6 đối với phụ nữ” [29, tr.108], “Phan Bội Châu không những biết thực tế trong gia đình phụ nữ thường nắm tay hòm chìa khóa, hiểu giá trị lời khuyên của họ đối với chồng con mà ông còn t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ LAN ANH
V ẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG QUAN NIỆM
C ỦA PHAN BỘI CHÂU SAU 1925
(Kh ảo sát qua tác phẩm và các hoạt động xã hội)
HÀ N ỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
H ỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ LAN ANH
V ẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG QUAN NIỆM
C ỦA PHAN BỘI CHÂU SAU 1925
(Kh ảo sát qua tác phẩm và các hoạt động xã hội)
Ngành: V ăn học Việt Nam
Mã s ố: 8 22 01 21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUY ỄN ĐỨC MẬU
HÀ N ỘI, NĂM 2020
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của TS Nguyễn Đức Mậu Đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của
luận văn đúng với quy định
H ỌC VIÊN
Đào Thị Lan Anh
Trang 4M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 11
1.1 Vị trí của phụ nữ trong mối quan hệ với quốc gia - dân tộc 11
1.2 Phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc 15
1.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về nữ quyền từ sau năm 1925 21
Chương 2: PHỤ NỮ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 39
2.1 Vị thế của phụ nữ trong mối quan hệ với xã hội 39
2.2 Phụ nữ với các tổ chức và hoạt động xã hội 41
Chương 3: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 57
3.1 Quan niệm về vị trí của người phụ nữ trong gia đình 57
3.2 Quan niệm về công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ 58
3.3 Phụ nữ với hôn nhân 61
3.4 Phụ nữ trong nghĩa vợ chồng 63
3.5 Phụ nữ với đạo hiếu 65
3.6 Phụ nữ với thiên chức làm mẹ: 67
3.7 Phụ nữ với kinh tế gia đình 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 51
M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Phan Bội Châu (1867 - 1940) là nhân vật lịch sử kiệt xuất của dân tộc
Vốn là một nhà nho nhưng Phan Bội Châu lại sớm tiếp thu Tân thư, Tân văn
nên tư tưởng và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của cụ Phan có sự chuyển biến sâu sắc Phan Bội Châu đại diện tiêu biểu cho “sự chuyển biến
mạnh mẽ từ mô hình nhà nho sang mô hình nhà cách mạng” có tư tưởng duy
tân, từ con đường đấu tranh quân chủ sang con đường đấu tranh dân chủ [124] Tư tưởng Phan Bội Châu có ảnh hưởng sâu rộng đến một giai đoạn lịch
sử đầy biến động của Việt Nam lúc đó
Sống trong giai đoạn bão táp của lịch sử dân tộc, cuộc đời của nhà yêu nước Phan Bội Châu đã trải qua nhiều sóng gió, thăng trầm Một trong những
sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời của nhà cách mạng Phan Bội Châu là sự kiện năm 1925 - khi ông bị thực dân Pháp bắt tại Trung Quốc rồi sau đó đưa về Việt Nam xét xử Trong phiên tòa Đề hình, Phan Bội Châu bị kết tội; nhưng trước làn sóng đấu tranh sục sôi của nhân dân cả nước đòi trả
tự do cho Phan Bội Châu, ngay sau đó Phan Bội Châu được tuyên tha rồi bị đưa về Huế an trí Thời kì ông bị đưa về sống ở Bến Ngự ở - Huế (1926) cho
đến khi ông mất (1940) được gọi là Ông Già Bến Ngự Tại đây, Phan Bội
Châu bị giam lỏng, sống cuộc đời cô độc, chấm dứt hơn hai mươi năm bôn
tẩu cách mạng đầy sóng gió của mình Trước năm 1925, Phan Bội Châu “đã
vứt bỏ cái lốt nhà nho để làm người hào kiệt, làm con chim mặt biển, mang
1925, dưới sự quản thúc gắt gao của thực dân Pháp, con đường đấu tranh chống thực dân Pháp của Phan Bội Châu chuyển từ bạo động sang ôn hòa
Đây là thời kì Phan Bội Châu trở lại tư tưởng Nho giáo, được gọi là “lại
giống” [29, tr.133] Trong hoàn cảnh o ép ấy của bản thân, Phan Bội Châu đã
Trang 62
tìm thấy sức mạnh của Nho giáo: “Nho giáo trang bị cho ông đạo đức, tinh
thần trách nhiệm, khí tiết Tình cảm và chí khí đó giúp ông coi thường mọi hiểm nguy, có gan từ bỏ tất cả để bước vào hoạt động cách mạng” [29,
tr.133] Vì vậy, hoàn cảnh an trí đó không có nghĩa nhà chí sĩ Phan Bội Châu
bị cắt đứt hoàn toàn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Ngược lại, đây là thời kỳ chuyển biến về tư tưởng và phương thức đấu tranh ở Phan Bội Châu, đặt ông vào một thời kỳ đấu tranh mới dưới tư cách một nhà hoạt động ngôn
luận, làm một người tuyên truyền yêu nước Đồng thời, quá trình “lại giống”
- trở lại với đạo đức Nho giáo đã thể hiện sự giao thoa giữa cũ - mới, truyền thống - hiện đại, kế thừa - canh tân trong tư tưởng của cụ Phan
Cùng với sự nghiệp cách mạng, Phan Bội Châu đã để lại cho dân tộc Việt Nam di sản văn học có giá trị Trần Đình Hượu đã đánh giá rất đúng:
“Phan Bội Châu là một nhà văn chính trị” [29, tr.94] Tư tưởng chính trị là
mục đích, là cảm hứng xuyên suốt và kiên định trong sáng tác của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu Tư tưởng chính trị trong cuộc đời hoạt động cách mạng, trong thơ văn của ông luôn có sự thay đổi theo thời đại và được thể hiện đa dạng, phong phú, linh hoạt từ nội dung đến hình thức
Trong suốt 15 năm cuối đời bị giam lỏng ở Bến Ngự - Huế (1925 - 1940), Phan Bội Châu tuy bị thực dân Pháp quản thúc và bị li khai khỏi phong trào cách mạng sục sôi của dân tộc nhưng ông vẫn tiếp tục viết văn, làm thơ
để giáo dục quốc dân, đề cao đạo đức cổ truyền của dân tộc, kín đáo nuôi dưỡng tinh thần yêu nước cho thế hệ thanh niên, đề cao trách nhiệm của người dân với đất nước, thể hiện nỗi đau mất nước…Tác phẩm tiêu biểu như:
Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Cao đẳng quốc dân, Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Lời hỏi thanh niên, Phan Bội Châu niên biểu, Xã hội chủ nghĩa, Khổng học đăng…, cùng với trên 800 bài thơ Nôm và mấy chục bài
văn tế, phú, tạp văn Sáng tác của Phan Bội Châu ở giai đoạn này chiếm gần
Trang 7đoạn sáng tác trước năm 1925 qua các tác phẩm tiêu biểu như: Việt Nam vong
quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Trùng Quang tâm sử, Chân tướng quân, Trưng Nữ Vương…Nhưng từ khi bắt buộc trở về sống cuộc đời
của một “con voi già” (giai đoạn từ sau năm 1925), đề tài phụ nữ được Phan
Bội Châu đề cập khá toàn diện và sâu sắc trên nhiều phương diện từ gia đình,
xã hội đến quốc gia dân tộc Đề tài phụ nữ trở thành vấn đề lớn trong sáng tác của cụ Phan nói riêng và của giai đoạn đầu thế kỉ XX nói chung Đây là một trong những vấn đề mang tư tưởng canh tân sâu sắc của Phan Bội Châu từ sau năm 1925 Những quan điểm tiến bộ của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ không chỉ thể hiện ở các tác phẩm văn học mà còn biểu hiện trong các hoạt động thực tiễn Vì thế, thông qua các tác phẩm và các hoạt động xã hội, cụ Phan đã động viên được phụ nữ tham gia tích cực vào phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX
Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề
tài: V ấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu sau 1925 (Khảo sát
2 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài
Châu nói chung
Việc sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu về thơ văn Phan Bội Châu đã
trở thành công việc tâm huyết của nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu nhất phải
kể đến công lao và sự đóng góp lớn lao và quý báu của Chương Thâu Toàn
