Những năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm đến công tác GDTC trong các trường Đại học thể hiện qua việc thường xuyên ban hành các nội dung chương trình môn học Thể dục trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-oo0oo -
TRƯƠNG VĂN LỢI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
GIẢNG DẠY MÔN KARATEDO CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-oo0oo -
TRƯƠNG VĂN LỢI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
GIẢNG DẠY MÔN KARATEDO CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành : Giáo dục thể chất
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS VŨ VIỆT BẢO
TP Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, Tôi xin chân thành cám ơn quý Thầy – Cô Trường Đại học TDTT TP.Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin cám ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Đồng Tháp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành học tập và nghiên cứu đề tài này
Xin cám ơn quí thầy – cô Kho SP TDTT Trường Đại học Đồng Tháp đã tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu
Đặc biệt, tôi xin chân thành biết ơn Thầy TS Trần Hùng, TS Vũ Việt Bảo đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Xin cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn khoa học này
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH – SƠ ĐỒ – BIỂU ĐỒ 95
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát chung về giáo dục thể chất trường học 4
1.1.1.Tầm quan trọng của công tác GDTC trong trường học 4
1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học: 8
1.2 Cơ sở khoa học chuẩn bị năng lực thể chất cho sinh viên 9
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.2.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của lứa tuổi sinh viên: 11
1.3 Đặc điểm môn võ Karatedo 14
1.3.1 Đặc điểm tấn pháp của môn võ Karatedo 15
1.3.2 Đặc điểm chiến pháp của môn võ Karatedo 15
1.3.3 Đặc điểm thân pháp của môn võ Karatedo 16
1.3.4 Đặc điểm môn võ Karatedo hiện đại 16
1.4 Các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 24
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 24
2.1 Phương pháp nghiên cứu 24
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 24
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn 24
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 25
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 32
2.1.5 Phương pháp toán thống kê 33
2.2 Tổ chức nghiên cứu 35
2.2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 35
2.2.2 Kế hoạch nghiên cứu 35
2.2.3 Đơn vị - cá nhân phối hợp 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Thực trạng hoạt động ngoại khóa GDTC tại trường Đại học Đồng Tháp 37
3.1.1 Tổng hợp các tiêu chí đánh giá thực trạng công tác ngoại khóa GDTC từ các công trình nghiên cứu đã được công bố để sơ bộ hình thành phiếu phỏng vấn 38
3.1.2 Phỏng vấn chuyên gia, đội ngũ giảng viên nội - ngoại khóa GDTC về các tiêu chí đã lựa chọn 40
3.1.3 Hình thành phiếu phỏng vấn các tets đánh giá tố chất nhằm tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động nội – ngoại khóa GDTC và thực trạng thể chất của SV trường ĐH Đồng Tháp 41 3.1.4 Khảo sát nhu cầu hoạt động ngoại khóa GDTC tại trường Đại học Đồng Tháp 44
3.1.4.1 Khảo sát nhu cầu sinh viên về chương trình học ngoại khóa trường Đại học Đồng Tháp 44
3.1.4.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nội – ngoại khóa GDTC trường Đại học Đồng Tháp 48
3.1.4.3 Thực trạng đội ngũ giảng dạy nội – ngoại khóa GDTC ở trường Đại học Đồng Tháp 49
3.1.4.4 Thực trạng về chương trình giảng dạy ngoại khóa GDTC ở trường Đại học Đồng Tháp 51
Trang 63.1.4.5 Thực trạng thể chất của SV năm I (khóa 2013) trường ĐH Đồng Tháp ( theo
quyết định 53 Bộ GD – ĐT) 53
3.2 Nghiên cứu Xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp 55
3.2.1 Những cơ sở để xây dựng chương trình môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp 55
3.2.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình 55
3.2.3 Khảo sát việc lựa chọn nội dung để xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp 57
3.2.4 Xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp 62
3.2.4.1 Quy trình xây dựng:“Xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp” 62
Chương trình chúng tôi xây dựng với thời lượng 60 tiết (4 tín chỉ) và chương trình được áp dụng cho SV tập luyện Karatedo vào giờ học ngoại khóa trường ĐH Đồng Tháp 62
3.2.4.2 Xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp 63
3.2.4.3 Nội dung một buổi tập môn võ karatedo ngoại khóa 65
Dành cho sinh viên không chuyên ngành GDTC 67
Tham dự đầy đủ các giờ lên lớp, thảo luận và tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV 67
Tập luyện với tinh thần tự giác và tích cực 67
Sinh viên phải tích cực nghiên cứu, tham khảo tài liệu, vận dụng các kiến thức vào giờ thực tập giảng dạy, tham gia đầy đủ các buổi học tập và tập giảng 67
IV Phương pháp giảng dạy 67
Phương pháp thảo luận 67
Phương pháp tập luyện 67
V Phương pháp kiểm tra đánh giá 68
3.2.4.4 Phân phối giảng dạy môn võ Karatedo giờ ngoại khóa cho sinh viên trường ĐH Đồng Tháp 68
3.3 Đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho sinh viên trường ĐH Đồng Tháp 73
3.3.1 Kế hoạch thực nghiệm 73
3.3.2 Xác định các Test đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường ĐH Đồng Tháp 73
3.3.3 Ứng dụng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường ĐH Đồng Tháp 74
CHƯƠNG IV 90
BÀN LUẬN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 90
4.1 Về thực trạng hoạt động ngoại khóa GDTC tại trường đại học ĐH Đồng Tháp 90
4.2 Xây dựng và ứng dụng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa trên khách thể nghiên cứu 90
4.3 So sánh thực trạng thể lực chung SV năm I ( khóa 2013) trường ĐH Đồng Tháp: 91
4.3.1 So sánh thực trạng thể lực chung SV năm I ( khóa 2013) trường ĐH Đồng Tháp với SV Năm II (khóa 2011) trường ĐH Y Dược Cần Thơ 91
4.3.2 So sánh thực trạng thể lực chung SV năm I ( khóa 2013) trường ĐH Đồng Tháp với mức trung bình của người Việt Nam ở lứa tuổi 19 92
Trang 74.3.3 So sánh thực trạng thể lực chuyên môn SV nam năm I ( khóa 2013) trường
ĐH Đồng Tháp với của nhóm sinh viên nam trường đại học Thủ Dầu Một Bình Dương. 93 4.4 Đánh giá hiệu quả ứng dụng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa tại trường đại học Đồng Tháp 94 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
3.1 Kết quả phỏng vấn các tiêu chí đánh giá thực trạng hoạt động
3.2 Kết quả phỏng vấn các test đánh giá thành tích 56
3.3
Kết quả phỏng vấn về chương trình giảng dạy môn Karate ngoại
3.4 Thống kê số liệu sân bãi và trang thiết bị TDTT của trường 57
3.5 Thống kê đội ngũ và trình độ giảng viên khoa SP TDTT 58
3.8 Bảng 3.8 Thực trạng thể chất của SV năm I trường ĐH Đồng
Tháp của nam nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
3.9 Bảng 3.9 Thực trạng thể chất của SV năm I trường ĐH Đồng
Tháp của nữ nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
3.10
Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung giảng dạy chương
trình môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường ĐH Đồng Tháp 62
3.11
Bảng phân phối thời gian chương trình môn Karatedo ngoại
3.12
Bảng phân phối thời gian giảng dạy môn võ Karatedo giờ ngoại
khóa cho sinh viên trường ĐH Đồng Tháp
Trang 103.13
3.14
So sánh giá trị trung bình các Test đánh giá thể lực chung và thể
lực chuyên môn môn Karatedo ngoại khóa của nam nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
So sánh giá trị trung bình các Test đánh giá thể lực chung và thể
lực chuyên môn môn Karatedo ngoại khóa của nữ nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
65
3.15
So sánh giá trị trung bình các Test đánh giá thể lực chung và thể
lực chuyên môn môn Karatedo ngoại khóa của nam nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm 69
3.16
So sánh giá trị trung bình các Test đánh giá thể lực chung và thể
lực chuyên môn môn Karatedo ngoại khóa của nữ nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm 69
3.17
So sánh nhịp độ tăng trưởng các Test đánh giá thể lực chung và thể
