Nếu thực hiện được các biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ theo hướng sử dụng và làm phong phú trải nghiệm của trẻ thông qua những hoạt động đa dạng, hấp dẫn ở trường mầm non,
Trang 1NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
GI¸O DôC Kü N¡NG PHßNG TR¸NH TAI N¹N,
TH¦¥NG TÝCH CHO TRÎ 4-5 TUæI ë TR¦êNG MÇM NON
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2020
Trang 2NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
GI¸O DôC Kü N¡NG PHßNG TR¸NH TAI N¹N,
TH¦¥NG TÝCH CHO TRÎ 4-5 TUæI ë TR¦êNG MÇM NON
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Mã số: 9.14.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Phương
PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI, 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng 09 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Dung
Trang 4Luận án “Giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non” được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Giáo dục Mầm non, các thầy cô giáo và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thị Phương, PGS.TS Nguyễn Thanh Bình - những người đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ, định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, các cháu lớp mẫu giáo 4-5 tuổi tại các trường mầm non: Hoa Hồng, Kim Chung, Liên Mạc – Thành phố Hà Nội
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình của tôi đã luôn động viên, bên cạnh, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận án
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Dung
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Những luận điểm bảo vệ 6
9 Những đóng góp mới của luận án 7
10 Cấu trúc luận án 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN, THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Nghiên cứu tai nạn, thương tích ở trẻ em 8
1.1.2 Nghiên cứu kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ em 10
1.1.3 Nghiên cứu giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ em 12
1.2 Phòng tránh tai nạn, thương tích ở trẻ em 17
1.2.1 Khái niệm và phân loại tai nạn, thương tích ở trẻ em 17
1.2.2 Khái niệm và các cấp độ phòng tránh tai nạn, thương tích ở trẻ em 23
1.3 Kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi 25
1.3.1 Khái niệm “Kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích”của trẻ 4-5 tuổi 25
1.3.2 Các kỹ năng thành phần của kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích ở trẻ 4-5 tuổi 27
1.3.3 Sự hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi 29
1.3.4 Đặc điểm kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi 32
1.4 Quá trình giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 37
1.4.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 37
1.4.2 Các quan điểm tiếp cận giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 38
1.4.3 Mục tiêu và nguyên tắcgiáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 41
Trang 61.4.5 Phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích
cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 45
1.4.6 Đánh giá việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 48
1.4.7 Các điều kiện giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 48
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 49
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG
PHÒNG TRÁNH TAI NẠN, THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 54
2.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi trong chương trình giáo dục mầm non 54
2.1.1 Mục tiêu giáo dục 54
2.1.2 Nội dung giáo dục 55
2.1.3 Phương pháp giáo dục 56
2.2 Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 57
2.2.1 Khái quát về tổ chức khảo sát 57
2.2.2 Kết quả khảo sát 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN, THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 86
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 86
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 86
3.1.2 Đảm bảo phù hợp với quá trình hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi 86
3.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 87
3.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tiễn của trường mầm non 87
3.2 Đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 87
3.2.1 Xây dựng môi trường giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trải nghiệm kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích an toàn, có hiệu quả 87
Trang 73.2.3 Sử dụng trò chơi luyện tập kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ
mẫu giáo 4-5 tuổi 102
3.2.4 Lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT trong các hoạt động hằng ngày ở trường mầm non 109
3.2.5 Phối hợp với phụ huynh nhằm tạo cơ hội cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi được rèn luyện kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích thường xuyên 114
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 120
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 121
4.1 Khái quát về quá trình thực nghiệm 121
4.1.1 Mục đích thực nghiệm 121
4.1.2 Nội dung thực nghiệm 121
4.1.3 Đối tượng, thời gian và địa điểm thực nghiệm 122
4.1.4 Tiến trình thực nghiệm 122
4.1.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 123
4.2 Kết quả thực nghiệm 123
4.2.1 Kết quả thực nghiệm thăm dò 123
4.2.2 Kết quả thực nghiệm chính thức 125
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 147
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 8TT Ký hiệu Nguyên nghĩa
Trang 9Bảng 2.1 Quan niệm của GV về KN phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi 60
Bảng 2.2 Ý kiến của GV về các KN thành phần của KN phòng tránh TNTT 62
Bảng 2.3 Ý kiến của GV về mục tiêu giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4- 5 tuổi ở trường mầm non 63
Bảng 2.4 Ý kiến của GV về phương pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4- 5 tuổi được GV sử dụng ở trường mầm non 65
Bảng 2.5 Ý kiến của GV về hình thức giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4- 5 tuổi ở trường mầm non 66
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về các điều kiện để giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4- 5 tuổi ở trường mầm non 67
Bảng 2.7: Ý kiến của GV về các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTTcho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non 67
Bảng 2.8 Ý kiến của PH về các KN thành phần của KN phòng tránh TNTT 71
Bảng 2.9 Các nguồn tham khảo mà PH sử dụng khi tiến hành việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ ở gia đình 72
Bảng 2.10 Biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ ở gia đình 73
Bảng 2.11 KN phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 75
Bảng 2.12 KN nhận diện các tình huống dễ gây TNTT của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 76
Bảng 2.13 KN lựa chọn giải pháp ứng phó với các tình huống dễ gây TNTT của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 77
Bảng 2.14 KN thực hiện giải pháp ứng phó với các tình huống dễ gây TNTT của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi 79
Bảng 2.15 KN phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi (theo bài tập) 81
Bảng 4.1 KN phòng tránh TNTT của trẻ trước và sau TN thăm dò 124
Bảng 4.2 KN phòng tránh TNTT của trẻ lớp ĐC và TN trước TN (theo mức độ) 126 Bảng 4.3 KN phòng tránh TNTT của trẻ lớp ĐC và TN trước TN (theo tiêu chí) 128 Bảng 4.4 KN phòng tránh TNTT của trẻ nam và nữ nhóm ĐC và TN trước TN 128
Bảng 4.5 Sự tương quan giữa các KN phòng tránh TNTT 129 Bảng 4.6 KN phòng tránh TNTT của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN (theo mức độ) 132
Trang 10trước và sau TN 139
Bảng 4.9 So sánh KN phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 tuổi ở nhóm ĐC, 139
trước và sau TN 139
Bảng 4.10 KN phòng tránh TNTT của trẻ nhóm TN trước và sau TN 140
Bảng 4.11 Kiểm định sự chênh lệch giá trị trung bình trước và sau TN của nhóm TN 142
Bảng 4.12 KN phòng tránh TNTT của trẻ nhóm ĐC trước và sau TN 142
Bảng 4.13 Kiểm định sự chênh lệch giá trị trung bình trước và sau TN 144
của nhóm ĐC 144
Bảng 4.14 KN phòng tránh TNTT của trẻ nhóm TN theo địa bàn 144
Bảng 4.15 KN phòng tránh TNTT của trẻ nhóm TN theo giới tính 145
Trang 11Biểu đồ 2.1 KN phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi 75 Biểu đồ 2.2 So sánh các KN phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi 80
Biểu đồ 4.1 Sự tương quan giữa các KN phòng tránh TNTT 129 Biểu đồ 4.2 KN phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 tuổi nhóm ĐC và TN sau TN theo mức độ 132 Biểu đồ 4.3 KN phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 tuổi nhóm ĐC và TN sau TN theo tiêu chí 133
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ, con người đã tạo ra được ngày càng nhiều các phương tiện, trang thiết bị, vật dụng với những tính năng đa dạng, phong phú nhằm hướng tới phục vụ cho nhu cầu của chính họ Tuy nhiên, đi kèm theo đó là sự xuất hiện vô vàn những mối nguy hiểm tiềm ẩn khác có thể dẫn đến tai nạn, thương tích (TNTT) cho con người nói chung và trẻ em nói riêng như: thiết bị điện, điện tử, hóa chất, Các số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy, TNTT chính là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và tử vong cho trẻ em trên toàn thế giới Ở nước ta, trong giai đoạn 2010-
2014, trung bình mỗi ngày có khoảng 580 trẻ em bị tai nạn, thương tích các loại như: tai nạn giao thông, đuối nước, ngã, điện giật, bỏng, và mỗi ngày có hàng chục gia đình chịu mất mát, đau thương vì sự ra đi của con em họ do TNTT Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đếnTNTT ở trẻ em như: sự chủ quan, bất cẩn của người lớn, môi trường không đảm bảo an toàn trong đó, một nguyên nhân sâu xa cần phải nói đến chính là năng lực nhận biết và ứng phó của trẻ với những mối nguy hiểm xung quanh vẫn còn hạn chế Chính vì vậy, việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng (KN) cần thiết để nhận diện, ứng phó hiệu quả với những mối nguy hiểm và đảm bảo an toàn cho bản
thân là nhiệm vụ cấp thiết cần được đặt ra trong bối cảnh xã hội hiện nay
1.2 Việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em hiện nay đang nhận được