bộ thơ văn của Phan Bội Châu được tập hợp khá đầy đủ trong bộ sách Phan
Trang 84
Bội Châu toàn tập (gồm 10 tập) của Chương Thâu sưu tầm, biên soạn do Nxb
Thuận Hóa - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây - Huế phát hành và in lần đầu năm 1990 và tái bản năm 2001 Trong đó, các sáng tác của Phan Bội Châu từ sau năm 1925 được tập hợp ở tập 6,7,8,9,10 của bộ sách Chúng tôi
khảo sát vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu từ sau 1925 từ các văn bản trong các cuốn sách trên Ngoài ra, việc sưu tầm, tuyển chọn thơ văn Phan Bội Châu còn phải kể đến sự đóng góp của nhiều tác giả khác với các công trình có giá trị như: Nguyễn Đình Chú - Văn thơ Phan Bội Châu
(1967) - NXB Văn Học - Hà Nội, Thế Nguyên - Phan Bội Châu thân thế và thi văn 1867-1940 (1959) - Nxb Tân Việt - Sài Gòn, Trần Đình Hượu Phan Bội
người cuộc đời và sự nghiệp(1997) - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Trần Hải
Trần Anh Vinh - Chương Thâu - Thơ Phan Bội Châu thời kỳ ở Huế 1926 -
1940 (1987) - Nxb Thuận Hóa - Huế…
Trong đó, nhiều nhà nghiên cứu Phan Bội Châu đã phân chia thơ văn
của ông ra làm các giai đoạn tương ứng với quá trình hoạt động cách mạng và quá trình sáng tác của ông
Trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam -tập 4B (Nxb Giáo dục
xuất bản năm 1965), tác giả Lê Trí Viễn cũng có cùng quan điểm như trên:
“Thơ Phan Bội Châu là cái vốn quí báu nhất trong kho tàng văn học yêu nước cách mạng Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ Không
người, một phong trào, một giai đoạn cách mạng mà còn thể hiện được truyền
Trang 95
Trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam 1900-1945 (Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 1997), ở phần Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930,
khi viết về Phan Bội Châu, tác giả Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng đã nhìn
nhận và đánh giá đúng đắn vai trò, ví trí và điểm mới về thơ văn yêu nước của Phan Bội Châu trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc: “Phan Bội Châu là
người viết nhiều nhất, bằng nhiều thể loại nhất Tác phẩm của ông có ảnh hưởng lớn nhất đến phong trào cách mạng lúc bấy giờ…Phan Bội Châu cũng là nhà văn tiêu biểu nhất cho văn học thời kỳ đó So với thơ văn yêu nước trước đó, văn thơ Phan Bội Châu đã thuộc loại mới Sáng tác của ông không những đứng đầu về số lượng, chất lượng, tác dụng, mà còn phản ánh xu thế,
đã có có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị
Trong công trình nghiên cứu “Văn thơ Phan Bội Châu” (1976),
Nguyễn Đình Chú đã đánh giá cao về tầm quan trọng của vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu: “Có hai đối tượng Phan Bội Châu đặc biệt quan
sách đã khẳng định: “Đối với phụ nữ, thái độ và cách nhìn của Phan Bội
Châu mới hẳn so với lịch sử”[23,tr.18] Cội nguồn của vấn đề phụ nữ trong
sáng tác của cụ Phan chính là xuất phát từ tấm lòng yêu nước tha thiết của nhà
chí sĩ cách mạng: “Thái độ trân trọng, cách nhìn mới mẻ của Phan Bội Châu
người phụ nữ cũng như thanh niên, có được, trước hết mới là do nhiệt tình cứu nước” [23, tr.19]
Trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam 1900-1945 (Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1997), phần nghiên cứu về Phan Bội Châu, tác giả Trần Đình
Hượu, Lê Chí Dũng đã nhìn nhận, phát hiện và khẳng định quan điểm tiến bộ
của Phan Bội về vấn đề phụ nữ:“Về mặt xã hội, ông có cái nhìn rất thận trọng
Trang 106
đối với phụ nữ” [29, tr.108], “Phan Bội Châu không những biết thực tế trong gia đình phụ nữ thường nắm tay hòm chìa khóa, hiểu giá trị lời khuyên của họ đối với chồng con mà ông còn thấy phụ nữ cũng là quốc dân có trách nhiệm,
Tác giả Trịnh Thu Tiết cho rằng: Phan Bội Châu chính là người “đặt
Trịnh Thu Tiết đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng của vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu: “Đề tài phụ nữ đã thu hút tâm trí Phan
hệ thống quan điểm tiến bộ của ông khẳng định địa vị, vai trò của người phụ
nữ trong xã hội, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; đặt vấn đề cần giải phóng
phụ nữ
Tác giả Đặng Thị Vân Chi trong công trình nghiên cứu Phan Bội Châu
với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX đã cho thấy sự chuyển biến trong quan niệm
của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ trước và sau năm 1925 Theo Đặng Thị Vân Chi, trước năm 1925 do đất nước trong tình cảnh nước mất nhà tan nên Phan Bội Châu thiên về vận động phụ nữ vào các phong trào yêu nước; còn từ sau năm 1925, do sự thay đổi của tình hình chính trị nước ta và do hoàn cảnh riêng của Phan Bội Châu - chịu sự quản thúc của chính quyền thực dân Pháp nên các sáng tác của Phan Bội Châu tập trung bàn luận về nữ quyền và vấn đề giải phóng phụ nữ Đánh giá về vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Phan Bội Châu, tác giả Đặng Vân Chi khẳng định: Phan Bội Châu không chỉ thấy được quyền người của người phụ nữ mà còn thấy được vai trò, trách nhiệm của người phụ nữ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc; Phan Bội Châu đặt vận mệnh của người phụ nữ gắn liền với mệnh mệnh của dân tộc
Trang 117
Tác giả Đoàn Ánh Dương đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về vấn
đề phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu Với công trình nghiên cứu Phan
Bội Châu - vấn đề phụ nữ ở nước ta, tác giả Đoàn Ánh Dương đã tìm hiểu
nguồn gốc, diễn trình và đặc điểm tư tưởng về vấn đề phụ nữ trong sáng tác
của Phan Bội Châu Dựa vào bộ sách Phan Bội Châu toàn tập của Chương
Thâu, tác giả Đoàn Ánh Dương đã tuyển chọn các bài viết, các công trình của Phan Bội Châu nói về vấn đề phụ nữ để biên soạn cuốn sách này Ngoài ra, trong Phụ nữ và chủ nghĩa dân tộc: Vấn đề phụ nữ trong dự án quốc gia - dân tộc của Phan Bội Châu, Đoàn Ánh Dương đã khẳng định và làm rõ đóng góp
quan trọng của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ:“đóng góp lớn nhất của
Phan Bội Châu cho phong trào phụ nữ Việt Nam những năm này nằm ở sự kết hợp song hành các hoạt động đấu tranh cho quyền phụ nữ và nữ quyền với việc viết bài, viết sách xung quanh vấn đề phụ nữ Hơn bất cứ nhà hoạt động
xã hội nào cho đến lúc này, Phan Bội Châu đã công bố nhiều bài viết, công trình thể hiện sâu sắc quan điểm về quyền phụ nữ và nữ quyền, đồng thời hiện thực hóa quan điểm ấy bằng các hành động cụ thể để hối thúc phong trào phụ nữ” [113]
Tác giả Đào Lê Tiến Sỹ với bài viết Những tiền đề cho sự ra đời diễn
ngôn nữ quyền trong các sáng tác sau 1925 của Phan Bội Châu đã khẳng
định: Phan Bội Châu có đóng góp lớn trong việc kiến tạo nên diễn ngôn nữ
quyền đầu thế kỷ XX Bài viết đã đi sâu bàn luận và đánh giá “sự dịch chuyển
từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa học về giới tính và sự mở rộng quan niệm từ phạm trù “quốc dân” sang phạm trù “người”” trong diễn ngôn
về nữ quyền của ông từ sau năm 1925 [124]
Tác giả Bùi Trân Phượng với Ông già Bến Ngự và nữ giới (in trên Tạp
chí nghiên cứu và thảo luận Thời đại mới, số 30, tháng 3/2014) đã nghiên cứu
Trang 12từ sau 1925 đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu
mục đích sau:
Làm rõ việc Phan Bội Châu đã quan tâm và thể hiện vấn đề phụ nữ như
thế nào qua các tác phẩm và các hoạt động xã hội của phụ nữ trong sang tác
của ông từ sau năm 1925
Tìm hiểu và thấy được những tác động của vấn đề phụ nữ của Phan
Bội Châu từ sau năm 1925 đối với tư tưởng, tình cảm của chính ông trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi không tìm hiểu toàn bộ di sản đồ sộ của Phan Bội Châu Chúng tôi chỉ giới hạn trọng tâm nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong quan
niệm của Phan Bội Châu từ sau năm 1925
Chúng tôi tiến hành khảo sát về vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu từ sau năm 1925 qua tác phẩm của Phan Bội Châu và các hoạt động xã hội của phụ nữ trong sang tác của ông
Trang 139
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
sự nghiệp sáng tác vô cùng đồ sộ Vì vậy, việc sử dụng phương pháp thống
kê, phân loại là rất cần thiết Sử dụng phương pháp thống kê, phân loại để thống kê những sáng tác và hoạt động của Phan bội Châu về vấn đề phụ nữ Đây là cơ sở, là tiền đề để người viết đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan, chính xác về vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu từ sau năm 1925 Ngoài ra, sử dụng phương pháp này còn giúp tôi thống kê, phân
loại các nhận định, ý kiến, quan điểm của các tác giả khi nghiên cứu về vấn đề
phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu nói chung và trong sáng tác của Phan Bội Châu sau năm 1925 nói riêng
Phan Bội Châu vừa là một nhân vật lịch sử kiệt xuất vừa là nhà thơ, nhà
văn, nhà báo của dân tộc ta đầu thế kỉ XX Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài Vấn
đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu sau 1925, tôi đã vận dụng tri
thức của các ngành về văn học, về lịch sử, về triết học, về sinh học, về báo chí, về văn hóa học… để đánh giá vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc
Luận văn nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu ở giai đoạn sau năm 1925 nên tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với chính các tác phẩm của Phan Bội Châu ở giai đoạn trước năm 1925
và so sánh với các tác giả cùng viết về vấn đề phụ nữ trước đó và đương thời (Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Đạm Phương, Dã Lan Nữ
Sĩ …) Từ đó, luận văn làm rõ sự kế thừa và mới mẻ, sự tương đồng và khác
biệt về vấn đề phụ nữ trong sáng tác và quan niệm của Phan Bội Châu ở 2 giai
Trang 1410
đoạn sáng tác và với các tác giả trước đó và đương thời Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài ngắn nên việc so sánh đó mới thực hiện được ở mức độ khái lược
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần tìm hiểu vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu từ sau năm 1925 Từ đó, luận văn góp phần khẳng định tên tuổi, vị trí của Phan Bội Châu trong nền văn học, trong lịch sử của dân tộc Việt Nam
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng
dạy về tác giả Phan Bội Châu và vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu nói riêng, trong văn học nói chung
7 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Vấn đề phụ nữ với các hoạt động chính trị trong quan niệm của
Phan Bội Châu từ sau năm 1925
Chương 2: Vấn đề phụ nữ với các hoạt động xã hội trong quan niệm của Phan
Bội Châu từ sau năm 1925
Chương 3: Vấn đề phụ nữ trong gia đình trong quan niệm của Phan Bội Châu
từ sau năm 1925
Trang 15công dân như đàn ông, nghĩa là yêu cầu bình đẳng trên chính trị” [64,tr.8]
Thế nhưng, trong xã hội phong kiến ở nước ta, người phụ nữ lại không được tham dự vào các công việc chính trị của đất nước Nho giáo xây dựng mẫu người quân tử để cai trị xã hội nên không bàn đến người phụ nữ trong các công việc của đất nước Đến đầu thế kỷ XX, xã hội nước ta chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến Chính sự chuyển biến Âu hóa lại trở thành tiền đề cho sự chuyển biến về số phận và vị thế của người
phụ nữ Với việc đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa ở nước ta của thực dân Pháp trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, người phụ nữ
đã cuốn vào các hoạt động rộng lớn đó và trở thành mối quan tâm chung Sự
tiếp xúc và hội nhập với văn hóa phương Tây đã làm cho tầng lớp phụ nữ Việt Nam nhanh chóng trở thành một lực lượng xã hội quan trọng, dần tham gia và
khẳng định được vị thế của mình với quốc gia dân tộc Vấn đề phụ nữ đã trở thành diễn đàn sôi nổi trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, trên báo chí và các
hoạt động xã hội khác Trong đó, Phan Bội Châu là một nhà “nữ quyền” giai
đoạn đầu thế kỉ XX ở nước ta
Trong giai đoạn trước năm 1925, Phan Bội Châu đã có nhiều tác phẩm
thức tỉnh, động viên và ca ngợi những người phụ nữ tham gia vào sự nghiệp
cứu nước, giải phóng dân tộc Qua lời khuyên chồng, người vợ đã ý thức sâu
Trang 1612
sắc về nỗi cay đắng, nhục nhã của thân phận nô lệ (“Hơn bốn chục năm trời, /
Đem thân làm nô lệ, / Cúi đầu làm nô lệ!/ Nỗi cay đắng xiết kể, / Nói ra những
phong trào cách mạng (Chàng con nhà thi lễ, /Vốn nòi giống Lạc Hồng, /Lẽ
tranh giải phóng dân tộc: “Giang sơn làm nổi cơ đồ, /Ấy là bậc nữ trượng phu
nước mình” [74,tr.162] Cụ đã cổ động chị em noi gương các nữ anh hùng
xưa: “Nào nữ kiệt nước Nam đâu tá? /Trải xưa nay chuyện lạ bao giờ! /Từ
các chị em “Ghé vai vào gánh cương thường” [74, tr.324] Trong Tân Việt
Nam (1907), cụ Phan đã khẳng định địa vị quan trọng và quyền lợi của người
phụ nữ: “về các sự nghiệp chính trị người phụ nữ có quyền lợi không cùng
Có chú trọng việc giáo dục thì mới bỏ được riêng tư mà theo công lợi, mới làm cho nước nhà giàu mạnh tấn tới, nên chi trong nước nếu không có phụ nữ yêu nước, thì nước ấy sẽ phải làm đầy tớ người mà thôi” [74, tr.185] Ở giai
đoạn này, Phan Bội Châu đã xây dựng rất thành công các nhân vật phụ nữ có
lí tưởng sống cao đẹp, giàu ý chí, giàu nhiệt huyết cách mạng, không cúi đầu cam chịu trước những bất công, áp chế của chính quyền thực dân Pháp Trong
vở tuồng Trưng Nữ vương (1911), nhân vật Trưng Trắc là người phụ nữ yêu nước, căm thù giặc và nuôi chí lớn: “Vốn sơ tâm thiếp đã nguyện cùng thiên
địa, xin đem mình phò với giang sơn… /Cứu lấy dân đương lúc lầm than
Trang 1713
tộc ” [75, tr.276] Đến Trùng Quang tâm sử (1918), nhân vật cô Chí, cô
Triệu, cô Liên,… là những nữ anh hùng tài trí, giàu lòng yêu nước, căm thù
giặc, ý thức sâu sắc nỗi nhục mất nước, theo nhau vào trại Trùng Quang hợp sức với tu mi nam tử làm cách mạng để giải phóng dân tộc Đặc biệt, trong
một người phụ nữ bình thường nhưng vì lòng yêu nước mà đã hăng hái thúc giục con trai và con rể lên đường chiến đấu… Đây cũng là đóng góp mới mẻ của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ so với các tác giả đương thời
Nhưng từ sau năm 1925 - thời kì Ông Già Bến Ngự, quan điểm của
Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ trở nên sâu sắc và toàn diện hơn Sự chuyển biến đó trong quan niệm, trong sáng tác của tác giả là do sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan Trước hết, do sự quản thúc gắt gao của thực dân Pháp, Phan Bội Châu gần như phải cắt đứt hoàn toàn với phong trào cách mạng của dân tộc, các hoạt động chủ yếu của ông là viết sách báo Đặc biệt, vào thời điểm này (những năm 20 - đầu thế kỉ XX), phong trào phụ nữ phát triển mạnh mẽ trên thế giới và có ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội Vấn đề phụ nữ đã thu hút nhiều học giả và trở thành một diễn đàn sôi nổi trên báo chí, trong xã hội Là một nhà nho, một nhà yêu nước tiến bộ, Phan Bội Châu đã sớm nhận ra điều đó Vì thế, từ sau năm 1925, cụ Phan dành sự quan tâm, ưu
ái về vấn đề phụ nữ trong các sáng tác và các hoạt động xã hội của mình
Trước hết, Phan Bội Châu luôn dành cho nữ đồng bào những tình cảm
vô cùng trân trọng Phan Bội Châu đã thấy địa vị của người phụ nữ đối với
quốc gia dân tộc Trong Bài diễn thuyết tại trường Nữ học đồng khánh Huế
trong loài người mà thứ nhất là một phần rất cao quý trong dân nước ta”
[79, tr.45] Ông ví chị em phụ nữ như “một hột châu tươi sáng”, như “một
Trang 1814
hình ảnh so sánh vô cùng đẹp đẽ đó đã mở ra một cái nhìn mới về người phụ
nữ: các nữ đồng bào là một lực lượng không thể thiếu của xã hội, của dân tộc
Họ cao quý bởi chính họ là người tổ nước ta, họ đã gánh công sinh dục mà sáng tạo ra con người: “Khi đó vô luận nước nào hoặc châu nào cũng chỉ có
vài người tổ thứ nhất tức là một người gái một người trai; hai người đó chia
nước, gây mối là ai, mở đầu là ai, chắc là nhờ hai người tổ thứ nhất đó, tức là một người trai và một người gái.” [79, tr.108] Họ cao quý bởi nhờ họ mà nòi
giống của đồng bào ta được duy trì, được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, giúp đồng bào ta tránh được nguy cơ tuyệt diệt: “Huống chi trong lòng
mươi lăm triệu đồng bào ta nếu không có các chị em, thì hai mươi lăm triệu đồng bào ta sau này ắt phải tuyệt diệt” [79, tr.45]
Trong Bài di ễn thuyết tại trường Nữ học Đồng Khánh Huế 17/3/1926,
Phan Bội Châu không chỉ thấy người phụ nữ là một phần của đồng bào mà
còn là đấng sinh thành ra đồng bào ta - “mẹ quốc dân”: “Hai mươi triệu lẻ
đồng bào, ai nấy cũng là một phần quốc dân cả; có quốc dân mới nên một nước Huống chi các chị em lại là mẹ của quốc dân; biết bao nhiêu ông chủ nhân trong nước sau này đều nhờ các chị em sinh nở ra, đùm bọc lấy, dạy
người phụ nữ: “Đôi vai thân gái/Gánh nợ nhiều bề /Gánh gì nặng hơn /Là
cũng là thiên chức vô cùng cao quý của người phụ nữ mà chúng ta cần phải
Trang 1915
trân trọng: “Song le con gái /Lại cần thiết hơn /Bởi mẹ quốc dân /Là phần
con gái.” [80, tr.25] Như vậy, Phan Bội Châu đã đề cao vai trò, địa vị của
người phụ nữ đối với quốc gia, dân tộc Ông đánh giá người phụ nữ từ phương diện giới tính Đây là một quan điểm mới về người phụ nữ của Phan
Bội Châu so với các nhà văn trước đó và đương thời
Theo Phan Bội Châu, người phụ nữ có khả năng gánh vác việc nước
như người nam giới: “Dù gái dù trai /Gánh chung việc nước” [80, tr.25]
Trong xã hội phong kiến, gánh vác việc nước - việc quốc gia đại sự là trách nhiệm của người nam nhi, người phụ nữ không được can dự Phan Bội Châu
đã khẳng định vị thế và trách nhiệm của người phụ nữ với đất nước trong sự bình đẳng với người nam nhi Tư tưởng đó được cụ tiếp tục khẳng định trong
đâu lại cấm con gái không được làm” [79, tr.114] Điều đó có nghĩa là Phan
Bội Châu đã nhìn nhận, đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Ông“đã đặt vận mệnh của người phụ nữ gắn liền
1.2 Ph ụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Từ việc nhận thấy tầm quan trọng không thể thiếu của lực lượng phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Phan Bội Châu đã thể hiện niềm trân trọng và tôn vinh các vị nữ anh hùng của dân tộc nhằm động viên, khích
lệ và vận động phụ nữ trong thời điểm hiện tại tham gia phong trào cách
mạng của dân tộc Cảm hứng đó tiếp tục được khơi dậy trong nhiều trang văn, trang thơ của ông từ sau năm 1925
Phan Bội Châu dành sự trân trọng đặc biệt đối với Hai Bà Trưng - vị nữ tướng đầu tiên của nước ta đã lập được những chiến công lừng lẫy trong công
cuộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước Ông đã tôn vinh Trưng Nữ
Vương là “một vị Phật nhà, là tổ nước Nam ta” [79, tr.469] Trong bài Ai là
Trang 2016
tổ nước ta? Người nước ta với sử nước ta (1934), cụ Phan đã kể lại công trạng
của Bà Trưng với niềm cảm phục, tự hào:“Giận thù thương nước, khởi binh
đánh thành Giao Châu, đuổi Tô Định, Định chốn về đất Tàu, bà kéo quân đuổi theo, tới đâu, châu quận hưởng ứng cả, lấy tuốt 65 xứ Lĩnh Nam Lúc
nữ tướng có tài cao, có chí lớn Vẻ đẹp ấy của Hai Bà Trưng đã được Phan
Bội Châu trong bài Vịnh Hai Bà Trưng tán tụng: “Nỡ để non sông tỏa khói
mù! /Ra tay vùng v ẫy với thằng Tô /Chị cùng em quyết nung bầu huyết,
năm đường bệ cũng Thương, Chu /Năm canh thức dậy thời oanh liệt, /Sóng
Phan Bội Châu ca ngợi vẻ đẹp uy nghi, lẫm liệt khiến quân giặc phải hồn bay phách lạc: “Lược ngà áo sắt cưỡi đầu voi, /Nghe tiếng hai Trưng giặc khiếp
Phan Bội Châu vô cùng cảm phục tấm gương của Bà Triệu Hình ảnh
người con gái kiên trung, bất khuất ấy được Phan Bội Châu ca ngợi trong Việt
thường chẳng lọ là trai /Lạ thường ba thước vú dài /Tướng kì quái vẫn lò
khuất của bà Ấu Triệu trong kháng chiến chống Pháp được cụ Phan biểu
dương và ngợi ca trong bài Đề bia Ấu Triệu:
“Lọ là các cậu, lọ là ông,
Trang 2117
Ai bảo rằng thư, chẳng phải hùng
Gan đành bỏ mạng, tiếc non sông
Dây lưng một dải bền hơn sắt, Nét máu ngàn thu đậm với hồng.” [80, tr.119]
Ấu Triệu (?- 1910) tức là bà Lê Thị Đàn, là một nữ chí sĩ yêu nước tiêu biểu của nước ta đầu thế kỉ XX Bà sinh ra và lớn lên ở Thế Lại thượng, Hương Vinh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế Đây là một nữ đồng chí đầu tiên được cụ Phan Bội Châu kết nạp vào Duy Tân Hội năm 1903 Vào Duy Tân Hội với vai trò là liên lạc, bà đã cáng đáng nhiều công việc hệ trọng,
là người làm cầu nối đảm nhiệm việc vận chuyển tiền bạc, thư từ, tài liệu từ
Quảng Nam - Quảng Ngãi qua Huế rồi ra Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng để đưa ra nước ngoài cho những học sinh đang du học tại Nhật Bản Có thời kỳ
bà khoác áo cà sa để làm nhiệm vụ liên lạc giữa các cơ sở bí mật khắp Bắc - Trung - Nam Năm 1910, bà bị giặc Pháp bắt giam Tên Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn, đời vua Duy Tân, tay sai đắc lực của giặc Pháp là Trương Như Cương được giao việc xét hỏi Hắn dụ dỗ và dùng cực hình tra tấn bà nhưng
bà vẫn kiên quyết không khai báo một lời Khi biết mình không thể thoát được nữa, bà giả vờ chịu cung khai, nếu được tên tay sai cho nghỉ ngơi một ngày Tin lời, Thượng thư Cương chấp thuận và ngay đêm hôm ấy, bà đã cắn ngón tay lấy máu viết lên tường ba bài thơ tuyệt mệnh, rồi dùng dây thắt lưng
bằng lụa trắng treo cổ, tự kết liễu đời mình tại nhà lao Quảng Trị Cảm phục khí phách can trường, kiên trung, bất khuất trước giặc, cụ Phan Bội Châu đã
lấy gương bà Triệu Thị Trinh trong lịch sử Việt Nam đặt cho Lê Thị Đàn là
Ấu Triệu, với ý nghĩa Bà Triệu Nhỏ Đến năm 1928, cụ Phan đã lập miếu thờ
Ấu Triệu Ngôi miếu nhỏ được xây trong góc khu vườn tại dốc Bến Ngự, biển
đề “Ấu Triệu Bi Đình”, cạnh miếu có đặt tấm bia khắc sơ lược truyện về bà
Trang 2218
Ấu Triệu Đây là nơi hương khói để cụ Phan tưởng niệm vị nữ nhi anh kiệt
của dân tộc! Tại miếu, cụ Phan đã đã viết câu đối ca tụng tấm gương lẫm liệt
