt đầu đẻtrứng Thời gian đẻ trứng từ 5 - 30 ngày Thời gian trứng nở từ 12 - 28 ngày
+ Khả năng truyền bệnh: ve B microplus có thể truyền bệnh Piroplasma bigeminum, Babesiella berbera, Anaplasma marginale cho trâu, bò; B ovis cho cừu, Nuttallia equi cho ngựa, Theileria mutans cho trâu, bò Ngoài ra ve còn
truyền bệnh sốt phát ban, sốt vàng cho người khi hút máu
Trang 12- Giống Haemaphysalis
Ở nước ta có 34 loài thuộc giống n ày, có đặc điểm: không có màu ánh kim,không có mắt Có rua Xúc biện thường ngắn, hình nón Mặt bụng ve đực không cótấm mai Là môi giới truyền bệnh vi rút, vi khuẩn và là ký chủ trung gian truyền nhiềubệnh ký sinh trùng đường máu cho gia súc và người
- Giống Rhipicephalus
Ở nước ta gặp 2 loài, có đặc điểm: thường không có màu sắc Có mắt vàrua Tấm dưới miệng và xúc biện ngắn Ve đực có mai bụng
Ý nghĩa dịch tễ của ve Rhipicephalus rất lớn: nhiều loài của giống này là
môi giới truyền bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não của người,bệnh sốt phát ban, các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu,
bò, dê, cừu, ngựa, chó, lợn
- Giống Ixodes
Có xúc biện dài, không màu, rãnh hậu môn vòng trước lỗ hậu môn, đầu giả dài,không có mắt và rua Ve đực có mai ở mặt bụng Hầu hết các loài đều là ve ba kýchủ Ve truyền bệnh lê dạng trùng cho gia súc, bệnh viêm não, bại liệt cho người
* Biện pháp phòng trừ ve cứng:
Muốn phòng trừ có hiệu quả, việc điều tra để biết thành phần loài, đặc điểmsinh thái, vòng đời, mùa vụ xuất hiện, ký chủ, nơi sống của ve ở các khu vựcchăn nuôi là rất cần thiết để xây dựng biện pháp phòng trừ tổng hợp Biện phápgồm 3 nội dung:
- Diệt ve trên cơ thể gia súc: dùng biện pháp cơ học (quấn bông tẩm dầu hoảbôi vào nơi có nhiều ve đang đốt, dầu hoả bịt lỗ thở làm cho ve rời kìm ra, rồidùng kẹp bắt ve); biện pháp hoá học (dùng thuốc Ivermectin và các chế phẩm củaIvermectin, Hantox spray, Hantox 200 ); biện pháp sinh học (cho gà, sáo ăn ve,dùng những loài nấm gây bệnh cho ve)
- Diệt ve ở chuồng trại: phun thuốc diệt ve (Hantox 200 ) theo định kỳ
- Diệt ve ở ngoài thiên nhiên: làm thay đổi môi trường (phát quang các bụicây lúp súp quanh chuồng trại, bãi chăn, đồng cỏ ), chăn dắt luân phiên đồng cỏ
để ve chết đói, dùng thuốc hoá học diệt ve trên đồng cỏ (phương pháp này ítdùng vì thuốc sẽ diệt cả sinh vật khác có lợi)
Bùi Thị Tho (2007) đã dùng hạt cây củ đậu chế thành dạng thuốc bột và thuốc
mỡ ở các nồng độ khác nhau trị ve ký sinh trên bò ở Gia Lâm (Hà Nội), kết quả chothấy: thuốc bột nồng độ 20% trong bột CaCO3, bôi 2 lần đạt tỷ lệ ve chết là 100%.Thuốc mỡ nồng độ 20% chỉ cần bôi 1 lần đã sạch ve ký sinh trên cơ thể bò
Cù Xuân Đức (2011), đã xác định được loại dung môi chiết xuất tốt nhất đố ivới phôi hạt na và hạt củ đậu là dung dịch NaOH 5%, thời gian ngâm chiết để chấtchiết có độc tính cao nhất với phôi hạt na là 36 giờ, với hạt củ đậu là 24 giờ Dùngchất chiết phôi hạt na nồng độ 5,5% và 9% đều có hiệu lực diệt ve trên chó tốt và
an toàn sau 2 lần phun Khi dùng chất chiết hạt củ đậu nồng độ 0,17% và 0,25%cũng cho kết quả tương tự sau 2 lần phun
Trang 131.1.2 Họ ve mềm (Argasidae)
Họ ve mềm gồm những loài ve không có mai lưng và mai bụng, đầu giảnằm dưới mặt bụng Thường không có mắt ho ặc mắt nhỏ, nằm ở hai bên trướcgốc háng I Có một đôi tấm thở ở sau gốc háng III Ve cái lớn hơn ve đực Vemềm ăn đêm, ban ngày nấp trong các khe tường, vách chuồng gia súc, gia cầm.Khi ký sinh, ve mềm hút máu gây tác hại trực tiếp, ngoài ra còn truyền bệnhxoắn trùng cho gà vịt, truyền bệnh sốt hồi quy, bệnh sốt phát ban cho người
* Giống Argas
Ở nước ta có loài Argas respertilionis.
Ve hình bầu dục, phía sau phình hơn phía trước Khi đói ve màu vàng nhạt.Khi no có hình trứng, màu xám hoặc xanh thẫ m Ve ký sinh ở gia cầm, chim
Argas respertilionis (mặt lưng) Argas respertilionis (mặt bụng)
Argas reflexus (mặt lưng) Argas reflexus (mặt bụng)
Hình 184 Ve Argas respertilionis và Argas reflexus
* Giống Otobinus
Trong giống này có loài Otobinus megnini Ve trưởng thành không ký sinh.
Ấu trùng và thiếu trùng ký sinh ở trong tai chó, ngựa, bò
Trang 14* Giống Orithodoros
Dạng thiếu trù ng và trưởng thành ký sinh và hút máu người, gia súc, gia
cầm, chim trong một thời gian ngắn Ve này truyền Borrelia duttoni gây bệnh
sốt liên miên cho người
1.2 Phân bộ mạt (Gamasoidea)
Trong phân bộ này có loài Dermanyssus gallinae ký sinh ở gà.
Mạt thường ký sinh ở gà Cơ thể hình lê, màu trắ ng, khi hút máu no có màu
đỏ Mạt ký sinh tạm thời Ban ngày ẩn nấp ở chỗ kín, ban đêm mạt bò ra đốt, hútmáu ký chủ vài giờ hoặc hơn Sau khi no máu, mạt đẻ 3 - 20 trứng vào ổ gà, đệmlót Trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng phát triển thành thiếu trùng rồi thành mạttrưởng thành Mạt có thể nhịn đói 4 - 5 tháng, sống được 6 - 7 tháng ở chuồngtrại bỏ trống
Mạt gà truyền bệnh xoắn trùng, bệnh bạch cầu, bệnh dịch tả và bệnh viêm não
1.3 Phân bộ mò (Trombidiformes)
Gồm: họ mò đỏ (Trombiculidae) và họ mò bao lông (Demodicidae).
- Trong họ mò đỏ có một số loài ký sinh ở gà nước ta Mò gây viêm da,ngứa ngáy cho ký chủ Gà bị mò ký sinh nhiều vào cuối mùa hè đến đầu mùa thu.Một số loài mò ký sinh ở chó, mèo, cừu, ngựa, thỏ gây ngứa ngáy khó chịu
Có thể dùng dầu hoả hoặc dầu thông bôi để diệt mò cho gia súc, gia cầm
- Trong họ mò bao lông có các loài thuộc giống Demodex ký sinh ở tuyến
nhờn bao lông của nhiều loại gia súc (chó, lợn, trâu, bò, dê, ngựa, mèo) và người
Mò Demodex vào bao lông và tuyến nhờn gây viêm mạn tính, biểu bì phồng
lên nhanh, lông rụng Vi khuẩn khác xâm nhập, gây thành mụn mủ Ký chủ bịbệnh nặng thì gầy mòn dần rồi chết
1.4 Phân bộ ghẻ (Sarcoptiformes)
Những loài ghẻ ký sinh ở gia súc, gia cầm phần lớn thuộc 2 họ ghẻ sau:
Hình 186 Ve Orithodoros spp và ve Orithodoros đang ký sinh
Trang 151.4.1 Họ ghẻ Sarcoptidae
Trong họ này có giống Sarcoptes ký sinh trên nhiều loài gia súc.
Bệnh ghẻ ngầm gây tác hại lớn cho trâu, bò, ngựa, lợn, dê, cừu hầu hết
đều do các phân loài của loài Sarcoptes scabiei gây ra.
BỆNH GHẺ NGẦM (SARCOPTOSIS)
* Hình thái ghẻ ngầm Sarcoptes scabiei
Con đực dài 0,2 - 0,35 mm, con cái dài 0,35 - 0,5 mm Màu xám bóng hoặcvàng nhạt Thân hình bầu dục hay tròn Mặt lưng có nhiều đường vân song song,khoảng cách giữa các vân có nhiều tơ, gai và vẩy hình tam giác với mũi nhọnhướng về phía sau Không có mắt Lỗ âm môn của con cái ở sau đôi chân III Lỗsinh dục của con đực ở giữa đôi chân III
Lỗ hậu môn ở phía sau mặt lưng Có 4 đôi
chân, mỗi đôi chân gồm 5 đốt Cuối bàn
chân có giác tròn với ống cán dài không
phân đốt Giác bàn chân là một tiêu chuẩn
định loại và phân biệt ghẻ đực, cái (con
đực có giác bàn chân ở chân I, II, IV; con
cái chỉ có ở 2 chân trước) Chân có nhiều
tơ rất dài Đầu giả ngắn, hình bầu dục, có
một đôi xúc biện 3 đốt và một đôi kìm Ghẻ Sarcoptes scabiei Hình 187.
* Vòng đời: ghẻ ngầm xâm nhập vào lớp biểu bì, đào rãnh, lấy dịch l âm ba
và dịch tế bào làm chất dinh dưỡng Con đực và con cái giao phối ở rãnh Con cái
đẻ 40 - 50 trứng trong 3 - 7 ngày, sau đó trứng nở thành ấu trùng Ấu trùng gầngiống ghẻ trưởng thành , nhưng chỉ có 3 đôi chân, 2 đôi chân trước có giác bànchân, đôi thứ ba có tơ dài Ít lâu sau, ấu trùng biến thành thiếu trùng có 4 đôichân, 2 đôi chân trước có giác bàn chân, 2 đôi chân sau có tơ như ghẻ trưởngthành, nhưng chưa có lỗ sinh dục Sau đó thiếu trùng phát triển thành ghẻ trưởngthành Thụ tinh xong, con đực chết, con cái tiếp tục đào rãnh trong biểu bì để đẻtrứng Ghẻ luôn tiến về phía trước vì gai lưng có mũi nhọn hướng về phía saunên không lùi được Trong rãnh ở đằng sau ghẻ cái thấy những điểm đen là phân
Trang 16nở ra, ấu trùng có thể đào thủng mái của rãnh thành một lỗ để thoát ra ngoài, tiếptục đào rãnh khác (lúc này ấu trùng có thể nhiễm vào một ký chủ khác do tiếpxúc) Hoàn thành vòng đời cần 15 - 20 ngày (ở điều kiện thích hợp).