lực chuyên môn môn Karatedo ngoại khóa của nam nhóm thực
3.18
So sánh nhịp độ tăng trưởng các Test đánh giá thể lực chung và thể
lực chuyên môn môn Karatedo ngoại khóa của nữ nhóm thực
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH – SƠ ĐỒ – BIỂU ĐỒ
HÌNH ẢNH
2.3 Test chạy con thoi 4 x 10m (giây)
2.4 Test chạy tùy sức 5 phút ( quảng đường, m)
2.5 Test nằm ngửa gập bụng (số lần/30giây)
So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực chung đánh giá hiệu quả
của chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa của nam sinh
viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm
61
3.2
So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực chung đánh giá hiệu quả
của chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa của nữ sinh viên
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 61
3.3
So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực chuyên môn đánh giá
hiệu quả của chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa của
nam sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 68
3.4
So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực chuyên môn đánh giá
hiệu quả của chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa của nữ
sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm
68
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội các quốc gia đều
có sự quan tâm rất lớn đến phát triển thể chất cho thế hệ trẻ Nâng cao sức khoẻ con người là vấn đề trọng tâm cốt lõi của mọi mô hình phát triển của các quốc gia các chế
độ chính trị xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ GDTC trong các trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt trong chương trình giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, nhằm tạo ra một thế hệ tương lai có tri thức mới, có năng lực, phẩm chất đạo đức và có sức khỏe Đó là lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức Mục tiêu chiến lược này thể hiện rõ những yêu cầu bức bách về sức khỏe và thể lực của lớp người lao động trong công cuộc đổi mới nền kinh tế xã hội, đặc biệt là nền kinh tế tri thức nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Trong sự nghiệp phát triển đó thì GDTC là một mặt giáo dục toàn diện cho sinh viên Trong nhà trường GDTC là một phương tiện có hiệu quả để phát triển hài hòa cân đối hình thể, nhằm nâng cao năng lực thể chất và tố chất thể lực (TCTL) của người học sinh, sinh viên GDTC là một lĩnh vực sư phạm chuyên biệt GDTC và huấn luyện thể thao còn có tác động tích cực đối với việc rèn luyện và bồi dưỡng những phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức thẩm mỹ trong việc hình thành nhân cách cho người sinh viên
Những năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm đến công tác GDTC trong các trường Đại học thể hiện qua việc thường xuyên ban hành các nội dung chương trình môn học Thể dục trong các trường với các giờ nội khoá và ngoại khoá, cải tiến chương trình cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh đất nước, thường xuyên
tổ chức các giải phong trào để động viên và khích lệ sinh viên tham gia tập luyện GDTC và thể thao trường học thực sự có vị trí quan trọng trong sự nghiệp cải cách nền giáo dục của Đảng và Nhà nước ta Cùng với các ngành khoa học khác, GDTC và thể thao trường học thực hiện các mục tiêu về giáo dục và đào tạo, nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể lực để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững và tăng cường an ninh, quốc phòng cho đất nước Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc
Trang 13tăng cường công tác GDTC và hoạt động thể thao, việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất bằng các hoạt động thể thao ngoại khóa và nâng cao chất lượng công tác giảng dạy chính khóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC, để phát triển các tố chất thể lực và năng lực vận động của sinh viên Với tinh thần đó, Chỉ thị 2003/89 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra yêu cầu các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp cần xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của sinh viên phù hợp với thực tiễn của từng trường, từng vùng và từng ngành nghề Bởi vậy, một số tác giả như: Nguyễn Thái Sinh, năm 2003; Trần Thị Nguyệt Đán, năm 1999;
Lê Quang Anh, năm 2005… đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên của trường mình và đã mang lại hiệu quả cao góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất
Trong nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định:
“Đẩy mạnh hoạt động Thể dục thể thao (TDTT), nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam Phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp” “Phát triển các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao thể lực và phát huy tinh thần dân tộc của người Việt Nam”[59]
Trong các trường Đại học, công tác GDTC được nhà trường quan tâm như cải tạo, nâng cấp, xây dựng sân bãi, trang thiết bị tập luyện phục vụ cho công tác giảng dạy nội và ngoại khoá cho sinh viên Nhưng thực tế, trong công tác GDTC ở các trường còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phấn đấu như văn kiện Đại hội Đại biểu toàn
quốc khoá VIII đã nhấn mạnh: “Tạo chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả GDTC trong trường học”[59] Tuy nhiên, thực tiễn GDTC các cấp ở nước ta cho thấy
chưa đáp ứng nhu cầu vận động và yêu cầu phát triển các tố chất thể lực cho các em Hiện nay, thời gian dành cho chương trình GDTC trong giờ học chính khóa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn còn eo hẹp, trừ lớp 1 là 1 tiết/tuần còn lại là 2 tiết /tuần, đối với các trường Đại học và Cao đẳng là 150 tiết/khóa học Thời lượng như vậy dành cho GDTC là còn ít so với các nước phát triển, không đủ để giải quyết các nhiệm vụ của GDTC Vì thế con người tất yếu và duy nhất là cần phải đổi mới phương thức và xây dựng nội dung chương trình giảng dạy môn thể thao sao cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và giải quyết các nhiệm vụ mà không thể thực hiện được trong chương trình học chính khóa Những giờ học môn thể thao
Trang 14được xây dựng theo chương trình GDTC của từng trường phù hợp với khả năng và sở thích của các em như: Thể dục nhịp điệu, các môn bóng, các môn võ, đá cầu,….mang tính “học mà chơi, chơi mà học” một mặt mang đến cho các em môi trường rèn luyện sức khỏe lành mạnh, những phút thư giãn sau các giờ học chuyên ngành, mặt khác giáo dục cho các em những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như: lòng dũng cảm, năng lực
tự chủ, ý thức kỹ luật và tinh thần đồng đội…
Từ rất lâu các nước Châu Á nói chung và Việt Nam ta nói riêng, đã có một truyền thống rất lâu đời về võ học, xem Võ thuật như một môn thể thao, một phương tiện bảo vệ tổ quốc, để luyện thân thể, rèn tinh thần Và nâng lên một tầm cao hơn đó
là một phương thức rất hiệu quả để quảng bá hình ảnh đất nước với bạn bè thế giới Một số nước đã xác định, võ thuật là một truyền thống văn hóa phi vật thể gắn liền với những nét văn hóa truyền thống khác Võ thuật, trong đó có Karatedo gồm hệ thống các bài tập từ dể đến khó, từ căn bản đến phức tạp, đa dạng phong phú về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy Rất thích hợp với thể trạng cũng như thể chất của người Việt Nam chúng ta Với đặc điểm dể tập luyện không đòi hỏi cao về năng lực thể chất, phù hợp với mọi lứa tuổi, phong phú về chương trình tập luyện dể kết hợp tạo
sự hưng phấn, thích thú cao nơi người tập đặc biệt là các em học sinh – sinh viên Vì vậy việc đưa môn võ Karatedo vào ngoại khóa không chỉ phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường mà còn góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC tại trường
ĐH Đồng Tháp Môn Karatedo đã được đưa vào công tác giảng dạy như các môn thể thao khác nhưng trên thực tế chưa có một chương trình nghiên cứu một cách hệ thống
và khoa học, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác giảng dạy tại trường ĐH Đồng Tháp tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp” Với những mục đích và nhiệm vụ sau:
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa nhằm hoàn thiện các nội dung giảng dạy ngoại khóa góp phần nâng cao hiệu quả của công tác GDTC tại trường ĐH Đồng Tháp
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài đưa ra 3 nhiệm vụ cần giải quyết:
Trang 153.1 Đánh giá thực trạng hoạt động ngoại khóa GDTC tại trường ĐH Đồng Tháp giai đoạn 2012 - 2013
3.2 Xây dựng và Ứng dụng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa 3.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng chương trình giảng dạy môn Karatedo
ngoại khóa tại trường ĐH Đồng Tháp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát chung về giáo dục thể chất trường học
1.1.1.Tầm quan trọng của công tác GDTC trong trường học
GDTC trong trường học là một trong những mặt hữu cơ của quá trình giáo dục toàn diện bao gồm: Đức ,trí, thể, mỹ GDTC có vị trí quan trọng trong chiến lược giáo dục toàn diện của Đảng ta Sự kết hợp giữa chúng không chỉ là phương tiện nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phương thức để tạo nên con người phát triển toàn diện Muốn đa dạng công tác GDTC trong nhà trường trở thành một mặt giáo dục quan trọng của quá trình giáo dục trước hết trong cấp nhà trường GDTC phải được triển
Trang 16khai đồng bộ cùng các mặt giáo dục khác như: Giáo dục nhân cách, giáo dục tri thức của học sinh từ lớp nhỏ cho tới lớn
Có thể đưa ra một số dẫn liệu cơ bản về GDTC và thể thao trường học mà Đảng
và Nhà nước đặc biệt quan tâm:
Trước lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 năm 1946 Bác viết: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây dựng đời sống mới việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi người dân mạnh khoẻ, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ Vậy nên tập thể dục, bồi dưỡng sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước ” Quan điểm đó của
người đã được Đảng và nhà nước ta thực hiện và trong những năm qua nó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động tập thể dục nâng cao thể chất con người
Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992 tại điều 41 quy
định: “Nhà nước thống nhất sự nghiệp quản lý thể dục thể thao, quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong nhà trường, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các họat động TDTT quần chúng, chú trọng họat động TDTT chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [23]
Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24 tháng 03 năm 1994 của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT trong giai đọan mới đã nêu lên vai trò của thể dục thể thao, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật TDTT và nâng cao uy tín TDTT nước ta trên trường
quốc tế Về GDTC và thể thao trường học, chỉ thị có đoạn viết: “….Cải tiến chương trình giảng dạy và tiêu chuẩn RLTT, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học” [11]
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII-1996 đã
khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” và đã nhấn mạnh đến việc chăm lo GDTC con người…,
“Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh không chỉ có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn có con người cường tráng về thể chất, chăm lo con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội…” [20tr.36]
Trang 17 Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học” [34]
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC và thể thao trường học, Bộ GD-ĐT đã có nhiều văn bản pháp quy để chỉ đạo thực hiện đến các cơ
sở [5] Bộ GD-ĐT cũng đã ban hành chương trình mục tiêu: “Cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, sức khỏe, phát triển và bồi dưỡng tài năng thể thao học sinh, sinh viên trong nhà trường các cấp, giai đoạn 1996-2000 và định hướng đến 2015 Trong chương trình mục tiêu đã nêu lên đầy đủ những điều kiện đảm bảo công tác GDTC và thể thao trong trường học ổn định và phát triển đến năm 2025” [4]
Trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 5 năm (2001 - 2005) chỉ ra: “Phát triển các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao thể lực và phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc đăng cai tổ chức và tham gia SEA GAMES 2003 tại Việt Nam, thực hiện xã hội hoá các hoạt động TDTT mang tính chuyên nghiệp” [5]
Năm 2006 văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã tổng hợp: “Mở rộng
và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể (RLTT) trở thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng GDTC trong trường học…” Hay “Bảo vệ nâng cao sức khoẻ và thể chất nhân dân, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, tăng chiều cao, cân nặng của thế hệ trẻ, tăng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam” [59]
Cũng trong chiến lược phát triển 5 năm tiếp theo (2006 - 2010) nêu rõ: “Đẩy mạnh các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng Khuyến khích và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp TDTT Phát triển mạnh thể thao quần chúng, thể thao nghiệp dư, trước hết là trong thanh niên Làm tốt công tác GDTC, mở rộng quá trình chuyên nghiệp hoá thể thao thành tích cao Đổi mới và tăng cường hệ thống đào tạo vận động viên trẻ…” [5]
Luật TDTT được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 ở
điều 20, mục 2, chương II quy định: “GDTC là chương trình học chính khóa thuộc
Trang 18chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [37]
Chỉ thị 17 còn nêu: “Công tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại đất n- ước, trước hết là góp phần nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý trí, đạo đức, nhân cách lối sống và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi các tệ nạn xã hội ở địa phương Phấn đấu đến năm 2010 toàn quốc đạt tỷ lệ 18 – 20% dân số tập luyện TDTT thường xuyên; 80 – 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn RLTT theo quy định; giữ vị trí là một trong ba nước đầu về thể thao ở khu vực Đông Nam Á” [11]
Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao thể chất người Việt Nam Vấn đề này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học, các cấp học Muốn thực hiện được như vậy cần cải tiến nội dung giảng dạy, quy định về tiêu chuẩn RLTT cho học sinh, sinh viên các cấp
và quy chế GDTC bắt buộc trong các trường học… Quy chế chỉ rõ: “Học sinh, sinh viên có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập môn thể dục Sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng phải có chứng chỉ GDTC mới đủ điều kiện tốt nghiệp Học sinh, sinh viên phải thường xuyên tham gia tập luyện và kiểm tra tiêu chuẩn RLTT (đối với học sinh phổ thông) và tiêu chuẩn đánh giá thể lực (đối với học sinh, sinh viên Đại học và Chuyên nghiệp) Học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn được cấp giấy chứng nhận” [3]
Tóm lại, quan tâm chăm lo sức khoẻ và phát triển thể chất nhân dân là vấn đề được thực hiện xuyên suốt những năm qua, trong đó GDTC cho thanh thiếu niên, học sinh các cấp luôn được coi trọng Đây cũng là mục tiêu cơ bản nhất trong giáo dục con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá
- hiện đại hoá đất nước Đặc biệt trong trường học thể lực có ý nghĩa trong việc duy trì sức khoẻ của con người Khi thể lực tốt thì sức khoẻ luôn ổn định giúp cho con người
Trang 19lao động, học tập, sinh hoạt đạt kết quả cao Phải khẳng định rằng Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sức khỏe nhân dân, nhất là thanh thiếu niên Chăm lo cho mọi người về sức khỏe là chiến lược ổn định và phát triển nguồn nhân lực, tạo cơ sở vững chắc cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học:
Đảng và nhà nước luôn luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC và thể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội, phát triển hài hoà, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, GDTC và thể thao trường học phải giải quyết 3 nhiệm vụ:
Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức
tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và bảo vệ nước nhà
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, phát triển cơ thể hài hoà, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêu chuẩn thể lực quy định