sự quan tâm, chú ý của nhiều Bộ, ngành có liên quan và của toàn xã hội, đồng thời đã được đưa vào trong nội dung chương trình giáo dục mầm non hiện hành Tuy nhiên, hiệu quả giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ còn thấp, việc thực hiện KN này của trẻ vẫn bộc lộ nhiều hạn chế trong hành động ứng phó đối với các mối nguy hiểm tiềm
ẩn xung quanh Trong khi đó, người lớn thường không tin tưởng vào khả năng độc lập
xử lý các vấn đề trong cuộc sống của trẻ và tìm cách ngăn cản, cấm đoán trẻ tiếp xúc với các mối nguy hiểm hoặc có thói quen làm giúp trẻ mọi việc Tuy nhiên, trẻ em vốn hiếu động và luôn thích thú, tò mò với việc khám phá thế giới xung quanh, và người lớn không phải lúc nào cũng có thể ở bên cạnh để bảo vệ trẻ Chính vì vậy, thay vì làm giúp trẻ mọi việc, người lớn nên hướng dẫn trẻ tự bảo vệ mình, tự nhận biết và ứng phó với những mối nguy hiểm xung quanh, đó mới chính là cách tốt nhất để giúp trẻ tránh được những rủi ro trong cuộc sống, sống an toàn, khỏe mạnh và phát triển tốt trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào
Trang 131.3 Giai đoạn 4-5 tuổi là lứa tuổi thuận lợi đối với việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ Do nhu cầu vận động tăng cao, phạm vi hoạt động, giao tiếp được mở rộng, trẻ tích lũy được ngày càng nhiều vốn biểu tượng phong phú về thế giới xung quanh, độ nhạy cảm của các giác quan trong việc nhận biết, phân biệt đặc điểm của các sự vật, hiện tượng ngày càng trở nên chính xác và tinh nhạy hơn so với giai đoạn lứa tuổi trước Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của tư duy trực quan hình tượng, trẻ có thể hình dung được các hành động thực tiễn với đối tượng cũng như kết quả của
hành động ấythông qua “phép thử ngầm trong óc” Vì thế, trẻ đã chủ động hơn trong
việc dự kiến và lập kế hoạch hoạt động đảm bảo an toàn cho bản thân Khả năng ngôn ngữ của trẻ 4-5 tuổi cũng đã phát triển lên một giai đoạn mới, giúp trẻ có thể hiểu và giải thích được khá rõ ràng những mối quan hệ nhân - quả đơn giản trong cuộc sống hằng ngày Bên cạnh đó, trẻ 4-5 tuổi đã bắt đầu hình thành trí nhớ có chủ định, các loại trí nhớ đều phát triển: trí nhớ hình ảnh, trí nhớ ngôn ngữ, trí nhớ vận động, Điều này giúp trẻ dễ dàng hơn trong việc ghi nhớ và thực hiện lại các thao tác hành động cụ thể
để ứng phó với các tình huống dễ gây TNTT Hơn nữa, nhờ sự hoàn thiện của KN vận động, sự tự tin, thoải mái trong việc tham gia các hoạt động, trẻ 4-5 tuổi có thể thực hiện các KN ứng phó với tình huống đó một cách thành thạo và khéo léo hơn so với giai đoạn lứa tuổi trước Trẻ 4-5 tuổi bắt đầu có khả năng kiềm chế những biểu hiện mạnh mẽ, đột ngột của của xúc cảm như kiềm chế nỗi sợ hãi, lo lắng, cố gắng không khóc lóc… vì thế, khi gặp tình huống nguy hiểm, trẻ đã điều khiển được cảm xúc của bản thân để thực hiện hành động ứng phó có hiệu quả
1.4 Trên thực tế, các trường mầm non (MN) hiện nay chú trọng việc đầu tư xây dựng môi trường đảm bảoan toàn hơn là tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động đa dạng, phong phú với mục đích giáo dục KN phòng tránh TNTT Giáo viên mầm non (GVMN) mặc dù đã nhận thức được sự cần thiết của vấn đề, tuy nhiên họ vẫn còn khá lúng túng trong việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ có hiệu quả; chưa khai thác được thế mạnh của các hoạt động ở nhà trường trong quá trình giáo dục KN này Việc giáo dục KN phòng tránh TNTT mặc dù đã được giáo viên (GV) lồng ghép vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ hằng ngày nhưng chủ yếu mới chỉ hướng đến cung cấp hiểu biết cho trẻ về cách phòng tránh TNTT hơn là tổ chức cho trẻ thực hành, trải nghiệm KN, vì vậy, chưa thực sự mang lại hiệu quả cao trong quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ
Trang 14Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giáo dục kỹ năng
phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non”
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5
tuổi ở trường MN
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ
4-5 tuổi ở trường MN
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, các trường mầm non đã quan tâm đến giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ, nhưng trên thực tế, KN này của trẻ 4-5 tuổi còn hạn chế dẫn đến tai nạn, thương tích vẫn xảy ra với trẻ
Nếu thực hiện được các biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ theo hướng sử dụng và làm phong phú trải nghiệm của trẻ thông qua những hoạt động đa dạng, hấp dẫn ở trường mầm non, bằng việc xây dựng môi trường giáo dục KN phòng tránh TNTT an toàn, thuận lợi, đến tổ chức các hoạt động rèn luyện kĩ năng trong nhiều tình huống và tích cực vận dụng kinh nghiệm vào thực tiễn cuộc sống thì KN phòng tránh TNTT của trẻ sẽ được phát triển tốt hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi
6.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các TNTT không chủ định thường gặp ở trẻ 4-5 tuổi có liên quan đến vật dụng, động thực vật, địa điểm hoạt động và hành động của trẻ
Trang 15- Nghiên cứu các KN phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 tuổi, bao gồm:KN nhận diện tình huống dễ gây TNTT, KN lựa chọn giải pháp ứng phó với tình huống dễ gây TNTT, KN thực hiện giải pháp ứng phó với tình huống dễ gây TNTT
- Nghiên cứu biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường MN
6.2 Giới hạn khách thể điều tra
- Giáo viên mầm non: 150 GVMN tại một số trường MN trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Ban Giám hiệu của một số trường MN trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Trẻ mầm non: 80 trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Kim Chung trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phụ huynh: 80 phụ huynh có trẻ đang học tại trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Kim Chung trên địa bàn thành phố Hà Nội
6.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Tiến hành khảo sát thực trạng và thực nghiệm tại một số trường MN trên địa bàn thành phố Hà Nội (trường mầm non Hoa Hồng, quận Cầu Giấy, trường mầm non Kim Chung, huyện Hoài Đức, và trường mầm non Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội)
6.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu
- Thời gian khảo sát thực trạng từ tháng 02/2018 đến tháng 05/2018
- Thời gian thực nghiệm từ tháng 09/2018 đến tháng 03/2019
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách tiếp cận
7.1.1 Tiếp cận hoạt động
Sự hình thành và phát triển KN phòng tránh TNTT của trẻ chỉ có hiệu quả nếu tiến hành thông qua các hoạt động phù hợp với hứng thú, khả năng, kinh nghiệm của trẻ Ở trường MN, trẻ được tham gia nhiều hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc tạo môi trường cho trẻ trải nghiệm cảm xúc, hình thành kĩ năng ứng phó với TNTT Do vậy, cần lựa chọn những hoạt động phong phú, đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với trẻ 4-5 tuổi ở trường MN và tạo ra các cơ hội cho trẻ được rèn luyện
KN này một cách thường xuyên, có hệ thống
7.1.2 Tiếp cận phát triển
Sự hình thành và phát triển KN phòng tránh TNTT của trẻ luôn gắn liền với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ qua các giai đoạn lứa tuổi khác nhau.Vì vậy, nhà giáo dục cần đánh giá đúng mức độ hình thành KN này của trẻ ở thời điểm hiện tại trong sự vận
Trang 16động, phát triển tâm sinh lý lứa tuổi, từ đó, tiến hành cung cấp kiến thức và tổ chức cho trẻ luyện tập KN phù hợp với mức độ hiện có của trẻ Đặc biệt, các TNTT khi xảy
ra thường gây nguy hiểm đối với trẻ, nên cách học tốt nhất chính là học thông qua quan sát, bắt chước theo mẫu hành động của người lớn và bạn bè xung quanh, trong
đó, người lớn và bạn bè đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển KN của trẻ đi từ
“vùng phát triển hiện tại” lên “vùng phát triển gần nhất”
7.1.3 Tiếp cận tích hợp
Việc học của trẻ mầm non chỉ có hiệu quả nếu được thực hiện tích hợp thông qua các hoạt động đa dạng trong môi trường sống Do vậy, giáo dục kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ cần được thực hiện lồng ghép, tích hợp thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ, nhằm hướng tới hình thành ở trẻ những năng lực cần thiết để giải quyết, ứng phó có hiệu quả với các tình huống dễ gây nguy hiểm trong cuộc sống, từ đó, tác động một cách đồng bộ đến tất cả các mặt phát triển của trẻ
(thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội…)
7.1.4 Tiếp cận cá nhân
Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt với nhận thức, cảm xúc, kinh nghiệm, nhu cầu và đặc điểm thể chất khác nhau Do vậy, việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ cần tôn trọng đặc điểm cá nhân của trẻ để tạo các điều kiện, sử dụng các biện pháp giáo dục phù hợp với khả năng của trẻ Chỉ khi giáo viên hiểu rõ đặc điểm của trẻ, hiểu được nhu cầu, mong muốn, khả năng, kinh nghiệm cũng như sự khác biệt của mỗi đứa trẻ thì mới có thể tạo ra các tình huống cho trẻ trải nghiệm có ý nghĩa đối với chúng
7.1.5 Tiếp cận thực tiễn
Các TNTT thường xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống của trẻ Chính thực tiễn cuộc sống là nơi trẻ phải thường xuyên đối mặt với các tình huống dễ gây TNTT, nơi trẻ được trải nghiệm, rèn luyện cách ứng phó TNTT, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm hiệu quả giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ Do vậy, cần dựa vào đặc điểm, điều kiện sống của trẻ ở gia đình, nhà trường, tận dụng các điều kiện sẵn có để xây dựng môi trường và tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú nhằm giúp trẻ được trải nghiệm và rèn luyện kĩ năng phòng tránh TNTT
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những nguồn tài liệu
có liên quan đến vấn đề giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em; xác định hệ thống các khái niệm, quan điểm, xây dựng khung lí thuyết, định hướng phương pháp luận, thiết kế
điều tra và thực nghiệm khoa học
Trang 177.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát trẻ trong quá trình hoạt động, trong đó đặc biệt chú ý đến cách ứng phó với các tình huống dễ gây TNTT của trẻ 4-5 tuổi ở trường MN Quan sát những thay đổi về KN phòng, tránh TNTT của trẻ khi có tác động sư phạm
Quan sát GV sử dụng các biện pháp để giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi, học tập kinh nghiệm, phát hiện khó khăn, thuận lợi và những hạn chế của họ