S scabiei ký sinh ở da hầu hết gia súc, gây thành bệnh ghẻ ngầm, hay gặp ở
bò, trâu, chó, ngựa, lợn, cừu, dê Bệnh lây truyền bằng tiếp xúc qua dụng cụ,quần áo của người chăn nuôi hoặ c tiếp xúc, cọ sát giữa súc vật với nhau dochuồng nuôi chật chội Bệnh phát nhiều vào mùa đông và mùa thu, mùa hè ít hơn
vì ánh nắng mặt trời dễ làm ghẻ chết
* Triệu chứng: có 3 triệu chứng chính là ngứa, rụng lông và đóng vẩy.
- Ngứa: do ghẻ đào rãnh và tiết nước bọt có độc tố, kích thích vào cá c đầu
mút thần kinh cảm giác ở tổ chức biểu bì Con vật ngứa nhiều, gãi bằng chân, cắnnhững chỗ nó với tới, cọ sát liên tục vào tường, máng ăn, cây cối và cả nhữngcon đứng cạnh
- Rụng lông: lông rụng nhiều do viêm bao lông Lông rụng thành những
đám tròn, lúc đầu chỉ 2 - 3 mm, sau đó ngày càng lan rộng ra xung quanh do ghẻcái sinh sản nhanh (một con ghẻ cái trong 3 tháng sản sinh ra một quần thể150.000 con), chúng không tập trung ở một số nơi mà di cư khắp cơ thể Vì vậy,những chỗ rụng lông lan rộng ra Cần phân biệt hiện tượng rụng lông do cácnguyên nhân khác nhau:
+ Rụng lông do ghẻ ngầm: lông rụng toàn bộ, đều và lan ra chậm
+ Rụng lông do rận ăn lông: những chỗ rụng không đều, không rụng hếtlông, lông như bị cắt
+ Rụng lông do mạt (ở ngựa): những chỗ rụng rộng 5 - 10 mm, lan rộng rấtnhanh, chỉ sau 1 - 2 đêm là khắp cơ thể
Hình 189 Bò, lợn, cừu, dê bị ghẻ
Trang 17- Đóng vẩy: những chỗ ngứa đều có mụn nước to bằng đầu đinh ghim Mụn
nước phát triển xung quanh một con ghẻ cái do nước bọt của ghẻ kích thích tạonên Con vật gãi, cọ sát làm mụn vỡ ra, để lại những vết thương, rồi tương dịchchảy ra, cùng với máu và những mảnh thượng bì khô tại chỗ đóng thành vẩy màunâu nhạt, có khi dày đến 3 - 4 mm ở những chỗ rụng lông Chỗ rụng lông tiếp tụclan rộng và tăng thêm, nối liền nhau thành nh ững mảng ngày càng rộng Sau 5 - 6tháng, da con vật hoàn toàn trơ trụi, đóng vẩy, dày và nhăn nheo, có mùi rất hôi
do chất nhờn trong các tuyến da tiết ra quá nhiều rồi lên men Đó là đặc điểm củabệnh ghẻ ngầm toàn thân
Bệnh ghẻ ngầm làm cho chức năng c ủa da không thực hiện được Con vậtngứa ngáy liên tục, không ăn, không ngủ được, gầy dần và chết
Như vậy, bệnh tiến triển qua 3 thời kỳ: thời kỳ đầu tạo thành điểm lỗ chỗ,thời kỳ thứ hai tạo thành mảng, th ời kỳ thứ ba lan ra toàn thân
* Bệnh tích: viêm nội bì nặng , trong da có nhiều rãnh, trong rãnh có ghẻ
cái, có trứng ở những giai đoạn phát triển khác nhau và có phân ghẻ là nhữngchấm đen trong rãnh
* Chẩn đoán: kết hợp các phương pháp như tìm trứng ghẻ, soi kính tìm
ghẻ và căn cứ vào tình hình dịch tễ để chẩn đoán
- Cách lấy bệnh phẩm: dùng nước ấm và xà phòng hoặc thuốc tím 1% rửa
sạch da, cắt lông chỗ có bệnh tích mới (giao điểm giữa chỗ da có bệnh tích vàchỗ da lành, vì ghẻthường tập trung ở đây) Dùng dao cạo thẳng vào da đến chảymáu ra là được, cho bệnh phẩm vào ống nghiệm, đậy nút kín
- Phương pháp kiểm tra ghẻ chết trong da:
+ Dùng dầu hoả: đặt vẩy ghẻ lên phiến kính, cho vài giọt dầu hoả lên, ép mộtphiến kính khác lên cho nát vẩy Soi kính hiển vi để phát hiện con ghẻ đã chết.+ Phương pháp ngưng cặn: cho vẩy ghẻ vào một ống nghiệm có 5 - 10 mlNaOH 10%, ngâm 2 giờ rồi đun nóng vài phút, ly tâm 5 phút Lấy cặn soi kính
có thể tìm thấy trứng, ấu trùng, thiếu trùng và ghẻ trưởng thành trong cặn
+ Phương pháp phù nổi: lấy cặn theo cách ngưng cặn trên cho vào ốngnghiệm có natri hyposunfit 60% gần đầy ống, để yên 10 phút, vớt lớp váng trên
bề mặt dung dịch đưa lên phiến kính, soi kính hiển vi có thể tìm thấy trứng, ghẻtrưởng thành hoặc các dạng ấu trùng, thiếu trùng
- Phương pháp kiểm tra ghẻ sống: có thể làm phương pháp trực tiếp hoặc
* Điều trị: để điều trị có hiệu quả, cần chú ý những vấn đề sau:
Trang 18- Tránh không để con ghẻ vương vãi ra xung quanh.
- Phải chữa lần thứ hai, thứ ba thì ghẻ mới chết hết
- Chọn phương pháp chữa thích hợp: tắm, xát, phun với từng loại gia súc
Ví dụ, xát thuốc khi số lượng gia súc bị ghẻ ít và phạm vi nhiễm ghẻ hẹp
- Chữa thí nghiệm trước khi chữa trên diện rộng
- Sau khi chữa, vệ sinh và tiêu độc chuồng trại
- Dùng một trong các thuốc sau để phun, tắm, bôi hoặc xát cho gia súc
Có thể dùng lá cây ba chạc, lá đào đun nước tắm; dùng nhựa cây máu chóbôi tại chỗ; tắm nước muối cho con vật
Có thể dùng một trong những loại thuốc sau:
+ D.E.P (dietyl phtalat): là thuốc có tác dụng diệt ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít
độc tính Bôi ngày 2 - 3 lần
+ Benzyl benzoat (ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao.
Bôi hoặc xịt ngày 2 lần, cách nhau 15 phút Sau 24 giờ, tắm cho gia súc
+ Eurax (crotamintan) 10%, thuốc có tác dụng chống ngứa và diệt ghẻ Cứ
6 - 10 giờ bôi 1 lần Thuốc an toàn đối với gia súc
+ Permethrin cream 5% (Elimite): là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất, có thể
dùng cho gia súc non và gia súc có thai
+ Lindane (gamma - benzen hexachlorid): xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ đến
chân Sau 8 - 12 giờ, tắm cho gia súc Xịt thuốc 2 lần/tuần Thuốc chữa ghẻ nhanh,nhưng độc với thần kinh, nên không dùng cho gia súc non và gia súc có thai
- Xây bể tắm ở chỗ bằng phẳng, có nguồn nước, có bãi chăn ấm, ít lộng gi ó,không bị ô nhiễm mầm bệnh truyền nhiễm, không ảnh hưởng đến vệ sinh chung.Quy mô bể tắm có thể cho 100 - 10.000 con (nếu nhiều gia súc), nếu ít gia súc vàgia súc nhỏ thì có thể dùng thùng gỗ hay thùng tôn để tắm Cần an toàn chongười và gia súc
1.4.2 Họ ghẻ Psoroptidae
Trong họ này có các loài thuộc hai giống: Psoroptes và Chorioptes.
* Trong giống Psoroptes có loài P communis phổ biến ở gia súc Loài này
lại có những phân loài sau:
- P communis ovis: ký sinh ở da cừu.
- P communis equi: ký sinh ở cổ, lưng, đuôi ngựa.
- P communis caprae và P cuniculi: ký sinh ở tai dê và thỏ.
- P communis bovis: ký sinh ở đuôi trâu, bò.
Hình thái chung: thân hình bầu dục, chân dài hơn giống Sarcoptes, nhất là 2
chân trước Con đực chân I, II và III đều có giác bàn chân Con cái chân I, II và
IV có giác bàn chân
- Vòng đời: gần giống vòng đời của ghẻ Sarcoptes, song thời gian hoàn
thành vòng đời ngắn hơn (9 - 10 ngày)
- Triệu chứng, bệnh tích, chẩn đoán và phòng, trị: giống ghẻ Sarcoptes.
* Trong giống Chrioptes có các loài ký sinh ở ngựa ( C equi), ở cừu (C ovis), ở dê ( C caprae), ở thỏ (C cuniculi) Khác với ghẻ Psoroptes là, giác bàn
chân có ống cán ngắn không chia đốt Phòng, trị giống bệnh ghẻ ngầm
Trang 192.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của côn trùng ký sinh
Côn trùng ký sinh chủ yếu sống trên cạn Cơ thể gồm 3 phần: đầu, ngực,bụng Có 1 đôi râu cảm giác (gọi là ăng ten), có 3 đôi chân và 2 đôi cánh (nhiềuloài chỉ có 1 đôi cánh) Hô hấp bằng hệ thống ống khí
Côn trùng ký sinh dài từ vài mm đến vài cm Bên ngoài là lớp vỏ cuti n (hợpchất của protein và kitin), tiếp theo là lớp hạ bì, trong cùng là lớp màng gốc mỏng
- Đầu được bọc trong bao kitin , tạo thành "hộp sọ" để bảo vệ bộ não Trênđầu có 1 đôi mắt kép lớn, có thể có thêm mắt đơn, một đôi râu cảm giác gồmnhiều đốt, phần phụ miệng Đầu khớp động với ngực
- Ngực do 3 đốt gắn lại, mỗi đốt mang 1 đôi chân Có 2 đôi cánh dính vàođốt 2 và 3 Một số côn trùng chỉ có 1 đôi cánh (ruồi, muỗi, mòng), có loài không
- Phần phụ miệng khác nhau theo loài, gồm các kiểu: kiểu nghiền (thường có ở
dạng ấu trùng), kiểu nghiền hút (ở mòng Tabanus), kiểu liếm hút (ở ruồi nhà), kiểu chích hút (ở muỗi cái, rận, rệp, bọ chét ), kiểu đốt hút (ở ruồi trâu Stomoxys ).
