1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tín ngưỡng dân gian của người khmer ở trà cú và sự biến đổi của nó trong cuộc sống đương đại

109 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 4,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do đó chúng tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Cú và sự biến đổi của nó trong cuộc sống đương đại” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn đóng góp thêm

Trang 1

NGUYỄN VĂN LƯỢM

TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NÓ

TRONG CUỘC SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 60.31.70

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN MINH HƯỜNG

Hà Nội, năm 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

và chưa được công bố Các cứ liệu nêu ra trong luận văn là trung

thực và khách quan Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 10

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG VÀ NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ 10

1.1 Khái niệm về tín ngưỡng dân gian và văn hóa tín ngưỡng 10

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian 10

1.1.2 Khái niệm về văn hóa tín ngưỡng 12

1.2 Khái quát về người Khmer ở huyện Trà Cú 13

1.2.1 Vài nét về huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh 13

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên, địa lý 13

1.2.1.2 Tình hình dân cư và lịch sử phát triển 14

1.2.2 Về người khmer ở huyện Trà Cú 16

1.2.2.1 Quá trình du nhập và sự phân bố dân cư 16

1.2.2.2 Đời sống vật chất 17

1.2.2.3 Đời sống tinh thần 20

Chương 2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ 24

2.1 Thờ cúng tổ tiên 24

2.2 Tín ngưỡng thờ thần, yêu quái 31

Trang 4

2.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng Neak Ta (ông Tà) 31

2.2.2 Cúng Arăk 35

2.2.3 Thờ Rea – hu 37

2.3 Nghi lễ vòng đời 40

2.3.1 Lễ trả ơn mụ (pithi boncok chhmop) 41

2.3.2 Giáp tuổi (Pithi kát chúp) 43

2.3.3 Lễ đi tu và lễ vào bóng mát 44

2.3.3.1 Lễ đi tu (banh bon – buos) 44

2.3.3.2 Lễ vào bóng mát (pithi chôp mlôp) 46

2.3.3.3 Cưới xin (Pithi Apea Piea) 47

2.3.4 Lễ chúc thọ và tang ma 52

2.3.4.1 Lễ chúc thọ (banh châm rơn pras – chanh) 52

2.3.4.2 Tang ma (Bon Sâp) 53

2.4 Tín ngưỡng nghề nghiệp 57

2.4.1 Cúng tổ nghề mộc, thợ nề 58

2.4.2 Cúng Tổ Rôbăm 59

2.4.3 Cúng Tổ Yukê 60

2.4.4 Cúng Tổ giàn nhạc ngũ âm 62

2.4.5 Cúng Tổ dàn nhạc dây 62

Chương 3 SỰ BIẾN ĐỔI TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI 65

3.1 Những yếu tố tác động đến sự biến đổi về văn hóa tín ngưỡng 65

3.1.1 Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế (Sự biến đổi về kinh tế) 66

Trang 5

3.1.2 Sự thay đổi về cảnh quan và thiết chế văn hóa ở nông thôn 69

3.2 Những xu hướng biến đổi của tín ngưỡng dân gian Khmer ở huyện Trà Cú hiện nay 73

3.2.1 Xu hướng biến đổi về mặt không gian thờ cúng 73

3.2.2 Xu hướng biến đổi về mặt lễ nghi 76

3.2.2.1 Giảm dần và mất hẳn một số lễ nghi trong tín ngưỡng 76

3.2.2.2 Biến đổi theo hướng tiếp thu yếu tố mới 85

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người Khmer là bộ phận quan trọng trong cộng đồng cư dân người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Khmer Nam Bộ có truyền thống văn hóa lâu đời và có những nét sắc thái văn hóa độc đáo riêng của dân tộc mình Trong quá trình hình thành và phát triển, người Khmer đã chọn vùng đất Nam Bộ làm quê hương Cùng với cư dân người Việt, người Hoa, người Khmer đã chung sống và xây dựng mảnh đất Nam Bộ thành một vùng đất trù phú về tài nguyên, đa dạng về văn hóa

Trà Cú là huyện có đông đồng bào Khmer nhất của tỉnh Trà Vinh, được xem

là địa bàn cư trú khá cổ xưa của người Khmer khi có mặt tại Đồng bằng sông Cửu Long Văn hoá dân gian của người Khmer phong phú và đa dạng, nổi bật là các hình thức cúng bái, tế lễ và phụng thờ Bên cạnh đó còn có những truyền thuyết, thần thoại để lí giải các hiện tượng tự nhiên và giáo dục thế hệ mai sau,… Tất cả đã tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc của người Khmer ở Trà Cú nói riêng và Nam Bộ nói chung Cùng chung nguồn gốc dân tộc với người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer ở huyện Trà Cú đã giữ gìn những nét văn hóa mang bản sắc của dân tộc và tạo nên những sắc thái riêng cho địa phương mình

Tuy nhiên trong những thập niên gần đây, các tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú đã có những biến đổi nhất định bởi những tác động của đời sống đương đại Ngày nay khi về với Trà Cú, vào những phum, sóc của người Khmer, người ta không còn thấy những mái nhà tranh vách đất hay những mái nhà lợp bằng lá dừa nước Nam Bộ, khó có thể phân biệt giữa người Khmer và người Kinh hay người Hoa qua trang phục, những nghi lễ cũng có nhiều điểm tương đồng với nhau Thực tế cho thấy, sự phát triển của thời đại làm văn hóa cũng chuyển đổi theo, văn hóa nông thôn cũng có xu hướng chuyển dần sang văn hóa đô thị Sự biến đổi của văn hóa dẫn đến sự biến đổi trong tín ngưỡng dân gian Bởi lẽ, tín ngưỡng dân gian là một bộ phận của văn hóa và mang nhiều yếu tố của văn hóa truyền

Trang 7

thống Thời đại phát triển làm cuộc sống vật chất của con người thay đổi dẫn đến cuộc sống tinh thần cũng có những biến đổi nhất định Tín ngưỡng dân gian cũng là yếu tố quan trọng trong đời sống tinh thần nên ít nhiều cũng chịu sự tác động Hơn nữa, sự vận động của thế giới vật chất cũng được C.Mác làm chỉ ra: Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo cho phù hợp Trong đó, kinh tế, phương thức sản xuất, đối tượng lao động thuộc cơ sở hạ tầng Thiết chế chính trị, văn hóa, tôn giáo thuộc kiến trúc thượng tầng Do vậy, kinh tế thay đổi, tất yếu sẽ dẫn đến văn hóa thay đổi theo Tìm hiểu về đặc điểm tín ngưỡng dân gian Khmer và sự biến đổi của nó trong xã hội đương đại là cách tiếp cận với vốn văn hoá truyền thống của dân tộc Qua đó thấy được những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của đời sống đương đại đến văn hóa dân tộc

Từ những lý do đó chúng tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng dân gian của người

Khmer ở Trà Cú và sự biến đổi của nó trong cuộc sống đương đại” làm đề tài

nghiên cứu với mong muốn đóng góp thêm những cơ sở thực tiễn về sự biến đổi của tín ngưỡng dân gian của người Khmer trong giai đoạn mới, qua đó bước đầu đề ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người Khmer ở huyện Trà Cú nói riêng và người Khmer ở Nam Bộ nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong phạm vi nguồn tư liệu chúng tôi có thể bao quát được, có một số công trình nhất liên quan đến đề tài như sau

Trong công trình “Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ” (tham

luận hội nghị khoa học đầu tiên về văn hóa văn nghệ truyền thống của người Khmer), (Nxb Tổng hợp Hậu Giang, 1988), các tác giả đã dẫn được nhiều nguồn sử liệu về lịch sử hình thành và phát triển cũng như các loại hình văn hóa nghệ thuật của người Khmer Nam Bộ, những lễ hội, sinh hoạt văn hóa của đồng bào Khmer Với công trình này nhóm tác giả đã khai thác văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ ở bề rộng, công trình đã hình thành nên toàn cảnh về bức tranh văn hóa Khmer Nam Bộ Tuy nhiên công trình vẫn chưa đề cập một cách trực tiếp về tín ngưỡng dân gian của

Trang 8

người Khmer Nam Bộ mà chỉ nêu những lễ tục có liên quan đến tín ngưỡng dân gian Khmer nói chung Qua công trình trên chúng tôi vẫn chưa tìm thấy tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú hay sự biến đổi của nó

Công trình, Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Trường

Lưu (chủ biên), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1993) đã tập hợp được những công trình nghiên cứu về văn hóa Khmer ở những khía cạnh như: Tín ngưỡng – tôn giáo,

lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạo hình Đây là công trình có tầm khái quát lớn về văn hóa người Khmer Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu làm sáng tỏ tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và huyện Trà Cú nói riêng

Trong công trình, Một số lễ tục dân gian người Khmer ở Đồng bằng sông

Cửu Long, (Nxb Văn hóa Dân tộc, 1999), tác giả Trần Văn Bổn đã nêu khái quát về

người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, phân chia các loại lễ tục và nêu lên các

lễ tục của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long Qua công trình nghiên cứu trên tác giả đã giúp người đọc hình dung được hệ thống lễ tục của người Khmer ở Nam Bộ Tuy nhiên công trình chưa chỉ rõ được đâu là lễ tục dân gian và chưa làm

rõ tín ngưỡng dân gian của người Khmer và cũng chưa đề cập đến vấn đề biến đổi

Tác giả Võ Thanh Bằng (chủ biên) với công trình, Tín ngưỡng dân gian ở

Thành phố Hồ Chí Minh, (Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2008) đã chỉ ra

được hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Khmer nhưng chỉ giới hạn ở Thành phố Hồ Chí Minh Đây là công trình nghiên cứu công phu của nhóm tác giả nhưng chưa khái quát lên được tín ngưỡng dân gian của người Khmer Nam Bộ Do địa bàn nghiên cứu của công trình là thành phố Hồ Chí minh nên chúng tôi cũng chưa nhận thấy công trình này đề cập đến tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Huyện Trà Cú

Mặt khác, với công trình, Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn

hóa Việt Nam (Phạm Thị Phương Hạnh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật,

2011), nhóm tác giả đã thành công khi vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về văn hóa