7.2.2.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra GV, kết hợp phỏng vấn trực tiếp nhằm tìm hiểu nhận thức, biện pháp của GV về việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi
Sử dụng bài tập đo nhằm đánh giá mức độ KN phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 tuổi
7.2.3.5 Phương pháp chuyên gia
Thu thập ý kiến của các chuyên gia về xây dựng các tiêu chí đánh giá, các bài tập
đo mức độ hình thành KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi; định hướng đề xuất các
biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi
7.2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm các biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi đã xây dựng nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất và sự đúng đắn của giả thuyết khoa học, qua kỹ thuật chọn mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng tương đương, so sánh đầu vào và đầu ra của mẫu thực nghiệm
7.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng một số công thức thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được từ khảo sát thực trạng và thực nghiệm làm căn cứ đánh giá định tính kết quả nghiên cứu
8 Những luận điểm bảo vệ
8.1 Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có thể lĩnh hội các kỹ năng phòng tránh TNTT như: nhận diện tình huống dễ gây TNTT, lựa chọn và thực hiện giải pháp ứng phó với tình
Trang 18huống dễ gây TNTT, cũng như có thể sử dụng các kỹ năng này để tự bảo vệ bản thân trong những tình huống nguy hiểm liên quan đến vật dụng, động thực vật, địa điểm, hành động của trẻ nếu được hướng dẫn và luyện tập thường xuyên, có hệ thống 8.2 Sự hình thành kỹ năng phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 được bắt đầu từ việc trẻ khám phá (quan sát, ghi nhớ) mẫu hành động phòng tránh TNTT đến luyện tập cách ứng phó với những tình huống dễ gây TNTT, từ đó, trẻ sẽ chủ động phòng tránh TNTT trong các hoạt động hằng ngày
8.3 Việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi có thể tiến hành thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ ở trường mầm non, được bắt đầu từ việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thuận lợi, đến tổ chức các hoạt động cho trẻ thực hành, trải nghiệm kĩ năng và tạo cơ hội để trẻ tích cực vận dụng kinh nghiệm phòng tránh TNTT vào thực tiễn cuộc sống
9 Những đóng góp mới của luận án
9.1 Hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận về KN phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi và việc giáo dục KN này cho trẻ 4-5 tuổi ở trường MN 9.2 Cung cấp tư liệu về thực trạng giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi ở một số trường MN trên địa bàn Hà Nội hiện nay và mức độ hình thành KN phòng tránh TNTT của trẻ 4-5 tuổi, giúp cho các trường MN có cơ sở để điều chỉnh quá trình giáo dục kịp thời
9.3 Các biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi được đề xuất
là một tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng GVMN Đồng thời, các trường MN có thể vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế để
góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN,
THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ chủ động phòng ngừa những hậu quả đáng tiếc do TNTT gây ra đối với trẻ Vì vậy, vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, các cơ quan, tổ chức Y tế trong và ngoài nước Tựu trung lại, có thể tổng hợp thành các hướng nghiên cứu chính như sau:
1.1.1 Nghiên cứu tai nạn, thương tích ở trẻ em
Các nghiên cứu theo hướng này trước hết đã khẳng định sự cần thiết của việc phòng tránh TNTT cho trẻ em, chỉ rõ những yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ,
từ đó, đề xuất các chiến lược, chương trình hành động, biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu TNTT ở trẻ em
Về sự cần thiết của việc phòng tránh TNTT cho trẻ em: Nghiên cứu về sự cần
thiết của việc phòng tránh TNTT cho trẻ em chủ yếu được đề cập đến trong một số tài liệu như: tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [66], Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) [60], Cơ quan Y tế công cộng nước Anh (Public Healthy England) [69], Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội [10] Những tài liệu này
đã chỉ ra thực trạng đáng báo động về tình hình TNTT của trẻ em trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay và sự cấp thiết của vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ Trong
đó, TNTT được xem là “kẻ giết người nguy hiểm đối với trẻ em trên toàn thế giới” [66], đồng thời, xác định vấn đề TNTT trẻ em “đang trở thành vấn đề y tế cộng đồng
đe dọa tới sự sống còn và phát triển của trẻ” [10]
Tính cấp thiết của vấn đề phòng tránh TNTT cho trẻ em còn được thể hiện trong các văn bản, chỉ thị của Nhà nước, của các Bộ, ngành liên quan như: Bộ Y tế [11, 55],
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10], Bộ Giáo dục và Đào tạo [8], trong các chương trình, dự án giáo dục KN phòng tránh TNTT do các tổ chức phi chính phủ phối hợp với chính phủ Việt Nam thực hiện [3]
Về các yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ em: Một số nghiên cứu đã tiến
hành tìm hiểu, phân tích những yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ em, trong đó,
có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả:Rahul Bhamkar, Bageshree Seth và Maninder Singh Setia [70], Robert Eberl cùng các cộng sự [72], Trần Văn Nam [35], Nguyễn Thúy Quỳnh [43],…hay các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [66], của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10]… Nhìn chung, những yếu tố nguy cơ liên
Trang 20quan đến TNTT ở trẻ em được phân tích trong các nghiên cứu trên khá đa dạng, phong phú,nhưng tựu trung lại, có thể tổng hợp thành 3 yếu tố chính, đó là yếu tố bản thân đứa trẻ (lứa tuổi, giới tính, kiến thức, KN, kinh nghiệm về phòng tránh TNTT ); yếu
tố môi trường - Xã hội (điều kiện sống của gia đình, trình độ học vấn, ý thức của người lớn về bảo vệ an toàn cho trẻ ); yếu tố tác nhân (phương tiện giao thông, nhà cửa, trang thiết bị, đồ dùng, các chất độc hại ) Việc hiểu rõ các yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT của trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những yếu tố nào có thể hỗ trợ, thúc đẩy quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ và ngược lại, những yếu tố nào sẽ kìm hãm, cản trở quá trình ấy, từ đó, đề xuất nội dung, biện pháp
và hình thức giáo dục trẻ hợp lý và có hiệu quả
Về các chiến lược, chương trình hành động, biện pháp phòng tránh TNTT cho trẻ em: Trên cơ sở khẳng định tính cấp thiết của vấn đề phòng ngừa TNTT cho trẻ em
cũng như chỉ rõ những yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT ở trẻ, các nghiên cứu đã đi đến xác định một số chiến lược, kế hoạch hành động, biện pháp nhằm giảm thiểu TNTT cho trẻ Nội dung này trước hết được thể hiện trong các tài liệu của Tổ chức Y tếThế giới [66],Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) [60],
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10] Cụ thể, các tài liệu đề xuất một số chiến lược, kế hoạch hành động, biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gianhư: xác định tầm quan trọng của vấn đề thông qua giám sát và thu thập dữ liệu; tăng cường xây dựng và thực thi pháp luật; thay đổi thiết kế sản phẩm; thay đổi môi trường; giáo dục và phát triển KN; chăm sóc y tế khẩn cấp
Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu liên quan đến những giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu hậu quả của TNTT gây ra đối với trẻ em từ 0-15 tuổi [35]; phòng chống TNTT cho học sinh tiểu học [43], tác giả Trần Văn Nam, Nguyễn Thúy Quỳnh…đã chứng minh được hiệu quả rõ rệt của một số giải pháp như: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong phòng ngừa TNTT, đối với học sinh tiểu học, tích hợp giáo dục KN phòng tránh TNTT trong chương trình chính khóa hoặc ngoại khóa; xã hội hóa công tác phòng chống TNTT; Nâng cao chất lượng chuyên môn cho cán bộ y tế
Trong số các kế hoạch hành động và giải pháp nêu trên, giải pháp giáo dục và
phát triển KN nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi phòng tránh TNTT được
xem là giải pháp có tính chủ động trong việc phòng ngừa TNTT cho trẻ Theo Nguyễn Thúy Quỳnh [43], những kiến thức liên quan đến vấn đề phòng tránh TNTT thường khá khô khan và phức tạp, cho nên, các nội dung, biện pháp giáo dục cần phải được xây dựng, thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trình độ nhận thức của trẻ Đây cũng là một trong những vấn đề sẽ được đặt ra trong nghiên cứu của luận án
Trang 21Tóm lại, các tài liệu, nghiên cứu trên đây đã cho thấy được tính cấp thiết của vấn
đề phòng ngừa TNTT, chỉ rõ những yếu tố nguy cơ có liên quan đến TNTT, cũng như các chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp phòng ngừa TNTT ở trẻ Mặc dù, các nghiên cứu không đi sâu vào khía cạnh giáo dục KN phòng tránh TNTT, song những kết quả nghiên cứu đó có giá trị định hướng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến TNTT ở trẻ em cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ
1.1.2 Nghiên cứu kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ em
Các nghiên cứu theo hướng này trước hết nhìn nhận KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em, đồng thời xác định một số KN cụ thể giúp trẻ phòng tránh TNTT có hiệu quả khi gặp tình huống nguy hiểm
Về nghiên cứu KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em: Các nghiên cứu xem xét KN phòng tránh TNTT dưới góc độ là một
trong những KN sống quan trọng của trẻ em trước hết được thể hiện ở một số tài liệu của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hay của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) Theo UNESCO, KN sống được chia thành 2 nhóm: Nhóm KN chung và nhóm KN chuyên biệt, trong đó, ở nhóm KN chuyên biệt, tài liệu có đề cập các KN liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng, KN ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro UNICEF khi tiến hành phân loại các nhóm KN sống cơ bản ở trẻ em đã xác định: KN bảo vệ bản thân là một trong những
KN sống cần thiết thuộc nhóm KN tự nhận thức và sống với chính mình [6]