- Hệ tiêu hoá gồm: miệng, thực quản, dạ dày, tuyến nước bọt, ruột, hậu môn.Thức ăn của côn trùng ký sinh là máu động vật, có khi con đực lại ăn thựcvật (ví dụ: muỗi)
- Hệ hô hấp khá phát triển, gồm: hệ thống ống khí phân nhánh khắp cơ thể
Hô hấp nhờ hệ thống ống khí phối hợp với sự hoạt động của cơ bụng
- Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn hở, tim hình ống, máu không màu hoặc màuvàng đỏ
- Hệ bài tiết: gồm các ống Malpighi hấp phụ các sản phẩm dị hoá trongmáu, rồi thải ra ngoài qua ruột
- Hệ thần kinh: các hạch thần kinh tập trung thàn h bộ não gồm não trước,não giữa và não sau ; có chuỗi hạch thần kinh bụng điều hoà hoạt động của hệ hôhấp và tim; có các hạch ngực điều khiển hoạt động của chân và cánh
- Hệ sinh dục: con đực có 2 tinh hoàn, 2 ống dẫn tinh đổ vào ống phóng tinh
và thông với cơ quan giao cấu, có tuyến sinh dục phụ Con cái có 2 buồng trứng ,
2 ống dẫn trứng, 1 âm đạo, tuyến sinh dục phụ và túi nhận tinh
Trang 20Côn trùng thường đẻ trứng, có loài đẻ con (ấu trùng), hoặc đẻ trứng nở ngaythành nhộng.
2.2 Các côn trùng ký sinh và truyền bệnh
Những côn trùng này có 1 đôi cánh hoặc không có cánh Phần phụ miệngbiến đổi để thích nghi với kiểu đốt, hút
Vòng đời phát triển của côn trùng gây bệnh có 2 kiểu biến thái:
- Biến thái không hoàn toàn (biến thái thiếu): trứng nở thành ấu t rùng rấtgiống dạng trưởng thành, chỉ khác là cơ quan sinh dục chưa đầy đủ ( ví dụ: rậnhút máu, rệp hút máu)
- Biến thái hoàn toàn (biến thái đủ): trứng nở thành ấu trùng hoàn toàn khácdạng trưởng thành về hình dạng và hoạt động Sau khi ấu trùng lột xác thì thànhdạng trưởng thành ( ví dụ: ruồi, mòng)
2.2.1 Phân loại côn trùng ký sinh
Ngành động vật chân đốt (Athropoda)
Lớp côn trùng (Insecta)
Bộ hai cánh (Diptera)
Bộ phụ râu dài (Nematocerca)
Họ muỗi (Culicidae): trong họ này có các loài truyền bệnh sốt rét.
Họ ruồi vàng (Simulidae): đốt, hút máu, tiết chất độc.
Họ dĩn (Chironomidae): hút máu, truyền bệnh giun chỉ, vi rút.
Họ muỗi cát (Psychodidae): hút máu, truyền bệnh giun chỉ.
Bộ phụ râu ngắn (Brachycera)
Họ mòng (Tabanidae): hút máu, truyền bệnh ký sinh trùng đường máu.
Bộ phụ (Cyclorrhapha)
Họ ruồi (Muscidae) Giống Stomoxys: hút máu và truyền bệnh ký sinh trùng đường máu Giống Musca (ruồi nhà)
Giống Glossina: truyền bệnh tiên mao trùng cho gia súc.
Họ Oestridae Giống Oestrus Loài O ovis: ấu trùng ký sinh ở mũi dê, cừu.
Họ Hypodermatidae Giống Hypoderma: ấu trùng ký sinh dưới da bò ( gây bệnh dòi da).
Họ Gasterophilidae: ấu trùng ký sinh ở dạ dày ngựa gây bệnh dòi dạ dày.
Họ Tachinidae (nhặng xanh): ấu trùng nở ra ở các vết thương, gây
viêm và nhiều tác hại khác
Bộ rận (Anorplura)
Họ Haemotopinidae:
Giống Haematopinus: hút máu trâu, bò, lợn, ngựa.
Họ Linognathtidae
Trang 21Giống Solenopotes: hút máu bò.
Giống Linognathus: hút máu cừu, bê, chó
Bộ rận ăn lông (Mallophaga)
Bộ phụ (Ischnocera): có một số loài ký sinh ở chó, bò, ngựa, gà, vịt
Bộ phụ (Amblycera): có một số loài ký sinh ở gà, bồ câu.
Bộ bọ chét (Siphonaptera): ký sinh ở chó, mèo, người, gà, vịt
2.2.2 Một số bệnh do côn trùng gây ra ở gia súc
(1) Bệnh dòi dạ dày và ruột của ngựa
* Căn bệnh: là ấu trùng của ruồi Gastrophilus spp.
* Vòng đời
Ruồi trưởng thành hoạt động suốt mùa xuân, sống khoảng 2 - 3 tuần Saukhi đẻ trứng, ruồi chết Mỗi ruồi cái đẻ 600 - 700 trứng, thường đẻ trứng ở trênlông ngựa
Trứng màu đen hoặc vàng nhạt, dài, có đầu nhọn dính vào lông ngựa Saukhoảng 10 ngày trứng nở ra ấu trùng Khi ngựa liếm, những ấu trùng này thườnglẫn vào dịch nhờn của miệng rồi xuống hầu Sau 21 - 28 ngày ấu trùng đếnthượng vị dạ dày, có màu đỏ hoe hoặc vàng nhạt
Ấu trùng sống trong ký chủ 10 - 12 tháng rồi theo phân ra ngoài Một vài ấutrùng có thể sống trong ký chủ đến mùa xuân mới ra khỏi ký chủ Sau 3 - 5 tuần,biến thái thành thiếu trùng (nhộng), rồi thành ruồi trưởng thành
* Bệnh lý, lâm sàng
Giai đoạn đầu, ấu trùng làm tổn thương hầu, lưỡi, làm niêm mạc bị loét,sưng Miệng và hầu sưng to, lưỡi bị tê liệt, ngựa ho, nuốt khó, nếu nặng có thểchết Khi ấu trùng vào tới dạ dày và tá tràng thì gai móc của chúng xuyên vàoniêm mạc gây viêm, gây rối loạn tiêu hoá Số lượng ấu trùng nhiều làm trở ngại
sự vận động và tiết dịch vị của dạ dày, có khi làm tắc thượng vị và làm thủng tátràng Độc tố của chúng làm cho ngựa thiếu máu và bệnh càng nặng thêm
* Chẩn đoán
Căn cứ vào thời vụ phát bệnh, sự hoạt động của ruồi và những triệu chứng
có thể thấy Tìm trứng ruồi trên lông ngựa, tìm ấu trùng ở chỗ loét trên niêm mạcmiệng, môi hoặc tìm ấu trùng trong phân ngựa
* Điều trị
Thuốc có hiệu lực tốt là Ivermectin với liều 0,2 mg/kg TT, tiêm dưới da
(2) Bệnh dòi da bò
* Căn bệnh: bệnh do ấu trùng của ruồi Hypoderma bovis và Hypoderma
lineatum gây ra.
* Vòng đời
Ruồi trưởng thành hoạt động mạnh vào mùa xuân và những ngày nắng ấm,nhất là tháng 6, 7 Chúng đẻ trứng trên lông bò, trứng dài khoảng 1 mm
Trang 22H bovis đẻ từng trứng một, H lineatum đẻ từng dãy khoảng 6 - 7 trứng
hoặc nhiều hơn trên một lông Mỗi ruồi cái đẻ khoảng 100 trứng hoặc nhiều hơn.Sau 4 ngày, trứng nở thành ấu trùng rồi bò xuống da và chui vào da
Ấu trùng H lineatum đi vào vách thực quản, nằm dưới tổ chức liên kết tới hết
mùa hè và mùa thu, lớn dần đến khi dài khoảng 12 - 16 mm Chúng ở đây suốttháng 1, 2 rồi vào ống cột sống, đến tháng 4 lại về tổ chức dưới da lưng Ấu trùng
H bovis đôi khi cũng vào ống cột sống, nhưng rồi chúng trở lại vị trí dưới da ngay.
Khi chúng ký sinh dưới da gây viêm tấy thành cục tròn , đường kính khoảng 3 cm.Chỗ viêm sưng tấy và bị thủng lỗ, ấu trùng thở qua lỗ thủng đó Giai đoạn này kéodài khoảng 30 ngày
Ấu trùng non có màu trắng, sau đó chuyển thành màu vàng rồi màu nâu vàlúc này đã là ấu trùng thành thục Ấu trùng phát triển trải qua 2 lần lột xác Ấu
trùng thành thục của H bovis dài 27 - 28 mm, của H lineatum dài 25 mm.
Vào mùa xuân, ấu trùng chui khỏi lỗ nhỏ trên da, rơi xuống đất Ở đó,chúng biến thái thành thiếu trùng , được bọc trong kén màu đen Sau 35 - 36 ngàyruồi trưởng thành chui ra khỏi kén
* Bệnh lý và lâm sàng
Ấu trùng H bovis và H lineatum xuyên qua da bò và di hành trong cơ thể
làm bò không yên, đau và ngứa Khi di hành, ấu trùng gây tổn thương các tổchức, gây viêm thực quản, có khi gặp ấu trùng ở nộ i tạng Độc tố của ấu trùnggây thiếu máu Khi nhiễm nặng, bò gầy, chậm lớn, giảm sản lượng sữa
Ấu trùng ký sinh dưới da lưng gây xuất huyết, viêm da và thủng lỗ Nếu bịnhiễm vi khuẩn, vi rút thì vết thương mưng mủ, chảy nước vàng và lâu khỏi
* Chẩn đoán
Chỉ khi ấu trùng di hành đến da lưng mới phát hiện được Lúc đầu sờ thấy
có mụn rắn hình tròn, sau 1 - 1,5 tháng sờ thấy những u to, trên da có những lỗnhỏ Có thể tìm thấy ấu trùng ở tổ chức liên kết dưới da
* Điều trị
Diệt các loài ruồi gây bệnh dòi da, hiệu quả nhất là diệt dòi ở trên da ký chủ
và ngoài thiên nhiên
Có thể dùng các thuốc sau:
- Dùng xilanh bơm tetraclorua cacbon (CCl4) vào mỗi vết thương 1- 2 ml
- Dùng cao chế từ: Axit cacbonic 1 phần
Vazơlin 9 phầnBôi vào vết thương sau khi đã cắt lông, nặn hết mủ
* Có thể dùng thuốc nam kết hợp thuốc tây theo cách sau:
- Làm cho dòi ra khỏi vết thương: lấy khoảng 100 gam măng vòi mọc trên câytre (măng tay tre), bóc hết vỏ giã nhỏ, cho ít muối, vắt lấy nước Dùng xila nh bơmnước măng vào vết thương Nước măng đắng làm cho dòi chui ra hết sau 1 - 3 giờ
Trang 23- Rửa bên trong vết thương bằng thuốc sát trùng Dùng một trong hai dungdịch: Rivanol 0,5% hoặc nước oxy già 3% để rửa vết thương Dùng xilanh bơmdung dịch sát trùng vào vết thương, nặn hết dịch, mủ Làm 2 lần liền.