Trang 9

Khmer Nam Bộ qua những mặt: Tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, văn hóa – nghệ thuật, phong tục – tập quán, ngành, nghề truyền thống Họ đã làm nổi bật những nét đặc sắc, những thành tựu mà người Khmer đã tạo dựng trong quá trình phát triển nhất là về mặt văn hóa Tuy nhiên, công trình chưa chỉ rõ đâu là tín ngưỡng dân gian và đâu là tín ngưỡng Phật giáo Chính vì vậy, qua công trình này chúng tôi chưa thấy được các giá trị văn hóa dân gian của người Khmer trên địa bàn mà

chúng tôi nghiên cứu

Nhìn chung tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Nam Bộ được các nhà nghiên cứu quan tâm Tùy vào mục đích nghiên cứu của từng công trình mà các tác giả khai thác ở những gốc độ và khía cạnh khác nhau Tuy vậy, chưa có một công trình nào bàn riêng về tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Cú Luận văn chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Cú

và sự biến đổi của nó trong đời sống đương đại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, luận văn hướng đến các mục đích sau:

- Làm nổi bật được các đặc điểm của tín ngưỡng dân dan Khmer trên địa bàn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Bước đầu so sánh với các tín ngưỡng tương đồng của người Kinh

- Chỉ ra được những tác động của đời sống đương đại và các xu hướng biến đổi của tín ngưỡng dân gian Khmer trong giai đoạn hiện nay ở huyện Trà Cú;

- Đưa ra những kiến nghị nhằm bảo tồn các giá trị của tín ngưỡng dân gian

Khmer ở địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ

cơ bản sau:

Trang 10

Thứ nhất: phân tích, làm rõ một số vấn đề lí luận về tín ngưỡng dân gian qua

đó nhận diện tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú

Thứ hai: làm rõ những đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng dân gian của người

Khmer ở Trà Cú bằng sự đối sánh với người Kinh ở đây, đồng thời phân tích những biến đổi trong tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú dưới sự tác động của cuộc sống đương đại

Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn

hóa cũng như tín ngưỡng dân gian của người Khmer huyện Trà Cú

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chọn tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh cũng như những biểu hiện biến đổi của nó trong đời sống ngày nay làm đối tượng nghiên cứu

ngưỡng cụ thể như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần và yêu quái,

tín ngưỡng vòng đời và tín ngưỡng nghề nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Trang 11

5.1 Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian

Luận văn của chúng tôi được thực hiện theo chuyên ngành văn hóa học, vì vậy phương pháp điền dã có vai trò chủ đạo Việc nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Cú nhằm mục đích nhận diện văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Khmer ở đây và sự tác động của xã hội đương đại đến nó Nói cách khác chúng tôi chọn hướng nghiên cứu cộng đồng người Khmer ở Trà Cú bằng cách tiếp cận từ gốc độ tín ngưỡng dân gian

5.2 Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử

Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu quá trình vận động và biến đổi các tín ngưỡng giá trị văn hóa truyền thống

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp, hệ thống

Luận văn nhằm làm sáng tỏ đặc điểm tín ngưỡng dân gian của người Khmer

ở huyện Trà Cú, do vậy, đây là nhóm phương pháp giúp chúng tôi nhận diện được tín ngưỡng dân gian của người Khmer so với người Kinh hay người Hoa trên địa bàn nghiên cứu

5.4 Vận dụng thao tác nghiên cứu liên ngành

Các thao tác nghiên cứu của Dân tộc học, Văn hóa học, Sử học, Nhân học và Văn học; các thao tác phân loại, quan sát tham dự, phỏng vấn cá nhân, chụp ảnh…

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về văn hóa tín ngưỡng và người Khmer ở huyện Trà Cú Chương 2: Đặc điểm tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú

Chương 3: Những xu hướng biến đổi của tín ngưỡng dân gian Khmer trong đời

sống đương đại

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG

VÀ NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ 1.1 Khái niệm về tín ngưỡng dân gian và văn hóa tín ngưỡng

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian

Hiện nay, các cách hiểu chưa thống nhất về khái niệm tín ngưỡng Chúng tôi xin lược thuật một số cách nêu khái niệm của các tác giả tiêu biểu sau:

Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa, tín ngưỡng là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo” [56, tr 1646] Cùng quan điểm này, tác giả Đào Duy Anh cho rằng, tín ngưỡng là “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1, tr 283] Tác giả Phạm Trường Khang và Hoàng Lê Minh cho rằng: “Tín ngưỡng

là lòng tin và sự ngưỡng vọng và một lực lượng siêu nhiên thần bí, vô hình, tác động đến đời sống tâm linh và được tôn thờ” [24, tr 344] Các tác giả chỉ ra rằng, Tín ngưỡng không chỉ có nguồn gốc lâu đời trong cuội nguồn văn hóa dân tộc, mà luôn là “lĩnh vực nhạy cảm gây nên nhiều cách đánh giá khác nhau” [24, tr 344] Tác giả Khai Đăng nhấn mạnh đến nguyên nhân ra đời của loại hình văn hóa này:

“Tín ngưỡng: Là một loại niềm tin Nó ra đời do trình độ nhận thức con người còn hạn chế Nhiều hiện tượng về tự nhiên, xã hội và về chính bản thân con người chưa thể lí giải, bên cạnh đó hiện thực cuộc sống còn nhiều đau khổ mà người xưa không thể thoát ra được, do vậy họ đã nghĩ ra tín ngưỡng để gửi gắm ước mơ và thỏa mãn nhu cầu nhận thức” [15, tr 6] Giáo sư Ngô Đức Thịnh đưa ra khái niệm cụ thể hơn:

“Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” [41, tr 16]

Trang 13

Tác giả Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo phân tích về tín ngưỡng dân gian như sau: “Từ xa xưa, con người cảm nhận thế giới qua những niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên đã hình dung ra thần thánh có sức mạnh diệu kỳ, mặc nhiên thống trị cuộc sống dân gian Niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ cúng, các nghi lễ, tập tục Tất cả những điều này làm nên tín ngưỡng dân gian” [25, tr 890 - 891] Có thể thấy, Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của

họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng

Nhìn chung, tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Các tác giả trên đều thống nhất ở một điểm, đó là niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên nào đó (có thể là tự nhiên hay con người) Ở khía cạnh này, tín ngưỡng giống với tôn giáo Tất nhiên, đa số tôn giáo đều có nguồn gốc từ một tín ngưỡng nào đó, nhưng không phải mọi tín ngưỡng đều trở thành tôn giáo (chẳng hạn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt) Nói cách khác, tín ngưỡng khi được quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, giáo đường, giáo luật, giáo dân… thì

đủ điều kiện trở thành tôn giáo Như vậy, trong tín ngưỡng sẽ có tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo Mặc dù rất khó bóc tách hai khái niệm này nhưng không thể đồng nhất nó là một, vì để trở thành tín ngưỡng tôn giáo cần qua một bước quy phạm hóa mà chúng tôi vừa nêu Nói như Nguyễn Hữu Thông, “Dù hiểu trên góc độ nào, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý” [42, tr 12]

Từ những lược thuật như trên, có thể hiểu, Tín ngưỡng dân gian là niềm tin

của quần chúng nhân dân vào một hiện tượng siêu nhiên chi phối đến cuộc sống của con người mà họ không thể làm chủ, giải thích được Từ đó các cá nhân và

Trang 14

cộng đồng cùng nhau qui ước thành niềm tin và tôn thờ với ước mong cuộc tốt đẹp hơn Về nguồn gốc nảy sinh là do sự tác động của thế giới tự nhiên đến con người

Về hình thức biểu tượng là do mỗi cộng đồng qui ước, về cách thức truyền đạt là do

dân gian truyền miệng Luận văn căn cứ vào ba đặc điểm này của tín ngưỡng dân

gian để khảo sát tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Cú

1.1.2 Khái niệm về văn hóa tín ngưỡng

Tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người Và như đã nói ở phần trên, cơ sở của nó là niềm tin vào sự tồn tại của các lực lượng siêu nhiên nằm ngoài giới hạn hiểu biết của con người hiện tại; là sự ngưỡng vọng vào cái thiêng mà con người không tri nhận được bằng cảm giác Đúng như Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhận định: “Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ” [41, tr 10] Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây

là niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, tức là “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại cùng với loài người, nó là nhân tố

cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần – tư tưởng, đời sống tình cảm,…

Có thể nói, bản thân các tôn giáo, tín ngưỡng là một hình thức văn hóa đặc thù Vì tín ngưỡng là môi trường nẩy sinh và nuôi dưỡng nhiều loại hình văn hóa dân gian khác Một hình thức tín ngưỡng nào đó trong quá trình hình thành và phát triển đã tích hợp được các giá trị văn hóa khác nhau (như di tích, lễ hội, các loại hình nghệ thuật diễn xướng khác…) gọi là văn hóa tín ngưỡng

Từ những căn cứ phân tích trên chúng tôi tạm đưa ra quan niệm về văn hóa

tín ngưỡng như sau: Văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần

và cách thức mà con người ngưỡng vọng và tôn thờ, là niềm tin của nhiều cá nhân trong cộng đồng về một lực lượng siêu nhiên, một quyền năng siêu phàm có ảnh

Trang 15

hưởng nhất định đến cộng đồng, cá nhân làm nên đặc trưng văn hóa của một cộng đồng dân tộc

1.2 Khái quát về người Khmer ở huyện Trà Cú

1.2.1 Vài nét về huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên, địa lý

Huyện Trà Cú nằm ở Tây nam của tỉnh Trà Vinh; phía Bắc giáp với huyện Tiểu Cần và huyện Châu Thành; phía Nam giáp với huyện Duyên hải; phía Tây giáp sông Hậu, ngăn cách với huyện Cù Lao Dung của tỉnh Sóc Trăng; phía Đông giáp với huyện Cầu Ngang Về hành chính, huyện có 19 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: An Quãng Hữu, Lưu Nghiệp Anh, Đại An, Đôn Châu, Đôn Xuân, Long Hiệp, Tân Hiệp, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên, Thanh Sơn, Kim Sơn, Tập Sơn, Tân Sơn, Phước Hưng, Định An, Hàm Giang, Hàm Tân và thị trấn Trà Cú, thị trấn Định An

Huyện Trà Cú rộng khoảng 36.000 hecta, cách tỉnh lỵ 34km đường bộ Trà

Cú mang đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển, cạnh dài nhất chạy dọc theo sông Hậu, chia thành hai vùng: Vùng ven sông và vùng ven biển đất thấp sình lầy, kênh rạch chằng chịt, phía trong cao hơn có nhiều giồng đất chạy theo hướng Đông – Tây Địa hình có độ cao trung bình phân bố từ 0,4 – 0,8m so với mực nước biển