Cũng theo hướng này, khi nghiên cứu các nhóm KN sống cần thiết của học sinh tiểu học, Trương Thị Hoa Bích Dung đã xếp KN phòng tránh TNTT vào nhóm KN quản lý bản thân, cụ thể là: trẻ biết sử dụng các vật dụng thông thường, xử lý khi bị chấn thương nhỏ, tham gia giao thông an toàn [14] Lê Bích Ngọc xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống cần thiết của trẻ mẫu giáo và xếp chúng vào
nhóm KN ý thức về bản thân, bao gồm: KN thực hiện quy t c an to n th ng thường (quy tắc giao thông, quy tắc ăn uống), KNphòng ch ng các tai nạn th ng thường
(nhận ra và tránh xa vật nguy hiểm, nơi nguy hiểm, hành động nguy hiểm, gọi người giúp đỡ khi khẩn cấp) [37]
Nhìn chung, các tài liệu, nghiên cứu trên đây chủ yếu đều xem KN phòng tránh TNTT là một trong những KN sống quan trọng của con người nói chung, trẻ em nói
riêng và xếp chúng vào nhóm KNtự nhận thức và quản lý bản thân Các tác giả
Trương Thị Hoa Bích Dung, Lê Bích Ngọc bước đầu đã xác định được một số KN phòng tránh TNTT cụ thể phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ ở hai giai đoạn lứa
Trang 22tuổi mầm non và tiểu học; trong đó, nếu xem xét kỹ thì có thể nhận thấy, cả hai độ tuổi trên đều cần phải có những KN phòng tránh TNTT cơ bản như: KN sử dụng các vật dụng thông thường (hay KN nhận ra và tránh xa các vật nguy hiểm), KN ăn uống an toàn, KN tham gia giao thông an toàn
Về phân loại KN phòng tránh TNTT của trẻ em: Các nghiên cứu về phân loại
KN phòng tránh TNTT có ba hướng cơ bản:
- Ở hướng thứ nhất, các tác giả đã dựa vào tiến trình (các giai đoạn) thực hiện
hành động của chủ thể khi ứng phó với tình huống nguy hiểm để xác định những KN phòng tránh TNTT cần thiết Có thể kể đến một số tác giả nghiên cứu theo hướng nàynhư: Raymond G Miltenberge [71], Bùi Văn Quân và các cộng sự [42] Cụ thể, Raymond G Miltenberge cho rằng, có 3 KN mà trẻ cần có để ứng phó với một tình huống nguy hiểm, đó là: 1) Nhận biết tình huống nguy hiểm và tránh tiếp xúc với chúng; 2) Thực hiện hành động để thoát ra khỏi tình huống đó; 3) Thông báo với người lớn về mối nguy hiểm cần loại bỏ Theo phân tích của tác giả, khi một đứa trẻ
nhận biết được mối nguy hiểm nào đó, thì KN đầu tiên là trẻ cần biết phải tránh tiếp xúc với chúng (ví dụ tránh tiếp xúc với khẩu súng khi không có người giám sát ); KN
thứ hai là trẻ phải thoát ra khỏi tình huống đó bằng cách tạo ra khoảng cách giữa trẻ
với mối nguy hiểm (ví dụ, chạy thoát ra khỏi nơi có súng ) Cũng theo tác giả, việc trẻ phản ứng ngay lập tức là rất quan trọng vì nếu trẻ tiếp xúc với mối nguy hiểm mà không hành động gì thì khả năng trẻ bị tổn thương sẽ rất cao Mặc dù trẻ đã tránh xa được mối nguy hiểm, nhưng chúng vẫn có thể tiếp tục tồn tại và gây nguy hiểm cho
những trẻ khác hoặc cho chính bản thân trẻ sau này Do đó, KN thứ ba là trẻ cần thông
báo cho cha mẹ hoặc người lớn có trách nhiệm khác để họ thực hiện những hành động thích hợp nhằm loại bỏ mối nguy hiểm Bùi Văn Quân và các cộng sự [42] cũng đã dựa vào các giai đoạn của quá trình đứa trẻ tiếp xúc với đối tượng, tình huống dễ gây TNTT để xác định 3 kỹ năng cần thiết nhằm hạn chế những tổn thương cho cơ thể do
TNTT gây ra, bao gồm: Nhận diện được những đối tượng, tình huống dễ gây TNTT (ví dụ, nhận diện các tác nhân gây bỏng: bếp, nước sôi ); phòng tránh được những
TNTT có thể xảy ra (ví dụ, không chơi đùa gần nơi có những vật gây bỏng, không sử
dụng đồ điện ); xử trí kịp thời và chính xác khi không may bị thương tích (ví dụ,
ngâm vùng bị bỏng vào nước lạnh và sạch trong 30 phút ) Ưu điểm của cách phân loại KN phòng tránh TNTT theo hướng nghiên cứu này đó là có thể áp dụng các KN cho hầu hết mọi tình huống nguy hiểm mà đứa trẻ tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày
- Ở hướng thứ hai, các tác giả dựa vào những đối tượng, tình huống có nguy cơ
gây TNTT thường gặp ở trẻ em để xác định KN phòng tránh TNTT cụ thể và phù hợp
Trang 23đối với trẻ như: KN phòng tránh hỏa hoạn, đuối nước, ngộ độc, KN an toàn với súng
Có thể kể đến một số tác giả nổi bật nghiên cứu theo hướng này như: Brian J Gatheridge [59], Tevfik Turgut [76], [68],Claire D Coles [61], Shana Smith [74], Edward P Krenzelok [63], Karen D Liller [64], Nguyễn Thị Hồng Thu [46], Lê Thị Minh Hà [17], ; Cơ quan quản lý hỏa hoạn Hoa Kỳ [78] Đây cũng chính là hướng nghiên cứu phổ biến của hầu hết các tác giả khi đề cập đến vấn đề giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ Ưu điểm của cách phân loại KN phòng tránh TNTT theo hướng này đó là giúp người nghiên cứu dễ dàng hình dung các thao tác và hành động cụ thể cần thực hiện để phòng tránh TNTT trong những tình huống nguy hiểm khác nhau
- Ở hướng thứ ba, một số tác giả như S.Wood [73], Mark Pearson [67] đã dựa
vào địa điểm xảy ra TNTT để phân loại thành 3 nhóm KN phòng tránh TNTT, bao gồm: KN an toàn trên đường phố, KN an toàn tại nhà và KN an toàn ở các địa điểm vui chơi, giải trí Cách phân loại này có ưu điểm là giúp người nghiên cứu nắm rõ các yêu cầu cụ thể để thực hiện hành động phòng tránh TNTT ở những môi trường hoạt động khác nhau, bởi vì mỗi môi trường hoạt động thường sẽ tồn tại ở đó những yếu tố
dễ gây TNTT mang tính đặc trưng
Nhìn chung, các nghiên cứu về phân loại KN phòng tránh TNTT ở trẻ em tương đối đa dạng, phong phú Những nghiên cứu này có giá trị định hướng quan trọng cho luận án khi xác định cấu trúc KN phòng tránh TNTT của trẻ em nói chung và trẻ lứa tuổi mẫu giáo nói riêng
1.1.3 Nghiên cứu giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ em
Các nghiên cứu theo hướng này trước hết đã khẳng định vai trò của việc giáo dục
KN phòng tránh TNTT đối với trẻ em, đồng thời tập trung làm rõ những nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ
Về vai trò của giáo dục KN phòng tránh TNTT đối với trẻ em: Các nghiên cứu
đều đã khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục KN phòng tránh TNTT đối với sự phát triển thể chất, tâm lý của trẻ Có thể kể đến một số tác giả nghiên cứu theo hướng này như: S.Wood, M.A.Bellis, E.Towner, A.Higgins, Lê Bích Ngọc,Trương Thị Hoa Bích Dung, Thái Hà Trong đó, S.Wood, M.A.Bellis, E.Towner, A.Higgins [73] khi nghiên cứu về các bằng chứng liên quan đến vấn đề ngăn ngừa bạo lực và thương tích cho trẻ em ở Anh đã chỉ ra rằng: Giáo dục KN an toàn cho trẻ em và phụ huynh có thể nâng cao nhận thức của họ về vấn đề TNTT cũng như việc thực hiện các hành vi an toàn, trong đó có một số bằng chứng cho thấy các chương trình đào tạo cho các cầu thủ thể thao trẻ, nhằm phát triển sự phối hợp, sức mạnh và kỹ thuật có thể giúp ngăn ngừa các thương tích liên quan đến thể thao và việc học bơi có thể ngăn ngừa đuối nước Lê
Trang 24Bích Ngọc khi đề cập đến vai trò của KN sống, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việcgiáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ, cụ thể là “Giúp cho trẻ có được những hành vi đảm bảo sự an toàn, khỏe mạnh, thích ứng được với những điều kiện sống thay đổi” [37] Trương Thị Hoa Bích Dung khẳng định sự cần thiết của việc giáo dục KN sống, trong đó có KN ứng phó với các tình huống khẩn cấp Theo tác giả, “KN sống cần thiết cho mọi người, mọi lứa tuổi và phải được hình thành từ khi còn nhỏ” Mục đích của giáo dục KN sống là “cung cấp cho các em cách ứng xử cần thiết trong các tình huống bình thường cũng như tình huống khẩn cấp với nhiều sức ép tâm lý của cuộc sống” [14] Thái Hà cho rằng: “Càng sớm càng tốt, kiên trì và liên tục, các bậc phụ huynh hãy từng bước hướng dẫn trẻ nhận thức được và ứng xử đúng trước các tình huống bất ngờ cũng như các mối nguy hiểm rình rập” Theo tác giả, “Những vốn hiểu biết này là tối quan trọng vì nó giúp tạo dựng hiệu quả tự vệ và an toàn cho bé” [20] Như vậy, nhìn chung, các nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của việc giáo dục
KN phòng tránh TNTT đối với sự phát triển thể chất,tâm lý của trẻ, đặc biệt là trẻ lứa tuổi MN - lứa tuổi vốn hiếu động, tò mò nhưng lại hạn chế về nhận thức và khả năng ứng phó với những mối nguy hiểm xung quanh
Về nội dung giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em: Nội dung giáo dục
KN phòng tránh TNTT được đề cập đến trong các nghiên cứu khá phong phú và được phân loại dựa theo các tiêu chí khác nhau, trong đó có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả như: Bạch Băng, Hong Yoon Yeo, nhóm tác giả ở Nga hay tài liệu của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội
Nhóm các tác giả ở Nga khi nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc giáo dục KN tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo lớn, đã phân loại nội dung chương trình giáo dục KN tự bảo
vệ cho trẻ theo 6 chủ đề chính Các chủ đề này được xác định dựa trên tiêu chí mối quan hệ giữa trẻ em với các đối tượng, tình huống dễ gây nguy hiểm đối với trẻ, bao gồm: 1) Trẻ em và những người xung quanh; 2) Trẻ em và thiên nhiên; 3) Đứa trẻ ở nhà; 4) Sức khoẻ của trẻ em; 5) Những cảm xúc tích cực ở trẻ; 6) Trẻ em trên đường phố Mỗi chủ đề bao gồm các đề tài nhỏ Ví dụ, trong chủ đề “Đứa trẻ ở nhà”, có các
đề tài: Nhận diện người lạ, người quen; Tình huống nguy hiểm trong cuộc sống hằng ngày Như vậy, các chủ đề trên đề cập đến hầu hết các đối tượng, tình huống dễ gây nguy hiểm mà trẻ có thể tiếp xúc hằng ngày, đòi hỏi trẻ cần có KN tự bảo vệ [3] Bạch Băng cùng các cộng sự tổng hợp 60 tình huống dễ gây mất an toàn đối với trẻ và phân loại chúng thành 6 chủ đề, bao gồm: 1) An toàn thân thể; 2) An toàn ngoài xã hội; 3)
An toàn khi vui chơi; 4) An toàn ở môi trường bên ngoài; 5) An toàn trong cuộc sống; 6) An toàn khi gặp thiên tai Mỗi chủ đề được xây dựng thành các câu chuyện với
Trang 25những tình huống nguy hiểm có thể xảy ra đối với trẻ như: Nghịch lửa, sờ tay vào điện, mở cửa cho người lạ vào nhà, kẹt trong thang máy [4] Hong Yoon Yeo đưa ra nội dung dạy trẻ tự bảo vệ mình thông qua 45 tình huống thường gặp trong cuộc sống hằng ngày như: tự bảo vệ mình khi đi đến một số địa điểm nguy hiểm (nơi vắng vẻ, khu phố đông đúc, hầm đi bộ, thang máy ; khi gặp người lạ (tặng quà, có ý định bắt cóc, quấy nhiễu ) hay khi sử dụng điện thoại và internet [22]
Các cách phân loại trên không chỉ hướng đến nội dung giáo dục trẻ cách phòng tránh những đối tượng, tình huống có thể gây tổn thương về thực thể mà cả những đối tượng, tình huống gây tổn thương về cảm xúc, tâm lý của trẻ Tuy vậy, vẫn có thể xem đây là cơ sở định hướng cho sự lựa chọn các nội dung phù hợp với mục đích giáo dục trẻ phòng tránh TNTT của luận án