- Cho thuốc chống viêm vào vết thương: dùng 5 gam Sulfamerazin hoặc 5gam Sulfaguanidin trộn với 1 gam Streptomycin, nhét hỗn hợp bột này vào vếtthương, sau đó băng lại bằng băng dính để hạn chế súc vật liếm vào vết thương.Ngày thay băng một lần, cho thuốc vào vết thương, làm trong khoảng 2 - 3 ngày
- Tiêm thuốc chống nhiễm trùng cho bò: nếu vết thương rộng, bị viêm nặng,sau khi xử lý như trên, cần phải tiêm thuốc kháng sinh chống viêm cho bò DùngAmpicillin, liều 30 mg/kg TT, phối hợp với Streptomycin, liều 20 mg/kg TT,dùng liên tục trong 3 ngày
- Phòng chống ruồi, nhặng đẻ trứng vào vết thương: dùng 1 trong 2 loạidung dịch: Cresyl 5% hay D.E.P (thuốc chữa ghẻ) bôi quanh vùng da có vếtthương để xua đuổi, hạn chế ruồi, nhặng đậu và đẻ trứng
(3) Bệnh rận hút máu
Rận hút máu Bộ Anoplura gồm 4 họ: Haematopinidae, Linognathidae, Hoplopleuridae, Pediculidae Họ Haemalopinidae và Linognathidae có liên quan nhiều đến thú y Họ Hoplopleuridae ký sinh ở loài gặm nhấm Họ Pediculidae ký
sinh ở người
* Họ Haematopinidae
Đầu kéo dài về phía trước thành góc đỉnh Ngực rộng Có những tấm hông,trên mỗi đốt bụng có một vòng gai
Họ này có những loài sau ký sinh trên gia súc:
- Rận trâu Haematopinus tubereulatus: con đực dài 1 mm, con cái dài 5 mm.
Đầu kéo dài về phía trước, cuối thân tròn Ngực có chiều rộng lớn hơn chiều dài,bụng hình bầu dục, bờ cạnh các đốt bụng hình răng cưa
+ Ký chủ: trâu, trâu rừng
+ Dịch tễ: rận hút máu có ở cả đồng bằng, trung du và miề n núi Tháng 3chúng phát triển nhiều nhất, sau đó giảm dần Nhiệt độ cao có thể ảnh hưởng đếnsinh sản của rận, các tháng nóng, trâu đầm nhiều cũng làm giảm số lượng rận.+ Phân bố: ở Italia, Ấn Độ, Philippin, Việt Nam (hầu khắp các nơi)
+ Tác dụng gây bệnh: ngoài hút máu, rận trâu còn là môi giới cơ học truyền
bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi, mầm bệnh ở trong rận có khả năng
tồn tại và gây bệnh trong 2 giờ
- Rận bò Haematopinus eurysternus: con đực dài 2 mm, con cái dài 3 mm.
Đỉnh đầu tròn, ngang râu rộng Mép cạnh các đốt bụng tròn với một túm lôngngắn, ngực có chiều rộng và chiều dài bằng nhau
+ Ký chủ: bò
Trang 24+ Tác dụng gây bệnh: loài này phổ biến ở cả miền núi, trung du và đồngbằng Gặp nhiều ở trong tai, bờ trên cổ, lưng, hông Bò ngứa nê n phải cọ vào câycối, tường vách hoặc liếm làm rụng từng mảng lông.
+ Điều trị: dùng dung dịch Ivermectin, tiêm dưới da, liều 0,2 mg/ kgTT.+ Phòng bệnh: chủ yếu là cách ly bò có rận, tiêu độc chuồng
- Rận lợn Haematopinus suis: con đực dài 2,6 mm, con c ái dài 3,6 mm.
Đỉnh đầu tròn, ngực ngắn hơn đầu Mép cạnh các đốt bụng tròn, có viền tấmhông bằng kitin, có ít lông ngắn ở giữa khoảng cách các đốt bụng
+ Ký chủ: lợn nhà, lợn rừng, có khi cả ở người
+ Tác dụng gây bệnh: gây ngứa, nhất là ban đêm, gây mụn đỏ, dễ làm tróc da
- Rận ngựa Haematopinus asini: ký sinh và hút máu ngựa
* Họ Linognathidae
Da bụng mỏng, có nhiều lông trên mỗi đốt Đôi chân thứ nhất nhỏ nhất Kýsinh phần lớn trên thú guốc chẵn Gồm các loài:
- Solenopoles capillatus: ký sinh trên bò châu Âu, châu Mỹ và châu Úc Ở
Việt Nam đã gặp ở Hà Nội
- Linognathus ovillus: ký sinh và hút máu cừu Đầu có chiều dài dài hơn
chiều rộng và dài hơn ngực
- Linognathus vituli: ký sinh và hút máu bê Đầu và thân dài.
- Linognathus selosu: ký sinh và hút máu chó Có thể ký sinh cả ở chồn, cáo, người.
- Linognathus stelopsis: ký sinh và hút máu dê.
Trang 25TÀI LIỆU THAM KHẢO (Phần thứ ba)
(CHƯƠNG 7: ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐỘNG VẬT TIẾT TÚC KÝ SINH
CHƯƠNG 8: VE, GHẺ VÀ CÔN TRÙNG KÝ SINH)
* Tài liệu tiếng Việt
1 Cù Xuân Đức (2011), Đặc điểm dịch tễ bệnh ve chó ở hai huyện, thị của tỉnh
Thái Nguyên, thử nghiệm thảo dược trong trị ve cho chó , Luận văn thạc sĩ
khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2 Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc,
gia cầm, tập II (Phần động vật chân đốt và nguyên bào), Viện Đại học
Quốc gia, TP Hồ Chí Minh
3 Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà
Nội tr 214 - 229, 257 - 278
4 Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Ký
sinh trùng thú y (Giáo trình dùng cho bậc Đại học), Nxb Nông nghiệp, Hà
Nội, tr 163 - 180
5 Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Nam, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Văn Quang, Hạ
Thuý Hạnh (2009), Bệnh trâu, bò, ngựa và lợn , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
6 Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành,
Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi, Nxb Giáo dục, Việt Nam.
7 Nguyễn Thị Tho (2007), "Tác dụng điều trị ve ký sinh trên bò của h ạt củ đậu",
Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y , Tập XIV, số 1, tr 55 - 58.
* Tài liệu tiếng Anh
8 Kaufmann J (1996), Parasitic Infections of Domestic Animals: A Diagnostic
Manual, Basel, Boston, Berlin
9 Leland S., Shapiro (2005), Pathology & Parasitology for Veterinary technicians.
10 Soulsby E J L (1982), Helminth, Arthropods and Protozoa of domestic
animal, Lea, Febiger - Philadelphia.
11 Urquhart G M., Armour J., Duncan J L., Dunn A M., Jennings F W
(1996), Veterinary Parasitology, Blackwell Science.
Trang 26Phần thứ tư
ĐƠN BÀO KÝ SINH VÀ BỆNH DO ĐƠN BÀO GÂY RA
Chương 9
ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐƠN BÀO KÝ SINH VÀ
BỆNH DO ĐƠN BÀO GÂY RA
Nguyên sinh động vật (đơn bào) là tất cả những động vật mà cơ thể chỉ cómột tế bào Nguyên sinh động vật thú y nghiên cứu về các nguyên sinh động vậtgây bệnh cho gia súc, gia cầm: nghiên cứu về hình thái, sinh học, phân loại, tácdụng gây bệnh và phương pháp phòng, trị bệnh
Đa số các đơn bào sống ở nơi có nước (nước mặn hoặc nước ngọt), một sốsống trong đất Phạm vi ký sinh rộng, có thể ký sinh ở nhiều ký chủ, từ những kýchủ là nguyên sinh động vật tới ký chủ là động vật có vú Chúng phân bố rộngnhất ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
1 HÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ĐƠN BÀO KÝ SINH
Có những loài đơn bào không có chất nguyên sinh, cả tế bào hầu như chỉgồm có hạt Hoặc có loài có khi không có hạt (cả tế bào chỉ có chất nguyên sinh).Thực ra, sự không có hạt hay không có chất nguyên sinh chỉ là do chất nhiễm sắctập trung ở trung tâm hay phân tán ở khắp đám nguyên sinh chất Những đơn bàonày là những động vật cấp thấp nhất (gần với vi khuẩn nhất)
- Màng tế bào thường không có, hoặc lớp ngoài của nguyên sinh chất cứnglại thành một cái vỏ (biểu bì), hoặc bề mặt của nguyên sinh chất không đông đặ clại, nên cơ thể đơn bào vẫn mềm như một khối chất nhầy
Ngoài ba bộ phận chủ yếu trên, đơn bào còn có những bộ phận phụ, có chứcnăng vận động như chân giả, roi, lông tơ Chân giả chỉ thấy ở những đơn bàokhông có màng tế bào Chân giả là bộ phận phụ tạm thời, hình dáng và chỗ phátsinh thay đổi; lúc nghỉ thì đơn bào h ình tròn, nhẵn; khi hoạt động thì hình dángkhông đều và thay đổi luôn Trái lại, lông tơ và roi là những vật phụ vĩnh viễn, cóhình dáng và vị trí cố định, thấy ở những đơn bào có màng tế bào Lông tơ ngắn
và nhiều, vận động nhanh theo kiểu rung động Roi là những lông dài và ít (từ 1
-8 chiếc), vận động nhanh theo kiểu oằn oại chậm như đầu một cái roi
Trang 27Ngoài ra, trong cơ thể đơn bào còn thấy những thể không bào, chứa khí (CO2)hoặc chất lỏng (không bào bài tiết), hoặc chất đặc (không bào thức ăn và phân)
1.2 Đặc điểm sinh học
- Dinh dưỡng: rất nhiều loài đơn bào lấy dinh dưỡng bằng cách thẩm thấu
qua toàn bộ bề mặt cơ thể Các chất dinh dưỡng thông qua bề mặt cơ thể mà vàotrong tế bào, dù là đơn bào ký sinh trong huyết dịch (trùng roi), hoặc trong hồngcầu (huyết bào tử trùng), hoặc trong tế bào biểu bì (cầu trùng) Chỉ có một số ítdùng "mồm" - chỗ lõm trên bề mặt đơn bào - để hấp thu thức ăn
- Sinh sản: hình thức sinh sản đơn giản nhất là trực phân (sinh sản vô tính),
tức là từ một tế bào mẹ trự c tiếp phân chia thành 2 tế bào con Sinh sản vô tínhcòn có thể thực hiện bằng cách đâm chồi hay sinh nha bào, trong trường hợp này ,mỗi lần phân chia từ một tế bào mẹ tạo thành nhiều tế bào con
Sinh sản hữu tính là sự kết hợp giữa 2 tế bào sinh dục đực và cái (người tagọi tế bào đực và cái là tiểu phối tử và đại phối tử) Tiểu phối tử và đại phối tử cóthể giống nhau hoặc khác nhau: thường thì tiểu phối tử nhỏ và hoạt động ; đạiphối tử to, chứa nhiều chất dự trữ và không hoạt động Hai phối tử kết hợp v ớinhau tạo thành hợp tử Hợp tử phân tiết một cái màng cứng để tự bảo vệ, chốnglại những ảnh hưởng có hại của môi trường xung quanh
- Vòng đời: trong quá trình phát dục, đơn bào thường sinh sản vô tính, sau
nhiều đợt sinh sản vô tính thì chuyển sang si nh sản hữu tính Có khi hai hình thứcnày xen kẽ nhau thường xuyên
Đơn bào ký sinh gồm 2 nhóm: một nhóm ký sinh trong tế bào, sống trongnguyên sinh chất tế bào (thường là tế bào biểu bì hay tế bào máu), không có khíquan di động và không di động được ; một nhóm ký sinh ngoài tế bào, sống tự dotrong huyết dịch hay các xoang cơ thể (máu, ruột ), có khí quan di động và cóthể vận động được Sự khác nhau về vị trí ký sinh và khả năng di động có ý nghĩatrong phân loại đơn bào
Một số đơn bào có thể ký sinh ở những ký chủ rất khác nhau Một số kháclại chuyên sống ở những loài ký chủ nhất định
Ví dụ: bệnh tiên mao trùng (Trypanosoma spp.) thấy ở trâu, bò, ngựa, lạc
đà, chó và nhiều loài động vật khác Trái lại, các loài cầu trùng khác nhau gây
bệnh cho các loài động vật khác nhau (cầu trùng Eimeria tenella chỉ ký sinh ở gà, cầu trùng Eimeria suis chỉ ký sinh ở lợn).