Nhờ đường thủy: sông, kênh, rạch và sông theo ra cửa biển Định An nên việc giao lưu giữa Trà Cú với các nơi rất thuận lợi, có quan hệ kinh tế khắng khít, thường xuyên với các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ,… và nhiều nơi khác Nhưng về đường bộ chỉ có lộ 36 từ tỉnh lỵ qua Châu Thành đến Trà Cú dài 34km, rồi đi Duyên Hải, lộ 37 từ Trà Ôn, Cầu Kè đến Tiểu Cần, từ đó đi Tập Sơn, Trà Cú Ngoài

ra còn có 3 hương lộ và một số lộ nhỏ trên các giồng đất cát

Huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; nhiệt độ trung bình từ 24,9 – 320C; tổng lượng mưa trung bình trong năm đo được khoảng 1.900mm, phân bố không đều theo không gian và

Trang 16

thời gian, có xu hướng giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Những biến động phân bố của mưa thường gây rủi ro cho vụ lúa Hè Thu và lúa Mùa

Nhìn chung khí hậu huyện Trà Cú mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao ổn định, nắng và bức xạ mặt trời rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nếu có đủ nước ngọt và vốn đầu tư có thể làm thâm canh 2 – 3 vụ cây ngắn ngày trong năm, cho năng xuất cao Với điều kiện tự nhiên như trên đã tạo nhiều thuận lợi cho những cư dân nông nghiệp như người Khmer và người Việt phát triển sản xuất

1.2.1.2 Tình hình dân cư và lịch sử phát triển

Lịch sử hình thành và phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc – đa văn hóa Việt Nam Trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, người Khmer ở huyện Trà Cú đã gắn bó, đoàn kết với người Kinh, người Hoa cùng nhau chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền Tổ Quốc

Ban đầu người Khmer làm ruộng rẫy, làm vườn, trồng bông, trồng dâu, làm các nghề thủ công trên các giồng đất cao, sinh sống theo phum, sóc, có chùa cùng các lễ hội theo tập tục của người Khmer

Người Việt, người Hoa ở ven sông, ven biển làm vườn, làm ruộng nước, các nghề chày lưới, khai thác thủy sản, hải sản, làm các nghề thủ công, ngoài ra người Hoa còn buôn bán tập trung ở những nơi thị tứ Người Việt, người Hoa sống theo thôn, xã, xây chùa, lập miếu hội đồng (đình làng) làm nơi thờ thần, vui chơi những ngày lễ hội Nhưng rồi dần dần, tất cả các tộc người hòa nhập, sống xen kẽ với nhau, cùng lao động, cùng sinh hoạt hòa nhập thành “cộng đồng dân tộc”, tuy họ vẫn giữ truyền thống, tập tục văn hóa riêng

Dân số trung bình huyện Trà Cú năm 2010 là 176.940 người, chiếm 17,48% dân số toàn tỉnh (1.004.363 người) Trong đó đồng bào dân tộc Khmer chiếm tỉ lệ khác cao 61,80% dân số của toàn huyện Dân tộc Kinh chỉ chiếm 37,49%, phần còn lại là các thành phần dân tộc khác

Trang 17

Thời phong kiến nhà Nguyễn, vào thế kỷ thứ 18, huyện Trà Cú thuộc đất Trà Vang, tiền thân của tỉnh Trà Vinh, nằm trong dinh Vĩnh Trấn Lúc đó toàn Nam Bộ

có bốn dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Vĩnh Trấn, Long Hồ và Trấn Hà Tiên Sang đầu thế kỷ XIX, dinh Vĩnh Trấn đổi là Hoằng Trấn (1804), rồi trấn Vĩnh Thành (1808), bao gồm cả đất Vĩnh Long và An Giang

Năm 1832, Minh Mạng chia đất Nam Kỳ thành 6 tỉnh, gọi là “Nam kỳ lục tỉnh” Biên hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Trà Vinh là một huyện trong phủ Lạc Hóa của tỉnh Vĩnh Long

Khi thực dân Pháp xâm lược và đặt xong cơ quan cai trị, chúng chia Nam kỳ lục tỉnh thành 20 tỉnh, trong đó có Trà Vinh lập năm 1900 Trà cú là một quận của tỉnh Trà Vinh tồn tại cho đến Cách mạng tháng Tám 1945 Riêng đối với 3 tỉnh miền tây, còn gọi là miệt Hậu Giang, Pháp chia thành 11 tỉnh: Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long

Khi Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai, để tiến hành kháng chiến theo chỉ đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, cuối 1945 Nam Bộ được chia thành 3 chiến khu: 7, 8 và 9 Trà Vinh thuộc khu 8

Tháng 5 năm 1951, do nhu cầu của tình hình kháng chiến, Trung ương lại chia Nam Bộ thành hai phân liên khu: Đông Tây và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn Hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh nhập lại thành tỉnh Vĩnh Trà nằm trong phần liên khu miền Tây, lúc đó gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vỉnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà tồn tại cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp

Sau hiệp định Geneve, tháng 10 – 1954, chính phủ Trung ương đổi phân liên khu miền Tây thành liên khu Tỉnh ủy miền Tây

Cuối năm 1961 đầu 1962, quân khu 3 được thành lập, trong đó có tỉnh Trà Vinh, do đó huyện Trà Cú thuộc quân khu 3

Trang 18

Trong thời kháng chiến chống Mỹ, Ngô Đình Diệm chủ Trương cắt quận Vũng Liêm của tỉnh Vĩnh Long, quận Cầu Kè và Trà Ôn của Cần Thơ nhập vào Trà Vinh, đặt tên là tỉnh Vĩnh Bình, nhưng vẫn giữ nguyên tên quận Trà Cú

Trong quá trình lịch sử, tuy đất Trà Cú của tỉnh Trà Vinh lúc đó thuộc chiến khu 8, liên Tỉnh ủy miền Tây, khu 3 Nhưng vốn là vùng đất bản lề nằm dọc sát sông Hậu, quan hệ chặt chẽ với cả miền Đông – Tây Nam bộ Không kể thời xa xưa, đến cuối thời kỳ chống Pháp, Trà Cú có 11 xã, bao gồm cả Nhị Trường và Long Vĩnh Sang 1955 còn 9 xã Năm 1999 có 15 xã Hiện nay (2013) có 19 xã

1.2.2 Về người khmer ở huyện Trà Cú

1.2.2.1 Quá trình du nhập và sự phân bố dân cư

Từ nguồn tư liệu của những nhà nghiên cứu trước, chúng tôi ghi nhận được những căn cứ về lịch sử nhất định: Qua phân tích những cứ liệu lịch sử, nhóm tác giả Phạm Thị Hạnh – Lương Minh Hinh kết luận; “Sự phát triển của vùng đất Nam

Bộ nói chung, đất Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, đã có sự đóng góp của nhiều dân tộc Việt Nam, như : Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, Xtiêng, Mạ, là thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Khmer là cư dân nông nghiệp đã sinh sống lâu đời ở Đồng bằng sông Cửu Long” [17, tr 50 - 51]

Theo trang điện tử của Ủy ban Dân tộc: “Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hóa của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” [47] Trong quá trình nghiên cứu lịch sử hình thành người Khmer ở vùng đất An Giang khi điểm qua lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ, tác giả Trần Hoàng Vũ đã khẳng định:

“Đến thế kỷ thứ X, biển rút dần, những vùng đất lớn nổi lên ở vùng Sóc Trăng, Trà

Cú, Đồng Tháp Mười, Giồng Riềng,… biến vùng này thành vùng đất đai màu mỡ

Từ thế kỷ thứ XII, những người dân Khmer nghèo chống lại bóc lột hà khắc, nạn lao dịch của vua chúa và giai cấp phong kiến triều đại Angkor đã di cư đến vùng đất

trên ngày một đông” [54, tr 1] Không chỉ vậy, Trong công trình nghiên cứu “Văn

hóa Khmer trong quá trình giao lưu và phát triển ở Đồng bằng sông Cửu Long” tác

giả Đinh Văn Liêm đã khẳng định rằng “Vùng Trà Vinh – Trà Cú là một trong

Trang 19

những vùng cư trú xưa nhất của người Khmer của Đồng bằng sông Cửu Long” [49, tr 59]

Như vậy, từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, nguồn gốc của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long là những người dân của triều đại phong kiến Angkor, định cư tại vùng đất Trà Cú trước thế kỷ XII

1.2.2.2 Đời sống vật chất

Người Khmer phần lớn cư trú trên các giồng (dải đất phù sa chạy dài) hoặc

gò (phần đất nổi cao lên) Họ cư trú thành những cụm dân cư lớn nhỏ tùy thuộc vào diện tích của các giồng, gò Một số ít sống ven biển hay tại ruộng rẫy họ canh tác

Để tránh nước lên vào mùa nước đổ, nước lụt, diễn ra hằng năm khoảng tháng bảy

âm lịch kéo dài cho đến tháng mười, mười một, những cư dân có mặt sớm ở vùng đất này chọn ở những nơi cao ráo, có nhiều tán cây cổ thụ để tránh mưa, tránh nắng Người Khmer trước đây ở nhà sàn để tránh nước và tránh thú dữ, lâu dần trở thành tập quán của dân tộc Đặc điểm “nhà” (nhà sàn) là nét đặc trưng đầu tiên cần ghi nhận nơi đồng bào Khmer Tuy nhiên, do sự phát triển của thời đại và sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Ngày nay nhà ở của người Khmer ở huyện Trà Cú không còn thấy xuất hiện nhà sàn nữa mà chủ yếu là nhà lá hay nhà tường vôi hiện đại như người Kinh và người Hoa Họ không cứ trú tập trung trên những giồng cát mà có mặt khắp mọi nơi từ trung tâm huyện đến các vùng nông thôn hẻo lánh hay trên những cánh đồng lúa bạt ngàn

Người Khmer cư trú theo không gian phum, sóc Phum, sóc chỉ là không gian lớn nhỏ tương đối được hiểu trong cộng đồng, không có ranh giới hành chính dứt khoát về không gian như làng, xã Phum có trên dưới khoảng 50 hộ, sóc thường được hiểu lớn hơn Tuy đơn vị hành chính của huyện Trà Cú cũng là: Ấp, Xã, Huyện nhưng trong cộng đồng dân tộc Khmer vẫn còn giữ được ranh giới Phum, Sóc theo qui ước

Trang phục của người dân tộc Khmer nói chung và của người Khmer ở Trà

Cú nói riêng thường cầu kì và sặc sỡ hơn người Kinh Đặc trưng của họ là chiếc váy

Trang 20

“Xàm pốt” cho nữ và “xà rông” cho nam Đây là loại quần được quấn từ thắt lưng xuống đến ống chân, có nhiều hoa văn, họa tiết Người Khmer cũng có loại áo dài truyền thống như người Kinh nhưng không xẻ tà trước và sau, gọi là “Vêng” hoặc