Dựa trên tiêu chí là các loại TNTT thường gặp ở trẻ, tài liệu của Bộ Lao Thương binh và Xã hội đã xác định 8 nội dung giáo dục trẻ phòng tránh TNTT, bao gồm: 1 Phòng tránh ngã và chấn thương do ngã; 2 Phòng tránh tai nạn bỏng và cách
động-xử trí khi bị bỏng; 3 Phòng TNTT do vật sắc nhọn và vật liệu nổ; 4 Phòng tránh nghẹt thở do dị vật đường thở; 5 Phòng tránh tai nạn đuối nước; 6 Phòng tránh ngộ độc; 7 Phòng tránh TNTT do động vật cắn, húc, đốt; 8 Phòng tránh tai nạn giao thông [10] Cách phân loại nội dung dựa theo tiêu chí trên cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu củaNguyễn Võ Kỳ Anh [1], Nguyễn Thế Duy và cộng sự [16]
Như vậy, những nghiên cứu trên cho thấy:
- Nội dung giáo dục trẻ phòng tránh TNTT được đề cập đến khá đầy đủ, phù hợp với lứa tuổi và yêu cầu của thực tiễn xã hội
- Có sự khác biệt giữa các nghiên cứu về tiêu chí để phân loại nội dung Một số nghiên cứu dựa vào tiêu chí là các loại TNTT thường gặp ở trẻ (ngã, bỏng, nghẹt thở, ngộ độc, đuối nước, tai nạn giao thông ), trong khi những nghiên cứu khác dựa vào các đối tượng, tình huống dễ gây TNTT xung quanh trẻ (thiên nhiên, vật dụng, những người xung quanh, địa điểm hoạt động của trẻ ) để phân loại
- Cần xây dựng các yêu cầu cụ thể đối với mỗi nội dung nhằm giúp cho GV dễ dàng hơn trong việc lựa chọn và xác định nội dung giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ
Về phương pháp, biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em: Với vai
trò là một trong những KN sống quan trọng của trẻ em, việc giáo dục KN phòng tránh TNTT có thể được tiến hành thông qua các phương pháp giáo dục KN sống cho trẻ nói chung, trong đó, một số tác giả như David A.Kolb [62], Trương Thị Hoa Bích Dung [14], Lê Bích Ngọc [37] đã đề xuất hệ thống phương pháp, biện pháp giáo dục KN sống cho trẻ khá đa dạng, phong phú Tuy vậy, phương pháp giáo dục được đánh giá là
Trang 26mang lại hiệu quả cao hơn cả chính là tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, tham gia luyện tập và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Các phương pháp, biện pháp được đề xuất bao gồm: sắm vai, thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, tạo tình huống, giao nhiệm vụ, trò chơi (trò chơi dân gian, sắm vai, xây dựng, đóng kịch) Cùng với những nghiên cứu về phương pháp giáo dục KN sống nói chung, một
số tác giả khác lại đề xuất các biện pháp mang tính đặc trưng để giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ như: Shana Smith, Emily Ericson, Nguyễn Thu Huyền, Nguyễn Thị Thu Hà, Phan Tú Anh, Mai Hiền Lê
Shana Smith và Emily Ericson xây dựng biện pháp sử dụng trò chơi mô phỏng để dạy trẻ KN chữa cháy an toàn Các trò chơi thiết kế trên máy tính và trẻ được nhập vai
để tham gia vào một tình huống mô phỏng lại một trận hỏa hoạn giống như trên thực
tế, nhờ đó, trẻ được học các KN thoát khói đám cháy và chữa cháy an toàn [74].Nguyễn Thu Huyền và Nguyễn Việt Dũng đã tiến hành thử nghiệm biện pháp mô phỏng tình huống bằng video hoạt hình với sự hỗ trợ của công nghệ điện toán đám mây nhằm giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ 5-6 tuổi [25].Như vậy, việc giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ bằng biện pháp mô phỏng thực chất cũng chính
là để cho trẻ trải nghiệm KN này một cách an toàn, có hiệu quả
Một nhóm tác giả là giảng viên trường Đại học Sư Phạm Ulianov đã lựa chọn sử dụng biện pháp trò chơi nhằm giáo dục KN an toàn cho trẻ Thông qua trò chơi, trẻ được học những mẫu hành vi tự nhiên để xử lý tình huống nguy hiểm Trước khi chơi, trẻ sẽ cần phải nói về tình huống đó với những trẻ khác, phân tích lựa chọn hành vi đúng để không dẫn đến một hậu quả đáng tiếc Đây có thể xem là một trong những biện pháp phù hợp với trẻ, giúp trẻ có cơ hội được tự mình trải nghiệm cách ứng phó hiệu quả với các tình huống nguy hiểm xung quanh [3]
Nguyễn Thị Thu Hà nhấn mạnh phương pháp thực hành và xem đây là phương pháp không thể thiếu khi giáo dục trẻ nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn Theo tác giả, muốn trẻ nhận biết và ứng xử đúng với những tình huống có nguy
cơ không an toàn thì giáo viên cần giúp trẻ được trải nghiệm thực tế với nhiều tình huống khác nhau Trong điều kiện ở trường lớp, chắc chắn nhiều tình huống không thể
có sẵn và cũng khó xảy ra một cách thường xuyên, vì vậy, GV có thể tự tạo ra các tình huống, các trò chơi, các bài luyện tập để cho trẻ rèn luyện [19]
Phan Tú Anh [3], Mai Hiền Lê [31] đề xuất một số biện pháp giáo dục KN tự bảo
vệ cho trẻ mẫu giáo như: biện pháp động não, phân tích tình huống, dùng lời (trò chuyện, đàm thoại, thảo luận nhóm nhỏ), thực hành (trò chơi, giao việc, trải nghiệm, cho trẻ đọc thơ, kể chuyện, đóng vai )
Trang 27Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy, biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ được đề xuất khá đa dạng, phong phú Mỗi biện pháp có ưu thế riêng trong quá trình giáo dục KN này cho trẻ Tuy nhiên, vẫn cần có những nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về cách thức lựa chọn và phối hợp sử dụng các biện pháp đó như thế nào để có thể mang lại hiệu quả tối ưu trong quá trình giáo dục trẻ Đây cũng chính
là nội dung nghiên cứu mà luận án hướng đến
Về hình thức giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em: Các hình thức giáo
dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu về giáo dục KN sống cho trẻ nói chung và KN tự bảo vệ cho trẻ nói riêng Trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của một số tác giả như Lê Bích Ngọc, Phan Tú Anh
Lê Bích Ngọc cho rằng, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có thể được tiến hành thông qua nhiều hình thức khác nhau như: thông qua các hoạt động (hoạt động chơi, hoạt động giao tiếp, hoạt động nhận thức, hoạt động ngôn ngữ); thông qua các hoạt động giáo dục ở trường MN (lao động, tạo hình, âm nhạc, làm quen với văn học, khám phá thế giới xung quanh, thể dục); thông qua điều kiện sống của trẻ trong nhà trường
và gia đình (khi sử dụng các phương tiện, đồ dùng hằng ngày, những thời điểm trong chế độ sinh hoạt hằng ngày: đón, trả trẻ, điểm danh, dạo chơi, cho trẻ ăn, nấu ăn, làm vườn, thăm họ hàng ) [30]
Phan Tú Anh nêu ra một số hình thức tổ chức giáo dục KN tự bảo vệ cho trẻ ở trường MN, gồm: Hoạt động học (gồm các hoạt động phát triển nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, thẩm mỹ), hoạt động vui chơi (trò chơi vận động, trò chơi đóng vai, trò chơi học tập, trò chơi khám phá thí nghiệm, trò chơi xây dựng và trò chơi đóng kịch ), sinh hoạt câu lạc bộ, tham gia các lớp ngoại khóa, tham quan, dã ngoại, tổ chức diễn đàn trao đổi giữa GV và phụ huynh, tư vấn, trò chuyện trực tiếp hoặc gián tiếp, trình diễn tiểu phẩm [3]
Như vậy, các nghiên cứu cho thấy, giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ có thể tiến hành dưới nhiều hình thức phong phú, và mỗi hình thức đều có ưu thế riêng đối với việc giáo dục KN này cho trẻ Trong đó, GV và phụ huynh (PH) đóng vai trò là người hỗ trợ giúp trẻ phát huy khả năng của mình, phát triển những ứng xử tích cực,
phát triển khả năng tư duy, nâng cao sự tự tin trong cuộc sống
Tóm lại, qua việc phân tích tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, có thể nhận thấy:
- Các nghiên cứu đã khẳng định được tính cấp thiết của vấn đề phòng ngừa TNTT cho trẻ em, chỉ rõ các yếu tố nguy cơ liên quan đến TNTT của trẻ cũng như đề xuất các chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp phòng ngừa TNTT ở trẻ Trong đó, giải pháp
Trang 28giáo dục và phát triển KN nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi phòng tránh TNTT được xem là giải pháp có tính chủ động trong việc phòng ngừa TNTT cho trẻ
- Các nghiên cứu đề cập đến KN phòng tránh TNTT như là một trong những KN sống quan trọng đối với trẻ và xếp chúng vào nhóm KN tự nhận thức và quản lý bản thân, đồng thời, tiến hành phân loại KN phòng tránh TNTT theo 3 hướng: phân loại dựa theo tiến trình thực hiện hành động của chủ thể khi ứng phó với tình huống nguy hiểm; phân loại dựa vào các đối tượng, tình huống dễ gây TNTT và phân loại dựa vào địa điểm xảy ra TNTT Mỗi cách phân loại đều có ưu điểm riêng, do đó, tùy thuộc vào mục đích, đối tượng nghiên cứu, các tác giả sẽ lựa chọn cách phân loại phù hợp với nghiên cứu của mình
- Các nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em, sự cần thiết phải đưa vấn đề này vào hệ thống giáo dục trong và ngoài nhà trường Tuy nhiên, việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ vẫn còn ít được nghiên cứu ở góc độ riêng biệt mà chủ yếu được coi như là một trong những giải pháp can thiệp để giảm thiểu rủi ro do TNTT gây ra đối với trẻ hoặc là một nội dung của giáo dục KN sống
- Nội dung giáo dục trẻ phòng tránh TNTT được đề cập đến trong các nghiên cứu trên khá đầy đủ, phù hợp với lứa tuổi và yêu cầu của thực tiễn xã hội Tuy nhiên, vẫn cần đưa ra tiêu chí phân loại nội dung rõ ràng và xây dựng các yêu cầu cụ thể đối với mỗi nội dung, nhằm giúp GV dễ dàng hơn trong việc xác định nội dung giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ
- Biện pháp giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ được đề xuất khá phong phú, đa dạng, nhưng vẫn cần phải có những nghiên cứu hướng dẫn cụ thể hơn cách thức lựa chọn và phối hợp sử dụng các biện pháp nhằm đạt hiệu quả giáo dục tối ưu
- Chưa có những nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ MN Vì vậy, chúng tôi thấy rằng, việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ MN cần được xem xét nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống từ bản chất, cấu trúc của KN phòng tránh TNTT đến quá trình giáo dục KN này cho trẻ ở trường mầm non
Sự đa dạng trong các hướng nghiên cứu cũng như một số vấn đề còn bỏ ngỏ chính là những cứ liệu có giá trị giúp luận án nghiên cứu sâu hơn về vấn đề giáo dục
KN phòng tránh TNTT cho trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non trong giai đoạn hiện nay
1.2 Phòng tránh tai nạn, thương tích ở trẻ em
1.2.1 Khái niệm và phân loại tai nạn, thương tích ở trẻ em
1.2.1.1 Khái niệm tai nạn, thương tích
Thuật ngữ “tai nạn” và “thương tích” được các tác giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
Trang 29Theo Từ điển tiếng Việt, tai nạn là “Việc rủi ro bất ngờ xảy ra, gây thiệt hại lớn cho người”, còn thương tích là “dấu vết để lại trên thân thể do bị thương [56]