Trong vòng đời của đơn bào ký sinh có thể chỉ cần một ký chủ ( ví dụ, cầutrùng) hoặc cần 2 ký chủ (ví dụ, huyết bào tử trùng cần ký chủ cuối cùng và kýchủ trung gian)
- Ký chủ trung gian: một số động vật chân đốt là ký chủ trung gian của đơn
bào ký sinh (ví dụ: ve là ký chủ trung gian của lê dạng trùng) Những loài chânđốt hút máu ký chủ cuối cùng (gia súc, gia cầm) có vai trò quan trọng làm lây lancác bệnh đơn bào Đặc biệt, một số loài roi trùng và huyết bào tử trùng bắt buộc
Trang 28Đơn bào thuộc loài nhất định chỉ có thể phát dục trong những loài chân đốt nhất
định (ví dụ: ở Việt Nam, loài đơn bào Piroplasma bigeminum chỉ phát dục được trong cơ thể ve Boophilus microplus).
Có thể chia ký chủ trung gian thành 2 nhóm: một nhóm là ký chủ trung gianhoạt động (tự nó có thể truyền đơn bào vào ký chủ cuối cùng) ; một nhóm là kýchủ trung gian thụ động (tự nó không truyền bệnh, ký chủ cuối cùng nuốt phải nó
mà mắc bệnh)
Ký chủ trung gian thụ động mang đơn bào gây bệnh trong xoang đại thể củachúng Vì vậy, đơn bào không có lối thoát ra ngoài Do đó, chỉ khi động vật chânđốt bị dập nát trên cơ thể ký chủ cuối cùng ( gia súc) thì đơn bào mới được giảiphóng để xâm nhập vào gia súc; hoặc ký chủ trung gian phải được ký chủ cuốicùng nuốt vào thì đơn bào mới có thể gây bệnh
2 PHÂN LOẠI ĐƠN BÀO KÝ SINH
Theo cách phân loại đơn giản, đơn bào chia thành 4 lớp với những đặc điểm sau:
- Thân có hình thái nhất định, có hai nhân, có lông rung động hay khí quan
để hút (lớp Ciliata - mao trùng).
- Thân bọc một cái màng, có chu vi cố định hay có thể biến dạng được.+ Không có lông, không có roi, ít di động, bao giờ cũng ký sinh (lớp
Sporozoa - bào tử trùng).
+ Có một hay nhiều roi (lớp Flagellata - roi trùng).
- Thân trần, có chân giả (lớp Rhizopoda - chân giả)
Trong mỗi lớp này đều có những loài ký sinh ở gia súc Phần lớn các loàicủa lớp mao trùng, roi trùng và chân giả đều sống tự do, chỉ có một số ít loàisống ký sinh và gây bệnh cho gia súc, gia cầm Song , tất cả các loài của lớp
bào tử trùng (Sporozoa) đều sống ký sinh và gây bệnh.
2.1 Lớp Ciliata (lớp mao trùng)
Hầu hết các loài của lớp này đều sống tự do trong những chất hữu cơ đangphân giải, nhất là trong rơm, cỏ thối nát (nên còn gọi là thảo phúc trùng) Cókhoảng 50 loài thảo phúc trùng thường sống ở gia súc (ở dạ cỏ loài nhai lại, ởruột già ngựa ) và không gây hại cho gia súc Chúng còn có vai trò quan trọngtrong vấn đề dinh dưỡng của gia súc nhai lại (chúng được tiêu hoá trong dạ dàynhư một nguồn protit của gia súc nhai lại)
2.2 Lớp Sporozoa (lớp bào tử trùng)
Bào tử trùng là những nguyên sinh động vật không có khí quan di động,thân khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có hình thểnhất định
Tất cả các loài của lớp này đều ký sinh trong các tế bào, các mô hay các thểdịch; hoặc suốt đời, hoặc ở những giai đoạn đầu của đời nó Chúng tự nuôidưỡng bản thân bằng cách thẩm thấu Chúng thường được phát tán dưới dạng cácbào tử chứa các bào tử thể Sinh sản theo 2 phương thức: vô tính và hữu tính
Trang 29Có 4 bộ trong lớp Sporozoa có liên quan đến thú y.
- Bộ Coccidiida (cầu ký sinh trùng, gọi tắt là cầu trùng): ký sinh ở các tế
bào biểu bì, chỉ cần một ký chủ Là những bào tử trùng có hình trứng hay hìnhcầu, có nguyên sinh chất lổn nhổn dạng hạt, giữa nguyên sinh chất có một nhântương đối to Chu kỳ sinh học gồm 2 phương thức sinh sản: vô tính v à hữu tính.Gây bệnh cho thỏ, loài nhai lại, lợn và gia cầm
- Bộ Haemosporidia (huyết bào tử trùng ): ký sinh trong huyết cầu, chu kỳ
phát triển cần hai ký chủ liên tiếp (ký chủ trung gian và ký chủ cuối cùng ): sinhsản vô tính ở một con vật có xương sống, sinh sản hữu tính ở một con vật khôngxương sống Không có giai đoạn tự do ngoài thiên nhiên
- Bộ Sarcosporidia (bào tử trùng ở thịt): ký sinh ở tổ chức cơ bắp và tổ chức
liên kết của động vật có xương sống, chủ yếu là loài có vú Bào tử trùng có vỏcứng, bên trong cơ thể chia thành một số ngăn, mỗi ngăn chứa những bào tử hìnhthận, trần, có một nhân
Trong bộ này chỉ có một họ đáng chú ý là Sarcosporidia, trong đó có giống Sarcocystis ký sinh ở tổ chức liên kết của dê, cừu, trâu, bò, lợn, ngựa Ở nước ta ,
khi khám thịt thường thấy bào tử trùng ở thịt trâu, bò (ở trâu nhiều hơn ở bò).Nhiều tác giả cho là, nếu thịt chỉ có ít bào tử trùng thì ăn không có hại
- Bộ Microsporidia (vi bào tử trùng): ký sinh ở côn trùng (ong, tằm).
2.3 Lớp Flagellata (lớp roi trùng)
Roi trùng là những đơn bào có một hay nhiều roi, có khi có màng rungđộng Thân thường giới hạn bằng một lớp nguyên sinh chất mỏng cứng lại, cómột nhân và nhiều hạt nhiễm sắc (thể cơ phụ và thể cơ động có khi liền nhauthành một đám gọi là thể cơ động) Roi cấu tạo bởi một trục nhiễm sắc bọc trongmột lớp vỏ nguyên sinh chất co giãn
Phần lớn roi trùng sống trong nước hoặc trong thể dịch của cơ thể , di độngmạnh nhờ thân co rút hoặc nhờ roi làm động tác uốn éo Sự sinh sản thực hiệnbằng cách phân đôi theo chiều dọc ở ngoài tự do hay trong một cái kén
Bộ này gồm nhiều họ, nhưng chỉ có một họ rất quan trọng, gồm những roi
trùng gây bệnh là họ Trypanosomatidae, với đặc điểm: chỉ có một nhân, một roi,
thể cơ phụ và thể cơ động liền nhau thành thể cơ động, có màng rung động hoặckhông có
Những loài roi trùng khác thuộc bộ này phần lớn sống hoại sinh (nuôi bảnthân bằng những chất hữu cơ trong cơ thể động vật) Đáng chú ý nhất là giống
Trichomonas ký sinh ở khí quan sinh dục bò và truyền bệnh dịch do giao cấu,
gây viêm tử cung, viêm âm đạo, sinh mủ, dẫn tới sảy thai, sát nhau
2.4 Lớp Rhizopoda (lớp chân giả)
Gồm những nguyên sinh động vật cấp thấp nhất về cấu tạo, cơ thể là một tếbào trần, có thể tòi ra chân giả để di động hay bắt mồi, làm cho hình dạng luônthay đổi Sinh sản theo cách phân đôi đơn giản Phần lớn sống tự do trong môi
trường ẩm, ít thấy loài sống ký sinh Chỉ có giống Entamoela gây bệnh lỵ amip ở
Trang 303 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH DO ĐƠN BÀO GÂY RA
3.1 Đường cảm nhiễm
Đơn bào xâm nhập vào ký chủ qua nhiều đường:
- Qua tiếp xúc: do gia súc khoẻ tiếp xúc với gia súc ốm (ví dụ: bệnh dịch do
giao cấu - bệnh do roi trùng gây ra, hoặc bệnh sảy thai ở bò do Trichomonas).