của bà Ấu Triệu: “Tấm thân trót gả giang san Việt /Tấc dạ soi chung nhật
nguyệt trời /…Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng /Dạ sắt lòng son nét máu hồng” [80, tr.536]
Phan Bội Châu thương tiếc vô hạn tấm gương hi sinh vì đất nước của đồng chí Thái Thị Bôi Tại Huế, khi nhận được tin chị Thái Thị Bôi qua đời, cụ Phan đã sáng tác bài điếu văn bi ai, tỏ lòng thương tiếc đối với người nữ chiến
sĩ cộng sản trẻ tuổi Trong bài văn tế Thương tiếc đồng chí Thái Thị Bôi ở
Quảng Nam mất ngày 23/02/1938, tác giả đã kể lại thân thế, cuộc đời của chị:
“Học sớm hiểu bình dân chủ nghĩa: nầy trọng tự do, nầy quên giai cấp, dốc
năm xưa rao bãi khoá, vì muốn thay khuôn mẫu nhà trường, đắp nền khuôn
dân, vóc yểu điệu gieo vào trường hoạn nạn” [80, tr.525] Ông ca ngợi nữ
chiến sĩ trẻ tuổi tài cao, chí lớn, bất khuất: “Nhớ nữ đồng chí ta xưa: /Đất nhả
nữ “gan như thế, can trường như thế” mà chị đành “nhất biệt từ trường” Sự
hi sinh đó là tổn thất lớn của toàn gia đình, của Đảng Đông Dương và của dân
tộc khi “vận nước tang thương, đường đời tụ tán” [80, tr.526]
Trang 2319
Năm 1930, năm nữ chiến sĩ cộng sản ở Hà Tĩnh bị giặc bắt, rồi bị bọn chúng lột truồng hòng làm cho các chị xấu hổ phải cung khai Nhưng các chị
đã can trường chửi thẳng vào việc làm bỉ ổi đó khiến cho bọn chúng phải xấu
hổ Việc làm đó của thực dân Pháp khiến cụ Phan phẫn uất liền làm ngay bài
“Vọng tế các nữ đồng chí cộng sản ở Nghệ Tĩnh” Trong tác phẩm, Phan Bội
Châu đã kêu gọi các chị em phải ý thức nỗi nhục mất nước và thân phận làm
nô lệ: “Thưa các bà các cô! /Lạy các bà các cô! /Chẳng khổ gì hơn người mất
nước, /Chẳng nhục gì hơn kiếp làm nô!” Các cụm từ “chẳng khổ gì hơn”,
“chẳng nhục gì hơn” nhấn mạnh, khắc sâu vào tâm can mỗi người: nỗi nhục
mất nước và nỗi nhục làm thân phận làm nô lệ là nỗi nhục lớn nhất của kiếp người Từ hành động tra tấn bỉ ổi đó của thực dân Pháp đối với các chị, tác
giả đã bóc trần sự xúc phạm nhân phẩm phụ nữ; bóc trần bản chất khai hóa
văn minh, chính sách bảo hộ của thực dân Pháp là giả tạo: “Thưa các bà các
món cường quyền, nhà tư bản đứng vỗ tay cười! /Văn minh thế hết rồi! /Đạo đức thế hết rồi! /Ơn bảo hộ là thế! /Ơn khai hóa là thế! /Xin bà con ngẫm lại mà coi!” [80, tr.520-521]
Nhưng “thống thiết và sâu nặng ân tình hơn cả là Văn tế cô Giang” của
Phan Bội Châu [62, tr.27] Cô Giang (1906 - 1930) là người đồng chí, là vợ của đồng chí Nguyễn Thái Học Cô là một bậc nữ lưu anh kiệt mà Phan Bội Châu
rất cảm kích và ngợi ca:“Đất nhả tinh hoa, trời trao băng tuyết /Vóc quần thoa
và lớn lên trong cảnh đất trời u ám, cô Giang mang nỗi đau của dân tộc: “ngó
giang sơn riêng một lòng đau”, “thấy nô lệ dốc đôi tròng nguýt”, “xót bốn ngàn năm tổ quốc chôn nhau cắt rốn”, “thương hai lăm triệu đồng bào, tan
cho cách mạng mà không quản gian lao, thử thách: “Khi nhập Đảng tuổi vừa
Trang 2420
mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong; /Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết /Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào
được sức mạnh của tầng lớp nữ trí thức trẻ giàu lòng yêu nước Sức mạnh ấy được vừa được dệt nên từ việc kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc ta
vừa được sự tiếp sức của phong trào yêu nước thời đại:“Xem sách Pháp từng
đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn, /Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết”
[80, tr.495] Đáng quý hơn, người phụ nữ còn là người vợ đồng tâm, cùng chí
hướng với chồng: “Thầy Học vẫn tài hùng phách tráng, nhờ có cô mà lông
quân giặc phải vừa ghê sợ, vừa nể phục: “Sống nhân đạo hai mươi thế kỉ, bạn
Ca ngợi những tấm gương ấy, tác giả muốn khơi dậy ở những người phụ nữ trong hiện tại lòng tự hào về con cháu bà Trưng, bà Triệu và khẳng định niềm tin về khả năng làm cách mạng của họ Đồng thời, tác giả muốn
nhắc nhở các chị em phụ nữ noi gương các nữ anh hùng dân tộc để trả nợ nước, rửa thù nhà góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc:
“Học bà Trưng Trắc, /Giận giặc thương chồng /Thề với non sông, /Liều thân
ấy mãi mãi là những trang sử xanh trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta
Trang 2521
Từ những tấm gương về bậc nữ lưu anh kiệt, Phan Bội Châu có quan
niệm mới và tiến bộ về người anh hùng hào kiệt Trong khi, đa số các nhà văn trước đó và đương thời ca ngợi những bậc anh hùng hào kiệt là các đấng mày râu, các trang nam nhi thì cụ Phan đã mở rộng đối tượng về người anh hùng:
phụ nữ anh hùng Vì thế, trong nhiều tác phẩm, Phan Bội Châu đã gọi các bà, các chị là“nữ trượng phu” (khi ca ngợi bà Trưng Trắc), “anh thư, tướng
hùng” (khi tôn vinh bà Triệu Thị Trinh), “nữ đồng chí” (khi ngợi ca đồng chí
Thái Thị Bôi, 5 nữ đồng chí cộng sản ở Hà Tĩnh)…Cách gọi đó vừa cho thấy
phẩm chất anh hùng, kiên cường, bất khuất của những bậc nữ lưu anh kiệt, không kém các bậc nam nhi; vừa thể hiện tấm lòng trân trọng, ngưỡng mộ của tác giả Những tấm gương phụ nữ anh hùng ấy đã làm rạng danh truyền thống hào hùng của phụ nữ nước ta trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm
giải phóng dân tộc Ca ngợi, tôn vinh những phụ nữ anh hùng đó, nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã động viên, khích lệ được nhiều chị em phụ nữ tham gia tích
cực vào phong trào yêu nước của nước ta ở đầu thế kỉ XX
1.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về nữ quyền từ sau năm 1925
1.3.1 Ý th ức nữ quyền ở nước ta đầu thế kỉ XX
Ý thức nữ quyền đã manh nha xuất hiện sớm trong lịch sử bởi vai trò to lớn của người phụ nữ bảo vệ tổ quốc Nhưng phải đến đầu những năm 20 thế
kỉ XX, vị thế của người phụ nữ Việt Nam mới được quan tâm và thảo luận sôi nổi, thu hút các học giả trên báo chí cách mạng, trong văn học yêu nước và trên nhiều lĩnh vực xã hội khác Thời điểm này ra đời một loạt các tờ báo
chuyên san về giới nữ như: Phụ nữ tân văn, Nữ giới chung, Phụ nữ thời đàm,
Đàn bà mới, Nữ lưu, Nữ công tạp chí, ; một loạt các chuyên mục bàn về vấn
đề phụ nữ do chính các tác giả nữ đảm nhiệm như mục “Nhời đàn bà” trên báo Nam Phong và Đông Dương tạp chí,…
Trang 2622
Tuy nhiên, bàn về ý thức nữ quyền có nhiều quan điểm khác nhau, thậm
chí trái chiều về vấn đề này Theo tác giả Đặng Thị Vân Chi trong Vấn đề phụ
nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945 (2008) có 3 khuynh hướng chính: ủng
hộ nữ quyền, phê bình nữ quyền và vận động giải phóng phụ nữ Khuynh hướng ủng hộ nữ quyền cho rằng: đây là tư tưởng tiến bộ Nguyễn Văn Bá, Huỳnh Thúc Kháng, Cao Văn Chánh, Trịnh Đình Rư là những học giả có cùng quan điểm đó Trái với khuynh hướng ủng hộ nữ quyền là khuynh hướng phê bình nữ quyền Đây không chỉ là quan điểm của những người chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo như Phạm Quỳnh, Tôn Thất Đàm, mà ngay cả những trí thức Tây học tư sản như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long…cũng ủng hộ quan điểm
đó Mặc dù, các học giả thuộc khuynh hướng này vẫn biết quyền bình đẳng nam
nữ là một tư tưởng tiến bộ, nhưng họ vẫn phản đối nữ quyền Ngoài ra, một số học giả do nhận thức được thân phận nô lệ của người dân nước ta, đặc biệt là người phụ nữ dưới thời Pháp thuộc nên chủ trương quay sang vận động giải phóng phụ nữ khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các học giả: Diệp Văn Kỳ, Phan Khôi…