Dễ nhận thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của GDTC là không ngừng nâng cao sức khoẻ, nâng cao trình độ chuẩn bị thể lực cho sinh viên Nôvicốp A.D; Mátvêép L.P (1993); khẳng định: “…Thể lực là một trong những nhân
tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người, trong đó có TDTT Hơn nữa, rèn luyện (phát triển) thể lực, lại là một trong những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC ”[41]
Trang 201.2 Cơ sở khoa học chuẩn bị năng lực thể chất cho sinh viên
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
Để tiếp tục giải quyết các vấn đề nghiên cứu tiếp theo cần thiết phải làm sáng tỏ
và thống nhất một số khái niệm cơ bản có liên quan
Thể chất: PGS.TS Nguyễn Toán cho rằng: “Thể chất là chỉ chất lượng thân thể con người Đó là đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể, được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (trong đó có giáo dục và rèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng thích ứng” [57]
GDTC: Matveep L.P., Novicop A.D khái niệm rằng “Giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm, hoặc là được thực hiện dưới quá trình hình thức tự giáo dục” [42, tr 7-8]
Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “Giáo dục thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao Giáo dục thể chất còn là một trong những họat động cơ bản, có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ
và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục mà nội dung chuyên biệt
là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người” [57, tr 21-22]
Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn nêu: “GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người”
Vũ Đào Hùng, Nguyễn Mậu Loan khái niệm “GDTC là một quá trình giáo dục
mà đặc trưng của nó biểu hiện ở việc giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực của con người” [38]
Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp, số tác giả khác đã đưa ra
khái niệm: “Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế
hệ trẻ toàn diện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và tuổi thọ của con người” [52, tr7-10]
Về GDTC có nhiều khái niệm ở những cách nhìn khác nhau, song nói chung đều
nêu lên hai mặt của một quá trình GDTC “giáo dục và giáo dưỡng”
Trang 21Quá trình giảng dạy động tác và phát triển các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ và làm tiền đề cho nhau, có thể chuyển lẫn nhau, nhưng chúng không bao giờ đồng nhất và có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển, hoàn thiện thể chất người tập
Trạng thái thể chất: Chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấu hiệu về thể
trạng được xác định bằng các cách đo đơn giản như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chân tay… tại một thời điểm nào đó [57]
Phát triển thể chất: Là quá trình biến đổi và hình thành các tố chất tự nhiên về
hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Hay nói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những tố chất thể lực và năng lực vận động [8] Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và sự biến đổi của
nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như môi trường sống
Năng lực thể chất: Năng lực thể chất chủ yếu liên quan tới những khả năng
chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể và biểu hiện chủ yếu qua họat động vận động Năng lực thể chất bao gồm kỹ năng vận động kết hợp với tố chất thể lực Nói một cách ngắn gọn năng lực thể chất bao gồm: Hình thái, khả năng chức năng và khả năng thích ứng
Hoàn thiện thể chất: Vũ Đức Thu cho rằng: “Hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất lên một trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lý các nhu cầu của họat động lao động, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người” [52] Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đưa ra khái niệm: “Hoàn thiện thể chất là mức tối ưu (tương đối) với một giai đoạn lịch sử nhất định của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cần thiết khác trong đời sống; Phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của từng người; Phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực lâu bền và có hiệu quả” [54, tr.19]
Thể lực: là sức lực của con người [41]
Trang 22Theo Nguyễn Mạnh Liên: “ thể lực là một nội dung nằm trong định nghĩa chung về sức khỏe” Tác giả cho rằng, để đánh giá thể lực, cần có các chỉ tiêu về hình
thái, giải phẫu và sinh lý con người trong đó có hai chỉ tiêu cơ bản là chiều cao đứng
và cân nặng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khái niệm sức khỏe như sau: “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật, cho phép mọi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả” Sức khỏe
gồm có sức khỏe cá nhân, sức khỏe gia đình, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe xã hội Sức khỏe phụ thuộc vào yếu tố môi trường, quá trình nuôi dưỡng, quá trình rèn luyện, những vấn đề chung của từng nước và cộng đồng thế giới Như vậy thể lực là một yếu
tố tạo nên sức khỏe [2]
Theo Mensicop V.V và Vôncôp N.I, “Năng lực thể lực là khả năng hoạt động cơ bắp được xác định bởi nhiều yếu tố bên trong và biểu hiện ra bên ngoài của cơ thể” [38]
Theo Aulic I.A, năng lực thể lực là tiềm năng của VĐV, để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao được lựa chọn và năng lực thể lực được biểu hiện theo các thông số sư phạm như sức nhanh, sức mạnh, sức bền…
1.2.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của lứa tuổi sinh viên:
Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi sinh viên:
Trong số các điều kiện khách quan, vị thế xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến đời sống và tâm lý của con người Những thay đổi vị thế xã hội sẽ làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới Trình độ phát triển của các chức năng tâm lý trong giai đoạn trước cũng như giai đoạn hiện thời sẽ là điều kiện đảm bảo cho những nhu cầu phát triển mới nảy sinh trở thành hiện thực Như vậy quá trình phát triển tâm lý con người
là một quá trình liên tục, mỗi giai đoạn phát triển vừa mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển Ở độ tuổi nay đa số các em đã bắt đầu đi vào thời kỳ ổn định về tâm lý
so với lứa tuổi phổ thông, tâm lý ít bị dao động, thay đổi khi đứng trước tình huống khó khăn
Vị thế của xã hội đã có nhiều thay đổi vì các mối quan hệ xã hội được mở rộng, nhìn nhận xã hội như thầy cô, cha mẹ đều xem họ đã trưởng thành Nên lứa tuổi này các em có đời sống tình cảm phong phú và đa dạng, tình cảm yêu đương nam nữ, tình cảm gia đình, bạn bè đã hình thành Tâm tư tình cảm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều
Trang 23kiện, hoàn cảnh sống, học tập và rất dễ thích nghi với môi trường khác nhau nhưng sự chín chắn ở cách giải quyết tình huống trong cuộc sống chưa nhiều Những thay đổi trong vị thế xã hội, trình độ phát triển tư duy lý luận, phương pháp luận về các quy luật của tự nhiên xã hội mà thanh niên tiếp thu được trong nhà trường đã giúp họ thấy được các mối liên hệ giữa các tri thức khác nhau, giữa các thành phần của thế giới Lứa tuổi sinh viên các chức năng tâm lý có nhiều thay đổi đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, tư duy, nghiên cứu Hoạt động tư duy của thanh niên rất tích cực
và có tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh và khả năng sáng tạo cũng phát triển lên một cấp độ mới
Lứa tuổi này tình yêu nam nữ là một phần trong cuộc sống Tình yêu nam nữ tiếp tục kế thừa và có biểu hiện sinh động hơn giai đoạn dậy thì, tâm tư tình cảm có chiều sâu và mang sắc thái riêng hơn so với lứa tuổi trước đó Sinh viên là lứa tuổi phát triển toàn diện và hoàn chỉnh về tinh thần, các chức năng tâm lý sự phát triển các tố chất thể lực đi vào ổn định Họ có thể sắp xếp, điều tiết được thời gian cho học hành và thời gian cho tình cảm nam nữ Tuy nhiên sự trãi nghiệm trong cuộc sống chưa nhiều nên việc giải quyết rắc rối trong tình cảm chưa được ổn thỏa và tình yêu ở lứa tuổi này mang tính chất không bền vững, thường xảy ra tan vỡ