- Qua đường miệng: do ký chủ ăn hay uống phải thức ăn, nước uống đã
nhiễm ký sinh trùng ( ví dụ, bệnh cầu trùng), hoặc nuốt phải động vật chân đốthay những chất bài tiết của chân đốt mang mầm bệnh đơn bào
- Qua đường da: do chân đốt truyền đơn bào vào cơ thể gia súc Có khi
chân đốt chỉ truyền bệnh một cách cơ giới (ví dụ, ruồi trâu truyền bệnh tiên maotrùng) Có khi chân đốt đóng vai trò là ký chủ trung gian, để cho đơn bào phátdục đến một giai đoạn phát triển nào đó thì chân đốt truyền bệnh cho súc vật.Chân đốt có thể là ký chủ lưu giữ đơn bào trong thời gian rất dài (ví dụ: ve là kýchủ mang lê dạng trùng trong nhiều tháng, truyền cho nhiều đời sau)
3.2 Tác động của đơn bào trên cơ thể ký chủ
Một số đơn bào hoàn toàn vô hại ( ví dụ, các mao trùng ở đường tiêu hoá giasúc nhai lại), một số có hại nhưng không gây ra những biến loạn đáng kể (ví dụ,
các amip ở ruột), một số đơn bào tác động mạnh, gây bệnh nặng, có thể làm cho
con vật chết (ví dụ: tiên mao trùng, cầu trùng )
Đơn bào ký sinh tự nuôi dưỡng và phát triển bằng những chất tước đoạt của
ký chủ như các thành phần của máu, thành phần của tế bào Ngoài sự chiếmđoạt dinh dưỡng, đơn bào còn phá huỷ hồng cầu (lê dạng trùng), tiết độc tố ( bào
tử trùng ở thịt), gây hoại tử các tổ chức (amip gây bệnh lỵ)
3.3 Phản ứng của cơ thể ký chủ khi bị đơn bào ký sinh
Ký chủ phản ứng lại đơn bào bằng phản ứng tế bào và phản ứng thể dịch
- Phản ứng tế bào: là những phản ứng viêm cục bộ và tăng sinh, hoặc phản
ứng viêm toàn thân dưới tác động của độc tố do đơn bào tiết ra Phản ứng thấy rõnhất là: tăng sinh bạch cầu eosin, giảm hồng cầu, gây trạng thái thiếu máu )
- Phản ứng thể dịch: chủ yếu là phản ứng sinh kháng thể Những kháng thể
tích luỹ trong cơ thể gây trạng thái miễn dịch, hoặc trái lại, gây trạng thái quámẫn Miễn dịch trong bệnh đơ n bào khác với miễn dịch trong các bệnh do vikhuẩn ở chỗ, chỉ trong một số ít bệnh đơn bào ký sinh, đơn bào bị tiêu diệt hoàntoàn bởi kháng thể; còn đa số các trường hợp, đơn bào vẫn tồn tại trong cơ thểđộng vật với một số lượng ít , và cơ thể được miễn dịch trong một thời gian ngắn.Những con vật "mang trùng" này rất nguy hiểm, vì khi điều kiện chăn nuôi kémthì chúng có thể phát bệnh Đồng thời, những con vật "mang trùng" là nguồn gieorắc căn bệnh cho những con vật khác, nhất là những con mới đưa từ nơ i khác đến
Ví dụ: bệnh tiên mao trùng mạn tính ở trâu nước ta có thể phát thành bệnhcấp tính khi vận chuyển trâu từ miền núi về miền xuôi
Người ta đã ứng dụng phản ứng thể dịch để chẩn đoán các bệnh do đơn bào
Trang 313.4 Chẩn đoán bệnh do đơn bào ký sinh
* Nguyên tắc chẩn đoán bệnh đơn bào: phải nhìn thấy căn bệnh mới đủ cơ
sở để kết luận về bệnh Muốn tìm được căn bệnh, cần dùng một số phương phápchẩn đoán sau:
3.4 Xét nghiệm phân tìm cầu trùng ký sinh (Eimeria spp., Isospora spp )
Các loài cầu trùng giống Eimeria, Isospora, Criptosporidia ký sinh ở trong
đường tiêu hoá trâu, bò, dê, cừu, gà Sản phẩm của quá trình sinh sản vô tính vàhữu tính xen kẽ trong các tế bào biểu mô ru ột được gia súc, gia cầm bài xuất ra
ngoài theo phân, được gọi là nang tr ứng hay noãn nang (Oocyst) Số lượng Oocyst trong phân có thể lên tới hàng trăm nghìn/1 g am phân.
Để chẩn đoán bệnh cầu trùng, cần dựa vào những triệu chứng lâm sàng củacon vật bệnh và các đặc điểm dịch tễ học Nhưng nhất thiết phải tìm thấy cănbệnh mới có kết luận chính xác
Có thể tìm cầu trùng bằng phương pháp xem tươi (phương pháp trực tiếp).Phương pháp này dễ làm và dụng cụ rất đơn giản nhưng độ chính xác thấp, phải
làm 8 - 10 tiêu bản/ mẫu phân mới có thể thấy Oocyst cầu trùng.
Oocyst cầu trùng có tỷ trọng nhỏ (d < 1) nên dễ nổi lên trên bề mặt các dung
dịch có tỷ trọng lớn Trên cơ sở đó , có thể dùng các phương pháp làm phong phú
đơn bào để phát hiện Oocyst cầu trùng Phương pháp thường dùng nhất là
phương pháp Fulleborn với dung dịch muối NaCl bão hoà Tuy nhiên, qua thực
tế nghiên cứu về cầu trùng và bệnh cầu trùng ở gà và lợn, chúng tôi thấy phươngpháp vừa lắng cặn, vừa làm nổi của Darling phát hiện cầu trùng tốt hơn so với
phương pháp Fulleborn (thời gian nhanh hơn, tiêu bản trong và sạch hơn, Oocyst
nổi dễ dàng hơn)
Muốn xác định cường độ nhiễm cầu trùng của gia súc, gia cầm có thể ứng
dụng phương pháp đếm trứng giun sán của Stoll hoặc đếm số lượng Oocyst/ gam
phân bằng buồng đếm Mc Master
3.4.2 Phương pháp kiểm tra thịt tìm bào tử trùng ở thịt
Trong thịt gia súc có thể có ký sinh trùng đơn bào ký sinh, ví dụ:
Sarcocystis spp (bào tử trùng ở thịt).
* Kiểm tra tươi
Để tìm Sarcocystis spp có thể dùng dao sắc , cắt ngang các bắp thịt vai,
mông, đùi, lưỡi, vừa cắt vừa quan sát bề mặt của các nhát cắt
Sarcocystis spp trưởng thành là những nang kén có kích thước tương đối
lớn, dài khoảng 1 cm hoặc hơn Thể ký sinh trùng non , có hình dạng một đámnguyên sinh chất nhỏ, có một nhân, dày 10 - 20 µm, có vân, nằm trong một tếbào cơ bắp Đám này lớn dần lên, kéo dài ra theo chiều của thớ thịt và trở thànhdạng trưởng thành
Các dạng ký sinh trùng nói trên đều phát hiện bằng mắt thường một cách dễ
Trang 323.4.3 Phương pháp kiểm tra máu tìm đơn bào đường máu
Kiểm tra máu nhằm phát hiện các loài ký sinh trùng đường máu như:
Trypanosoma spp., Piroplasma spp., Leucocytozoon spp.,
* Lấy máu để kiểm tra
Đối với gia súc (trâu, bò, dê, ngựa, lợn), dùng ké o vô trùng cắt nhẹ ở đầu taihoặc dùng kim vô trùng chọc ngang một mạch máu nhỏ ở rìa tai sau khi đã cắtlông và sát trùng Đối với những động vật thí nghiệm (chuột bạch, chuột lang) thì
cố định đầu và nắm đuôi kéo mạnh rồi cắt chóp đuôi Đối với gia cầm v à chimthì dùng kim đâm vào tĩnh mạch cánh để lấy máu
* Kiểm tra máu tươi
Cho một giọt máu vào giữa phiến kính khô, trong và sạch, đặt một lá kínhlên giọt máu, sao cho giọt máu dàn mỏng ra (có thể nhỏ vào cạnh lá kính mộtgiọt dung dịch EDTA 1% hoặc Heparin để máu chậm đông, dễ kiểm tra hơn).Kiểm tra dưới kính hiển vi, độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40
Phương pháp kiểm tra máu tươi phát hiện được các loài tiên mao trùng còn
sống (Trypanosoma spp.) qua sự di động của chúng.
* Kiểm tra tiêu bản nhuộm màu
Phương pháp kiểm tra tiêu bản máu nhuộm màu là phương pháp thườngdùng để phát hiện hầu hết các loài ký sinh trùng ký sinh trong máu (kể cả các kýsinh trùng ký sinh trong huyết tương và trong hồng cầu)
Kỹ thuật dàn máu trên phiến kính: chuẩn bị những phi ến kính mới đã đượctẩy mỡ bằng cách rửa xà phòng sạch, ngâm trong cồn 900, trước khi dùng , laubằng khăn mềm không có xơ Chọn những lá kính kích thước 2 x 2 cm, càngmỏng càng tốt, rìa thật phẳng và nhẵn Đặt một giọt máu nhỏ lên một đầu phiếnkính, cách bờ phiến kính khoảng 1 cm Đặt cạnh của một lá kính lên giọt máu,nghiêng 450với phiến kính Khi giọt máu đã tràn ra khắp cạnh của lá kính thì đẩy
lá kính về phía trước, làm cho máu được dàn thành một lớp mỏng và đều trênphiến kính (máu dàn theo lá kính chứ không phải bị lá kính đẩy đi) Cố định tiêubản bằng cồn Methanol Để khô tiêu bản rồi nhuộm Giemsa từ 30 - 60 phút(dung dịch Giemsa được pha theo tỷ lệ: dung dịch Giemsa cơ bản một phần,nước cất trung tính 9 phần) Rửa tiêu bản dưới vòi nư ớc chảy nhẹ và để khô.Kiểm tra tiêu bản dưới kính hiển vi bằng vật kính dầu, độ phóng đại 10 x 90hoặc 10 x 100 (có dầu Cedre - dầu bạch dương)
Phương pháp này phát hiện được các ký sinh trùng đường máu:
Trypanosoma spp., Theileria spp., Babesia spp (Piroplasma spp., Anaplasma spp.), Leucocytozoon spp.
3.4.4 Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm
Khi gia súc nhiễm ký sinh trùng đường máu, nếu số lượng ký sinh trùng còn
ít, xét nghiệm máu chưa tìm thấy ký sinh trùng thì có thể lấy máu của con vật
Trang 33nghi mắc bệnh, tiêm truyền cho động vật mẫn cảm với loài ký sinh trùng ấy.Trong cơ thể động vật thí nghiệm, ký sinh trùng sẽ sinh sản rất nhanh, làm chođộng vật thí nghiệm có biểu hiện lâm sàng, kiểm tra máu động vật thí nghiệm dễtìm thấy ký sinh trùng hơn.
Tuỳ theo loài ký sinh trùng mà động vật thí nghiệm có thể là chuột bạch,
chuột lang, thỏ (đối với tiên mao trùng Trypanosoma evansi), bê (đối với lê dạng trùng Piroplasma bigeminum).