Margie Peden và các cộng sự chỉ ra rằng: Thương tích là sự “tổn hại về thể chất xảy ra khi cơ thể con người bất ngờ phải chịu một lực (cơ, nhiệt, hóa học hoặc bức xạ) quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý - nếu không thì là hậu quả của tình trạng thiếu một trong những yếu tố sống còn như ôxy” [66]
Rahul Bhamkar, Bageshree Seth và Maninder Singh Setia cho rằng “Thương tích
là một tổn thương của cơ thể do một tác nhân bên ngoài gây ra, có thể là có chủ định hoặc không chủ định, là kết quả một sự tiếp xúc đột ngột với năng lượng được tạo ra
do tương tác giữa tác nhân với chủ thể dẫn đến tổn thương ở mô, khi nó vượt quá ngưỡng chịu đựng sinh lý của cơ thể” [70]
Tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phân biệt rõ khái niệm “Tai nạn” và khái niệm “Thương tích”, như sau:
“Tai nạn là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương cho cơ thể về thể chất hay tinh thần của nạn nhân Tai nạn thường dẫn đến thương tích”
“Thương tích là những tổn thương thực thể của cơ thể do phải chịu tác động đột
ngột ngoài khả năng chịu đựng cơ thể hoặc bị rối loạn chức năng do thiếu yếu tố cần thiết cho sự sống như không khí, nước, nhiệt độ ” [10]
Trần Văn Nam cũng đồng nhất với quan niệm trên và cho rằng:“Tai nạn là một sự kiện không chủ tâm, dẫn đến một thương tích rõ ràng”, còn “Thương tích là thương tổn thực thể của cơ thể, là kết quả của sự phơi nhiễm cấp tính với năng lượng (năng lượng này
có thể là cơ, nhiệt, điện, hóa hay từ) Năng lượng này tương tác với cơ thể bằng một số lượng hay tỷ lệ vượt quá ngưỡng chịu đựng sinh lý Trong một vài trường hợp, thương tích là kết quả của sự thiếu hụt các nhân tố duy trì sự sống (trong chết đuối, bóp cổ hay chết cóng) Thời gian giữa phơi nhiễm và sự xuất hiện của thương tích là rất ngắn” [35] Tổng hợp các nghiên cứu trên, có thể thấy, nội hàm của khái niệm “tai nạn” và khái niệm “thương tích” nhìn chung đều có sự thống nhất Trong phạm vi luận án, khái niệm “tai nạn” và khái niệm “thương tích” được quan niệm như sau:
“Tai nạn là sự việc không may xảy ra bất ngờ ngoài ý mu n dẫn đến các tổn thương cho cơ thể về thể chất và tinh thần”
Như vậy, trong nội hàm khái niệm “Tai nạn” nổi bật lên hai điểm quan trọng sau:
- Sự việc không may xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn của cá nhân phải chịu đựng sự việc đó
- Cá nhân có dấu hiệu tổn thương cơ thể về thể chất và tinh thần
Trang 30“Thương tích l những tổn thương thực thể của cơ thể ở các mức độ khác nhau do
phải chịu tác động đột ngột của các tác nhân bên ngo i (như cơ học, nhiệt, điện, hóa học, phóng xạ ) vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý hoặc là những r i loạn chức năng do sự thiếu hụt các yếu t cần thiết cho sự s ng (như thiếu ôxy, giảm nhiệt độ )
Trong nội hàm khái niệm “Thương tích” nổi bật lên những điểm quan trọng sau:
- Có dấu hiệu tổn thương thực thể của cơ thể
- Do tác động đột ngột của các yếu tố bên ngoài
- Tác động đã vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý của cơ thể hoặc những rối loạn chức năng do sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết của sự sống (như thiếu ôxy trong trường hợp đuối nước, giảm nhiệt độ trong môi trường cóng lạnh)
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, rất khó phân định một cách rõ ràng giữa hai khái niệm này, vì vậy, trên thực tế, thuật ngữ “tai nạn, thương tích” thường được sử dụng đi kèm với nhau và dùng để chỉ “những tổn thương cơ thể ở các mức độ khác nhau do tiếp xúc cấp tính với các nguồn năng lượng (cơ học, nhiệt, hóa chất hoặc các chất phóng xạ) với mức quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố
cơ bản của sự sống như thiếu ôxy hoặc mất nhiệt (trong các trường hợp chết đuối, lạnh cóng) Hoặc cũng có thể hiểu “Tai nạn thương tích là những sự việc xảy ra bất ngờ, gây tổn thương đến sức khỏe thể chất và tinh thần cho người bị tai nạn” [1], [10] Nguyễn Văn
Hùng nêu nhận định: “Hiện nay, thuật ngữ thương tích thường được dùng nhiều hơn vì
người ta thường nghĩ đến tai nạn như là một điều xui xẻo, vận hạn, ngẫu nhiên, không thể tiên đoán và phòng tránh được” Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định: “Hai khái niệm này đôi lúc rất khó phân biệt nên thường gọi chung là tai nạn, thương tích” [24]
Từ những phân tích trên, luận án thống nhất sử dụng khái niệm “tai nạn” đi kèm với khái niệm “thương tích” xuất phát từ những lý do sau đây:
Tai nạn là những sự việc, sự kiện không may bất ngờ xảy ra, hoàn toàn không có chủ định trước Tuy nhiên, tai nạn thường dẫn đến thương tích Điều đó có nghĩa rằng, thương tích chính là hậu quả do tai nạn gây nên và tai nạn là nguyên nhân dẫn đến thương tích Chính vì vậy, trong thực tế, việc kết hợp hai khái niệm này với nhau sẽ giúp chúng được bổ sung lẫn nhau và thể hiện một cách đầy đủ, rõ ràng hơn nội hàm của khái niệm Hơn nữa, tai nạn có thể gây nên các tổn thương cho cơ thể cả về thể chất lẫn tinh thần, trong khi đó khái niệm “thương tích” chủ yếu muốn đề cập đến các tổn thương về thực thể Trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu những tai nạn gây tổn thương về thực thể, cho nên việc sử dụng kết hợp hai khái niệm “tai nạn, thương tích”là phù hợp với mục đích nghiên cứu đã đặt ra
Trang 31Từ những phân tích trên, luận án chủ yếu xem xét khái niệm tai nạn, thương tích trên
phương diện là “Những tổn thương thực thể trên cơ thể ở các mức độ khác nhau, do phải
chịu tác động đột ngột của các tác nhânbên ngo i vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý hoặc là những r i loạn chức năng do sự thiếu hụt các yếu t cần thiết cho sự s ng”
1.2.1.2 Phân loại tai nạn, thương tích thường gặp ở trẻ em
Các nghiên cứu về phân loại TNTT ở trẻ em hiện nay nhìn chung đều có sự thống nhất Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng nghiên cứu, mỗi tác giả sẽ lựa chọn cách phân loại phù hợp để đưa vào trong nghiên cứu của mình
a) Phân loại thương tích theo ý định của đ i tượng tham gia vào quá trình gây ra TNTT
Một số nghiên cứu phân loại thương tích dựa theo ý định của đối tượng tham gia vào quá trình diễn biến hay sự kiện gây ra thương tích như: Tài liệu của tổ chức Y tế Thế giới [66], của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [10], của Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình [50] Cách phân loại này thường chia thương tích thành 2 nhóm lớn
là thương tích có chủ định và thương tích không có chủ định Thương tích có chủ định là
những thương tích gây nên do sự chủ ý (cố ý) của người bị thương tích hay của những
người khác (Tự tử, giết người, bạo lực) Thương tích không chủ định là những thương
tích gây nên do sự không chủ ý của những người bị thương tích hay của những người khác (Tai nạn giao thông, đuối nước, ngã, ngộ độc, bỏng, ) Trong đó, theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên bị thương tích và tử vong ở nước ta phần lớn là do thương tích không chủ định (90%)
Ngoài hai nhóm thương tích không chủ định và có chủ định, Trần Văn Nam bổ sung thêm một loại thương tích nữa đó là thương tích không phân loại - những thương tích chưa xác định được là có chủ định hay không chủ định [35], ví dụ, một cá nhân bị tai nạn ngã, có thể là do vô tình bị ngã (thương tích không chủ định) hoặc cũng có thể
do cá nhân có ý định tự tử (thương tích có chủ định)
Trong phạm vi luận án này, việc nghiên cứu chủ yếu được tiến hành dựa trên nhóm thương tích không chủ định thường gặp ở trẻ mầm non
b) Phân loại TNTT dựa theo nguyên nhân dẫn đến TNTT
Một số nghiên cứu phân loại TNTT dựa theo nguyên nhân dẫn đến TNTT như:
Tài liệu của cơ quan Y tế Công cộng nước Anh chỉ ra 5 loại TNTT theo nguyên nhân có tỷ lệ tử vong và gây ra chấn thương cao nhất ở trẻ em, gồm: Ngạt thở, ngã, ngộ độc, bỏng và đuối nước [69]
Nguyễn Võ Kỳ Anh cũng chỉ ra 11 loại TNTT theo nguyên nhân thường gặp ở trẻ em gồm: TNTT do giao thông, bỏng, đuối nước, điện giật, ngã, động vật cắn, ngộ độc, máy móc, bạo lực, bom mìn và các vật nổ, tự tử [1]
Trang 32Căn cứ vào đặc thù của môi trường ở trường mầm non, các dạng hoạt động và đặc điểm của trẻ mầm non, có thể kể đến một số TNTT dựa theo nguyên nhân mà trẻ
có thể gặp ở trường mầm non như sau:
* TNTT do ngã: Tai nạn do ngã thường xảy ra khi trẻ leo trèo và sơ ý bị rơi từ trên cao
xuống (cầu thang, lan can, cửa sổ, cầu trượt, xích đu, bàn ghế ) hoặc do trẻ đi lại, chạy nhảy trên một mặt phẳng có chướng ngại vật như: sàn nhà có nước, sân chơi mấp mô
* TNTT do vật s c nhọn: Trẻ có thể bị thương tích do vật sắc nhọn trong các
trường hợp như: sờ tay, giẫm chân, sử dụng không đúng cách một số vật dụng sắc nhọn trong lớp học, khu vực sân chơi; va vào thành, mép của bàn ghế, tủ khi đi, chạy, dùng que làm kiếm để chơi đấu kiếm
* Ngạt thở: Trẻ bị ngạt thở do dị vật đường thở khi ngậm các loại hột, hạt, kẹo
cứng, đồ chơi hay tự ý nhét hột, hạt, đồ chơi, đất nặn vào mũi, tai Một số trường hợp trong khi trẻ chơi đùa bị vướng dây vòng đeo cổ vào các vật dụng như tay nắm của cánh cửa, tủ dẫn đến dây vòng xiết chặt vào cổ họng và bị ngạt Nếu trẻ nằm úp mặt xuống đệm, gối khi ngủ quá lâu cũng có thể dẫn đến thiếu dưỡng khí gây ngạt thở
* Ngộ độc: Trẻ bị ngộ độc nếu ăn uống những thực phẩm đã bị hỏng do không
được chế biến kỹ và bảo quản đúng cách hoặc hít phải khí độc từ các nguồn gây ô nhiễm không khí (khói than củi, than tổ ong đốt gần lớp học, các xưởng sản xuất có thải ra chất khí độc hại)
* Bỏng: Trẻ bị bỏng thức ăn nóng (canh, cháo, súp, ), va vào phích nước sôi để
gần nơi trẻ đang chơi đùa
* Động vật c n, đ t: Trẻ bị thương tích do các loại động vật như: chó, mèo, ong,
kiến, sâu bọ cắn hoặc đốt vào người khi tham gia các hoạt động lao động chăm sóc cây cối, vật nuôi
* Đu i nước: Đối với trẻ MN, chỉ với một lượng nước rất nhỏ như xô nước cũng
có thể làm trẻ bị đuối nước Do đó, một số trường hợp trẻ bị đuối nước khi trẻ nghịch ngợm úp mặt vào bồn rửa mặt hoặc xô, chậu có nước
* Điện giật: Trẻ bị điện giật nếu ngậm, sờ tay các thiết bị điện xung quanh lớp học
như ổ điện, tivi, quạt điện
* Hóc sặc thức ăn: Trẻ dễ bị sặc thức ăn nếu trong khi ăn, trẻ vừa ăn vừa cười
đùa hoặc trẻ đang khóc nhưng vẫn bị ép ăn, uống Một số trường hợp trẻ có thể bị hóc xương do ăn thức ăn chế biến không kỹ