Trong bối cảnh đó, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp đưa về quản thúc tại Huế, ông đã tham gia vào hoạt động văn hóa và tích cực đấu tranh cho nữ quyền, nhấn mạnh địa vị, vai trò của phụ nữ trong xã hội, đồng thời nêu cao vấn đề giải phóng phụ nữ Phan Bội Châu khẳng định những quyền lợi hiển nhiên của phụ nữ, đó là: quyền sống, quyền làm người, quyền công dân, quyền bình đẳng với nam giới
Với Phan Bội Châu, người phụ nữ không chỉ có địa vị quan trọng với
quốc gia dân tộc mà còn rất đáng được trân trọng Ông đã ví người phụ nữ
như “hột châu tươi sáng”, “bông lan rất thơm tho” Nhưng khi nhìn thẳng
vào thực tại nước ta, ông trăn trở và vô cùng đau xót khi trong xã hội lại có
Trang 2723
hiện tượng: “Hột châu tươi sáng mà chìm ở dưới vũng cát đã lâu ngày, bông
vậy nhưng cũng vô cùng xót xa ! Ông xót xa bởi thực tế trong xã hội ta, nữ
đồng bào ta là một hạng rất “ti tiện” Từ việc trong gia đình đến việc xã hội,
quốc gia, các chị không được can dự: “Nữ đồng bào ta hóa ra một hạng rất ti
nước ta! Chẳng những việc nhà nước không ai hỏi tới chị em, việc xã hội cũng không ai bàn tới chị em, mà thậm chí những việc rất mật thiết như gia đình và cá nhân, cũng không ai kể công tới chị em.” [79, tr.45] Các cụm từ
“không ai hỏi tới chị em”, “không ai bàn tới chị em”, “không ai kể công tới
trong xã hội đương thời ở nước ta Các chị như một người thừa, các chị không
những không có địa vị mà còn bị coi khinh Thậm chí, các chị em phụ nữ chỉ
là một thứ đồ chơi cho người con trai: “Đàn bà con gái chỉ là một giống đồ
chơi cho con trai mà thôi” [79, tr.111]
Nguyên cớ vì sao mà người phụ nữ nước ta lại “ti tiện”? Bàn về điều
đó, tác giả Trịnh Thu Tiết đã rất có lí khi cho rằng: nguyên nhân mà phụ nữ ta
ti tiện là do sự phát triển tất yếu của lịch sử, của xã hội - “Cụ Phan tìm
nguyên nhân ở ngay trong lịch sử tiến hóa của nhân loại Theo cụ, khi của cải
trường đua đuổi, hoặc vì chất thiên nhiên thường nhu nhược mà không can đảm đứng vào cuộc cạnh tranh Nhân đó mà phường con trai dã man hung
người diễn ta tuồng cướp bóc thì đàn bà con gái trở thành vật của phường
Trang 2824
cướp bóc Vì thế, thân phụ nữ phải “giấu kín, lấp sâu” nơi buồng the nên mới
có tục “Phụ nữ bất xuất khuê môn” (nghĩa là đàn bà con gái không được đi ra
khỏi cửa buồng) [79, tr.109] Theo Phan Bội Châu, nguyên nhân thứ ba, là do
xã hội chuyên quyền: “Tôi thường nghe có lời tục ngữ nói rằng “Trăm gái
gái cũng thừa; tôi tưởng rằng ở trong đạo làm người có lẽ nào mà điên đảo, đảo điên như thế?” [79, tr.45) Đó là cái xã hội mà quyền cha, quyền vua,
quyền trai là tối thượng: “Vì quyền vua quá nặng, nên phải nặng lây đến
quyền trai, lúc bấy giờ những phường trai dua nịnh, nhờ gió bẻ măng cũng
định kiến đó của xã hội phong kiến, tác giả gọi là “thói hư gia đình”, “nết hư
tư tưởng Nho giáo nhưng chính cụ lại phản ứng, phê phán tư tưởng Nho giáo
hà khắc: “Tôi mới biết con gái nước nhà mình, vì sao mà ti tiện thế này, tôi
con cưng ở nước Nam, mẹ tôi đã không danh giá gì, thì tôi còn mặt mũi nào
thuộc lớp nhà nho đầu tiên được đọc tân thư, tân văn với những quan điểm và
tư tưởng mới mẻ, tiến bộ Đây là tiền đề, là cơ sở để Phan Bội Châu nhận thức
về vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ
1.3.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về nữ quyền
Trong bài Nh ững tiền đề cho sự ra đời diễn ngôn nữ quyền trong các
góp quan trọng của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ từ sau năm 1925: “Phan
Bội Châu đã phát triển vấn đề phụ nữ trong sáng tác của ông lên một ý nghĩa mới: người phụ nữ không chỉ được nhấn mạnh ở phẩm chất anh hùng cứu nước,
Trang 2925
hơn thế, họ đã được quan tâm với việc giải phóng giới mình Diễn ngôn nữ quyền mới này đã giúp Phan Bội Châu vượt qua hạn chế trong quan niệm về phụ nữ giai đoạn trước năm 1925” [124] Nữ quyền là quyền nữ giới hay quyền
của người phụ nữ Đây là một phạm trù mang tính lịch sử Ở mỗi thời đại, ý thức
nữ quyền có những biểu hiện khác nhau Bởi nữ quyền thực chất là đấu tranh để
bảo vệ quyền lợi bình đẳng cho nữ giới như: quyền toàn vẹn và tự chủ về thân thể, quyền nắm giữ chức vụ công, quyền được tiếp nhận giáo dục…
Phan Bội Châu đã dành nhiều tâm huyết để luận giải về vấn đề “Nữ
“Nữ Quyền” Ông cho rằng sự xuất hiện “Nữ Quyền” ở các nước Đông Á
vào khoảng “cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX làn sóng văn minh ở Âu, Mỹ đẩy ít
“Nữ Quyền”” [79, tr.112] Trong đó, tác giả đã định nghĩa về “Nữ Quyền”:
“Theo ở trên mặt chữ mà nói thì “Nữ Quyền” nghĩa là quyền của người đàn
cho đến nguồn gốc chân lý, thăm cho tới nguồn triết học thì “Nữ Quyền” với
“Nam Quyền” tất cả thâu nạp vào trong hai chữ “Nhân Quyền ” “Nhân Quyền” là quyền của người mà cũng có nghĩa là quyền làm người Rằng quyền
người đã bao bọc cả trai với gái, không cần phải phân biệt Nam Quyền, Nữ
phân biệt “Nam Quyền” với “Nữ Quyền” là “dư”, là không cần thiết, dù là
nam hay nữ thì đều là người; đã là người thì tất yếu phải có quyền người và
tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng Quyền người làm nên giá trị của
Trang 30“Nữ Quyền” là do chế độ quân chủ tạo dựng nên để phủ nhận hay hạn chế
quyền làm người của giới nữ: “Nhưng vì từ tệ hại quân chủ chuyên chế phát sinh
như nghĩa tam cương thời được có quyền người, thứ nhất là vua, thứ nhì là cha, thứ ba là chồng, còn ngoài nữa tất cả là vô quyền […]Quyền trai càng ngày
đã áp chế người phụ nữ, đã tước mất quyền họ Thực tế đó khiến tác giả vô cùng bất bình: “Đạo người đến thế đã cực điểm bất bình” [79, tr.113] Có thể
thấy, quan niệm về “Nữ Quyền” của Phan Bội Châu đối lập với quan điểm
Nho giáo vốn đã in sâu vào tâm thức của mỗi người
Phan Bội Châu đặt ra một loạt các câu hỏi để thức tỉnh chị em phụ nữ ý
thức được địa vị của bản thân mình: “Đàn bà con gái có phải cũng loài người
“Các chị em ơi! Đã biết mình là một hạng người mà không phải trâu ngựa hay chưa? Đã biết mình là một phần quốc dân mà không phải con hầu đứa ở hay chưa? Đã biết bạn đàn bà con gái là một bộ phận lớn ở trong xã hội mà
trò, vị trí của phụ nữ trong loài người, trong quốc dân, chứ phụ nữ không phải
Tác giả khẳng định phụ nữ là lực lượng quan trọng góp phần làm nên xã hội
loài người: “Gốc vì phụ nữ là một hạng người ở trong loài người, cũng là một
Trang 3127
trong sự bình đẳng với “Nam Quyền”, và “Nữ Quyền” trong phạm trù “nhân
“Nhân Quyền”, bởi: “Nữ quyền tức là nhân quyền, mà nhân quyền là khi trời sinh ra đã sẵn có, vì cớ sao mà phường đàn bà con gái lại mất hẳn cái quyền làm người” [79, tr.125] “Nhân quyền” là thứ vốn có, là thiên phú Cứ sinh ra
là người thì tất yếu phải có “nhân quyền” Thế mà, phụ nữ nước ta lại “vô
quyền”, lại mất quyền làm người Hai tiếng “cớ sao” vang lên mà như chất
chứa biết bao nỗi bất bình của cụ Phan! Cùng quan điểm với Phan Bội Châu,
tác giả Dã Lan Nữ Sĩ trong bài viết Vấn đề phụ nữ thích đáng bởi những lẽ