“bầm pông” hay “tầm vông” dùng cho phụ nữ Nữ còn có nón đội hình tháp nhiều tầng (lốp) và cũng được trang trí rực rỡ Chiếc “khăn rằn” cũng là một đặc trưng trong trang phục của người Khmer và cũng là đặc trưng trong trang phục thường nhật của người Kinh Ngày nay về Trà Cú, những trang phục đặc trưng đó chỉ thấy xuất hiện trong những dịp biểu diễn hay trong trang phục lễ hội của người Khmer Trang phục ngày thường hay đi dự tiệc thì người Khmer ăn mặc giống như người Kinh

Sản xuất chính của người Khmer ở những phum, sóc ngày trước là trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và làm thủ công Họ thường trồng lúa, bắp, khoai và những loại rau màu ở những vùng đất thấp quanh giồng, gò Công cụ lao động phục vụ cho sản xuất của họ là: liềm, hái, nọc cấy, dao, phảng, trục, cày, bừa, cộ, gàu, đòn gánh, dùng trâu bò làm sức kéo Với công cụ lao động thô sơ, hiểu biết canh tác theo kiểu cha truyền con nối nên sản lượng còn thấp Ngày nay, người Khmer ở Trà Cú sống gần gũivới người Kinh nên đã giao lưu học hỏi và ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất và đạt năng xuất cao, nâng cao mức sống gia đình Trong sản xuất nông nghiệp của người Khmer hiện nay không khác gì so với người Kinh,

họ còn buôn bán, làm công nhân và có người cũng được học hành và làm công chức

Chăn nuôi trước đây của người Khmer mang tính gia đình, nhỏ lẻ, thường chọn hình thức thả rông, có làm chuồng trại thì tạm bợ, thô sơ để gia súc, gia cầm trú ngụ về đêm Vật nuôi chủ yếu là: trâu, bò, heo, gà, vịt,… Trâu bò dùng để làm sức kéo Cùng với sự phát triển của xã hội ý thức chăn nuôi của người Khmer ở Trà

Cú được nâng lên Họ đã làm chuồng trại kiên cố, không thả rông, biết xử lí chất thải chăn nuôi để bảo vệ môi trường và tăng hiệu quả kinh tế Những hộ chăn nuôi lớn được qui hoạch thành những trang trại và áp dụng khoa học kĩ thuật trong chăn nuôi Ngoài ra, Trà Cú là vùng đất có nhiều kênh rạch và giáp biển nên người

Trang 21

Khmer nơi đây còn biết đánh bắt thủy hải sản Họ sáng tạo ra nhiều công cụ cũng như hình thức đánh bắt: câu, lưới, nò, vó, đáy, chà, chài, lờ, lộp, đăng,…Người Khmer và người Kinh nơi đây cũng giao lưu học hỏi nhau trong việc đánh bắt thủy hải sản theo mùa và theo công cụ cũng như phương pháp đánh bắt

Về ẩm thực, cơ cấu bữa ăn của người Khmer ở đây cũng như của người Kinh gồm cơm – rau – cá – thịt Người Khmer biết khai thác rất nhiều món ăn dựa vào tự nhiên, ăn không hết thì phơi khô hay làm mắn Mắn bò hóc là một đặc sản của người Khmer Nam Bộ nói chung và người Khmer ở Trà Cú nói riêng Ngoài ra còn

có món canh xiêm lo, bún nước lèo, cốm dẹp,…

Phương tiện đi lại trên sông nước của người Khmer cũng tương tự như người Kinh: ghe, xuồng, vỏ lãi,… Ngày nay phương tiện đi lại trên sông hay trên bộ giữa người Khmer và người Kinh hầu như không phân biệt được Nhưng nếu vào các dịp

lễ hội có thể thấy “ghe ngo” - một phương tiện đi lại trên sông nước đặc trưng của người Khmer Ghe ngo cũng là biểu tượng cho tinh thần dân tộc cũng như niềm tin trong cộng đồng Ghe ngo chỉ được sử dụng trong dịp lễ hội đúng hơn là để thi tài trong phần hội

Nghề thủ công truyền thống của người Khmer như: đan đệm, giỏ, túi, tụng,… các nghề từ nguồn đất sét như: nắn bếp, nồi, ơ, chảo, nghề mộc như: đóng bàn ghế, giường, tủ, vật dụng gia đình Đặc biệt người Khmer ở Trà Cú ngày nay phát triển nghề điêu khắc trên các thân cây gỗ rất đẹp và tinh tế

Người Khmer còn có một bộ nhạc cụ rất độc đáo Trước hết cần nhắc đến là dàn nhạc ngũ âm Dàn nhạc này có âm lượng lớn, thường dùng trong các nghi lễ gồm năm bộ: bộ đồng, bộ gỗ, bộ sắt, bộ da, bộ hơi Dàn nhạc này có bốn bộ dụng cụ dùng dùi để đánh hoặc gõ, một bộ dùng hơi để thổi Ngoài ra người Khmer ở Trà

Cú còn có nhiều nhạc cụ dân tộc khác như: đôi “chập chã” (chùm chọe) được làm bằng kim loại sắt, đồng hoặc đồng pha, tiếng Khmer gọi là “Chhưng” dàn nhạc dây kiểu đàn nhị, tiếng Khmer gọi là “ Phlêng Khsè”, sáo trúc (Khloy), cặp phách tre

Trang 22

(trô – rô – lea), trống cổ bịt da trăn (Srôr phlênh),… và rất nhiều nhạc cụ độc tấu khác Nhưng hiện nay chỉ còn lưu giữ lại được một số các nhạc cụ tại các chùa

1.2.2.3 Đời sống tinh thần

Trong đời sống tinh thần, ngoài phục vụ nhu cầu cá nhân và cộng đồng người Khmer đã đóng góp cho kho tàng văn hóa Nam Bộ cũng như văn hóa Việt Nam những giá trị văn hóa rất sâu sắc

Về ngôn ngữ, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày trong cộng đồng dân tộc, người Khmer dùng ngôn ngữ riêng của dân tộc Khi giao tiếp với người Kinh hay người Hoa thì họ dùng tiếng Việt Ngày nay, do nhu cầu giao tiếp và học hỏi kinh nghiệm trong cuộc sống nên hầu như phần đông người Khmer ở Trà Cú đều biết nói tiếng Việt Ngoài ra nhiều từ ngữ chỉ vật dụng, công cụ, món ăn, thực vật mà người Kinh và người Hoa nơi đây quen gọi cũng bắt nguồn từ tiếng Khmer như: ghe ngo, tắc rán, cà rá, cà ràng, cà om, bồ hóc, xiêm lo, thốt nốt,… “Đặc biệt là lớp từ địa danh gắn với vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long Chẳng hạn, lớp từ địa danh có thành tố Sóc, Trà, Tà, Ô, Cà,… trong rất nhiều địa danh ở Nam Bộ” [43, tr 238] Trà Cú cũng là một địa danh có nguồn gốc từ đó

Về lễ tục dân gian của người Khmer ở Trà Cú có thể xếp ở những bình diện như:

Lễ tục vòng đời: lễ trả ơn mụ, lễ xúc hồn, lễ đi tu, lễ vào bóng mát, lễ cất nhà mới, lễ cưới, lễ chúc thọ, lễ tu thiền, lễ tang, lễ dâng phước, lễ giỗ, lễ cầu siêu, lễ đại cầu siêu, lễ ông bà (về các nghi lễ vòng đời, luận văn sẽ nói rõ hơn ở phần sau)

Lễ tục sinh hoạt: Tết đầu năm mới, lễ nhập thần, lễ cúng Neak Ta, lễ đút cốm dẹp, lễ cầu an

Lễ tục tôn giáo: Banh pi sac bôche, banh mec bôche, banh puthe phisec, lễ khánh thành chánh điện, lễ dâng áo cà sa, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ

Về văn hóa tâm linh người Khmer theo hai tôn giáo chính là Bà la môn giáo

và Phật giáo Đạo Bà la môn du nhập vào xã hội Đồng bằng sông Cửu Long nói

Trang 23

chung và cũng như cư dân Trà Cú nói riêng khi nền văn hóa bản địa chưa được định hình Ngày nay, tôn giáo này không còn tồn tại trong cộng đồng dân tộc Khmer ở nơi đây Đạo Bà la môn trong đồng bào Khmer ở Trà Cú còn tồn tại như một tàn dư

ở Trà Cú hiện tại không còn đền thờ, lễ nghi nào dành riêng cho đạo Bà la môn Tuy nhiên trong các truyền thuyết, truyện cổ dân gian, các vị thần Bà la môn được nhắc tới Tượng Linga, Yôni và những biểu tượng của Bà la môn vẫn còn tìm thấy ở một

số chùa, được đặt ở nơi trang nghiêm như trước chánh điện, chứng tỏ tôn giáo này một giai đoạn lịch sử đã được cộng đồng tin tưởng Dân tộc Khmer ở Trà Cú theo đạo phật Nam Tông Ngôi chùa là nơi linh thiêng, chỗ dựa tinh thần và nơi sinh hoạt cộng đồng của dân tộc

Âm nhạc của người Khmer ở huyện Trà Cú rất đang dạng và phong phú: sân khấu Rôbăm, Yukê, múa Ram Vong, Lâm lêv, Saravan, các làng điệu dân ca như: hát Aday, Chahay Yam, hát ru con,…và nhiều hình thức nhạc cổ với các làm điệu: Alê, Chôl Chhung, Khan Bẩm, Peak Brambei, Peak Brampil, Sâm-pông,…Trà Cú được xem như là cái nôi của hát Yukê của người Khmer Yukê của nggười Khmer còn gọi là kịch hát vùng Bassac (sông Hậu) là loại hình kịch hát có sự “tiếp thu” tổng hợp từ sân khấu Rôbăm đã được dân gian hóa kết hợp với hát Tiều, hát Quảng của người Hoa với hát Bội, hát cải lương của người Kinh Đề tài lấy từ kinh, truyền thuyết Ấn Độ, nhưng cũng có nhiều vở diễn mang tính dân tộc như: Thạch Sanh chém chằn, Tam Tạng thỉnh kinh, Tấm Cám,… Nhận định Yukê, Nguyễn Mạnh Cường cho rằng: “Hầu hết các vở tuồng Yukê thấm nhuần tính chân lý, đề cao quan điểm “ở hiền gặp lành”, thể hiện rõ giá trị nhân bản và tính nhân văn của một cộng đồng người với tâm thế luôn luôn hướng thiện,” [9, tr 153] Tuy nhiên, do ảnh hưởng của âm nhạc thời đại và sự giao lưu văn hóa của các dân tộc Sân khấu Yukê của người Khmer ở huyện Trà Cú hiện nay không còn được phát triển mạnh như trước Các thế hệ trẻ của người Khmer cũng ít quan tâm đến loại hình âm nhạc đặc sắc này của dân tộc