Bên cạnh đó, cũng có bộ phận không nhỏ sinh viên có xu hướng chưa quan tâm tới tình yêu nam nữ mà chỉ chuyên tâm học hành khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học Đối với họ chuyện học là quan trọng hơn tình cảm nam nữ tạm gác lại, chỉ khi nào tốt nghiệp ra trường và có việc ổn định thì họ mới nghĩ đến tình yêu Những sinh viên này khi xác định yêu ai thường sàng lọc kỹ càng và thích nghĩ đến tình yêu vững chắc
Tóm lại ở lứa tuổi sinh viên là thời gian phát triển mạnh mẽ nhất của cuộc đời Sinh viên là những người giàu nghị lực, ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, tùy thuộc vào hoàn cảnh, môi trường sống, môi trường giáo dục thì cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển tâm lý của các sinh viên khác nhau, có người nhanh, người chậm, có người chín chắn bên cạnh đó cũng có người hời hợt Điều đó tùy thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của xã hội, định hướng của gia đình và nổ lực phấn đấu của bản thân mỗi sinh viên Ở giai đoạn này, sự chi phối của thế giới quan, nhân sinh quan đối với hoạt động của sinh viên đã thể hiện rõ rệt Những sinh viên có sự quan tâm của gia đinhg, có
Trang 24định hướng đúng đắn về sự phát triển của thế giới tự nhiên, xã hội và con người sẽ có những kế hoạch cho tương lai phù hợp nhằm trở thành những con người có ích cho gia đình và xã hội
Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi sinh viên:
Ở lứa tuổi này các chức năng sinh lý tiếp tục phát triển và hoàn thiện Về mặt giải phẩu, chiều cao có xu hướng phát triển chậm lại và ổn định dần nhưng phát triển
về bề ngang cơ thể Độ cứng của xương đã hình thành và vững chắc hơn nên ít bị tác động xấu khi phải thực hiện khối lượng vận động lớn
Hệ cơ: Phát triển mạnh và bền vững, số lượng và chất lượng các sợ cơ tăng lên đạt tới 43 – 45 khối lượng chung, độ bền vững các sợ cơ hoàn thiện hơn nên năng lực vận động của các em được nâng cao
Hệ thần kinh: Đến tuổi sinh viên sức phát triển thể hình đã hoàn thiện xong, kích thước não và hành tủy đã hoàn thiện so với người lớn Hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trựu tượng đã đạt đến mức hoàn chỉnh nên khả năng nghiên cứu khoa học diễn ra thuận lợi
Hệ tim mạch: Kích thước của tim đã đạt mức hoàn chỉnh Lứa tuổi có ảnh hưởng nhất định đến thể tích tâm thu và thể tích phút tối đa Tuổi càng lớn thì thể tích tâm thu
và thể tích phút càng cao, ở lứa tuổi sinh viên có thể đạt từ 120 – 140ml Tuy nhiên, tần số co bóp của tim/phút càng lớn thì càng giảm có thể còn 70 – 75 lần/phút đối với người bình thường, với những sinh viên tham gia hoạt động thể thao thì tần số này càng giảm Huyết áp khoảng 115mm thủy ngân [24]
Hệ hô hấp: Sự phát triển của cơ quan hô hấp đã hoàn thành Đặc điểm sinh lý lứa tuổi có ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng hô hấp Trong quá trình trưởng thành của cơ thể có sự thay đổi về độ dài của chu kỳ hô hấp, tỷ lệ thuở ra – hít vào, thay đổi độ sâu
và tần số hô hấp Khí lưu thông của sinh viên từ khoảng 400 – 500ml, dung tích sống của phổi đạt đên mức tối đa từ 3 – 3.5ml Quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh hơn nhưng càng lớn thì sự trao đổi chất càng giảm Khả năng hấp thụ oxy tối đa ngày càng lớn và ở tuổi này đã cao hơn nhiều so với trẻ em và những người tập luyện thể thao có khả năng hấp thụ oxy tối đa cao hơn những người bình thường [24]
Trang 251.3 Đặc điểm môn võ Karatedo
Karate hay Karatedo là một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa (Nhật Bản) Karate có tiếng là nghệ thuật chiến đấu với các đòn đặc trưng như đấm,
đá, cú đánh cùi chỏ, đầu gối và các kỹ thuật đánh bằng bàn tay mở Trong Karate còn
có những kỹ thuật đấm móc, các kỹ thuật đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã Để tăng sức cho các động tác tấn đỡ, Karate sử dụng thuật xoay hông hay kỹ thuật kime, để tập trung lực năng lượng cơ thể vào thời điểm tác động của cú đánh Việc tập luyện Karate hiện đại được chia làm ba phần chính: Kỹ thuật cơ bản “Kihon” theo tiếng Nhật, quyền “Kata” và tập luyện giao đấu “Kumite”
Kỹ thuật cơ bản (Kihon) được tập luyện từ các kỹ thuật cơ bản (kỹ thuật đấm, các thế tấn, động tác chân) của môn võ Đây là thể hiện “mặt chung” của môn võ mà phần lớn mọi người thừa nhận
Kata nghĩa là “ bài quyền” hay “ khuôn mẫu” “bài hình”, tuy nhiên nó không phải là những động tác múa Các bài kata chính là các bài mẫu vận động và chiêu thức thể hiện các nguyên lý chiến đấu trong thực tế Kata có thể là chuỗi các hành động cố định hoặc di chuyển nhằm vào các kiểu tấn công và phòng thủ khác nhau Mục đích của kata là hệ thống hóa lại các đòn thế cho dễ nhớ, dễ thuộc và những bài kata đi từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp tùy theo trình độ của môn sinh
Karate là môn võ mang tính khoa học, đơn giản và dễ tập Đồng thời nó được xác định là môn thể thao nhằm nâng cao sức khỏe cho người tập Ngoài ra nó còn thể hiện là môn võ mang đầy tính chiến đấu mà ở đây thể hiện thông qua hai yếu tố đó là phòng thủ và tấn công Karatedo là nghệ thuật chiến đấu bằng tay không
Các kỹ thuật môn Karatedo yêu cầu ở tính hiệu quả cao, dứt điểm nhanh trong thi đấu và đánh kết thúc đòn phải có thế thủ (Zansin) Chính vì vậy để tấn công nhanh thì đường thẳng là hiệu quả nhất Đường thẳng không những thể hiện trong tấn công mà còn thể hiện ngay cả quá trình di chuyển khi tấn công hay phản công, thông qua các bước di chuyển ngang, về trước, ra sau, thì đều có đường thẳng là chủ yếu
Tập luyện Karatedo không chuyên sẽ kích thích sự phát triển toàn diện các khả năng vận dụng của con người, trong đó đặc biệt là sự khéo léo, năng lực phản ứng,….Tạo ra sự nhanh nhẹn, linh hoạt, sáng tạo trong cuộc sống hằng ngày Do tính đặc thù riêng của bộ môn trong quá trình tập luyện nên ngoài tác dụng nâng cao năng
Trang 26lực vận động, nó còn phát triển lòng dũng cảm, tính đoàn kết, tính kỹ luật và các phẩm
chất tâm lý tốt đẹp khác
1.3.1 Đặc điểm tấn pháp của môn võ Karatedo
Bộ tấn Karatedo bao gồm 19 bộ khác nhau Mỗi một tấn có một khoảng cách khác nhau, hướng của mũi bàn chân, dạng của hai bàn chân, dạng của hai bàn chân đứng trụ tấn Tất cả đều nhất nhất tuân thủ theo nguyên tắc khoa học, sự tính toán khoa học, giữa trọng tâm con người và khảng cách hai chân, trọng lượng chịu đựng trên mũi bàn chân
Mỗi một tấn áp dụng thích nghi cho các đòn kỹ thuật làm tăng thêm sức mạnh của đòn thế bằng khoảng cách tấn công và phản công Mỗi tấn được ổn định làm cho trọng tâm con người luôn luôn được thăng bằng, trong di chuyển, cũng như cố định Hoạt động di chuyển của một tấn là sự chuyển động của phần thắt lưng trở xuống Trọng tâm con người ở đan điền nơi tập trung sức mạnh về thể lực cũng như ý lực, chúng ta cố gắng giữ thăng bằng khi di chuyển tấn cũng như biến tấn: là không trồi lên sụt xuống Khi di chuyển phối hợp các tấn với các kỹ thuật khác nhau, chúng ta phối hợp hai tiêu chuẩn: thăng bằng và nhanh nhẹn, có như vậy chúng ta mới đạt hiệu quả tấn pháp
1.3.2 Đặc điểm chiến pháp của môn võ Karatedo
Trong đấu pháp của Karatedo, muốn chiến thắng người tập phải lượng định chính xác mới cảm nhận được sự nhanh chậm, xa gần, lớn nhỏ trong không gian và thời gian nhất định Một cao thủ Karatedo củng như một nghệ sĩ chân chính hay một doanh nhân tài năng Trong Karatedo có 3 chiến pháp căn bản như sau:
a Trước của trước “Sen No Sen”
Mỗi khi bạn đã quyết định tấn công, đừng do dự mà hãy bình thản rat ay chớp nhoáng trước khi đối phương động thủ Ngoài ra, bạn có thể ra động tác giả (hư chiêu) như đang tấn công rồi bất ngờ chủ động ra tay trước Bạn tấn công với sự dũng mãnh,
áp đảo quyết liệt làm đối phương tinh thần hoảng loạn Thái độ của bạn là áp đảo liên tục từ đầu đến cuối Đó chính là sức mạnh tinh thần “Sen No Sen”
b Sau của trước “Go No Sen”
Bạn phải ra đòn ngay tức khắc khi đối phương tấn công, nhắm vào những yếu huyệt để tấn công quyết liệt, phải nhạy cảm với các phần trên của đối phương như vùng huyệt Bách Hội, Thái Dương, Mắt, Mũi, Tai, Miệng, Cằm, Yết hầu, Gáy Tầm trung như:
Trang 27Xương đòn gánh, Khí quản, Chấn thủy, Sườn, Thận, Cổ tay, Nách, Xương sống, Lưng trên Tầm thấp như: Đan điền, Háng, Ống quyển, Nhượng gối, Gân gót chân v v Nếu đối phương bình tĩnh, bạn phải quán tưởng mọi cử động của anh ta, hòa quyện nhịp nhàng với đối phương ròi bất ngờ tung đòn Bạn nên cố gắng giám sát, tiếp cận đối phương để đánh đòn quyết định bằng tất cả tinh thần và sức mạnh của bản thân Chủ trương của tinh thần này là đánh khi đối phương vừa chớm động gọi là “Go No Sen”
c Sau của Sau “Go No Go”
Người tập phải phản công ngay khi đối phương tấn công, nhắm yếu huyệt để tấn công Nếu đối phương điềm tĩnh, bạn phải uyển chuyển thân pháp và tung đòn thật dũng mãnh, đánh với tất cả sự tập trung tinh thần và sức mạnh làm cho đối phương trở nên hốt hoảng Đó là tinh thần của đòn trả đòn “Go No Go”
Tất cả các chiến pháp của Karatedo thông thường do từ chứng nghiệm trực tiếp của người luyện tập mà có Tuy nhiên, trong 3 chiến pháp trên, người tập phải nhận định tình huống để chiếm ưu thế Tùy theo hoàn cảnh nên không hẳn là bạn tấn công trước nhưng đối phương sẽ tấn công bạn trước nên hấp dẫn đối phương theo hướng ý chỉ của mình
1.3.3 Đặc điểm thân pháp của môn võ Karatedo
Thân pháp trong Karatedo là nền tảng căn bản ứng dụng kỹ thuật nhuần nhuyễn trong tập luyện giữa tấn pháp và kỹ thuật Thân pháp rất hữu ích khi thi đấu Thân pháp là sự phối hợp nhịp nhàng giữa tấn kỹ thuật trong khi tiến (Susumikata), lùi (Motorikata), bước chéo (Ayumi Ashi), bước lướt (Tsugi Ashi), duỗi chân (Okuri Ashi) hoặc vừa bước vừa lướt hoặc quay sau (Ushino Tai Kawashi) Khi tập luyện phối hợp thân pháp chúng ta luôn luôn: Giữ thăng bằng thân người Chuyển động thân hình nhẹ nhàng và mềm mại Luôn luôn giữ đúng tư thế tấn Không được nhấc chân khỏi mặt đất cũng như không được chà sát chân mạnh vào mặt đất Từ vùng thắt lưng trở xuống chuyển động di chuyển toàn bộ thân người không trồi lên sụt xuống
1.3.4 Đặc điểm môn võ Karatedo hiện đại
Karatedo hiện đại chia làm ba thành phần cơ bản:
-Quyền pháp (Kata)
-Đối luyện và thi đấu (Kumite)
-Kỹ thuật cơ bản (Kihon)
Việc giảng dạy môn Karatedo chủ yếu được thể hiện thông qua các yếu tố chủ yếu sau: Kỹ thuật và thể lực
Trang 28+Về kỹ thuật:
Karate là một môn có chương trình huấn luyện kỹ thuật rất phong phú và đa dạng, mỗi một phần của bàn tay, cánh tay, cùi chỏ, đầu gối và chân đều là một vũ khí sắc bén
a Tận dụng sức mạnh tối đa:
Muốn tăng tối đa sức mạnh đòn thế phải dựa trên các yếu tố sau:
-Sức mạnh tỷ lệ thuận với độ co giãn của bắp thịt
-Độ công phá của một sức mạnh tỷ lệ nghịch với thời gian tác dụng
-Trong các kỹ thuật dùng cách lật tay (đở và chặt) dùng cách xoay hay xoắn (trong các cú đấm) xoay vặn hông (trong các cú đá) để tạo vận tốc ban đầu
b Về tập trung sức manh:
Các kỹ thuật Karate tập trung sức mạnh để tăng hiệu năng kỹ thuật cần phải đúng lúc và đúng chổ Dùng mặt phẳng tiết diện nhỏ tiếp xúc thì cú đánh tác dụng càng mạnh càng uy lực
-Vận dụng nhiều bắp thịt thì sức mạnh càng lớn
-Muốn tập trung tối đa sức mạnh trong cơ thể thì tập trung vận dụng các bắp thịt đồng chiều đỡ, sự dụng hiệu nghiệm sự hợp lực của các sức cho các bắp thịt khác nhau tác dụng
-Vận dụng sức mạnh tối đa theo trình tự vận chuyển cơ bắp như bắp thịt ở bụng và ở hông rồi đến tay chân
-Dùng phản học để ổn định hỗ trợ và tăng sức mạnh đòn thế khi phát ra
c Về hơi thở:
Điều hòa hơi thở đúng lúc sẽ tăng sức mạnh đòn thế và tránh gây nguy hiểm cho bản thân Đối với bộ môn Karate nhiều người quan niệm đó là một môn võ chuyên dùng tay không, với quan niệm này người ta chưa hiểu rõ nghĩa chữ Karate và tất cả các kỹ thuật của bộ môn Trên cơ thể con người được chia thành 3 vùng rõ nét: vùng cao, giữa và thấp Các kỹ thuật Karate đều áp dụng cho 3 vùng đó trong đó có đòn chân Riêng đòn chân Karate cũng phong phú và đa dạng không kém gì đòn tay kể cả trong tư thế nằm
Được xây dựng trên nền tảng của các nguyên lý khoa học và thực hiện chủ yếu trên đường thẳng bao gồm: Kỹ thuật tấn, kỹ thuật tay, kỹ thuật chân
Trang 29*Tấn pháp:
Hachiji dachi: tấn chuẩn bị Misubi daichi: tấn nghiêm
Han zenkutsu dachi: tấn trước cao Shiko daichi: tấn vuông
Heisoku dachi: tấn chụm khép hai chân Zenkutsu dai chi: tấn trước
Kiba daichi: tấn ngang Renoji daichi: tấn L
Kokusu daichi: tấn sau
*Thủ pháp: (TE – waza):trong Karate – Do kỹ thuật tay được xem như là phần chủ yếu, về cả 2 phương diện công và thủ, được chia làm 3 loại: Zuki- waza, Uchi – waza, Uke – waza
*Kỹ thuật đấm (Zuki – waza)
Age zuki: đấm móc từ dưới lên Kizami zuki: đấm kết hợp hông và vai cùng chiều Gyaku zuki: đấm nghịch Oi zuki: đấm thuận
Kagi zuki: đấm móc từ ngoài vào
*Kỹ thuật tấn công bằng tay (Uchi – waza)
Empi: đánh cùi chỏ Tettsui uchi: đánh búa
Ippon nukite: xĩa 1 ngón Uraken uchi: đánh gõ
Koken: đánh bằng cổ tay Yohon nukite: xĩa 4 ngón
Tanagaokoro: đánh ức lòng bàn tay
*Kỹ thuật đỡ (Uke – waza)
Age uke: đỡ từ dưới lên Nagashi uke: đỡ vuốt bằng lòng bàn tay Gedan barai: đỡ gạt dưới Tsukami uke: đỡ bằng cách tóm, chụp Haisu nagashi uke: đỡ vuốt bằng mu bàn
tay
Kaki wake uke: đỡ song song cạnh ngoài bàn tay
Juji uke: đỡ chữ thập Uchi uke: đỡ từ trong ra
Soto uke: đỡ từ ngoài vào
*Kỹ thuật chân (Geri – waza):
Trang 30Trong Karate – Do chân cũng như tay, đều rất quan trọng, nó phải được rèn luyện một cách kỹ lưỡng và nghiêm ngặt, đây là điểm đặc sắc của Karate – Do, bao gồm các kỹ thuật:
Gyakumawashi geri: đá vòng nghịch Mikazaki geri:đá tạt bằng lòng bàn chân Kin geri: đá bằng mu bàn chân Yoko geri kekomi: đá tống ngang
Mae geri: đá trước Ushiro mawashi geri: đá xoay sau
Mae geri kekomi: đá tống trước Ushiro geri kekomi: đá tống sau
Mawashi geri: đá vòng
+Về thể lực:
Muốn có được thành tích cao trong Karatedo thì cần có tố chất thể lực tốt phù hợp vơi yêu cầu của từng nội dung Đương nhiên trong trường hợp ấy cũng không coi nhẹ các mặt khác như kỹ thuật, chiến thuật, ý chí
Thông thường người ta phân biệt tố chất thể lực như sau: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo
+Sức mạnh: là một trong những tố chất quan trọng của con người Nó là năng lực khắc phục sức cản bên ngoài nhờ sự nổ lực của cơ bắp Những hình thức xuất hiện sức mạnh gồm có: sức mạnh tối đa, sức mạnh nhanh và sức mạnh bền
+Sức mạnh tuyệt đối (sức mạnh max) thành tích của các nội dung trong thi đấu Karatedo ít phụ thuộc vào sức mạnh tuyệt đối Tuy vậy sức mạnh tuyệt đối vẫn rất cần cho người tập Karatedo để phát triển sức khỏe nói chung
+Sức mạnh bền (sức bền trong sức mạnh): Phương pháp chính của giáo dục sức mạnh bền là phương pháp lặp lại nhiều lần tới mệt mỏi với những bài tập mang nặng với những trọng lượng khác nhau
*Sức nhanh: sức nhanh có thể khái quát là khả năng hoạt động với tốc độ cực hạn Sự biểu hiện của nó dưới 4 hình thức:
-Thời gian tiềm phục của phản ứng động tác
Trang 31thức biểu hiện sức nhanh Khả năng tăng độ nhanh trong hoạt động nào đó phụ thuộc vào trình độ hoàn thiện kỹ thuật (kết quả lực học, không gian, thời gian của động tác) Phải nắm vững kỹ thuật mới thực hiện được động tác nhanh nhưng quá chú trọng đến
kỹ thuật mà thực hiện với tốc độ chậm và trung bình thì cũng không có lợi cho sự phát triển sức nhanh sau này Vì vậy phải giải quyết tốt quan hệ kỹ thuật và phát triển sức nhanh, phải chú trọng cả 2 mặt
*Sức bền: đối với vận động viên Karatedo sức bền không những cần thiết cho thi đấu mà còn cho việc hoàn thành khối lượng huấn luyện lớn Sức bền gồm: sức bền chung và sức bền chuyên môn Sức bền chung rất cần thiết cho con người, còn đối với vận động viên Karatedo nó là một thành phần trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt ở hệ thống thần kinh trung ương cũng như các hệ thống tim mạch
hô hấp Sức bền chuyên môn cần thiết cho vận động viên Karatedo tùy theo đặc điểm của từng nội dung thi đấu khác nhau Sức bền chung tích lũy dần dần bằng tất cả các bài tập thể lực quanh năm
*Mềm dẻo: sức mềm dẻo (hay gọi là khả năng linh hoạt của các khớp) rất cần thiết cho vận động viên Karatedo khi hoàn thành các bài tập với các biên độ động tác lớn Nhờ các bài tập chuyên môn, vận động viên đạt được sự mềm dẻo tốt hơn ở sự đòi hỏi khi thực hiện các động tác trong thi đấu hay đi quyền