c)Phân loại TNTT dựa theo các yếu t dễ gây TNTT thường gặp ở trẻ em
Một số nghiên cứu dựa theo những yếu tố có nguy cơ gây TNTT cho trẻ em để xác định các loại TNTT thường gặp ở trẻ như:
Trang 33Theo tài liệu về chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em của Bộ Giáo dục California, các yếu tố có nguy cơ gây TNTT cho trẻ được phân thành 2 loại chính: các yếu tố có nguy cơ gây TNTT liên quan đến trẻ (đánh nhau với bạn, xô đẩy,va chạm, ném, cắn bạn v.v.) và các yếu tố có nguy cơ gây TNTT liên quan đến môi trường (gồm vật sắc nhọn, vật nóng, vật liệu độc hại, phương tiện giao thông, thiết bị sân chơi, hàng rào, cổng, đồ chơi, thực vật ) [77]
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà [19] có đề cập đến 3 yếu tố có nguy cơ gây tổn hại về mặt thể chất cho trẻ, bao gồm: 1) Các đồ vật có nguy cơ không an toàn (vật sắc nhọn, vật
có điện, vật có độ đàn hồi cao, vật chứa đồ nóng ); 2) Các địa điểm có nguy cơ không an toàn (nơi đông đúc, nơi vắng vẻ, địa điểm lao động, ao hồ, sông suối, đường giao thông ); 3) Các hoạt động có nguy cơ không an toàn (leo trèo, chạy nhảy, xô đẩy, chơi không đúng cách, vừa ăn vừa cười đùa, ăn đồ lạ ) Tuy nhiên, cách phân loại này vẫn chưa thể bao hàm hết các yếu tố có nguy cơ gây TNTT cho trẻ như: yếu tố động thực vật
và các sản phẩm chế biến từ chúng hay những tình huống khẩn cấp
Như vậy, TNTT được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục đích, đối tượng nghiên cứu, gồm: phân loại TNTT theo ý định của đối tượng tham gia vào quá trình gây ra TNTT, phân loại theo nguyên nhân dẫn đến TNTT và theo các yếu tố có nguy cơ gây TNTT
Với mục đích giúp giáo viên mầm non dễ dàng hơn trong việc xác định các nội dung, chủ đề cụ thể để giáo dục cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi KN phòng tránh TNTT, luận án lựa chọn cách phân loại TNTT dựa theo các yếu tố có nguy cơ gây TNTT cho trẻ với 5 nhóm yếu tố sau:
* Các vật dụng: Một số vật dụng dễ gây TNTT cho trẻ bao gồm: vật dụng sắc nhọn
(dao, kéo, bát, dĩa, thành, mép bàn ghế, tủ, giường ) dễ làm trẻ bị xước da, chảy máu; vật dụng chứa đồ nóng (bát canh, cháo, súp, phích nước sôi ) dễ gây bỏng; vật dụng sử dụng điện (quạt, ti vi ) và ổ điện khiến trẻ bị giật điện, vật dụng có kích thước lớn (giá, kệ đồ chơi, tủ tường, tủ đựng quần áo ) dễ chèn, đè lên cơ thể; vật dụng có kích thước nhỏ (đồng xu, cúc áo ) dễ gây hóc, sặc, nghẹn nếu trẻ nuốt vào; vật dụng chứa nước (bồn rửa mặt, xô nước, bồn cầu ) Bên cạnh đó, việc sử dụng không đúng cách hoặc sắp xếp các vật dụng không hợp lý sẽ làm gia tăng các nguy cơ gây TNTT cho trẻ Ví dụ: Sử dụng dao nhưng không cầm vào cán dao mà lại cầm vào phần thân dao, lưỡi dao; hoặc phích nước
để gần nơi trẻ chơi đùa khiến trẻ vô tình vấp phải, phích nước bị vỡ và gây bỏng
* Các động thực vật và sản phẩm chế biến từ chúng: Một số loài động vật tiềm
ẩn nguy cơ gây TNTT cho trẻ như: chó, mèo cắn, cào, gây trầy xước da, thậm chí gây bệnh dại, lông chó, mèo dễ gây dị ứng; trên cơ thể động vật có nhiều vi khuẩn, vi trùng
Trang 34dễ lây bệnh; một số côn trùng (ong, sâu bọ, kiến ba khoang, muỗi ) cắn, đốt gây sưng đau, nhiễm độc cho cơ thể
Một số loài cây, hoa có gai như hoa hồng, cây xương rồng có thể khiến trẻ bị đau, xước da, nếu cơ thể trẻ chạm vào chúng
Trẻ cũng có thể ăn phải một số loại thực phẩm chế biến từ động thực vật như: thịt, cá, rau, củ, quả đã bị hỏng, ôi thiu hay chế biến không kỹ dẫn đến bị ngộ độc
* Các địa điểm hoạt động của trẻ: Một số địa điểm hoạt động có nguy cơ gây
mô, có gạch đá, cành cây, vũng nước
* Các hành động của trẻ:: Những hành động của trẻ dễ gây TNTT bao gồm:
- Những hành động dễ gây TNTT đối với bản thân trẻ: Các hành động leo trèo cửa sổ, lan can cầu thang, nghịch cánh cửa, đứng gần vật đang chuyển động (xích đu,
đu quay), khiến cho trẻ bị ngã, bị xước da chảy máu, chấn thương; các hành động đùa nghịch khi ăn uống, chụp túi nilon vào đầu, bịt mũi, úp mặt vào gối khiến trẻ
bị hóc, nghẹn, ngạt thở
- Những hành động dễ gây thương tích cho người khác: đánh, cắn bạn, ngáng chân bạn, ném đồ vật, ném rác bẩn, cát vào người bạn
* Các tình hu ng khẩn cấp: Một số tình huống khẩn cấp như hỏa hoạn, có người
bị ngã chảy máu, bị đi lạc cũng rất dễ dẫn đến TNTT cho trẻ, nếu trẻ không biết cách
xử lý chúng một cách an toàn
Như vậy, các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ khá phong phú và đa dạng Điều quan trọng là nhà giáo dục cần giúp trẻ nhận diện được các yếu tố đó và hướng dẫn trẻ cách ứng phó phù hợp với chúng, nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những tổn thương trên cơ thể, đảm bảo an toàn về tính mạng và sức khỏe của trẻ
1.2.2 Khái niệm và các cấp độ phòng tránh tai nạn, thương tích ở trẻ em
Theo Từ điển tiếng Việt [56] thì “phòng” có nghĩa là “lo liệu để có biện pháp tránh, ngăn ngừa hoặc chuẩn bị đối phó với điều không hay có thể xảy ra”, còn
“tránh” nghĩa là “chủ động làm cho mình không phải tiếp xúc hoặc không phải chịu
tác động trực tiếp của cái gì đó không hay, không thích” Như vậy, “phòng” chỉ mới
dừng lại ở việc cá nhân suy nghĩ, lo liệu cách đối phó với điều không hay xảy ra, còn
“tránh” là khi cá nhân chủ động thực hiện hành động để không phải tiếp xúc hay chịu
Trang 35tác động của điều không hay có thể xảy ra đối với bản thân mình Vì thế, “ phòng” xuất hiện trước khi thực hiện việc “tránh”, và do vậy, hai từ này thường được đi kèm
với nhau với ý nghĩa chung đó là “suy nghĩ, lo liệu nhằm chủ động thực hiện các hành
động ngăn ngừa, ứng phó để làm cho bản thân không phải tiếp xúc hoặc không phải chịu tác động trực tiếp của những điều không hay có thể xảy ra đ i với mình”
Như vậy, có thể hiểu phòng tránh tai nạn, thương tích chính là suy nghĩ, lo liệu
nhằm chủ động thực hiện các h nh động ngăn ngừa, ứng phó để không xảy ra tai nạn, thương tích hoặc giảm thiểu t i đa tác động của tai nạn gây ra đ i với bản thân và mọi người Ví dụ, để phòng tránh tai nạn, thương tích khi tiếp xúc với dao, trẻ sẽ chủ
động thực hiện hành động tránh xa những nơi có dao, không sờ tay vào dao; trong tình huống cần phải sử dụng dao, trẻ chủ động xin phép người lớn và thực hiện đúng các thao tác cầm dao để không bị dao đâm, cắt vào tay gây xước da, chảy máu
Việc phòng tránh TNTT chủ yếu được thực hiện thông qua hai biện pháp chính sau đây [2]:
- Phòng tránh chủ động: Biện pháp này đòi hỏi sự tham gia, hợp tác của cá nhân
cần được bảo vệ, thông qua việc cá nhân đó chủ động thực hiện các biện pháp phòng tránh TNTT Mục đích của biện pháp này là hướng vào việc thay đổi hành vi của cá nhân cần được bảo vệ
- Phòng tránh thụ động: Biện pháp này yêu cầu việc thiết kế các phương tiện/
thiết bị phải đảm bảo có thể bảo vệ cho cá nhân một cách tự động, không đòi hỏi có sự tham gia của cá nhân đó Mục đích của phòng tránh thụ động là hướng vào việc thay đổi môi trường, thiết kế lại các phương tiện, thiết bị của người sử dụng chúng
Như vậy, việc giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ em được đề cập đến trong luận án chủ yếu hướng đến thực hiện biện pháp phòng tránh chủ động, với mục đích thay đổi nhận thức và hành vi phòng tránh TNTT cho trẻ em
Căn cứ vào quá trình xảy ra TNTT từ trước khi tiếp xúc cho đến trong khi tiếp xúc và sau khi tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, có thể phân chia thành 3 cấp độ dự phòng TNTT [2], bao gồm:
- Dự phòng cấp 1: Dự phòng trước khi tai nạn xảy ra Mục đích là để ko xảy ra
TNTT bằng cách loại bỏ các yếu tố nguy cơ hoặc không tiếp xúc với các yếu tố nguy
cơ gây TNTT Ví dụ, để các vật dụng nguy hiểm ở ngoài tầm với của trẻ hoặc hướng dẫn trẻ tránh xa các vật dụng đó
- Dự phòng cấp 2: Dự phòng trong khi tai nạn xảy ra Mục đích là để giảm mức
độ nghiêm trọng của thương tích khi tai nạn xảy ra Ví dụ, trong tình huống xảy ra hỏa hoạn, để hạn chế hít phải khói và khí độc, trẻ cần di chuyển bằng cách cúi thấp người hoặc bò sát mặt đất, dùng khăn hoặc vải thấm nước bịt lên mặt, mũi…
Trang 36- Dự phòng cấp 3: Dự phòng sau khi tai nạn xảy ra Mục đích là để giảm thiểu hậu
quả sau khi tai nạn xảy ra như: sơ cấp cứu khẩn trương và hiệu quả, thực hiện các biện pháp phục hồi chức năng… Chẳng hạn, trong trường hợp trẻ bị bỏng nhẹ, biểu hiện là vùng da hơi tấy đỏ, trẻ có thể chủ động ngâm vùng da bị bỏng vào nước lạnh để làm mát vết bỏng Như vậy, đối với trẻ em nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng, cần giáo dục trẻ chủ động dự phòng TNTTở cả ba cấp độ, bởi trên thực tế, trẻ có thể sẽ phải đối mặt với những yếu tố nguy cơ trước, trong và sau khi xảy ra TNTT ở mọi nơi, mọi lúc.Tuy nhiên, do hạn chế về đặc điểm lứa tuổi mẫu giáo, trước hết cần ưu tiên hướng dẫn trẻ thực hiện các biện pháp dự phòng cấp 1 với mục đích không để xảy ra TNTT, cụ thể là dạy trẻ nhận diện được các yếu tố nguy cơ và tránh tiếp xúc với chúng Bên cạnh đó, cũng cần dạy trẻ một số KN đơn giản để giảm thiểu tối đa thương tích cho cơ thể nếu xảy ra tai nạn (dự phòng cấp 2) hoặc thực hành một số thao tác sơ cấp cứu phù hợp để giảm thiểu hậu quả sau khi tai nạn xảy ra (dự phòng cấp 3)
1.3 Kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi
1.3.1 Khái niệm “Kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích”của trẻ 4-5 tuổi
1.3.1.1 Khái niệm kỹ năng
Khái niệm kỹ năng được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu khác nhau, có thể tổng hợp thành 2 quan niệm chính sau đây:
* Thứ nhất, kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, h nh động hay hoạt động
Đại diện cho quan niệm này có các tác giả như A.G Covaliov, V.A Kruchetxki, Trần Trọng Thủy, [13], [28], [48] Họ cho rằng, muốn thực hiện được hành động, cá nhân phải có tri thức về hành động đó, nghĩa là phải hiểu được mục đích, phương thức
và các điều kiện để thực hiện nó Vì vậy, nếu một cá nhân nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau, tức là cá nhân đó đã có KN hành động
V.A Kruchetxki cho rằng “KN là thực hiện một hành động nào đó nhờ sử dụng những kỹ thuật, những phương thức đúng đắn” [28]
A.G Covaliov quan niệm “KN là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” Ông không đề cập đến kết quả của hành động, bởi vì theo ông, kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người [13]
Trần Trọng Thủy lại khẳng định: “KN là mặt kỹ thuật của hành động Con người nắm được kỹ thuật hành động tức là có KN”[48]
Trang 37* Thứ hai, kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực của con người
Đại diện cho quan niệm này có các tác giả như: N.D Levitov, K.K Platonov, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng, Đặng Thành Hưng Họ cho rằng,
KN không đơn thuần chỉ là kỹ thuật hành động mà còn là biểu hiện năng lực của chủ thể và nhấn mạnh đến kết quả của hành động
N.D Levitov cho rằng “KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” Theo ông, một người có KN hành động thì đòi hỏi người
đó không chỉ nắm được lý thuyết về hành động mà còn phải biết vận dụng đúng đắn các cách thức hành động vào thực tế và đạt được kết quả [32]
K.K Platonov quan niệm: “KN là năng lực thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau và trong khoảng thời gian tương ứng Bất kỳ một KN nào cũng bao hàm trong đó biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, kỹ xảo tập trung và phân phối, di chuyển chú ý, kỹ xảo tri giác, quan sát, tư duy, sáng tạo, tự kiểm tra điều chỉnh hoạt động cũng như kỹ xảo hành động”[30]
Theo Vũ Dũng, thì “KN là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [15] Đặng Thành Hưng khẳng định “KN là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học-tâm lý khác của cá nhân (chủ thể của KN đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy trình ” [18, 23]
Nhìn chung, các quan niệm về KN nêu trên về cơ bản không hoàn toàn đối lập hay mâu thuẫn với nhau Bởi vì khi xem xét KN nghiêng về năng lực của con người trong việc thực hiện công việc có kết quả thì cũng đã bao hàm trong đó cả mặt kỹ thuật hành động, bởichỉ khi sự vận dụng tri thức và thực tiễn đạt đến mức độ thuần thục thì mới có thể đạt được kết quả công việc có chất lượng
Trong phạm vi của nghiên cứu này, luận án nghiêng về quan niệm thứ hai coi
KN thuộc về phạm trù năng lực của con người Từ đó, khái niệm về “Kỹ năng” được hiểu như sau:
Kĩ năng l biểu hiện năng lực h nh động của con người dựa trên việc vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có của bản thân đảm bảo thực hiện được mục đích đặt ra trong các điều kiện nhất định
Trong nội hàm khái niệm “Kỹ năng” nổi bật lên những điểm quan trọng sau đây:
- Là một dạng năng lực của con người, cụ thể là năng lực hành động
Trang 38- Các hành động này được thực hiện dựa trên vận dụng kiến thức, kinh nghiệm
đã có của cá nhân
- Các hành động này phải đảm bảo thực hiện được mục đích đặt ra trong những
điều kiện nhất định
1.3.1.2 Khái niệm KN phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4- 5 tuổi
Từ việc phân tích khái niệm “tai nạn, thương tích”, các cấp độ phòng tránh TNTT ở trẻ em, khái niệm“Kỹ năng”, luận án đề xuất khái niệm “Kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi” như sau:
KN phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi là biểu hiện năng lực hành động của trẻ dựa trên việc vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để chủ động ngăn ngừa, ứng phó với tác động từ bên ngoài vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý hoặc những r i loạn chức năng do sự thiếu hụt các yếu t cần thiết cho sự s ng, nhằm đảm bảo kh ng để xảy ra tai nạn, thương tích hoặc giảm thiểu t i đa tác động của tai nạn gây ra đ i với bản thân và mọi người
Có thể thấy, trong nội hàm khái niệm “ Kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích” nổi bật lên những điểm quan trọng sau đây:
- Là biểu hiện năng lực hành động của trẻ dựa trên vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để ngăn ngừa, ứngphó với các tác động từ bên ngoài vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý hoặc những rối loạn chức năng do sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống
- Mục đích của việc thực hiện cáchành động là không để xảy ra TNTT hoặc giảm thiểu tối đa tác động của tai nạn gây ra đối với bản thân và mọi người
Như vậy, ở đây, khái niệm KN phòng tránh TNTT được xem xét thuộc về phạm trù năng lực, là biểu hiện năng lực hành động Đó chính là kĩ năng sinh tồn - một nhóm hợp phần của kĩ năng sống
1.3.2 Các kỹ năng thành phần của kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích ở trẻ 4-5 tuổi
Dựa vào tiến trình thực hiện hành động của chủ thể (trẻ em) khi ứng phó với tình huống dễ gây TNTT, có thể xác định các KN thành phần của KN phòng tránh TNTT ở trẻ, bao gồm 3 KN sau đây:
1.3.2.1 KN nhận diện tình hu ng dễ gây TNTT
Trẻ nhận diện được dấu hiệu của các tình huống dễ gây TNTT xung quanh trẻ (vật dụng, động thực vật, địa điểm, hành động của trẻ, tình huống khẩn cấp) thông qua quan sát, so sánh, đối chiếu, dự đoán hậu quả từ các tình huống đó Trong mỗi tình huống cụ thể, việc nhận diện dấu hiệu thường bao gồm: đặc điểm của đối tượng, tình
Trang 39huống, vị trí, khoảng cách không gian, thời gian, cả những nhu cầu, mong muốn của trẻ, và sự hỗ trợ từ môi trường bên ngoài (người lớn, bạn bè, phương tiện hỗ trợ ) Khả năng nhận biết, phân biệt các tình huống phụ thuộc vào vốn kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã có ở trẻ cũng như mức độ phát triển của ý thức, xúc cảm, tình cảm liên quan đến tình huống mà trẻ trải nghiệm Do vậy, để giáo dục KN nhận diện các tình huống dễ gây TNTT cho trẻ, cần cung cấp cho trẻ biểu tượng chính xác về các tình huống đó, hướng dẫn trẻ quan sát, thu thập thông tin đầy đủ, và giáo dục trẻ khả năng quản lý cảm xúc, nhằm giúp trẻ bình tĩnh và chủ động, tự tin trong việc xử lý các tình huống
1.3.2.2 KN lựa chọn giải pháp ứng phó với tình hu ng dễ gây TNTT
Trẻ xác định được cách thức ứng phó phù hợp khi tiếp xúc với các tình huống dễ gây TNTT như: nêu được cách sử dụng vật dụng hợp lý, an toàn: tránh tiếp xúc với vật dụng, động thực vật có dấu hiệu nguy hiểm; không ăn, nuốt các thực phẩm bị ôi thiu,
đồ chơi nhỏ, không thực hiện hành động nguy hiểm ở các địa điểm dễ gây TNTT cũng như không tham gia vào một số hoạt động có nguy cơ gây TNTT cho bản thân và mọi người, nhờ sự trợ giúp của người lớn khi cần thiết và trình bày được sự việc xảy
ra trong tình huống khẩn cấp
Trẻ cũng có thể dự đoán được kết quả khi ứng phó tình huống theo các cách thức khác nhau và lựa chọn được cách thức ứng phó phù hợp với điều kiện, thời gian và khả năng của trẻ Ví dụ, khi nhìn thấy chó, mèo đang ăn, ngủ, bị nhốt, xích trẻ dự đoán được hậu quả là trẻ sẽ bị chó, mèo cắn nếu lựa chọn giải pháp đến gần và trêu chọc chúng hoặc khi chó, mèo đang có biểu hiện muốn tấn công (gầm gừ, sủa, xù lông ) thì trẻ đoán được là chúng sẽ đuổi theo và cắn trẻ nếu trẻ bỏ chạy Vì vậy, trẻ lựa chọn cách ứng phó phù hợp như: tránh tiếp xúc khi chó, mèo có biểu hiện trở nên nguy hiểm (đang ăn, ngủ, bị xích, nuôi con ), nếu chúng có biểu hiện muốn tấn công thì thay vì bỏ chạy, trẻ cần đứng yên, ngồi thấp xuống, cuộn tròn người, ôm chặt đầu và mặt
Việc lựa chọn giải pháp ứng phó phụ thuộc khá nhiều vào vốn kinh nghiệm, hiểu biết của trẻ về các tình huống, khả năng phân tích, so sánh, dự đoán để đề xuất giải pháp phù hợp Do đó, GV cần tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ trải nghiệm, cảm xúc về các tình huống mà trẻ đã trải qua, yêu cầu trẻ giải thích rõ ràng về sự lựa chọn của bản thân khi gặp tình huống dễ gây TNTT và hướng dẫn trẻ lựa chọn giải pháp phù hợp
1.3.2.3 KN thực hiện giải pháp ứng phó với tình hu ng dễ gây TNTT
Trẻ thực hiện được giải pháp đã lựa chọn theo một trình tự hợp lý như: thực hiện đúng trình tự khi sử dụng vật dụng (Quan sát kỹ vật dụng, hỏi ý kiến người lớn trước khi sử dụng, cầm nắm vật dụng ở vị trí an toàn và chắc chắn để không gây tổn thương
Trang 40cho cơ thể, sử dụng vật dụng đúng với công dụng của nó, cất vật dụng ở vị trí an toàn sau khi sử dụng); khi tiếp xúc một số động vật dễ gây nguy hiểm (Quan sát biểu hiện của động vật, nghĩ cách thức hợp lý để ứng phó như: tránh tiếp xúc khi nhận thấy chúng có thể trở nên nguy hiểm, cố gắng giữ bình tĩnh và đứng yên khi chúng có biểu hiện muốn tấn công, hoặc đến gần và vuốt ve đúng cách khi thấy chúng tỏ vẻ thân thiện, cuối cùng, trẻ vệ sinh tay, chân, cơ thể sau khi tiếp xúc)
Trẻ thực hiện đúng thao tác ứng phó với các tình huống dễ gây TNTT như: thao tác sử dụng dao: cầm một tay ở phần cán dao, tay còn lại giữ vật cần cắt ở vị trí chắc chắn, không bị xê dịch, sau đó, ấn nhẹ lưỡi dao khi cắt Các thao tác ứng phó mang lại hiệu quả và đảm bảo an toàn cho bản thân và mọi người xung quanh như: khi sử dụng dao, trẻ cắt được vật theo yêu cầu, không để lưỡi dao chạm vào cơ thể cũng như làm tổn thương mọi người xung quanh
Hiệu quả của việc thực hiện giải pháp ứng phó với các tình huống dễ gây TNTT phụ thuộc vào những trải nghiệm về tình huống đã có trước đó ở trẻ, khả năng phối hợp vận động khéo léo, linh hoạt giữa các bộ phận trên cơ thể và khả năng kiềm chế cảm xúc, vượt qua nỗi sợ hãi để giữ được sự bình tĩnh, chủ động khi trực tiếp đối mặt với tình huống Do vậy, GV càng tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ được thực hành, trải nghiệm hành động ứng phó thì KN của trẻ sẽ ngày càng trở nên chính xác, thuần thục,
khéo léo và linh hoạt hơn
1.3.3 Sự hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn, thương tích của trẻ 4-5 tuổi
Khi nghiên cứu về sự hình thành KN, một số tác giả như: K.K.Platonov [30], Albert Bandura [58], Nguyễn Quang Uẩn [53], Hoàng Thị Oanh [40], đã phân chia quá trình này thành các giai đoạn khác nhau, đồng thời, chỉ ra được những đặc điểm cũng như cấu trúc tâm lý của từng giai đoạn
Nguyễn Quang Uẩn chia quá trình hình thành KN thành 2 giai đoạn, đó là:
- Giai đoạn 1: Nắm vững các tri thức về hành động hay hoạt động
- Giai đoạn 2: Thực hiện hành động theo các tri thức đó
Để thực hiện hành động có kết quả thì phải có sự tập dượt, sự quan sát mẫu và làm thử Hành động càng phức tạp thì đòi hỏi sự tập dượt phải càng nhiều, càng đa dạng và kỹ lưỡng Khi KN trở nên ổn định có thể vận dụng chúng vào các tình huống khác nhau trong cuộc sống [53]
Đối với trẻ mẫu giáo, việc cung cấp kiến thức và luyện tập hành động cần được tiến hành phù hợp với khả năng của trẻ Chính vì vậy, một trong những cách thức học tập rất có giá trị đối với trẻ đã được nhiều nhà tâm lý - giáo dục học khẳng định chính là học thông qua “bắt chước” và làm theo “mẫu hành vi”[58], trong đó vai trò của người lớn và bạn bè có tác dụng thúc đẩy việc học của trẻ phát triển lên trình độ cao hơn [12]