gì? In trên báo Tiếng dân, Huế, số 62 (17.3.1928) đã khẳng định: “Người ta sinh ra là có quyền lợi tự nhiên, quyền lợi thiên phú, không ai dày vò được, không ai cướp lấn được, mà con trai con gái, đàn ông đàn bà, đã là loài người thì phải đều có quyền cả Làm sao cái quyền làm người đó chỉ nam tử được hưởng mà nữ tử thì không? Ấy đó là một điều đại bất bình trong xã hội vậy Điều cần kíp của xã hội ngày nay là phải phá bỏ cái nỗi bất bình ấy, được như thế thì mới có thể gọi là nhân quyền phát đạt, mới có thể gọi là chân chính nhân quyền” [65] Với cách luận giải đó, cụ Phan không chỉ
khẳng định vai trò, địa vị của phụ nữ với quốc gia dân tộc mà còn thức tỉnh
chị em phụ nữ đứng lên đấu tranh phá bỏ những áp chế vô lí của xã hội đương
thời để giành lại quyền làm người của mình
Do sớm được tiếp thu tân thư, tân văn ở đầu thế kỉ XX nên quan niệm
về vấn đề phụ nữ của ông có nhiều thay đổi tiến bộ: “Có thể nói, lần đầu tiên
sau hàng nghìn năm phong kiến, một diễn ngôn khoa học về phụ nữ và nữ tính
đã được các nhà nho kiến tạo nên” [108] Sự xuất hiện của các khái niệm như sinh lý học, sinh dục,tâm lý học, cảm giác, tri giác, đã buộc các nhà nho
phải có nhận thức mới về giới nữ Trong “Bài diễn thuyết tại trường Nữ học
Đồng Khánh Huế 17/3/1926”, Phan Bội Châu đã xuất phát từ phương diện
Trang 32đề phụ nữ được tác giả đề cập khá rõ Phan Bội Châu đã lấy sinh lí học để
khẳng định quyền bình đẳng, quyền tự do nhận thức và hành động của người
phụ nữ: “Việc gì đáng nghe, tai con trai nghe được thời tai con gái cũng có
quyền thấy, việc gì đáng chống cự tay chân con trai chống cự được thì tay chân con gái cũng có quyền chống cự, việc gì đáng nói phô, miệng con trai nói phô được thì miệng co gái cũng có quyền nói phô, việc gì đáng ngẫm nghĩ óc con
Theo tác giả, phụ nữ cũng là người giống như con trai, mà quyền làm người
của con trai cũng như quyền làm người của con gái: có tai thì có quyền để nghe, có mắt thì có quyền để nhìn, có chân tay thì có quyền hoạt động, có
miệng thì có quyền được nói và có óc thì có quyền để suy nghĩ Đó là quy luật
của sinh lí học Dựa vào nguyên lí sinh dục, tác giả khẳng định thiên chức, địa
vị cao quý của người phụ nữ: “Vì muốn nòi giống được nảy nở, dòng họ được
“sinh lý” để phê phán gay gắt những “thói hư, nết xấu” của xã hội xưa:
“Theo về lòng sinh dục của tạo hóa, theo về luật sinh lý của triết học, có lẽ nào quý trai mà tiện gái, tôn trai mà ti gái đâu” [79, tr.108] Tư tưởng trọng
nam, khinh nữ là căn nguyên dẫn đến tình trạng phụ nữ phải chịu địa vị thấp
Trang 3329
kém và sự bất bình đẳng nam - nữ trong xã hội Phan Bội Châu đã quyết liệt chống lại những giáo điều khắt khe của xã hội phong kiến để giành lấy quyền làm người cho người phụ nữ Trên cơ sở đó, ông đã xác lập và nhấn mạnh
những quyền lợi và nghĩa vụ của người phụ nữ trong sự bình đẳng với người nam nhi: “Chị em ta đã hay biết được cái nghĩa vụ của mình cũng như con
được hưởng thụ Nghĩa là như các việc kinh tế được bình đẳng với con trai, mai sau đạo đức các chị em ta, trí thức các chị em ta, tài cán các chị em ta, đều là cao lên tột đến cực điểm, thì cái quyền lợi về chính trị, cũng được bình đẳng với con trai” [79, tr.49] Nếu chị em biết được, làm được cái nghĩa vụ
của mình cũng như con trai thì chị em cũng được hưởng thụ những quyền lợi như con trai Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới về kinh tế, về đạo đức,
về chức nghiệp, về giáo dục, thậm chí bình đẳng cả về chính trị
Như vậy, đặt vấn đề phụ nữ trong tương quan với sự phát triển về khoa học của nhân loại là “mở rộng tầm mắt nhìn ra khắp năm châu bốn
Trên cơ sở những kiến thức khoa học mới về lịch sử tiến hóa của nhân loại,
[85, tr.202] Phan Bội Châu có niềm tin vào người phụ nữ: “Chị em nếu một
mà đỡ gánh non sông, xúm sức quần thoa mà vần xây vận hội; chắc có một ngày bà Trưng Nữ Vương thứ hai xuất hiện ở thế kỉ này” [79, tr.46-47] Từ
việc tin tưởng vào “trí khôn”, “năng lực” và ý thức “tự lập”, “tự cường”,
Trang 3430
tác giả đã thôi thúc chị em phụ nữ phải biết “tranh lấy”, “giữ lấy” quyền lợi
chính đáng của mình; phải xác định được trách nhiệm của bản thân với gia
đình - “gia đình ác kia, có ngày ta cải lương”, với xã hội - “xã hội hủ kia, có
cụ Phan tiếp tục nhấn mạnh trách nhiệm của người phụ nữ với quốc gia trong
sự bình đẳng với nam giới: “Gánh việc quốc gia, trả thù đánh giặc, con trai
làm được lẽ đâu lại cấm con gái không được làm” [79, tr.114] Theo tác giả,
gánh vác việc xã hội, quốc gia là những việc mà chị em “đáng làm”: “Chị em
ta thử nghĩ, ở trong câu “việc gì đáng làm” đó có việc gì đáng làm hơn việc xã hội nữa đâu? Vì xã hội có người cày thì ta mới có cơm ăn, vì xã hội có người dệt thì ta mới có áo mặc, vì xã hội có công tác, có giao thông mà ta mới có chỗ yên ở, chỗ vui chơi” [79, tr.114] Tất thảy mọi người đều chịu ơn xã hội Xã
hội đã cưu mang, che chở, đùm bọc mỗi chúng ta Quyền lợi mà xã hội đem đến cho mỗi người là vô cùng! Vì thế, gánh vác việc xã hội là trách nhiệm của
mỗi người, không phân biệt nam - nữ: “Ta hết lòng gánh việc xã hội tức là hết
nghĩa vụ làm người mà quyền người mới có thể khôi phục được Quyền người
đã khôi phục được thời quyền gái chẳng cần nói nữa” [79, tr.114] Khi hết
lòng gánh vác việc xã hội, ta không những hoàn thành nghĩa vụ làm người mà còn khôi phục được quyền người, trong đó có quyền gái Nhận thấy tầm quan
trọng đó, Phan Bội Châu đã động viên, khích lệ, hô hào, kêu gọi chị em phụ
nữ hãy gắng sức: “Xin các chị em gắng sức hết lòng, trông lên cái đỉnh tháp
Bên cạnh thái độ ca ngợi những người phụ nữ hết lòng gánh vác việc xã hội, tác giả còn kịch liệt phê phán phong trào nữ quyền của một số chị em phụ
nữ thành thị, đặc biệt là phụ nữ Tây học đã có sự tha hóa (sa vào các tệ nạn cờ
bạc, bói toán…); phê phán những “cô gái mới”, những “cô gái tân thời”
Trang 3531
thích sống theo ý mình, thích chơi thể thao, thích đọc tiểu thuyết lãng mạn, từ
chối công việc nội trợ…Quan niệm và lối sống của họ đang dần rời xa và đi ngược lại với quan niệm đạo đức truyền thống của dân tộc về người phụ nữ
Trong bài V ấn đề phụ nữ (Trả lời cuộc trưng cầu ý kiến của báo Phụ nữ Tân Văn), khi nghĩ về tư cách của một bộ phận phụ nữ chạy theo lối sống văn
minh rởm, văn minh hình thức, cụ Phan đã bày tỏ nỗi thất vọng: “Còn một
đầu không bao giờ ngớt nước bông; được ông Tham, ông Đốc ghé mắt liếc qua đã tự vị là thần thánh; nghe mẹc xì, bông dua, lặp được đôi tiếng thời đã khoe mình là văn minh! Kể tấn bộ thời chỉ thấy những lên xe ô tô, vào nhà hát
đánh tài bàn, tứ sắc, thế là rất mực khôn ngoan rồi đó! Nghĩ tư cách phụ nữ nước ta như thế…” [79, tr.437] Trong Bài diễn thuyết tại Nữ công học hội
“Tức như nước bông, sáp, phấn vẫn xưa nay nước ta có đâu, mà thứ nhất lại
gở thay! Chán ngán thay!” [79, tr.54] Đến bài Giễu cô nữ sinh trường Đồng
“không” “có” /Hỏi giá “ong” “đơ” liệu “một”, “hai” /Bà mụ nhà quê quên
mai, chế giễu, Phan Bội Châu đã phê phán thực trạng một số các cô gái mới
lớn chỉ lo chạy theo nước hoa, phấn sáp mà đánh mất đi những vẻ đẹp truyền
thống của dân tộc Đó là những người phụ nữ không lo trau dồi chức nghiệp,
Trang 3632
không tự lập, tự cường; mà chỉ biết hưởng thụ: “Nếu chị em ta, không trước để
Phan Bội Châu tuy đấu tranh quyết liệt để đòi nhân quyền cho phụ nữ nhưng ông lại lại chưa quan tâm đến ý thức về hình thể, quyền về hình thể của người phụ nữ Thậm chí, ông đã bày tỏ nỗi bất bình về thực trạng một bộ phận phụ