Người Khmer ở Trà Cú cũng như dân tộc Khmer nói chung rất thích múa, nhất là múa dân gian và hầu như người Khmer nào ở đây cũng biết múa Nghệ thuật

Trang 24

múa của họ được quan niệm là những vũ điệu nhà trời do các tiên nữ truyền lại Cho nên những động tác, bước đi, dáng đứng trong các điệu múa mang nhiều yếu tố nghi

lễ tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, qua động tác múa người xem vẫn cảm nhận được những biểu hiện tình cảm con người, sự tái hiện những hoạt động lao động trong cuộc sống thường nhật Trong sinh hoạt tập thể của người Khmer, có ba điệu múa “Ram Vong, Lâm lêv, Saravan” gần như người khmer nào cũng biết khi có điều kiện sinh hoạt chung với nhau, mọi người đều ra sân múa và họ tự múa lần lượt

ba điệu múa này

Trong lĩnh vực văn học, Người Khmer Trà Cú còn lưu giữ rất nhiều chuyện lịch sử, các truyện kể nhằm giải thích các địa danh, chuyện cổ tích, các bài văn vần liên quan đến lao động sản xuất, nghề nghiệp, tình yêu nam nữ,… Nhìn chung, kho tàng văn học dân gian của người Khmer ở Trà Cú cũng phong phú đa dạng cả nội dung và hình thức Về hình thức, văn học dân gian có đủ các thể loại văn vần và văn xuôi như: thơ ca (Cầmnap), tục ngữ (Sopheasất), câu đố (Peak Bầnđau), lời hát (Châmriêng), truyện thần thoại (Rương Bôram), truyện cổ tích (Rương Prêng),… Hầu hết các tác phẩm văn học nghệ thuật được lưu giữ tại các chùa của người khmer Trong đó hai chùa lưu giữ nhiều nhất là chùa Nodol (chùa Giồng Lớn) và chùa Cò

Văn vần của người Khmer có các thể loại như: hát lao động sản xuất; hát nhổ

mạ, cấy lúa, giã gạo, kéo chài , có các làn điệu hò cấy lúa, đua thuyền, kéo dây…, hát nghề nghiệp có các bài; hát nghề gốm, nghề mộc, hát phong tục lễ nghi có các bài: hát mở cổng rào, cắt bông cau, hát đối đáp nam nữ có hát huê tình Ngoài ra còn có các bài cách ngôn, ngụ ngôn, đồng dao

Kho tàng văn học dân gian người Khmer ở Trà Cú còn lưu giữ nhiều truyện

cổ tích, thần thoại Cổ tích là truyện có số lượng lớn, đề tài phong phú gắn liền với đời sống xã hội, chế độ vua chúa, quan lại Một số truyện đề cập tới nếp sống gia đình như: tình mẫu tử, lòng hiếu thảo Một số truyện đề cập tới tài trí thông minh,

sự linh hoạt của những người nghèo khổ, thấp cổ bé miệng Một số truyện ngụ ngôn

Trang 25

răn dạy con người lối sống ở đời Ngoài ra, còn có một số truyện gắn với tôn giáo:

Bà la môn giáo, Phật giáo Truyện thần thoại của người Khmer hầu hết được ghi lên

lá buông (sách Săntra)

Nhìn chung, đời sống vật chất và tinh thần của người dân Khmer ở huyện Trà

Cú khá phong phú Họ có đầy đủ các loại hình văn hóa dân gian của người Khmer ở Nam Bộ nói chung Các loại hình văn hóa và tín ngưỡng dân gian này luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây Tuy vậy, trong mối quan hệ giao thoa và tiếp biến văn hóa trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, một số loại hình văn hóa, tín ngưỡng đang có những xu hướng biến đổi khác nhau Luận văn sẽ đề cập đến các vấn đề này ở chương 3

Trang 26

Chương 2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ

Tín ngưỡng dân gian là niềm tin của một cộng đồng về thế giới thiêng song

song với cuộc sống con người Mỗi cộng đồng tin vào những vị thần, ma quỉ khác nhau, cách thức thực hành nghi lễ khác nhau nên sắc thái tín ngưỡng dân gian mang dấu ấn đặc trưng của mỗi dân tộc Nhưng nhìn chung, tín ngưỡng dân gian luôn đặt

ra vấn đề lợi ích cho cá nhân và cộng đồng khi thực hành nghi lễ Tín ngưỡng dân gian gắn với cuộc đời con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi và cả khi đang tồn tại

ở thế giới bên kia Chính vì vậy, luận văn tập trung khảo sát các khía cạnh của tín

ngưỡng dân gian như: Thờ cúng tổ tiên, thờ thần và yêu quái, nghi lễ vòng đời, tín ngưỡng nghề nghiệp Cùng với việc đặt tín ngưỡng dân gian của người Khmer trong

sự đối sánh với tín ngưỡng dân gian của người Kinh tại địa bàn chúng tôi làm sáng

tỏ những khác biệt mang đặc trưng riêng trong tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở huyện Trà Cú

2.1 Thờ cúng tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên là một hình thức tín ngưỡng có từ cổ xưa và phổ biến ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới Tuy nhiên, vai trò và ý nghĩa của hình thức tín ngưỡng này đối với hệ giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, tộc người là không giống nhau Riêng đối với người Việt Nam, hình thức thờ cúng tổ tiên không chỉ là một loại hình mang tính phổ quát mà còn có một vị trí đặc biệt trong văn hóa dân tộc, và từ lâu đã trở thành một đạo lý, tập tục, góp phần tạo ra những giá trị đạo đức truyền thống như lòng hiếu thảo, tình nhân ái, tính cộng đồng, lòng biết ơn, lòng yêu nước

Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn, “Đạo thờ cúng Tổ tiên theo nghĩa rộng không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyết thống mà thờ cả những người có công với cộng đồng, làng xã và đất nước” [48, tr.315] Như vậy, “tổ tiên” không chỉ là những người có cùng chung quyết thống mà còn có cả những người có công với cộng đồng xung quanh như thần

Trang 27

Thành Hoàng, các vị nhân thần được suy tôn Theo quan niệm trên, chúng tôi tạm chia tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra thành 3 cấp: gia đình, làng xã, đất nước Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh có thể nhận thấy rất rõ điều này Ở cấp

độ gia đình, người Việt thờ cúng ông bà cha mẹ,… là những người cùng huyết thống đã chết Đã là người Việt, dù sang hèn, hay nghèo giàu khác nhau ai cũng thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên của mình Đây không chỉ là vấn đề tín ngưỡng mà còn

là vấn đề đạo lý, phản ánh lòng biết ơn của con cháu đối với công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên Ở cấp độ làng xã, người Việt thờ cúng những người

có công với làng xã và được tôn vinh là Thành Hoàng Ở cấp độ Nhà nước, người Việt thờ những người có công với đất nước, Tổ quốc như Các vua Hùng, thánh Gióng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chủ Tịch,…

Về nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có thể nói sơ khai nhất là từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh, nghĩa là khi con người tin vào các sự vật có linh hồn Các tín ngưỡng tô tem được hình thành Có thể xem đây là dạng thờ cúng tổ tiên tô tem rồi dần chuyển sang thờ cúng tổ tiên là những con người thực cùng chung dòng máu Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn được hình thành bởi nhiều yếu tố khác như nhận thức của con người về phần hồn và phần xác, cõi âm và cõi dương, tâm lí sợ hãi, sự biết ơn, kính trọng Ngoài ra, tư tưởng của các tôn giáo cũng ảnh hưởng rất lớn đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đặc biệt là Phật giáo

Là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt, người Khmer nói chung và người Khmer ở Trà Cú nói riêng cũng có tục thờ cúng tổ tiên Bên cạnh những hình thức biểu hiện giống với người Kinh, tục thờ cúng tổ tiên của người Khmer có những nét khác biệt mang đậm sắc thái văn hóa riêng Người khmer ngoài thờ ông

bà trong dòng họ huyết thống, họ còn thờ những người được tôn kính trong phum, sóc của họ Theo thực tế của chúng tôi, đối tượng được người Khmer tôn kính ngoài những người có quan hệ huyết thông là các vị sư Cả (trụ trì chùa) đã gắn bó với phum, sóc từ rất lâu đời, người có công đóng góp xây dựng phát triển ngôi chùa, phát triển phum, sóc Trong một ngôi chùa có thể trải qua nhiều đời sư Cả khác nhau, nhưng không nhất thiết là vị sư Cả đầu tiên được tôn thờ Người nào có công

Trang 28

đóng góp phát triển cộng đồng đặc biệt là đời sống tinh thần của Phật giáo Nam Tông thì sẽ được những gia đình trong phum, sóc thờ cúng Thờ cúng vị sư Cả nào thì họ thỉnh ảnh của vị ấy từ chùa về để làm “biểu tượng thờ” Như vậy, xét về mặt mục đích tôn vinh đối tượng thờ cúng, Người Khmer thờ các vị sư Cả tương đương với người Việt thờ các vị Thành Hoàng ở cấp làng, xã Trong thờ cúng tổ tiên của người Việt, những người có quan hệ huyết thống là người đối tượng được ưu tiên Bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa sau đó đến các vị có công với cộng đồng đặt gian hai bên hoặc được đặt cùng với bàn thờ tổ tiên Nhưng người Khmer thì khác, bàn thờ

tổ tiên sẽ được xếp theo thứ tự nhất định Nếu xét không gian thời cúng theo phương thẳng đứng thì bàn không gian thờ sẽ được bố trí theo sơ đồ:

Phật

↓ Các vị sư cả

↓ Các vị tổ tiên có quan hệ huyết thống Nếu theo phương ngang, lấy gian giữa của ngôi nhà làm trung tâm, cách bố trí không gian thờ sẽ theo sơ đồ:

Các vị tổ tiên có quan hệ huyết thống ← Phật → Các vị sư cả

Theo phương ngang, tùy mỗi gia đình có thể thay đổi vị trí thờ của hai bên nhưng vị trí ở giữa là không thay đổi

Trong khi đó bàn thờ tổ tiên của người Việt ở đây rất ít xếp theo phương thẳng đứng mà xếp theo phương ngang theo sơ đồ:

Phật ← Các vị tổ tiên có quan hệ huyết thống → Các vị có công với cộng đồng

Người Kinh cũng linh hoạt thay đổi vị trí của hai bên nhưng vị trí ở giữa vẫn

ưu tiên cho những vị tổ tiên có quan hệ huyết thống

Trang 29

Như vậy có thể thấy, về đối tượng thờ thì người Kinh và người Khmer ở huyện Trà Cú có sự tương đồng với nhau nhưng trong tâm thức của mỗi dân tộc thì

vị trí của đối tượng được thờ cúng hoàn toàn khác nhau Dấu ấn của Phật giáo được đặt ở vị trí cao nhất trong tâm thức thờ cúng tổ tiên của người Khmer Trong khi đó, dấu ấn gia đình, dòng tộc chiếm vị trí quan trọng trong thờ cúng tổ tiên của người Việt Nếu lấy gia đình làm cá nhân, làng xã, quốc gia làm cộng đồng thì trong quan niệm thờ cúng tổ tiên của người Khmer mang đậm tính cộng đồng Người Kinh thì ngược lại Người Khmer không thờ cúng tổ tiên mang tính chất cấp Nhà nước như người Việt Thờ sư cả là cao nhất trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Người Khmer

di cư đến với vùng đất Trà Cú là cư dân không chịu được ách bóc lột của triều đại Angkor, nguồn gốc tổ tiên cấp Nhà nước để lại ấn tương không tích cực trong tâm thức họ Khi đến vùng đất mới, họ tự đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại Khi Phật giáo du nhập, ngôi chùa là cơ sở cố kết cộng đồng, các vị sư cả là người giữ vai trò lớn nhất trong ngôi chùa và trở thành lãnh đạo cao nhất trong cộng đồng người Khmer lúc sơ khai Do đó, người Khmer thờ các vị sư cả trong tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên vừa mang vai trò cấp lãng xã cũng như cấp Nhà nước

Sở dĩ người Khmer đề cao vị trí của Phật giáo trong thờ cúng tổ tiên là một vấn đề hợp lý vì họ quan niệm rằng, khi con người chết sẽ tìm đến nơi Phật ngự trị

để đảnh lễ, tro cốt của người thân sau khi để ở nhà một thời gian sẽ mang gửi vào chùa để ông bà nương nhờ cửa Phật ngày đêm nghe được lời kinh, tiếng kệ, được sự che chở của Phật Trong khi đó, người Kinh quan niệm sau khi chết đi sẽ về nơi chín suối, được gặp ông bà đã đi trước Người Kinh thờ ông bà tổ tiên qua nhiều nhiều đời, nếu lâu quá các thế hệ sau không nhớ hết thì lập bàn thờ họ Đối với người Khmer, Phật giáo không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại mà còn là nơi nương tựa khi con người về với cõi vĩnh hằng

Về hình thức thờ cúng, trong năm người Kinh tổ chức cúng giỗ cho ông bà vào ngày họ qua đời Lễ giỗ được tổ chức trong hai ngày, ngày thứ nhất gia đình chuẩn bị lễ vật và cúng một mân cơm chung cho tất cả ông bà tổ tiên, ngày thứ hai

là ngày giỗ chính trùng với ngày mất của vị tổ tiên đã khuất Ngoài ra, người Kinh

Trang 30

quan niệm ông bà luôn hiện hữu bên cạnh họ, cùng chia sẽ vui buồn Chính vì vậy, mỗi khi có lễ cúng giỗ thì khấn mời tất cả mọi người trong dòng họ tổ tiên đã khuất, khi có dịp cưới, hỏi đều làm mâm cơm mời ông bà về chung vui, lễ tết thì tảo mộ mời ông bà về ăn tết cầu ông bà phù hộ con cháu mạnh khỏe, gia đình êm ấm, sung túc Trong khi đó, mỗi năm người Khmer tổ chức một lễ cúng ông bà trong ba ngày gọi là lễ Đôlta

Lễ Đôlta (lễ ông bà) là một trong 3 lễ lớn trong năm của đồng bào Khmer huyện Trà Cú Lễ này nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ ông bà và cầu phúc cho linh hồn những người đã chết trong gia đình, dòng họ Lễ Đôlta bắt nguồn từ sự tích trong kinh điển Phật giáo: “92 kiếp trước, có hai Đức Phật ra đời, là Đức Phật Tessa

và Phật Bôssa Phụ thân Đức Phật là quốc vương Mahinta Quốc vương này còn có

3 vị hoàng nam nữa Một hôm ba vị hoàng nam xin phụ vương đi cúng dường người anh cả tức Đức Phật Bôssa và 90.000 sư sãi, là bồ đề đệ tử của người, trong thời gian 3 tháng Được phụ vương chấp thuận 3 vị hoàng nam bèn giao việc chăm sóc cúng dường cho viên thư kí là người giữ kho, còn 3 vị trong thời gian này cũng xuất gia đầu Phật Viên thư ký là người thủ kho phải huy động hàng ngàn người đầu bếp

lo việc nấu nướng Việc cúng dường do người đầu bếp này đảm nhận ngày càng bê trễ và thiếu thốn, do họ ăn cắp, san sẻ để dành cho con cái, họ hàng, cho nên có lúc

sư sãi bị bỏ đói Những tên đầu bếp này khi chết đi đều đầu thai làm quỷ ở cõi âm Riêng viên thủ kho thành ông phú hộ còn viên thư ký thành Quốc Vương Pinh-pis-sara Một hôm, vào lúc đêm khuya vắng, tại Hoàng cung của vua Pinh-pis-sara bỗng vang lên tiếng gào khóc thảm thiết và tiếng kêu xin: “Hãy cho chúng tôi ăn, cho chúng tôi uống, chúng tôi đói khát lắm”

Nhà vua sợ hãy bèn truyền lệnh triệu tập các nhà tiên tri trong triều đình đến hỏi xem việc gì Các nhà tiên tri đều cho rằng: “đó là bọn ma quỉ đói khát đến xin

ăn Nhà vua phải làm lễ cúng tế” Quốc vương mới ngự giá đến chùa thỉnh ý Đức Phật Thích Ca Ngài phán rằng: “Đó là những đầu bếp thành quỉ cõi âm, phải nhịn

ăn, nhịn uống, đến nay là 92 kiếp Nay biết ngài là chủ của họ, nên họ đến đòi ăn Vậy ngài nên cúng dường, dâng cơm cho các tu sĩ, nhờ ân đức và lời kinh của các vị

Trang 31

này chuyển phước đến bọn quỷ đó” Nhà vua vâng ý Đức Phật Bọn quỷ được ăn uống no nê, được đầu thai kiếp khác sau khi chịu hình phạt về những tội mà chúng

đã làm ở kiếp trước” [7, tr 53-54] Theo sự tích trên, người Khmer tổ chức lễ Đôlta hàng năm với mục đích nhờ sư sãi tụng kinh cầu phước cho các thân nhân quá vãng được đầu thai kiếp khác sung sướng hơn Lễ được tổ chức một lần trong năm từ ngày 29/8 đến ngày 1/9 âm lịch, nhằm mục đích tụng kinh cầu siêu, cầu phước cho linh hồn thân nhân quá vãng Trong đó:

Ngày thứ nhất: Mỗi gia đình đều dọn dẹp bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên, trải

chiếu, mùng, mềm, gối mới lên giường, sắp một bộ quần áo mới, trà, bánh, trái cây

ít hay nhiều tùy thuộc gia đình Xong xuôi, họ dọn một mâm cơm ngon, bới bốn chén cơm, đốt đèn, nhang, rồi mời họ hàng, bà con lối xóm lại cùng cúng Họ khấn vái mời linh hồn những người trong họ hàng đã quá vãng về nhà ăn uống nghỉ ngơi Đến chiều, họ lại cúng ông bà rồi chuẩn bị một ít lễ vật, mời linh hồn ông bà cùng

đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh nhận phước và xem múa hát

Ngày thứ hai: Sau một đêm và một ngày ở chùa; đến chiều họ đưa linh hồn

ông bà về nhà Họ cũng làm mâm cơm cúng mời ông bà ăn và xin ông bà ở chơi với con cháu một đêm nữa

Ngày thứ ba: Mỗi gia đình lại sắp xếp dọn thức ăn bánh trái như ngày đầu,

bới bốn chén cơm rồi mời bà con, hàng xóm lại cúng phụ Khấn đủ ba lần, họ bới cơm, gắp đồ ăn bỏ vào chén sau đó đổ vào thuyền hoặc tàu buồm mà họ đã làm bằng bẹ chuối, mo cau để ông bà đem theo ăn dọc đường cho đến khi về nơi cũ Xong xuôi, họ đem thuyền này thả trên sông hoặc mương rạch gần nhà, mời anh em

bà con dùng cơm tạo không khí vui chơi cho đến chiều hoặc tối thì kết thúc buổi lễ Ngày này, nhiều nhà còn mời ông lục đến tụng kinh để linh hồn ông bà được sớm siêu thoát

Qua thời gian và các lễ thức nêu trên có thể thấy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Khmer luôn gắn với sinh hoạt Phật giáo Nói đúng hơn, nguồn gốc và mục đích trong việc cúng tổ tiên cũng xuất phát và bị ảnh hưởng từ Phật giáo Qua

Trang 32

đây, cho thấy nét tương đồng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Kinh và người Khmer là quan niệm về cái chết Chết không phải là hết mà là đi về một thế giới vô hình khác, ở đó những người thân (ông bà, tổ tiên) cũng có đời sống của họ Tuy nhiên, quan niệm về thế giới vô hình của người Kinh và người Khmer không giống nhau: Người Kinh tin rằng ông bà tổ tiên luôn hiện hữu quanh mình có khả năng phù hộ cho con cháu đang sống, thờ cúng tổ tiên là trách nhiệm là bổn phận nhằm thể hiện lòng hiếu thảo, kính yêu, làm vui lòng họ và cầu mong cuộc sống an lành được tổ tiên ban phát Trong khi đó, người Khmer quan niệm thờ cúng tổ tiên không ảnh hưởng đến cuộc sống thực tế bởi họ cho rằng tổ tiên còn tồn tại thế giới khác nhưng không có nghĩa là có sự liên hệ ràng buộc giữa người sống và người chết, linh hồn của tổ tiên không thể phù hộ cho họ điều gì họ mong muốn nên tổ chức lễ Đôlta nhằm nhờ ơn Đức Phật cầu phước cho vong linh người quá cố được siêu thoát đầu thai kiếp khác chứ không phải để van vái, cầu mong ở người chết một điều gì như người Kinh và các dân tộc khác