Các bước cần tiến hành gồm: chuẩn bị động vật mẫn cảm với ký sinh trùngđịnh tiêm truyền, lấy máu con vật nghi mắc bệnh (sử dụng dung dịch EDTA 1%hoặc Heparin để chống đông máu), tiêm truyền máu của con vật nghi mắc bệnhvào phúc mạc hoặc tĩnh mạch động vật thí nghiệm, theo dõi động vật thí nghiệmsau khi tiêm truyền (triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu động vật thí nghiệmtìm ký sinh trùng đường máu)
3.4.5 Phương pháp chẩn đoán miễn dịch
* Phương pháp miễn dịch ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)
Phương pháp ELISA dùng để phát hiện kháng nguyên (còn gọi là ELISAkháng nguyên) đã được Nantulya và Lindquist mô tả năm 1989 Các báo cáo vềkết quả sử dụng phương pháp này cho thấy, kỹ thuật ELISA nhạy hơn so với cácphương pháp giám định khác, và rất đặc hiệu với các loài tiên mao trùng
Trypanosoma spp
Phương pháp ELISA gián tiếp sử dụng đĩa nhựa được gắn kháng nguyên đãbiết Kháng thể nghi có trong huyết thanh con vật nghi mắc bệnh sẽ kết hợp vớikháng nguyên đã được gắn vào đĩa Sau đó, một kháng thể kháng lại IgG của bòđược gắn với men Peroxydase được nhỏ vào sẽ k ết hợp với kháng thể (nếu có)trong huyết thanh cần xét nghiệm Sự có mặt của men Peroxydase được phát hiệnnhờ một cơ chất (Substrate) với sự xuất hiện màu Tuỳ theo chất làm hiện màu(Chromogene) mà khi đọc kết quả sẽ sử dụng các kính đọc khác nhau
Phương pháp ELISA gồm các bước sau:
Bước 1: gắn kháng nguyên vào đĩa nhựa, ủ đĩa ở 370C trong 2 giờ hoặc ủqua đêm ở 40C
Bước 2: rửa đĩa 3 lần bằng dung dịch PBS (Phosphat Buffered Saline).Bước 3: nhỏ huyết thanh nghi Ủ đĩa ở 370C trong 1 giờ
Bước 4: rửa đĩa 3 lần bằng dung dịch PBS
Bước 5: nhỏ IgG của thỏ hoặc dê kháng IgG của bò gắn với men Peroxydase
Ủ đĩa ở 370C trong 1 giờ
Bước 6: rửa đĩa 3 lần bằng dung dịch PBS
Bước 7: nhỏ cơ chất
Bước 8: đọc kết quả bằng quang phổ kế (Spectrophotometer)
Độ nhậy của phương pháp ELISA phát hiện kháng thể đạt đến 90 - 95% và
Trang 34* Các phương pháp huyết thanh học khác
Một vài kỹ thuật phát hiện kháng thể đã được khảo nghiệm để chẩn đoánbệnh do ký sinh trùng đường máu gây ra ở động v ật Nhìn chung, các phươngpháp này có độ nhậy cao nhưng tính đặc hiệu thấp Đôi khi, các phương pháp này
có phản ứng chéo, nên không thể phân biệt được các loài ký sinh trùng với nhau.Ngoài ra, phương pháp huyết thanh học có thể xác định được con vật mắc bệnh,nhưng chưa chắc đã xác định được tình trạng bệnh lúc chẩn đoán (vì có thể , lúcchẩn đoán thì con vật đã khỏi bệnh nhưng kháng thể vẫn còn trong huyết thanh).Trong các phương pháp huyết thanh để chẩn đoán bệnh đơn bào đường máu gây
ra, phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFAT: Indirect FluorescentAntibody Test) được coi là phương pháp thích hợp nhất để phát hiện kháng thểđặc hiệu của loài (species/ specific antibody)
Phương pháp của Wilson (1969) đã được Katende và cs (1987) cải tiếnbước chuẩn bị kháng nguyên, đó là cố định đơn bào tươi lên tiêu bản bằng hỗnhợp Aceton lạnh 80% và Formalin 0,25%
Theo Plant và cs (1976), Well và cs (1982), các bước tiến hành như sau:Bước 1: chuẩn bị tiêu bản dàn máu của con vật mắc bệnh ký sinh trùngđường máu nặng (hoặc tiêu bản từ huyễn dịch chứa ký sinh trùng) Để khô trongđiều kiện nhiệt độ môi trường , rồi cố định bằng cồn Aceton (hoặc hỗn hợpAceton lạnh 80% và Formalin 0,25%), để trong 5 phút
Bước 2: dùng bút chì mỡ vẽ các vòng tròn có đường kính 5 mm ở các chỗkhác nhau trong vùng dàn của tiêu bản
Bước 3: dùng pipet hút huyết thanh nghi đã pha loãng 1/40 nhỏ riêng rẽ vàocác vòng tròn vừa khoanh trên tiêu bản Chú ý , mỗi vòng tròn đều được phủ kínhuyết thanh
Bước 4: ủ hỗn hợp kháng nguyên - huyết thanh nghi 30 phút trong tủ ấm 370C.Bước 5: rửa tiêu bản 3 lần bằng dung dịch PBS, mỗi lần 5 phút ở 40C có lắcnhẹ Để khô tiêu bản ở nhiệt độ phòng
Bước 6: nhỏ kháng thể IgG của thỏ hoặc của dê kháng IgG của bò gắn vớithuốc nhuộm huỳnh quang - fluorescent isothiocyanate
Bước 7: ủ và rửa tiêu bản như trên, tráng bằng nước cất Để khô tiêu bản ởnhiệt độ phòng
Bước 8: đậy lamen và kiểm tra dưới kính hiển vi huỳnh quang
* Phương pháp phát hiện ADN của đơn bào bằng phản ứng PCR
(Polymerase Chain Reaction)
PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩnđoán một vài bệnh ký sinh trùng đường máu
Nguyên lý của phương pháp PCR là dựa vào phản ứng chuỗi Polymerase đểxác định sự có mặt ADN của ký sinh trùng đường máu ở động vật
Phương pháp PCR có độ nhậy và độ chính xác rất cao, song phương phápnày đòi hỏi phải có trang thiết bị hiện đại và kỹ thuật cao Hiện nay, phương phápPCR mới được thử nghiệm ở một số phòng thí nghiệm ký sinh trùng hiện đại
Trang 353.5 Phòng, trị bệnh đơn bào ký sinh
3.5.1 Biện pháp điều trị
Có thể điều trị bệnh đơn bào bằng các phương pháp sau:
- Điều trị bằng kháng huyết thanh: có hiệu lực thấp nên ít được sử dụng
- Điều trị bằng thuốc hoá học: người ta thường chia các thuốc này thành 2 nhóm:+ Nhóm thuốc chống ký sinh trùng trong máu và trong hệ thống võng mạcnội bì (chống các đơn bào ký sinh trong huyết cầu và ngoài huyết cầu) như : cácchất có Arsenic, các chất Stibium, các chất dẫn xuất của urê, một số chất kháng sinh.+ Nhóm thuốc chống các đơn bào ký sinh ở dạ dày, ruột (các thuốc trị cầu trùng)
3.5.2 Biện pháp phòng bệnh: mục đích là hạn chế tác hại của đơn bào đối
với gia súc, gia cầm và ngăn ngừa bệnh lưu hành Gồm các biện pháp sau:
- Diệt các loài chân đốt truyền bệnh: đây là biện pháp tổng hợp và là biệnpháp phòng bệnh cơ bản nhất
- Phòng bệnh bằng sử dụng thuốc hoá học: dựa vào hiệu lực của thuốc, thờigian hiệu lực thuốc kéo dài trong cơ thể súc vật, dự tính khả năng phát bệnh (theomùa) để dùng thuốc đặc hiệu phòng bệnh cho súc vật khoẻ mạnh Thường dùngvới các bệnh roi trùng
- Dùng máu của động vật đã khỏi bệnh gây miễn dịch cho động vật có tínhcảm thụ Thường dùng với các bệnh huyết bào tử trùng ( vì sau khi khỏi bệnh,trong máu vẫn còn một số ít huyết bào tử trùng Dùng máu này đưa và o cơ thểsúc vật khoẻ sẽ tạo được miễn dịch)
Trang 36Chương 10
MỘT SỐ BỆNH ROI TRÙNG Ở GIA SÚC
Bệnh roi trùng do các động vật đơn bào thuộc lớp Flagellata gây ra Những roi trùng gây bệnh chủ yếu ở gia súc là roi trùng thuộc họ Trypanosomatidae.
1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ROI TRÙNG THUỘC HỌ TRYPANOSOMATIDAE
* Hình thái: cơ thể có hình suốt chỉ, hai đầu hơ i thon lại, trung bình dài 20
-30 µm Nguyên sinh chất tế bào chứa những hạt rất nhỏ, khi nhuộm màu có thểthấy hai đám nhiễm sắc, một đám to, tròn hay bầu dục , thường ở giữa (gọi là
nhân) và một đám nhỏ, thường ở đoạn sau thân, gọi là trung thể ( Blepharoplast),
Do trung thể kết hợp với thể đáy phụ nên được gọi là thể cơ động hay nhân cơ
động (Kinetouculeus) Từ thể cơ động có một roi bắt nguồn từ đó, roi dính vào cơ
thể uốn khúc tạo thành màng rung động , roi thường tự do ở đoạn trước
* Dinh dưỡng: roi trùng sống trong máu, có khi trong các tổ chức khác
nhau của động vật có xương sống Trong quá trình tiến hoá, chúng có giai đoạnvào ống tiêu hoá của những loại động vật không xương sống khác nhau Chúng
tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu huyết thanh hay thể dịch của ký chủ nơichúng ký sinh Roi trùng di động chủ yếu nhờ roi và màng rung động, thường dichuyển roi ra đằng trước Có thể nuôi roi trùng trong môi trường nhân tạo
* Sinh sản: sự sinh sản của roi trùng được thực hiện trong máu hoặc trong
thể dịch của động vật có xương sống, bằng cách chia đôi hay chia làm nhiều phầntheo chiều dọc Roi trùng sắp phân chia thì tăng về thể tích, sau đó quá trình phânchia diễn ra như sau: trước tiên roi trùng phân chia thành hai nhân, hai thể cơđộng và hai roi, nguyên sinh chất cũng phân chia theo và cuối cùng tạo thành hairoi trùng
Trong quá trình tiến hoá, hoặc ở con vật có xương sống, hoặc ở chân đốtmôi giới (ký chủ trung gian), roi trùng có thể có những hình dạng khác nhau vàcũng phân chia dưới những hình dạng đó Roi trùng có những hình dạng chủ yếusau:
- Thể Brithidia: thể cơ động ở trước và gần nhân Từ thể cơ động xuất phát
một roi, giới hạn màng rung động ngắn và roi tự do ở phía trước
- Thể Leptomonas: thể cơ động ở hoàn toàn phía trước, từ thể cơ động xuất
phát một roi tự do, không có màng rung động
- Thể Leishmania: hình bầu dục hay hình cầu, có một nhân to và một bào
thể nhỏ hình gậy, từ đó xuất phát một roi chưa thành hình (gọi là thể chân), kếtthúc ngay ở vách thân thể
* Khả năng truyền bệnh: roi trùng truyền từ con vật có xương sống này
sang con vật có xương sống khác qua một số loài chân đốt hút máu Những loàichân đốt này hút máu con vật ốm có căn bệnh và truyền cho con vật khoẻ Cáchtruyền bệnh không phải bao giờ cũng giống nhau, vì những lý do sau:
Trang 37- Có những loài chân đốt truyền bệnh roi trùng một cách cơ giới Ví dụ:
mòng Tabanus, ruồi trâu Stomoxys Roi trùng không có sự biến đổi nào trong quá
trình được vận chuyển trong cơ thể ruồi trâu và mòng
- Có loài chân đốt là ký chủ trung gian truyền bệnh Ví dụ: ruồi trâu
Glossina (còn gọi là ruồi Tsê - tsê) Chúng vận chuyển roi trùng từ con vật bệnh
và truyền cho con vật khoẻ, roi trùng thực hiện trong cơ thể chúng một phần quátrình phát triển Do đó, các loài chân đốt này là ký chủ trung gian bắt buộc Mộtloài roi trùng nhất thiết chỉ phát triển ở một ký chủ nhất định
* Sức gây bệnh: sức gây bệnh của các loài roi trùng khác nhau Một số roi
trùng hình như không gây tác hại gì cho ký chủ, một số khác gây ra các bệnhnguy hiểm, gây chết nhiều gia súc trong phạm vi rộng, nhất là ở các vùng nhiệt
đới Ví dụ: roi trùng Trypanosoma evansi có sức gây bệnh mạnh cho nhiều loài
gia súc, nhất là ngựa và trâu
2 MỘT SỐ BỆNH ROI TRÙNG Ở GIA SÚC
* Bệnh do roi trùng giống Trypanosoma
- Bệnh do roi trùng Trypanosoma evansi, được gọi là bệnh Sura hoặc một
số tên bệnh khác ở các khu vực khác nhau trên thế giới Ở Việt Nam gọi là bệnhtiên mao trùng Bệnh gây nhiều thiệt hại cho ngựa và trâu, đặc biệt trâu thường bịbệnh và chết nhiều trong vụ đông - xuân
- Bệnh do Trypanosoma equinum (một chủng của Trypanosoma evansi).