nữ “đua hồng diện lục” [79, tr.438]: “Quái gở thay! Chán ngán thay!” [79, tr.54] Phan Bội Châu đã nhìn nhận thực trạng đó và chỉ ra nguyên nhân dẫn
đến thực trạng đó là do chế độ giáo dục giả dối: “Khốn khổ nhất là giáo dục
báu vì đua hồng diện lục; mua được một lá bằng tốt nghiệp, thời xem cha mẹ, chú bác không đáng một xu, mang được một cái nốt ma đam thời xem đất nước quê hương không bằng một sợi tóc, thế mà nữ sĩ này, nữ sĩ nọ, danh hiệu um sùm, thế mà nay nữ quyền, mai nữ quyền, kêu rêu xao xác, phụ nữ như thế, còn vấn đề gì mà phải bàn nữa đâu! Những người còn có tâm huyết, còn có can trường, xét đến tình trạng phụ nữ xã hội ta, bảo không chán ngán
nhưng ông lại phê phán giáo dục đương thời là giáo dục giả dối, giáo dục hình thức Vì thế, ông kêu gọi chị em phải biết nâng cao tri thức bằng nền giáo dục
thực sự Trong bối cảnh xã hội thực tại, cách giáo dục tốt nhất đối với chị em
phụ nữ là: “Chị em tự giáo dục lấy mình, ấy là thượng sách” [79, tr.439]
Trang 3733
Có thể nói, đấu tranh cho “Nữ Quyền” là một trong những nội dung
quan trọng trong tư tưởng duy tân của Phan Bội Châu Ông đã đặt người phụ
nữ trong mối quan hệ mật thiết với dân tộc, số phận của họ gắn liền với vận
mệnh của dân tộc Đồng thời, ông cũng khẳng định, đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của người phụ nữ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Theo Bùi Trân Phượng, Bài diễn thuyết tại trường Nữ học Đồng Khánh - Huế,
Chỉ ba tháng sau diễn văn quan trọng này, tổ chức Nữ công học hội ra đời - tổ chức phụ nữ đầu tiên của nước ta
1.3.4 Quan điểm của Phan bội Châu về phụ nữ vận động
Từ sau năm 1925, vấn đề phụ nữ vận động là một đóng góp quan trọng trong tư tưởng của Phan Bội Châu Điều đó đã được tác giả Đặng Thị Vân Chi
khẳng định:“quan điểm tiến bộ của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ đó là
đường lối vận động phụ nữ của ông Ở thời điểm này, ngoài Đảng Cộng sản,
có lẽ Phan Bội Châu là người duy nhất đặt vấn đề vận động phụ nữ và liên kết đoàn thể phụ nữ” [110] Chính Phan Bội Châu cũng khẳng định: “Phụ nữ vận động là một việc cần thiết trong xã hội đời bây giờ” [79, tr.114] Theo ông,
muốn bắt tay vào việc vận động phụ nữ thì trước hết phải thấy được vai trò quan trọng của phụ nữ trong loài người, trong quốc gia, trong xã hội:
“1 Phải biết phụ nữ là một hạng người không thiếu được ở trong loài người
2 Phải biết phụ nữ là một suất dân không thiếu được ở trong dân nước
3 Phải biết phụ nữ là một bộ phận rất lớn ở trong xã hội.” [79, tr.115]
Vì thế, tác giả đã chỉ rõ phương châm vận động cần có 4 điều sau:
“1 Mở mang về đường trí thức của phụ nữ
Trang 3834
4 Nâng cao địa vị của phụ nữ.” [79, tr.115]
Trong 4 nội dung về đường hướng phụ nữ vận động ở trên, theo Phan
Bội Châu, việc “mở mang về đường trí thức của phụ nữ” là việc đầu tiên và
quan trọng nhất Ông cho rằng: chỉ có nâng cao trình độ trí thức cho phụ nữ
mới có thể thực hiện nâng cao địa vị cho phụ nữ Vì vậy, ông luôn trăn trở:“Tôi
suy đi nghĩ lại, muốn rửa sạch cái xấu hổ này, chỉ có một sự là làm sao cho
quý, danh giá: “Người con gái các nước vì học mà cao quý như kia, chắc là con gái nước ta vì không học mà ti tiện như thế” Học hành để chị em có trí
khôn, có thể tự lập, tự cường: “Trời đã sinh ra các chị em, thì các chị em cũng
khuyên chị em: “phải lo như thế nào cho đủ tư cách tự lập, chẳng cần nương
biện pháp “thần diệu” nhất: “Chỉ nhờ sức tự động của chị em mình, mình
mình, vấn đề phụ nữ phải do chính phụ nữ tự quyết định: “Mắt chị em vẫn
hay thấy, tai chị em vẫn hay nghe, miệng lưỡi chị em vẫn hay nói, óc thiêng
câm đặng; mình không tự ngu lấy mình, mà ai bắt mình ngu đặng ? […] Hễ
cũng chỉ bấy nhiêu” [79, tr.439]
Trang 3935
Khi đường tri thức của phụ nữ được mở mang thì chị em phải biết hợp
quần, phải biết liên kết đoàn thể Cụ Phan vô cùng đau xót trước thực trạng dân trí mà ông gọi đó là “một ổ si ngu” Ông đã kể ra 5 điều chí ngu của dân
to” - phô trương, hoang phí, ba là “Chỉ lo lợi kỉ, không lo hợp quần”, bốn là
“Tiếc của riêng mất hẳn lợi chung” - đặt quyền lợi của cá nhân lên trên
quyền lợi chung, năm là “Thân gia xem nặng xem ra bỏ liều” [80, tr.59]
Trong 5 điều chí ngu đó, “không lo hợp quần” là một trong những điều ngu
lớn nhất của dân ta Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình cảnh đất nước
tăm tối và thân phận nô lệ của dân ta Trong đó, thực trạng phụ nữ ta “ti tiện”
là nỗi đau lớn nhất của ông, là thảm họa của đất nước Bởi, trong xã hội phong kiến, người phụ nữ không được học hành, không có địa vị từ trong gia đình đến xã hội Trong khi đó, chị em phụ nữ cũng là người, chị em phụ nữ cũng là một suất dân trong nước, cũng có quyền và nghĩa vụ như nam giới
Đã là dân ta thì không phân biệt nam hay nữ Trong Nữ quốc dân tu tri, tác
giả đã định nghĩa hợp: “Hợp quần là sao? /Nhóm bầy làm việc /Trăm rìu
gắn kết, đồng tâm, đồng lòng…là tinh thần đoàn kết của cộng đồng, của tập
thể Theo tác giả, hợp quần là tất yếu, bởi hợp quần gắn với sự thịnh suy của
đất nước: “Xét cùng mọi việc, /Nên phải hợp quần /Muốn cho nên quần,
được gông xiềng bất công của chế độ thực dân phong kiến, mà bước lên đài
bình đẳng: “Hợp cả thảy người đồng một lòng, đều một sức bẻ đôi gông vô
đạo, chặt đứt cái xiềng bất nhơn, khiến cho cái ma cướp bóc quyền mình phải lượm tay, cúi đầu mà nhường mình lên đài bình đẳng” [79, tr.117] Chỉ có
Trang 4036
hợp quần mới giúp cho dân giàu, nước mạnh: “Ai nấy đồng lòng /Quần hợp
đã xong, /Nhà ta hưng vượng” [80, tr.35] Đến Việt Nam quốc sử bình diễn
ca, Phan Bội Châu tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của việc “hợp
quần”: “Quần đông thời việc chóng nên, /Hợp quần ấy chắc là nền móng ta”
[80,tr.69] Tác giả cũng chỉ rõ sự cần thiết và lợi ích của hợp quần trong mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, hợp quần mới tạo nên lợi nhuận: “Quần có hợp mới giàu tiền vốn, /Cổ phần đông thời điếm mới
/Khách qua l ại, ai lo đón rước? /Ai thăm dò sản Bắc, hóa Nam? /Ai chạy vạy,
lĩnh vực kinh tế không chỉ là sự nhóm họp, liên kết giữa người với người mà còn liên kết về tiền vốn, về cổ phần Cổ phần càng đông, tiền vốn càng nhiều thì lợi nhuận càng lớn Ta thấy, quan niệm trên của Phan Bội Châu là một quan niệm mới, chịu ảnh hưởng của khuynh hướng dân chủ tư sản phương Tây Hợp quần mới tập hợp được những người đồng tâm, đồng lòng, cùng chí
hướng…tạo nên sức mạnh của đoàn thể để giành độc lập cho dân tộc: “Nước
như thế là quyền độc lập, /Bởi hợp quần vun đắp mới lên /Người trong một nước muôn nghìn, /Một lòng, một sức, một đoàn thể to.” [80, tr.71]
Trong một số tác phẩm, Phan Bội Châu đã kêu gọi chị em phụ nữ hợp
quần để phát triển kinh tế, xây dựng đoàn thể, góp sức vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đọc Bài ca chúc tết thanh niên (1927), ta thấy được
nhiệt huyết cách mạng vẫn nồng nàn, cháy bỏng của nhà chí sĩ qua lời giục giã chị em phụ nữ phải “liên hiệp lại” để “xốc vác cựu giang sơn”, để “rửa
giới phụ nữ Huế được thành lập năm 1926, do bà Đạm Phương làm Hội trưởng Hội Nữ công không chỉ dạy các môn nữ công gia chánh cho các bạn