Chúng tôi nhận thấy, tuy có cùng chung một loại hình tín ngưỡng, xuất phát điểm giống nhau nhưng quan niệm khác nhau sẽ tạo ra hình thức và phương thức thực hiện lễ nghi khác nhau Có thể những hoàn cảnh lịch sử riêng của tộc người đã tạo nên điều này Người Khmer đến vùng đất Trà Cú bằng tâm lí từ bỏ triều đại Angkor, xây dựng cuộc sống mới, Phật giáo là niềm tin bám víu duy nhất, triều đại Angkor làm họ không còn niềm tin vào những nhà nước hiện hữu - những con người có quyền lực quyết định đời sống của họ Gửi niềm tin vào đức Phật là cách

củng cố tinh thần của họ Trong khi đó, người Việt thực hiện quá trình Nam tiến

bằng tâm lí mang văn hóa vào vùng đất mới để phát triển cộng đồng nên những giá trị văn hóa sơ khai càng được củng cố để truyền bá Đây là một trong những nguyên

nhân tạo nên đặc điểm riêng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của hai dân tộc Cũng

chính nhờ sự khác nhau này đã tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và đó là một trong những căn cứ khi cần phân biệt dân tộc này với dân tộc khác

Trang 33

2.2 Tín ngưỡng thờ thần, yêu quái

Trong quan niệm chung của người Việt, thần, quỷ, yêu quái… là những lực lượng có khả năng siêu nhiên, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của con

người Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Yêu ma, ma quỷ, yêu quái; thường dùng để

ví kẻ độc ác, ranh mãnh [56, tr 1169]; Yêu quái: Quái vật làm hại người, thường dùng để ví kẻ độc ác, mất hết tính người [56, tr 1169]; Yêu tinh: Vật tưởng tượng theo mê tín, hình thù kỳ quái, có nhiều phép thuật và độc ác: con yêu tinh ăn thịt

người, độc ác như yêu tinh [56, tr 1169] Theo Nguyễn Duy Hinh, “Thần, Thánh, Tiên, Phật là những khái niệm đồng đẳng, chỉ những hình thái khác nhau của cái tích cực, biểu tượng cho ước vọng đẹp của con người” [19, tr 21] Như vậy, giữa Yêu quái, Ma, Quỷ và Thần Thánh, Tiên Phật khác nhau về tính chất Nói đúng hơn đây là hai thế lực đối ứng nhau trong niềm tin và tín ngưỡng của nhân dân Đúng như Nguyễn Duy Hinh đã nhận định: “Thần khái quát phiếm chỉ cái thiêng tích cực, quỉ chỉ cái thiêng tiêu cực không xuất phát từ hồn phách con người mà là loại tinh linh vạn vật nên hay dùng khái niệm tinh hay hồ li tinh, ngư tinh, mộc tinh” Tuy nhiên, “Thần là cái thiêng vô hình biến hóa khôn lường có thể thiện có thể ác tùy thái độ của con người đối xử với thần Kính thì thiện, bất kính thì ác Thần không thiện, ác; thiện hay ác không ở bản thân thần mà ở lòng người” [19, tr 29]

Vậy, thần hay yêu quái chỉ là sự nhị phân cái Thiêng dẫn đến hình thành tín ngưỡng Thần và yêu quái đều là cái Thiêng không xác định mà tùy thuộc vào quan niệm suy tôn của con người Thần tự nhiên như: Thần Sấm, Thần cây, nhân thần như các vị Thành Hoàng Con người thờ cúng cả thần và yêu quái để cầu mong một cuộc sống yên bình hạnh phúc Trường hợp luận văn trình bày sau đây không nằm ngoài loại hình đó

2.2.1 Tín ngưỡng thờ cúng Neak Ta (ông Tà)

Có nhiều quan niệm khác nhau về tín ngưỡng Neak Ta Tác giả Thạch Voi cho rằng: “Neak Ta hoặc có tên tượng trưng bằng vật linh (tên con vật) hoặc có tên của thực vật, địa lý: “Sâm rông, Đơm Chreay), đó là cây trôm và cây đa, (Neak Ta

Trang 34

bến đò, Neak Ta giếng vẹo, Neak Ta Bến Bình an…) đó là những tên địa lý chỉ núi, sông…hay Neat Ta có tên tượng trưng bằng tên người: (Neak Ta Krâhâmkâ) Cổ đỏ,

do sự tích những người thắt cổ tự tử tại đó” [33, tr 49-59] Như vậy, Neak Ta có thể

là nhân thần và thần thiên nhiên Phải chăng đó là sự suy tôn về vị thần này trong quá trình phát triển của dân tộc Khmer và do ảnh hưởng của Phật giáo? Theo chúng tôi, khi người Khmer nhị phân thế giới thiêng thì Neak Ta là vị thần thiên nhiên Bởi lẽ, Mục đích người Khmer cúng Neak Ta là để cầu mưa, nghi thức cúng cũng gắn bó với cuộc sống nông nghiệp

Họ đến miếu thờ Neak Ta để làm lễ xin nước mưa Lễ vật cúng thường là đầu heo, gà, vịt luộc, rượu,… để cúng Neak Ta, thổ thần và cả ma quỉ ngoài đồng là con cháu của Neak Ta Họ cho rằng các ma quỉ ăn uống xong sẽ dẫn nhau đi bảo vệ ruộng rẫy cho họ

Vào lễ, xuất phát từ cửa nhà Neak Ta, họ đi vòng quanh nhà ông ba vòng theo chiều kim đồng hồ tượng trưng cho sự xin nước mưa Đi đầu là người chủ lễ,

kế đó mọi người đi tự do, không phải theo thứ tự Sau đó họ kéo đến bàn thờ Neak

Ta đốt nhang, cầu khấn ông bảo hộ cho xóm làng được yên vui, mạnh khỏe, giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi Trong lúc làm lễ, họ dùng nhạc và lời hát để mời các vị thần đến dự

Sau khi cúng, họ tổ chức bơi ghe ngo trên cạn gọi là um tuk lơ kôk Nhà nào

có xuồng thì họ đem ra bơi và vừa đánh cồng vừa hát Buổi lễ kết thúc ở đây

Nếu làm lễ trên đây rồi mà cuối mùa hạ năm ấy không mưa, họ tiếp tục làm một lễ nữa gọi là Bon sâum tưk phliêng (lễ xin nước mưa) Họ đưa mười nhà sư ra đứng phơi nắng tụng kinh để động lòng trời; bên cạnh họ để một con cá lóc vào cái thao khô, hoặc vào một hố đất khô để ông trời thấy con cá cũng như nông dân cần nước mưa để sống và làm ruộng nên ban nước mưa Sự tích này cũng có nguồn gốc

từ Phật giáo Kinh Sôphôntô có nói con cá lóc là tiền thân của Đức Phật Thích Ca, trong các kiếp luân hồi, sống trong một hồ thật lớn tên là Anôttah Từ khi người sinh ra không bao giờ sát sanh, chỉ biết ăn rong rêu và cây cỏ mọc để sống Qua thời

Trang 35

gian hạn hán 12 năm, mọi nơi đều khô cạn kể cả hồ Anôttah Mọi người và sinh vật như tôm tép, cá đều chết hết, muôn vạn tai họa đưa đến thật khủng khiếp Cá lóc bèn suy ngẫm: “Ta đây, từ sinh ra đến giờ chưa làm hại ai, chỉ biết trầm tư mặt niệm làm lành tránh dữ, tại sao trời lại sát hại muôn loài và sát hại cả thân ta” – nghĩ vậy

cá bèn chui đầu lên khỏi bùn và kêu trời “Thưa Ngọc hoàng; Ngọc hoàng có thấy thế gian đau khổ chăng? Ta đây 12 năm tu tâm tham thiền hầu kiếp sau đắc đạo cứu chúng sanh Vậy giờ đây, ta kêu gọi Ngài hãy cứu muôn loài dưới thế gian này bằng cách ban cho những giọt mưa lành” Tiếng kêu động đến trời Ngọc hoàng nhìn xuống thấy cá lóc đúng là hiện thân của Thích Ca Mâu Ni tương lai, nên ban mưa xuống cứu thế gian và muôn loài

Nghi lễ cúng Neak Ta có sự ảnh hưởng của truyền thuyết Phật giáo nhưng cũng để thỏa mãn mục đích cầu được nước mưa Mặt khác, thời gian tổ chức lễ cúng Neak Ta là trong tháng 4 âm lịch, đây là khoảng thời gian cuối mùa nắng ở Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng bằng sông Cửu Long có hai mùa, mùa nắng từ tháng 11 đến cuối tháng 4 âm lịch) Việc tổ chức lễ cúng Neak Ta như một sự nhắc nhở và cầu mong Neak Ta ban mưa để làm ruộng rẫy Hơn nữa, biểu tượng thờ Neak Ta là một hoặc vài hòn đá to, nhỏ, hình bầu dục, mặt nhẵn bóng, là vật chất gắn với mặt đất và con người nông nghiệp Theo chúng tôi chính nhờ biểu tượng thờ nên trong quá trình phát triển dân cư đã có nhiều Neak Ta và nhiều vai trò của Neak Ta hơn Trong quá trình sinh sống và càng lúc có nhiều phum, sóc Mỗi phum, sóc có ranh giới nhất định nên phải hình thành cho cộng đồng mình một Neak Ta để cai quản, trong coi cộng đồng Đến đây Neak Ta gần như vị thổ công của người Kinh Tùy theo phạm vị ảnh hưởng là một vùng nhiều phum, hoặc một phum, sóc, xóm, rạch mà Neak Ta được phân thành đẳng cấp cao thấp khác nhau

Sự phân biệt đẳng cấp của Neak Ta dễ thấy ở giá trị vật cúng Nếu Neak Ta “Nokăs Srok” (ông Tà chủ sóc) thì cúng bằng đầu heo, Neak Ta xóm, rạch thì cúng bằng gà vịt Ngoài ra tập thể hay cá nhân muốn cầu mong việc gì bất thường như gặp hoạn nạn, thiên tai, địch họa… thì họ tìm đến Neak Ta để cúng vái, cầu xin

Trang 36

Khi có những bất đồng ý kiến của cá nhân hay cộng đồng mà không hòa giải được thì Neak Ta sẽ là vị quan tòa chứng giám của lễ ăn thề (sâmbât) Lễ ăn thề có thể là con gà trống Người thề đem con gà đến trước miếu Neak Ta thắp nhang đèn khấn vái, cắt một chút máu ở cổ con gà rồi thề Neak Ta còn có vai trò như ông Tơ,

bà Nguyệt “Neak Ta cũng còn là thần bảo hộ cho tình yêu trai gái Khmer:

“…Nếu em còn nhớ anh

Hãy dâng một cây đèn cầy

Cho Neak Ta Mchăs Sroc

Như vậy, mặc dù khá phức tạp về cả tính chất và nguồn gốc, song Neak Ta

cơ bản là vị nhiên thần có chức năng bảo hộ Các nghi lễ thờ cúng Neak Ta cơ bản gắn với các nghi lễ nông nghiệp cầu mưa Khi so sánh với tín ngưỡng thờ thần của người Kinh tại Trà Cú chúng tôi nhận thấy: cũng đồng thời là tín ngưỡng thờ thần nhưng trong quan niệm của người Kinh mỗi vị thần có nhiệm vụ khác nhau: Thần Thành Hoàng – trông coi cuộc sống của dân làng, Thổ Công – trông coi đất đai, tình duyên thì có Ông tơ Bà nguyệt,… Trong khi đó, Neak Ta mang dáng dấp của thổ công vì ông chỉ được thực hiện quyền hạn trong giới hạn cai quản của mình, Neak

Ta là vị Thành Hoàng vì ông trông coi cuộc sống trong phum sóc; quan tòa cho những bất hòa, Neak Ta là vị thần thiên nhiên vì ông ban phát nước mưa,… Như vậy, Neak Ta là vị thần được người Khmer tổng hợp của nhiều vị thần khác nhau Qua việc thờ cúng Neak Ta đã phản ánh đặc trưng trong tín ngưỡng thờ thần của người Khmer là sự tổng hợp vai trò của các thần, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Nam Tông

Trang 37

2.2.2 Cúng Arăk

Nếu Neak Ta là vị thần bảo hộ cho phum, sóc thì Arăk là vị thần bảo hộ của dòng họ Vị thần này không có hình dáng, nguồn gốc và biểu hiện rõ rệt và tính chất thiện, ác cũng khó phân biệt Theo tìm hiểu của chúng tôi, nguồn gốc vị thần này rất

có thể là một người nào đó trong dòng họ chết từ lâu, linh thiêng nên được tôn làm thần và được các gia đình trong dòng họ thờ cúng như một vị thần bảo hộ Mỗi dòng họ có thể có nhiều Arăk: Arăk chou – buô (Arăk của dòng họ), Arăk phum (Arăk bảo vệ khu đất), Arăk preay (Arăk giữ rừng), Arăk phteah (Arăk bảo vệ nhà), Arăk Trâukâu (Arăk bảo vệ gia đình), Arăk véal (Arăk bảo vệ bảo vệ đồng áng gia súc, trầu bò),…

Bàn thờ Arăk hiện nay không còn nhiều, nhưng nếu có thì thường là những trang thờ treo giống khánh thờ của người Việt đặt ngay trong nhà, nhưng luôn luôn nằm ở gian bìa hoặc một bên vách nhà Trên mặt trang thờ thường có đặt một đoạn than cây chuối, trái dừa khô (Slachôm) trên có cắm nhang, đèn cầy, đặt năm lá trầu cuốn lại (Muluchip), một số vật trang trí bằng giấy màu hình tháp (baysei) và đĩa kết bằng bẹ chuối (pê) Nhưng theo tìm hiểu của chúng tôi thì lễ vật cúng Arăk có

sự khác nhau tùy theo loại Arăk

Arăk phteah hoặc Arăk chou – buô: thần bảo hộ gia đình, trông nom đời sống vật chất và tinh thần của gia quyến

Một nải chuối xiêm

Giàn nhạc (Skôr – Arăk)

Trang 38

Pê tam giác, một trái dừa tươi, hai ống nước

Arăk phum: thần bảo hộ phum, sóc, giữ an ninh thôn xóm, báo trước điềm lành hay xấu cho cộng đồng để tìm cách đối phó

Lễ vật cúng cũng giống như trong lễ cúng Arăkphteak, chỉ khác là không cố định Người trong phum, sóc ai có gì đem đến nơi tế lễ đã qui định hằng năm

để cúng

Arăk Véal: vị thần bảo hộ đồng áng, gia súc, trâu bò

Lễ vật gồm có:

Một con gà luộc, bốn chén chè

Một trái dừa tươi, hai ống nước

Một nải chuối xiêm

Nhang, đèn cầy

Ba miếng cốm

Theo tập tục xưa, người Khmer muốn trúng mùa, hoặc trâu bò không bệnh hoạn, họ thường tế Arăk Véal và cầu nhập xác để hỏi trước mà đề phòng và làm mùa theo Arăk chỉ dạy Nghi thức cũng giống như cúng Arăk phum, chỉ khác là ai canh tác ở cánh đồng nào thì cúng Arăk ở cánh đồng đó

Người Khmer cúng Arăk mỗi khi gia đình có chuyện không may, có người đau ốm, làm ăn thất bại, gặp tai nạn bất ngờ Có nhiều kiểu cúng Arăk, và muốn cúng theo kiểu gì, chủ nhân phải hỏi thầy bói (Kruteay) mới biết tai nạn ấy thì cúng Arăk nào, bằng lễ vật gì Tùy theo Arăk quan hệ với việc cầu mà có bài tụng, vật cúng tương ứng và qui mô tổ chức khác nhau Đối với các lễ lớn thì phải mời thầy bói và người nhập Arăk (Ru Arăk) thì phải chuẩn bị lễ vật theo yêu cầu của các thầy (thầy cúng) Nếu cúng Arăk mà có mời thầy Kruteay và Ru Arăk, đó là gia đình thân chủ muốn triệu linh hồn người chết mà mình nhờ bảo hộ để trực tiếp nghe sự chỉ đạo

Trang 39

Hình thức này có nét giống với tục lên đồng của người Kinh là đều có vị thầy bói là người điều khiển quá trình nhập thần và là người quyết định kết quả của buổi nhập thần, phải có vị thần để nhập vào xác là điều kiện cần của buổi lễ Nhìn chung đây là buổi đối thoại giữa người sống và một đối tượng được thiêng hóa nhờ vào người trung gian là “thầy bói” (Kruteay) Về qui mô tổ chức: thờ cúng Arăk có cả ở gia đình và cộng đồng còn “lên đồng” chỉ ở cấp độ cá nhân và gia đình Nhưng vô hình chung nguồn gốc của hai hiện tượng trên đều xuất phát từ niềm tin vào cái thiêng, thế giới vô hình của thần, niềm mong muốn của con người đối với việc thể hiện bản chất thiện của các vị thần

Tín ngưỡng thờ cúng Arăk là một minh chứng cho quan niệm vạn vật hữu linh của người Khmer Nam Bộ nói chung và người Khmer huyện Trà Cú nói riêng Người Khmer đã thần thánh hóa đối tượng thiêng trong tín ngưỡng này thành biểu tượng cho trong cộng đồng nhưng người Kinh thì chỉ ở mức độ gia đình Theo chúng tôi đây cũng là một hình thức tín ngưỡng nhằm để cố kết cộng đồng của dân tộc Khmer

2.2.3 Thờ Rea – hu

Có thể tìm thấy hình ảnh Rea – hu một cách phổ biến nhất là ở các chùa tháp với khuôn mặt nhe nanh, trợn mắt, nuốt mặt trăng trông rất dữ tợn Khi có Nhật thực, Nguyệt thực, ở chùa và trong phum sóc, người ta gọi nhau đánh trống và phèng la ầm ĩ để cứu Mặt Trời, Mặt Trăng Xem Nhật thực, Nguyệt thực, người nông dân cũng nhằm đoán định kết quả của mùa màng Nếu Mặt trời và Mặt trăng

bị che khuất hoàn toàn, tức là Rea – hu nuốt hết vào bụng và sau đó lại sáng ra dần

từ phía đầu che khuất, tức Rea – hu ói ra, thì năm ấy được mùa Nuốt một nửa rồi nhả ra thì trung bình Còn nuốt rồi ỉa ra, tức là sáng dần ra phía sau, ấy là hiện tượng không tốt, báo hiệu mất mùa Khi có Nhật thực hay Nguyệt thực, phụ nữ Khmer mang thai phải để một bình vôi và một con dao bổ cau vào nếp váy để tự vệ và cầu Rea – hu bảo vệ sự sinh nở, để đứa trẻ sinh ra được nhanh chóng và được khỏe mạnh Người Khmer tin như vậy bởi Rea – hu được giải thích từ truyền thuyết Phật

Trang 40

giáo: “Ngày xưa, có ba anh em, cha mẹ mất sớm Một hôm, hai người anh ra đồng làm lụng, bảo người em ở nhà lo cơm nước để kịp dâng lên sư sãi khất thực đi qua Nhưng người em mãi lo chơi, nên không dâng cơm lên cho ông lục Đi về nhà, hai anh vô cùng tức giận, đánh mắng người em thậm tệ, làm người em căm giận bỏ nhà

ra đi Đến một dòng suối nọ anh ta khấn nguyện, sau khi chết đi sẽ trở thành người

có sức mạnh vạn năng Và anh ta nhảy xuống dòng suối trầm mình Quả nhiên, sau khi chết đi, anh ta biến thành một người to lớn dị thường, tên gọi Rea – hu Hai người anh sau này chết đi, một biến thành mặt trời, còn người kia biến thành mặt trăng Re- hu ỷ mình to lớn, có sức mạnh trở nên tự cao tự đại, xem thường mọi người và cả thần thánh Một hôm, Rea – hu nghe vợ bảo, ở làng bên, đức Phật đang thuyết pháp, giáo lý cao siêu, nhất là Ngày to lớn hơn hắn Rea – hu nghe vậy không tin, vì nghĩ rằng chỉ hắn là to lớn nhất trên đời, bèn đi xem thử đức Phật to lớn ra sao Đến nơi, hắn thấy đức Phật đang ngồi tham thuyền trong một ngôi nhà nhỏ Rea – hu nực cười bảo đức Phật:

- Tôi nghe đồn rằng, ông to lớn dị thường, nên đến đây xem, té ra ông cũng chỉ bằng người bình thường!

Đức Phật đáp:

- Ta mời ngươi đến đây với ta ngồi trò chuyện

Rea – hu cười bảo:

- Cánh cửa nhỏ bé thế kia, làm sao ta vào được!

- Nhà ngươi cứ vào cánh cửa sẽ to ra

Rea – hu bước vào, quả nhiên cánh cửa to ra, và ngôi nhà cũng to lớn lạ thường Trước mặt Rea – hu đức Phật không còn bé nhỏ như khi nảy mà trở nên to lớn dị thường Rea – hu rất ngạc nhiên đành hỏi đức Phật:

- Ngoài ông ra, còn có người nào to lớn hơn ông không?

- Còn Pras Anh!

Ngày đăng: 26/12/2020, 06:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w