Bệnh nặng ở ngựa, có thể thấy ở lừa, la Bệnh thấy ở một số nước châu Mỹ, gọi
là bệnh đau mông ngựa
- Bệnh do Trypanosoma equiperdum (bệnh dịch do giao cấu ở ngựa) Bệnh
thấy ở ngựa của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nhiệt đới Ở Việt Namgọi là bệnh tiêm la ngựa
- Bệnh do Trypanosoma congloense, T brucei Bệnh được thấy phổ biến và
gây nhiều tác hại cho người và súc vật ở châu Phi
* Bệnh do Leishmania
- Bệnh do Leishmania ở chó (gọi là bệnh hắc nhiệt), bệnh có thể truyền sang người.
- Bệnh do Trichomonas gây sảy thai ở bò.
Sau đây là ba bệnh phổ biến và gây nhiều tác hại cho gia súc ở nước ta
2.1 BỆNH TIÊN MAO TRÙNG (Trypanosomosis)
2.1.1 Căn bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh
Bệnh tiên mao trùng do roi trùng Trypanosoma evansi gây ra.
Phạm vi ký chủ rất rộng: ngựa, lừa, lạc đà, trâu, bò, dê, cừu, chuột bạch,chó, mèo, chuột lang, thỏ
T evansi ký sinh ở ngoài hồng cầu (sống và di động trong huyết tương ký chủ).
Trang 382.1.2 Hình thái căn bệnh
T evansi dài 18 - 34 µm Cơ thể hình thoi, giữa có một nhân, có một roixuất phát từ thể hình roi , cách đuôi tiên mao trùng khoảng 1,5 µm Roi này chạydọc theo thân, uốn khúc và tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi l ơlửng ở phần đầu và thành roi tự do, dài khoảng 6 µm Nhờ roi và màng rungđộng nên tiên mao trùng di chuyển được trong máu Xem tiêu bản máu tươi cótiên mao trùng trên phiến kính, thấy chúng di chuyển rất nhanh, làm các hồng cầuchuyển động Khi nhuộm Giemsa thấy: nguyên sinh chất của tiên mao trùng bắtmàu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng Nếu kỹ thuật nhuộm tiêu bản không tốt thìchỉ nhìn thấy tiên mao trùng bắt màu tím xanh
Hình 190 Trypanosoma evansi trong máu
2.1.3 Dịch tễ học
* Sự phân bố bệnh: bệnh thường phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
Các nước ở châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Úc đều có bệnh tiên mao trùng
* Phương thức truyền bệnh: bệnh tiên mao trùng được truyền đi do vật
môi giới, truyền bệnh bằng cách cơ giới Căn bệnh có thể duy trì sức sống ở vậtmôi giới trong vòng 24 - 44 giờ Nếu trong thời gian này ruồi trâu và mòng chưakịp truyền căn bệnh cho con vật khác thì căn bệnh sẽ chết ở vòi hút của mòng vàruồi trâu Vì vậy, mùa phát sinh bệnh có liên quan chặt chẽ với m ùa côn trùnghoạt động Ruồi và mòng thường hoạt động mạnh từ tháng 5 đến tháng 9 hàngnăm, sau đó giảm đi
Hình 191 Vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
1 Mòng Tabanus 2 Ruồi trâu Stomoxys
Trang 39Ký chủ mang căn bệnh rất lâu dài, đóng vai tr ò rất quan trọng trong việcgieo truyền căn bệnh (trâu, bò mang căn bệnh 2 - 3 năm; ngựa và lừa tới 5 năm).Căn bệnh có thể truyền từ mẹ vào thai Theo Phan Văn Chinh (2006), trâu nhiễmtiên mao trùng 12,71%, bò 5,77% (giai đoạn 4 - 8 năm tuổi); trâu, bò dưới 3 nămtuổi tỷ lệ nhiễm tương ứng là 6,92% và 2,31%.
Trong vùng đang có bệnh lưu hành thì tỷ lệ nhiễm của gia súc có thể rất cao.Tình trạng này phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Số lượng vật môi giới truyền bệnh nhiều hay ít
- Các biện pháp phòng trừ đư ợc áp dụng có hiệu quả không?
Bệnh lưu hành mạn tính trong một khu vực khi có đủ 3 yếu tố:
- Vật gieo truyền (ruồi trâu, mòng)
- Vật mang căn bệnh và bảo tồn căn bệnh (súc vật mắc bệnh)
- Vật dễ cảm nhiễm (súc vật khoẻ)
* Sức đề kháng của căn bệnh: tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết
khi tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng Căn bệnh chết sau 30 giờ trongxác chết của con vật vào mùa đông
Tiên mao trùng có thể nuôi cấy được trong phôi thai gà, vịt, ngỗng Có tácgiả đã nuôi cấy được tro ng môi trường nhân tạo
2.1.4 Triệu chứng
- Ở trâu, bò: bệnh thường ở thể mạn tính Biểu hiện: con vật sốt lên xuống,
sốt 1 - 2 ngày, nhiệt độ 40 - 410C, nghỉ sốt 2 - 6 ngày Có một số trường hợpngoại lệ có thể sốt liên miên, kéo dài 16 - 18 ngày, nghỉ sốt 19 - 20 ngày Niêmmạc mắt nhợt nhạt, mí mắt sưng, có hiện tượng hoàng đản
Ở thời kỳ cuối có một số trâu, bò bị thuỷ thũng, số lượng hồng cầu và hàmlượng huyết sắc tố giảm Một số trâu, bò có chửa bị sảy thai
- Ở ngựa: có 3 thể bệnh là cấp tính, á cấp tính và mạn tính Thời kỳ nung
bệnh ở thể cấp tính và á cấp tính dài 1 - 1,5 tháng Thể mạn tính thì thời giannung bệnh tới 4 - 6 tháng Ở ngựa thường có triệu chứng điển hình như sau:
+ Sốt cao: sốt trên 400C, trạng thái sốt lên xuống, có một thời kỳ sốt 2 - 3
Hình 192 Bò bị bệnh tiên mao trùng Hình 193 Ngựa bị bệnh tiên mao trùng
Trang 40ngừng sốt tới 14 ngày Khi con vật sốt dễ tìm thấy tiên mao trùng ở mạch máungoại vi Mạch nhanh 60 - 80 lần/phút, tần số hô hấp tăng Lượng nước tiểugiảm, nước tiểu có màu vàng Sau 2 - 3 ngày, thân nhiệt hạ xuống mức bìnhthường, trong máu ít thấy tiên mao trùng Trong giai đoạn này, các triệu chứngtrên giảm dần, nhưng sau 2 - 3 tuần lại sốt cao Qua nhiều lần sốt cao lênxuống, con vật ăn kém, bỏ ăn, gầy dần, tim yếu, thiếu máu nặng, hạch sưng.+ Thuỷ thũng (phù): triệu chứng thủy thũng dưới da biểu hiện vào ngàythứ 6 - 7 sau khi phát bệnh, có khi sa u 3 tuần mới thấy thủy thũng Lúc đầuthấy thủy thũng ở âm hộ gần phía bụng, sau lan dần lên ngực và xung quanh
vú Giai đoạn cuối thấy phù ở môi, mí mắt, dưới hàm rồi tới bốn chân Hiệntượng phù có thể mất đi, rồi có thể trở lại nếu không điều trị kịp thời
+ Triệu chứng thần kinh: kế tiếp các triệu chứng trên là triệu chứng thầnkinh xuất hiện Con vật mệt mỏi, đi lại siêu vẹo, quay vòng, bốn chân run, haynằm Thời kỳ cuối bốn chân bị tê liệt, con vật chết
Hồng cầu bị phá hoại nên số lượng hồng cầu và hàm lượng Hemoglobin giảm
2.1.5 Chẩn đoán bệnh
Việc chẩn đoán tương đối khó khăn vì căn bệnh có khi ở mạch máu ngoại
vi, có khi không Do đó phải chẩn đoán tổng hợp, gồm các biện pháp sau:
- Căn cứ vào triệu chứng điển hình: sốt lên xuống, thuỷ thũ ng, có triệu
chứng thần kinh
- Dựa vào các đặc đ iểm dịch tễ của bệnh: vùng mắc bệnh, mùa phát
bệnh, vật môi giới truyền bệnh
- Điều trị chẩn đoán: dùng một trong ba loại thuốc đặc hiệu để điều trị
chẩn đoán: Berenil, Trypamidium, Naganin
- Chẩn đoán phòng thí nghiệm Gồm các biện pháp sau:
+ Xét nghiệm máu để tìm căn bệnh
Phương pháp xem tươi: lấy một giọt máu của con vật nghi mắc bệnh, cho
lên phiến kính sạch và khô, cho thêm 1 giọt dung dịch EDTA 1% hoặc Heparinhoà lẫn, đậy lá kính lên, soi ở kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20) Nếu có sẽ thấytiên mao trùng chuyển động làm rung động các hồng cầu trong máu
Phương pháp tập trung: lấy 4 - 5 ml máu con vật nghi mắc bệnh cho vào
1 ống ly tâm, thêm 2 - 3 ml dung dịch EDTA 1% hoặc Heparin, khẽ lắc cho máu
và chất chống đông hoà lẫn vào nhau, để yên khoảng 15 phút Dùng ống hút, hút
1 giọt huyết thanh ở ranh giới giữa hồng bạch cầu và huyết thanh, cho lên phiếnkính, soi kính hiển vi tìm tiên mao trùng
Phương pháp nhuộm Giemsa: phiết kính máu, cố định bằng cồn Methanol,
rồi nhuộm Giemsa Kiểm tra tiêu bản đã nhuộm dưới kính hiển vi, vật kính dầu, độphóng đại 10 x 90 hoặc 10 x 100 Nếu có sẽ thấy tiên mao trùng hình thoi, có nhân
và roi, nguyên sinh chất bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng
+ Chẩn đoán bằng phương pháp miễn dịch học
Chẩn đoán bằng phản ứng ngưng kết: trên phiến kính sạch và khô, cho 1