*Độ linh hoạt: độ linh hoạt trong các động tác và biết giải quyết các nhiệm vụ huấn luyện một cách nhanh, đúng thì cần phải có sức mạnh, sức nhanh, sức bền và phẩm chất ý thức cao Động tác hoạt động cũng phức tạp, càng phải nhanh chóng xữ trí linh hoạt, có nghĩa là càng phải hoàn thiện hơn sức linh hoạt trong quá trình giảng dạy
Đối với các môn võ, kỹ thuật bài tập chia làm ba giai đoạn:
+Giai đoạn chuẩn bị có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện động tác
ở giai đoạn chủ yếu đó thường là các động tác tạo đà có chiều chuyển động ngược lại chiều chuyển động ở giai đoạn chủ yếu hoặc cùng chiều nhằm tạo gia tốc lớn hơn như đấm tay này thi tay kia thu về cùng lúc tạo đà cho tay đấm mạnh hơn, nhanh hơn
+Giai đoạn chủ yếu gồm các động tác nhằm trực tiếp giải quyết nhiệm vụ vận động, chúng có vị trí quan trọng nhất trong cấu trúc động tác của bài tập
Trang 32+Giai đoạn kết thúc các động tác hoặc buông thả một cách thụ động hoặc chủ động hãm người để dừng đột ngột
Kỹ thuật Karatedo được xây dựng cơ bản trên nền tảng của những nguyên lý khoa học được dựa trên các công thức chủ yếu sau:
+Động năng: Ec = ½ mv2
m: khối lượng của phần cơ thể di động
v: vận tốc của đòn
+Áp lực (kg): F/cm2
Phần tiếp xúc của vũ khí với mục tiêu tỷ lệ nghịch với hiệu quả của đòn
+Lực xoắn: các đòn thế trong Karatedo được thi triển điều xoay tròn tạo gia tốc, làm lệch phương phản lực và tăng lực, ngoài ra các vấn đề mômen, ngẫu lực, cộng hương đều được áp dụng triệt để trong kỹ thuật
Đặc tính không gian: các đặc tính không gian của kỹ thuật bài tập gồm tư thế của thân và quỹ đạo chuyển động của các bộ phận thân thể Quỹ đạo chuyển động là đường đi của một bộ phận (một điểm) nào đó của thân trong không gian Quỹ đạo được thể hiện bằng hình dạng và phương hướng, biên độ chuyển động Hình dáng của quỹ đạo có thể thẳng hoặc cong do cấu trúc của các khớp Nên hầu hết quỹ đạo chuyển động của các bộ phận thân thể đều có dạng đường cong
Đặc tính thời gian: đặc tính thời gian của bài tập thể hiện thời gian kéo dài vào nhịp độ của động tác Thời gian kéo dài của các giai đoạn động tác có vai trò quan trọng đối với kỹ thuật bài tập Nhịp độ động tác trong một bài tập phụ thuộc vào khối lượng hay mômen quán tính của bộ phận cơ thể, đối với môn võ người ta thường sử dụng các bài tập Kihon với nhịp độ khác nhau nhằm phát triển tốc độ và khả năng phân biệt
Đặc tính không gian – thời gian: được biểu hiện bằng tốc độ chuyển động Đó
là độ nhanh của sự chuyển dịch vị trí trong không gian trong một đơn vị thời gian Tốc
độ được xác định bằng tương quan giữa chiều dài quãng đường mà vật thể đã vượt được so với quảng thời gian dùng để vượt qua quãng đường đó Tùy theo nhiệm vụ vận động cụ thể của môn võ cần phải thực hiện những động tác đột ngột hoặc mềm mại uyển chuyển Thực hiện đúng yêu cầu tốc độ động tác là yếu tố quan trọng trong kỹ thuật của môn Karatedo
Trang 33Đặc tính về lực: lực đó gồm lực bên trong và lực bên ngoài Tăng tốc độ động tác để làm tăng lực tác động của động tác cần phải có sự tác động của lực trong một thời gian ngắn Trong đa số các bài tập của môn võ Karatedo, đoạn đường để tăng tốc
độ thường hạn chế do đặc điểm hình thái cơ thể, luật thi đấu, ý đồ chiến thuật Trong những trường hợp đó cần biết thả lỏng cơ và tạo được lực co cơ lớn đột xuất vào thời điểm thích hợp
Đặc tính nhịp điệu: nhịp điệu là một trong những đặc tính tổng hợp cũa kỹ thuật bài tập Cũng như nhịp độ, dấu hiệu cơ bản của nhịp điệu là sự lập lại của động tác hoặc chu kỳ của động tác theo một nhịp tương đối xác định Nhịp điệu động tác là yếu tố thể hiện mặt thẩm mỹ của bài tập, sự sáng tạo ra những nhịp điệu gây ấn tượng trong các bài tập quyền với những tổ hợp các thế đánh có ý nghĩa quan trọng trong môn võ Karatedo
Sức khỏe của con người là vốn quý nhất, nên việc chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung, của ngành TDTT nói riêng Đó chính là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất của giáo dục thể thao nước ta Những năm qua, Đảng và Chính phủ rất chú trọng tới việc phát triển thể chất cho học sinh – sinh viên Các nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã ghi rõ công tác GDTC cho thế hệ trẻ là một mặt quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục và đào tạo con người toàn diện
Chính vì vậy, lĩnh vực GDTC trong trường học các cấp ở Việt Nam đang thu hút được sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nghiên cứu, các nhà giáo dục Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về thể chất của học sinh – sinh viên đã công bố
Tác giả Đinh Trọng Kỷ, 1973 với đề tài: “Nghiên cứu về hình thái cơ thể”, tác giả Lượng Bích Hồng, 1980 với đề tài: “Đánh giá tình hình thể lực của học sinh”, tác giả Nguyễn Văn Quảng với đề tài: “Thực trạng phát triển thể chất của thí sinh dự thi Đại học TDTT trong những năm gần đây”, tác giả Lưu Quang Hiệp với đề tài: “Đặc điểm hình thái chức năng trình độ thể lực của học sinh các trường dạy nghề Việt Nam”, các tác giả Phạm Thị Uyên, Nguyễn Thanh Mai, Ngô Lan Phương với đề tài:
Trang 34Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với một số chỉ tiêu hình thái
và chức năng cơ thể nam sinh viên Đại học TDTT”
Nghiên cứu nhằm xây dựng chương trình, hoàn thiện nội dung và phương pháp GDTC cho các đối tượng học sinh như công trình của các tác giả Trần Đồng Lăm, Trịnh Trung Hiếu, Vũ Huyên, 1978 – 1985 với đề tài: “Chương trình giảng dạy thể dục”, tác giả Ngũ Duy Anh với đề tài: “Thực trạng và định hướng công tác GDTC trong nhà trường phổ thông dân tộc nội trú”
Chương trình GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng của Vũ Đức Thu cùng cộng sự; tác giả Vũ Đức Thu – Nguyễn Kỳ Anh với đề tài: “Những biện pháp thực thi nhằm cải tiến nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học”, tác giả Nguyễn Trọng Hải, 1997 với các đề tài: “Định hướng nghiên cứu cải tiến công tác GDTC trong hệ thống các trường dạy nghề năm 2000” và “Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xác định nội dung GDTC cho học sinh các trường dạy nghề năm 2000” và “Cơ
sở lý luận và thực tiễn nhằm xác định nội dung GDTC cho học sinh các trường dạy nghề Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Lực, 1998 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn bơi lội khoa sư phạm Thể dục Thể thao Đại học Thái Nguyên, tác giả Hoàng Văn Hưng, 1998 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình GDTC và chỉ tiêu phát triển các tố chất thể lực cho sinh viên nhóm sức khỏe yếu trong các trường Đại học Nông Nghiệp”, tác giả Phạm Thị Nghị, 1999 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình GDTC cho sinh viên Đại học nhóm sức khỏe yếu”
Với đề tài: “Nghiên cứu đánh giá chất lượng GDTC sinh viên Đại học Bách Khoa – Hà Nội” tác giả Nghiêm Xuân Thúc, trường Đại học Bách Khoa – Hà Nội, đã kết luận: Thành tích kiểm tra các nội dung riêng (các chỉ tiêu thể lực riêng) có chiều hướng giảm từ giai đoạn 1 (năm thứ 1 và năm thứ 2) đến giai đoạn 2 (các năm sau) Riêng về phần tổ chức tập luyện ngoại khóa thể dục thể thao phân thành 2 dạng trường Nếu học sinh – sinh viên, người tham gia tập luyện phát triển thể chất không tự giác say mê tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa do trường lớp, tổ chức; không tự mình tập luyện thêm để khắc phục các mặt còn hạn chế về thể chất theo đặc điểm của bản thân, không ý thực tự giác nâng dần yêu cầu lượng vận động trong buổi tập thì không thể phát triển nâng cao thể chất cho bản thân được
Trang 35Để nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, ngoài việc cải tiến xây dựng nội dung chương trình GDTC đóng vai trò hết sức quan trọng Đây là nội dung nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức và những kỹ năng tập luyện cơ bản các môn thể thao yêu thích Các chương trình nghiên cứu nâng cao chất lượng thể chất cho sinh viên được thực hiện bằng các chương trình nghiên cứu về GDTC còn quá ít chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển con người toàn diện của Đảng và Nhà nước ta mong muốn Chính vì lẽ đó chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu
đề tài theo hướng xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo vào giờ học ngoại khóa trường ĐH Đồng Tháp
Tóm lại, khi nghiên cứu, chúng tôi tham khảo các nguồn tư liệu khác nhau nói trên, chúng tôi bước đầu xác định được cách thức cần thiết phải tiến hành khi thực hiện công việc nghiên cứu của đề tài và dựa trên kết quả nghiên cứu của các nguồn tài liệu đó, chúng tôi đã lựa chọn và xác định xây dựng xây dựng chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDTC tại trường Vấn đề này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở những phần sau của luận văn
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm hình thành cơ sở lý luận, xây dựng giả thuyết khoa học, xác định các nhiệm vụ, cơ sở để phân tích đánh giá kết quả trong khi thực hiện đề tài Các tài liệu tham khảo bao gồm: Sách giáo khoa, tạp chí khoa học TDTT, các văn kiện, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo trình, các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan… Danh mục các tài liệu nêu trên được trình bày trong bảng “Danh mục tài liệu tham khảo”
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra nhằm tổng hợp các kiến thức và kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy và huấn luyện của giáo viên, HLV, các nhà chuyên môn; thu nhận thông tin qua phiếu điều tra – phỏng vấn của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu,
Trang 36HLV,… đối với chương trình giảng dạy môn Karatedo ngoại khóa cho SV trường Đại học Đồng Tháp
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá thể lực và thành tích học tập cho khách thể nghiên cứu bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Về thể lực chung: Chúng tôi sử dụng các test trong tài liệu: “Thực trạng thể
chất người Việt Nam từ 6 – 60 tuổi” năm 2001 của Viện khoa học TDTT Việt Nam, gồm các test sau:
- Chạy 30m xuất phát cao (giây),
+ Chạy 30m xuất phát cao (giây) (Hình 2.1)
Test này dùng để đánh giá sức nhanh
Đường chạy thẳng có chiều dài ít nhất 50m, bằng phẳng, chiều rộng ít nhất 2m, cho 2 người cùng chạy mỗi đợt Kẻ vạch xuất phát, vạch đích, ở 2 đầu đường chạy đặt mục tiêu Sau đích có khoảng trống ít nhất 10m để giảm tốc độ sau khi về đích
Người chạy, chạy bằng chân không hoặc bằng giày, không chạy bằng dép, guốc, khi có hiệu lệnh “Vào chỗ”, người chạy tiến vào vạch xuất phát, đứng chân trước chân sau, cách nhau 30 – 40cm, trọng tâm hơi đổ về trước, hai tay thả lỏng tự nhiên, bàn chân trước đặt ngay sau vạch xuất phát, tư thế thoải mái Khi nghe hiệu lệnh “Sẵn sàng”, hạ thấp trọng tâm dồn vào chân trước, tay hơi co ở khuỷu, đưa ra ngược chiều chân, thân người đổ dồn về trước, đầu hơi cúi, toàn thân giữ yên, tập trung chú ý đợi lệnh xuất phát Khi có lệnh “chạy”, ngay lập tức lao nhanh về phía trước, thẳng tiến tới đích và băng qua đích
Đối với người bấm giờ, đứng ngang vạch đích, tay cầm đồng hồ, đặt ngón tay trỏ vào nút bấm, nhìn về vạch xuất phát, khi thấy cờ bắt đầu hạ, lập tức bấm đồng hồ Khi ngực hoặc vai của người chạy chạm mặt phẳng đích thì bấm dừng
Trang 37Thành tích chạy được xác định là giây (s) và số lẻ từng 1/100 giây
Hình 2.1 Test chạy 30m xuất phát cao (giây)
+ Bật xa tại chỗ (cm) (Hình 2.2)
Kiểm tra bật xa tại chỗ để đánh giá sực mạnh bột phát của chân
Đối tượng điều tra thực hiện bật xa tại chỗ trên thảm cao su Trên thảm có đặt thước để tính độ dài bật xa Thước đo là 1 dây thước dài 1,6m, rộng 1,5cm Kẻ vạch xuất phát, mốc 0 của thước chạm vạch xuất phát
Cách thức kiểm tra và công nhận thành tích: Đối tượng kiểm tra đứng hai chân rộng bằng vai, đầu ngón chân đặt sát mép vạch xuất phát, hai tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm, gấp khớp khuỷu, gập thân hơi lao về trước, đầu hơi cuối Phối hợp duỗi thân, đạp chân bật mạnh về trước đồng thời hai tay cũng vung mạnh ra trước Khi bật
và tiếp đất, hai chân tiến hành đồng thời cùng lúc
Kết quả đo được tính bằng độ dài tính từ vạch xuất phát đến vệt gần nhất của thân người, đơn vị tính là cm Đối tượng kiểm tra thực hiện nhảy 2 lần, lấy lần xa nhất
Hình 2.2 Test bật xa tại chỗ (cm)
+ Chạy con thoi 4 x 10m (giây) (Hình 2.3)
Trang 38Dùng test này dùng để kiểm tra năng lực khéo léo khả năng phối hợp vận động
và sức nhanh
Đường chạy có kích thước 10 x 1,2m, hai đầu đường chạy có các vạch xuất phát và vạch đích Để an toàn, hai đầu đường chạy có khoảng trống khoảng 2m Dụng
cụ gồm: đồng hồ bấm giây, thước đo dài, các vạch xuất phát, đích
Cách thức kiểm tra và công nhận thành tích: Đối tượng kiểm tra thực hiện theo khẩu lệnh của người hướng dẫn “vào chỗ - sẵn sàng - chạy” Khi chạy đến vạch 10m, chỉ cần 1 chân chạm vạch lập tức quay toàn thân vòng lại về vạch xuất phát Thực hiện lặp lại cho đến khi hết quãng đường, tổng số 2 vòng với 3 lần quay Đơn vị tính là s
Đối với người bấm giờ, đứng ngang vạch đích, tay cầm đồng hồ, đặt ngón tay trỏ vào nút bấm, nhìn về vạch xuất phát, khi thấy cờ bắt đầu hạ, lập tức bấm đồng hồ Khi ngực hoặc vai của người chạy chạm mặt phẳng đích thì bấm dừng
Thành tích chạy được xác định là giây (s) và số lẻ từng 1/100 giây
Hình 2.3 Test chạy con thoi 4 x 10m (giây)
+ Chạy 5 phút tùy sức (Hình 2.4)
Test này dùng để đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí)
Đường chạy tối thiểu dài 50m, rộng ít nhất 2m, hai đầu kẻ đường giới hạn, phía ngoài 2 giới hạn có khoảng trống ít nhất 1m để quay vòng Giữa 2 đầu đường chạy (tim đường) đặt vật chuẩn để quay vòng Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 10m để xác định phần lẻ quãng đường chạy được sau khi kết thúc thời gian chạy
Khi có hiệu lệnh “chạy”, nghiệm thể chạy trong ô chạy, hết đoạn đường 50m, vòng bên trái qua vật chuẩn, chạy lặp lại trong vòng 5 phút Người chạy nên chạy từ từ
ở những phút đầu, phân phối đều và tùy theo sức của mình mà tăng tốc dần Nếu mệt,
có thể chuyển sang đi bộ cho đến hết giờ
Trang 39Mỗi đối tượng điều tra có đeo số ở trước ngực và tay cầm tích-kê có số tương ứng Khi có hiệu lệnh “dừng chạy”, lập tức thả ngay tích-kê của mình xuống nơi chân tiếp đất để đánh dấu số lẻ quãng đường chạy, sau đó chạy chậm dần hoặc đi bộ thả lỏng để hồi sức Đơn vị đo quãng đường chạy là mét
Hình 2.4 Test chạy tùy sức 5 phút( quảng đường, m)
+ Nằm ngửa gập bụng trong 30 giây (Hình 2.5)
Test này nhằm để đánh giá sức mạnh của các nhóm cơ bụng Tính số lần thực hiện được trong 30 giây
Đối tượng kiểm tra ngồi trên sàn bằng phẳng, sạch sẽ Chân co 900 ở đầu gối, bàn chân áp sát mặt bàn, các ngón tay đan chéo vào nhau, lòng bàn tay áp sát sau đầu, khuỷu tay chạm đùi
Người thứ hai hỗ trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân, đối diện với đối tượng kiểm tra, 2 tay giữ ở dưới cẳng chân nhằm không cho đối tượng kiểm tra tách chân ra khỏi sàn
Khi có hiệu lệnh “Bắt đầu”, người thực hiện ngã người nằm ngửa ra sau, hai bả vai chạm sàn sau đó gập bụng lại thành tư thế ngồi, hai khuỷu tay chạm đùi, thực hiện động tác gập thân đến 900 Mỗi lần ngã người – gập bụng được tính 1 lần Điều tra viên thứ nhất ra lệnh “bắt đầu” đồng thời bấm đồng hồ, đến giây thứ 30 hô “Kết thúc”, điều tra viên thứ 2 đếm số lần gập bụng
Yêu cầu đối tượng điều tra làm đúng kỹ thuật và cố gắng thực hiện được số lần cao nhất trong 30 giây
Trang 40Hình 2.5.: Test nằm ngửa gập bụng(số lần/30giây)
+ Lực bóp tay (kg):
Kiểm tra lực bóp tay thuận để đánh giá sức mạnh tay nhóm cơ tay vai Dụng cụ
đo là Lực kế bóp tay điện tử Xác định tay thuận là tay thường dùng để thực hiện các động tác quan trọng trong cuộc sống như ném, đánh đấm … tay thuận thường mạnh hơn tay không thuận Đa số thuận tay phải, thuận tay trái rất ít
Đối tượng điều tra đứng dạng 2 chân rộng bằng vai, tay thuận cầm lực kế đưa thẳng sang ngang, tạo nên góc chếch khoảng 450 so với trục cơ thể Tay không cầm lực kế duỗi thẳng tự nhiên Bàn tay cầm lực kế, đồng hồ của lực kế hướng vào lòng bàn tay, các ngón tay ôm chặt thân lực kế, bóp đều, từ từ, gắng sức trong vòng 2 giây Không được bóp giật cục hay thêm động tác trợ giúp của thân người, hoặc các động tác thừa
Đối tượng điều tra bóp 2 lần, nghỉ giữa 15 giây Lấy kết quả của lần cao nhất
* Các test đánh giá chỉ tiêu thể lực chuyên môn: