Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị khóa XI đã có chủ trương lựa chọn thành lập ba đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo mô hình đặc khu kinh tế ĐKKT ở Việt Nam, đó là: Vân Đồn, tỉnh Quả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN MINH THẮNG
MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÁC KHU KINH TẾ TỰ DO: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH
CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN MINH THẮNG
MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÁC KHU KINH TẾ TỰ DO: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ GỢI MỞ CHÍNH SÁCH
CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các dữ liệu,
số liệu nêu trong luận án là trung thực Kết quả khoa học của luận án được rút ra từ quá trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi
Nguyễn Minh Thắng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC HỘP iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 Các nghiên cứu chung về khu kinh tế tự do trên thế giới và Việt Nam 10
1.2 Các nghiên cứu về quản trị và quản trị các khu kinh tế tự do 16
1.3 Khái quát các khoảng trống và đóng góp của luận án 28
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CÁC KHU KINH TẾ TỰ DO 31
2.1 Khái quát về khu kinh tế tự do 31
2.1.1 Quan niệm về khu kinh tế tự do 31
2.1.2 Một số lý thuyết về phát triển các khu kinh tế tự do 35
2.1.3 Xu hướng phát triển các khu kinh tế tự do trên thế giới 40
2.2 Mô hình quản trị các khu kinh tế tự do trên thế giới 49
2.2.1 Quan niệm về mô hình quản trị các khu kinh tế tự do 49
2.2.2 Đánh giá chất lượng quản trị các khu kinh tế tự do 60
2.2.3 Vai trò của các yếu tố cơ bản và quản trị đối với sự phát triển của các khu kinh tế tự do 63
Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH QUẢN TRỊ KHU KINH TẾ TỰ DO CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 74
3.1 Xu hướng thiết lập mô hình quản trị các khu kinh tế tự do 74
Trang 53.1.1 Bối cảnh và yêu cầu hình thành các khu kinh tế tự do thế hệ mới 74
3.1.2 Xu hướng thiết lập mô hình quản trị các khu kinh tế 78
3.2 Mô hình quản trị các khu kinh tế tự do của Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ 95
3.2.1 Mô hình quản trị các Đặc khu kinh tế của Trung Quốc 95
3.2.2 Mô hình quản trị các khu kinh tế tự do của Hàn Quốc 108
3.2.3 Mô hình quản trị các khu kinh tế tự do của Ấn Độ 124
3.2.4 So sánh kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ 135
Tiểu kết chương 3 140
CHƯƠNG 4: GỢI MỞ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÁC KHU KINH TẾ TỰ DO CỦA VIỆT NAM 141
4.1 Mô hình quản trị các khu kinh tế của Việt Nam hiện nay 141
4.2 Cơ hội và thách thức đối với việc xây dựng các khu kinh tế tự do thế hệ mới của Việt Nam 148
4.3 Một số bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng mô hình quản trị các khu kinh tế tự do trên thế giới 152
4.4 Một số gợi mở về mô hình quản trị các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt của Việt Nam 160
Tiểu kết chương 4 169
KẾT LUẬN 170
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 173
TÀI LIỆU THAM KHẢO 174
Trang 6DMCC Dubai Multi Commodity
Center
Trung tâm đa hàng hóa Dubai
FDI Foreign direct investment đầu tư trực tiếp nước ngoài FPZ Free Processing Zone khu chế xuất
FTA Free trade agreement hiệp định mậu dịch tự do
FTZ Free Trade Zone khu thương mại tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
ILO International Labor
Organization
Tổ chức lao động quốc tế
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
JAFZ Jebel Ali Free Zone Khu tự do Jebel Ali
JAFZA Jebel Ali Free Zone Agency Cơ quan Khu tự do Jebel Ali
Trang 7KKT khu kinh tế
OECD Organization for Economic
and Cooperation Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TNC Transnational Corporation công ty xuyên quốc gia
UAE United Arab Emirates Các tiểu vương quốc Ả rập
thống nhất
UNCTAD United Nation Conference on
Trade and Development
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
UNIDO United Nation Indutrial
Development Organization
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 84 Bảng 2.4 Hai quan điểm về tác động của các KKT 48
5 Bảng 2.5 Bộ chỉ số đo lường kết quả hoạt động các KKT tự
6 Bảng 3.1 Thể chế, chính sách của một số khu kinh tế tự do
11 Bảng 3.5 Các ưu đãi đối với các nhà đầu tư xây dựng KKT 116
12 Bảng 4.1 Các khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam 144
13 Bảng 4.2 Các khu kinh tế ven biển của Việt Nam 145
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Các khu kinh tế tự do trên thế giới 40
2 Hình 2.2 Số lượng luật KKT được ban hành trong những
3 Hình 2.3 a Cấu trúc quản trị các KKT tự do do các đối tác
4 Hình 2.3 b Cấu trúc quản trị các KKT tự do do các nhà đầu
5 Hình 2.3 c Cấu trúc quản trị các KKT tự do xây dựng theo
6 Hình 2.4 Khung phân tích vai trò của quản trị đối với sự
1 Hộp 1 Lợi ích của các nhà đầu tư khi hoạt động tại các
2 Hộp 2 Chức năng của Hội đồng khu tự do Dubai 95
3 Hộp 3 Cấu trúc quản trị các KKT tự do do các đối tác
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ đầu những năm 1990, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và mở cửa, nhiều khu kinh tế (KKT) tự do được hình thành và phát triển mạnh ở các nước trên thế giới KKT tự do được xây dựng ở tất cả mọi nhóm nước, từ các nước kém phát triển như Bangladesh, Bolivia, Togo và Yemen, các nền kinh
tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ, đến các thành viên thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) như Pháp, Nhật Bản và Mỹ [96] Các KKT giai đoạn này đã mang tính đa năng hơn và là sản phẩm của quá trình gia tăng toàn cầu hóa Tại những nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập, các KKT tự
do được xây dựng với vai trò là bước đi quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh tiến
trình tự do hóa và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Đây là những “cửa ngõ” mời gọi những nguồn lực ưu việt nhất, đồng thời cũng là các “cực tăng
trưởng mới” nhằm bắt kịp sự phát triển của thế giới
Ở nhiều nước châu Á, các KKT tự do được xây dựng như là bước đi quan trọng để đẩy mạnh tự do hóa kinh tế và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Trung Quốc đã xây dựng nhiều Đặc khu kinh tế (ĐKKT) từ cuối những năm 1970 đến nay và đã thu được những thành tựu rất nổi bật Hàn Quốc từ đầu năm 2000 đến nay đã xây dựng 8 KKT tự do trong đó có một số khu như Incheon, Busan Jinhae và Gwangyangman với cơ chế tự trị cao và cơ sở hạ tầng rất hiện đại, khác hẳn với các dạng khu công nghiệp, khu chế xuất truyền thống Một trong những ví dụ nữa gần đây hay được nhắc tới là tại Trung Đông, nơi phần lớn diện tích đất đai là sa mạc, sự phát triển của nhiều quốc gia chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn Đây là các trung tâm thương mại, dịch vụ, tài chính, giáo dục và công nghệ đồng thời là những đầu mối giao thông quốc tế quan trọng: sân bay quốc tế Hamad của Doha, Qatar và sân
Trang 11bay quốc tế Dubai của Dubai, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) nằm trong số những sân bay lớn và bận rộn nhất thế giới Điều đáng nói là mặc dù xã hội của nhiều nước Trung Đông khá khép kín do chịu ảnh hưởng của đạo Islam, song chính quyền ở các nước này đều theo đuổi những mô hình kinh tế thị trường rất tự do Điển hình là việc chính quyền UAE đã xây dựng nhiều KKT tự
do, cho phép áp dụng những mô hình quản trị hiện đại nhất thế giới, hết sức thông thoáng, có mức độ tự chủ cao để tạo lợi thế thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển
Cho đến nay, nhiều KKT tự do đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của các nước, song cũng có không ít KKT tự do không phát huy hết tiềm lực, hoạt động không hiệu quả, chỉ được đầu tư dở dang và trở nên lãng phí Với những KKT tự do đã phát triển thành công, nhiều khu đã trở thành những thành phố lớn, đóng vai trò là điểm kết nối, cực tăng trưởng nhằm huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực ưu việt nhất, đồng thời tạo ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế quốc gia Trong nhiều yếu tố quyết định sự thành bại của các KKT tự do, quản trị trở nên là yếu tố quan trọng nhất, đặc biệt khi các nền kinh tế quốc gia đã hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu Các KKT tự do thành công không chỉ cần vị trí địa lý thuận lợi, kết cấu hạ tầng hiện đại, ngành nghề và lực lượng lao động phù hợp mà vượt lên trên tất cả là một mô hình quản trị hiện đại, đảm bảo cho khu có được quyền tự chủ cao; môi trường kinh doanh tự do, thông thoáng, đẳng cấp hàng đầu thế giới; môi trường làm việc và sinh sống hấp dẫn; từ
đó có thể thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, đội ngũ nhân tài và lao động tay nghề cao Thực tế cho thấy, cuộc cạnh tranh giữa KKT tự do hiện nay trong thu hút các nhà đầu tư chiến lược trở thành cuộc cạnh tranh giữa các mô hình quản trị khu Các KKT tự do có mô hình quản trị ưu việt hơn sẽ giành được lợi thế trong việc thu hút các nhà đầu tư chiến lược
Trang 12Việt Nam là một quốc gia biển, gần tuyến đường giao thông huyết mạch của khu vực và thế giới, có dải đất ven biển với tiềm năng rất lớn để phát triển các KKT tự do hoặc các ĐKKT Việt Nam cũng có vị trí địa chiến lược tại Đông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động của thế giới, hấp dẫn các luồng vốn đầu tư quốc tế Với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu sắc, Việt Nam đang tham gia các tiến trình hội nhập khu vực diễn ra mạnh mẽ trên nhiều tuyến, nhiều phương
và nhiều cấp độ với vai trò ngày càng nổi bật Nhiều nhà đầu tư quốc tế đang tích cực quan tâm và tìm hiểu cơ hội đầu tư vào Việt Nam với những dự án lớn, trong
đó có việc tham gia xây dựng những KKT ven biển
Tại Việt Nam, ý tưởng phát triển các KKT đã xuất hiện từ những năm
1990 trong một số văn kiện của Đảng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) đã đề ra yêu cầu "quy hoạch các khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt" Đến những năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã có các bước đi ban đầu theo hướng này Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số
1353/QĐ-TTg ngày 23 tháng 09 năm 2008 về việc phê duyệt Đề án “Quy
hoạch phát triển các Khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2020” đã ban hành chủ trương xây dựng 15 khu kinh tế ven biển
Sự phát triển của các KKT ven biển bước đầu đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh-quốc phòng của các địa phương, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển và góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động các KKT ven biển cũng bộc lộ nhiều hạn chế: việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng chậm, chưa thu hút nhiều dự án đầu tư lớn, sức lan tỏa phát triển còn hạn chế…chưa phát huy được hết lợi thế, tiềm năng của các khu Nguyên nhân chủ yếu là mô hình quản trị các KKT này và các thể chế, chính sách kèm theo chưa đáp ứng
Trang 13yêu cầu phát triển, chưa tạo cho các khu có quyền tự do, tự chủ và môi trường kinh doanh thông thoáng đạt tới tầm đẳng cấp quốc tế
Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị khóa XI đã có chủ trương lựa chọn thành lập ba đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo mô hình đặc khu kinh
tế (ĐKKT) ở Việt Nam, đó là: Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh; Bắc Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa; và Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; với mục tiêu ứng dụng ở đây
mô hình quản trị và các thể chế, chính sách kèm theo vượt trội so với trong nước, theo những tiêu chuẩn hiện đại của các KKT tự do trên thế giới Đại hội
XII cũng đã đề ra chủ trương: “xây dựng một số đặc khu kinh tế để tạo cực
tăng trưởng và thử nghiệm thể chế phát triển vùng có tính đột phá” Năm
2017, Việt Nam đã xây dựng dự thảo Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt cho ba địa phương là: Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc Tuy nhiên, đến nay ở Việt Nam chưa có sự thống nhất trong nhận thức, quan điểm về việc phát triển các mô hình KKT tự do mới, trong có nhận thức về mô hình quản trị thực sự ưu việt, các chính sách đặc thù, thực sự mang tính đột phá thúc đẩy sự phát triển của các khu này Trong quá trình nghiên cứu để làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển các KKT tự do mới
ở Việt Nam, Quốc hội đã tạm hoãn việc bỏ phiếu đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Mặc dù ở Việt Nam đến nay đã có nhiều nghiên cứu về các KKT tự do song chỉ ít các nghiên cứu thảo luận sâu về mô hình quản trị các KKT này, nhất là theo hướng tổng kết, đánh giá những mô hình quản trị KKT tự do của thế giới, từ đó kiến nghị các gợi mở khả thi phù hợp
với thực tiễn Việt Nam
Do vậy, chủ đề nghiên cứu của luận án: “Mô hình quản trị các khu kinh
tế tự do: Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở chính sách cho Việt Nam” có ý nghĩa
cấp thiết: từ những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn phát triển các KKT tự
do trên thế giới, nhất là nhìn dưới góc độ mô hình quản trị, để rút ra gợi mở
Trang 14chính sách cho việc phát triển các KKT tự do, nhất là việc hình thành các đơn
vị hành chính-kinh tế đặc biệt ở Việt Nam trong thời gian tới
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu mô hình quản trị KKT tự
do của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra một số gợi mở đối với việc hoàn
thiện mô hình quản trị các KKT tự do, nhất là mô hình quản trị các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong tương lai của Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ tập trung chủ yếu vào giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:
1 Tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở lý luận của mô hình quản trị KKT tự do trên thế giới;
2 Nghiên cứu, làm rõ các mô hình quản trị KKT tự do của một số nước
3 Đề xuất những định hướng xây dựng mô hình quản trị các KKT tự do, các gợi mở cho việc hoàn thiện mô hình quản trị các đơn vị hành chính
- kinh tế đặc biệt chuẩn bị hình thành ở Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Yếu tố quản trị có vai trò quan trọng như thế nào đối với sự thành bại của các khu kinh tế tự do?
- Những đặc điểm phổ biến trong mô hình quản trị khu kinh tế tự do của các nước là gì?
- Việt nam có thể rút ra được bài học kinh nghiệm gì từ việc nghiên cứu
mô hình quản trị khu kinh tế tự do của các nước trên thế giới
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu:
Mô hình quản trị KKT tự do của một số nước trên thế giới Trong đó tập trung phân tích, làm rõ hai đối tượng nghiên cứu cụ thể:
Trang 15- Các chủ thể trong cấu trúc quản trị
- Mối quan hệ giữa các chủ thể trong cấu trúc quản trị
Luận án coi: quản trị là các quá trình quản lý, định hướng bởi chính
phủ, thị trường hoặc mạng lưới đối với các tổ chức (chính thức hoặc không chính thức) hoặc đối với một khu vực lãnh thổ thông qua luật pháp, chuẩn mực hoặc quyền lực [37] Theo nghĩa đó, luận án sử dụng cách tiếp cận hệ
thống, nhìn mô hình quản trị KKT theo hai cấu phần:
- Các chủ thể quản trị KKT tự do, như: Các cơ quan của chính phủ tham gia quản lý KKT tự do, Ban quản lý KKT tự do, đối tác xây dựng, đối tác vận hành và các nhà cung cấp dịch vụ trong KKT tự
do, các nhà đầu tư, các tổ chức xã hội, người dân và những bên liên quan khác có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của các KKT tự do
- Mối quan hệ giữa các chủ thể quản trị KKT tự do, thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, các quy định chung (ở tầm vĩ mô của quốc gia) cũng như các quy định cụ thể (ở tầm vi mô của các KKT
tự do) Hệ thống luật pháp, chính sách và các quy định này ảnh hưởng đến mức độ tự do, tự chủ, môi trường đầu tư, kinh doanh, sản xuất, huy động, phân bổ nguồn lực, quản lý xã hội, văn hoá, dân cư, môi trường, bảo vệ quyền lợi của người lao động…trong đặc khu
Trang 16Hệ thống luật pháp, chính sách, quy định này cũng định hình sự tham gia của các chủ thể trong quản trị KKT tự do, định vị mô hình KKT tự do trong hệ thống thể chế và quản trị quốc gia
Tuy nhiên, do hạn chế về cơ sở dữ liệu, luận án phân tích sâu hơn khía
cạnh vĩ mô của mô hình quản trị, gồm: i) tập trung phân tích các chủ thể quản
trị là các cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý KKT, các đối tác phát triển
và vận hành khu, các nhà đầu tư (không đề cập sâu đến các bên liên quan khác như: các tổ chức xã hội, công đoàn, người lao động, cộng đồng dân cư bị
ảnh hưởng,…trong quá trình phát triển KKT); ii) tập trung phân tích hệ thống
luật pháp, chính sách và các quy định chung của quốc gia đối với các KKT (không đề cập sâu đến những quy định cụ thể, đặc thù của các KKT tự do)
Luận điểm của luận án là: Yếu tố then chốt cho sự thành bại trong sự phát triển của các KKT tự do thế hệ mới là mô hình quản trị vượt trội
- Sự “vượt trội” có thể hiểu là tạo ra sự khác biệt và lợi thế nhờ đáp ứng những chuẩn mực và đạt tới đẳng cấp cao hơn
- Dưới góc độ thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, sự phát triển thành bại của các KKT tự do chủ yếu nằm ở khả năng thu hút được các nhà đầu tư
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp SWOT, dùng để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của các KKT tự do
- Phương pháp so sánh, bao gồm việc so sánh các yếu tố quản trị của các KKT với nhau, các yếu tố quản trị của KKT với môi trường quản trị của quốc gia nói chung
- Nghiên cứu trường hợp: luận án phân tích sâu trường hợp của mô hình quản trị của các KKT tự do ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, từ đó rút ra các
Trang 17bài học kinh nghiệm và gợi mở chính sách Đây là những trường hợp nghiên cứu tương đối sát với điều kiện của Việt Nam Ví dụ: Trung Quốc có nhiều điều kiện cải cách và phát triển tương đồng với Việt Nam Hàn Quốc là hình mẫu mà Việt Nam hướng tới Ấn Độ là trường hợp mà Việt Nam có thể học được cả những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình xây dựng
và phát triển các KKT tự do
- Phương pháp dự báo triển vọng
- Các phương pháp thống kê đơn giản
Luận án sử dụng số liệu thứ cấp là chủ yếu, thông qua nguồn số liệu của Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Tổng cục thống kê Việt Nam, báo cáo kinh tế-xã hội của các KKT tự do, báo cáo kinh tế-xã hội của các nước nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án đã chỉ ra được yếu tố quyết định nhất tác động đến sự
phát triển thành bại của các KKT tự do hiện nay là mô hình quản trị So với những nghiên cứu trước, luận án đã làm rõ những cấu phần quan trọng của
mô hình quản trị các KKT tự do dưới góc độ lý thuyết và thực tiễn; chỉ ra mối quan hệ giữa mô hình quản trị với các yếu tố khác có tác động đến sự phát triển của các KKT tự do như: cơ cấu ngành nghề, khả năng thu hút đầu tư, khả năng phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại, ; chỉ ra ý nghĩa của việc thiết lập mô hình quản trị KKT đối với tiến trình cải cách thể chế của quốc gia
Thứ hai, luận án đã phân tích, chỉ rõ sự khác biệt “vượt trội” của các
KKT tự do thế hệ mới hiện nay cũng chính là “mô hình quản trị vượt trội”, đặc biệt là vai trò của mô hình quản trị đối với sự phát triển thành công của các KKT này, trong đó nhấn mạnh vai trò của mô hình quản trị trong việc đảm bảo cho các KKT tự do có quyền tự chủ, tự quyết cao, môi trường kinh doanh tự do, thông thoáng đạt đẳng cấp thế giới, giúp cho các KKT tự do có
Trang 18thể thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, qua đó đóng góp cho các quan điểm lý thuyết và thực tiễn về quản trị các KKT tự do
Thứ ba, luận án đã phân tích được một số hình mẫu quản trị các KKT
tự do thành công ở trên thế giới thông qua việc nghiên cứu sâu kinh nghiệm của một số quốc gia như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm thành công cũng như thất bại
Thứ tư, luận án đã rút ra một số gợi mở chính sách có giá trị tham khảo
đối với tiến trình xây dựng và phát triển các KKT tự do nói chung, đặc biệt là
mô hình quản trị đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt được hình thành trong tương lai ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận án chia làm 4 chương:
kinh tế tự do
thế giới
kinh tế tự do ở Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu chung về khu kinh tế tự do trên thế giới và Việt Nam
Trong khoảng 40 năm trở lại đây, cùng với sự thành công của các đặc khu kinh tế (ĐKKT) của Trung Quốc trong tiến trình mở cửa, nhiều nghiên cứu về KKT đã xuất hiện Cho đến nay, có nhiều cách gọi đối với “khu kinh tế tự do” (KKT) như: Khu tự do (Free Zone), Khu phi thuế quan (Duty Free Zone), Khu Thương mại Tự do (Free Trade Zone), Khu Chế xuất (Export Processing Zone), Khu kinh tế đặc biệt, Đặc khu hành chính-kinh tế, Đặc khu hành chính, Khu kinh
tế mở Ở Việt Nam, trong thời gian qua có dự thảo luật về: Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, cũng được xem như một dạng của khu kinh tế tự do, phân biệt với các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp, khu chế xuất truyền thống Thậm chí, nghiên cứu của Meng Guangwen (2003) tổng kết rằng có ít nhất 66 thuật ngữ được dùng để nói về các dạng KKT
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO, 1980) xem xét sự phát triển của các khu chế xuất (KCX), một mô hình cụ thể của KKT tự do, bằng cách so sánh và nghiên cứu các giai đoạn phát triển khác nhau của các KCX ở châu Á; đánh giá mục tiêu của nước sở tại trong việc thiết lập các KCX này; đánh giá tác động của các KCX về mặt kinh tế và xã hội ở nước sở tại Nghiên cứu này cho rằng: Các KCX đã thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; về lâu dài, thành công của các KCX phụ thuộc vào chính sách giáo dục và nguồn nhân lực ở nước sở tại Nghiên cứu của Peter Warr (1989) xem xét các hiệu ứng của các KCX đối với nước sở tại; chỉ ra rằng thành lập các KCX rất quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài Tác giả cho rằng các KCX đã không thực hiện tốt việc chuyển giao công nghệ bởi vì các KCX nói chung tách biệt với nền kinh tế trong nước và các công ty trong KCX đóng góp rất ít về thuế; việc thiết lập các khu này có thể cực kỳ tốn kém cho nước chủ nhà Nhìn chung, lợi ích
Trang 20cho nước sở tại phụ thuộc vào quyền lực thương lượng giữa chính phủ và các nhà đầu tư trong việc thành lập các mô hình KKT tự do (Tsui, 1993)
Madani (1999) đưa ra các lý lẽ về việc ủng hộ và chống lại các ĐKKT, các KCX thông qua nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng phương pháp lợi ích - chi phí Tác giả nhận thấy rằng, trong hoàn cảnh thuận lợi
và quản lý tốt, các KCX, KKT nói chung đạt được hai mục tiêu cơ bản là: tạo việc làm và tăng thu ngoại hối Wei Ge (1999) đo lường vai trò của KCX đối với nước sở tại; gợi ý rằng các KCX có thể là một công cụ chính sách để thúc đẩy mở cửa và tăng trưởng kinh tế được thực hiện bởi nước chủ nhà
Ngân hàng Thế giới (WB, 2008) đánh giá 30 năm kinh nghiệm phát triển các ĐKKT, xem xét các mô hình phát triển và tác động kinh tế của các khu này trên toàn thế giới WB cho rằng, trong khi các ĐKKT giúp giải quyết mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, thì các nghiên cứu hiện nay chưa thống nhất được tiêu chí thành công của các khu này Thành công của các ĐKKT ở Đông Á và Mỹ Latinh rất khó nhân rộng, đặc biệt là nhiều ĐKKT ở châu Phi và nhiều khu vực khác đã thất bại Hơn nữa, kể từ khi các nước đang phát triển bắt đầu phát triển các ĐKKT đã xuất hiện nhiều lo ngại về tác động của các khu đối với việc làm, môi trường và xã hội Kinh nghiệm cho thấy, muốn thành công, các ĐKKT cần được tích hợp với nền kinh tế, chương trình cải cách và đầu tư tổng thể, đặc biệt, khi các khu được thiết kế để thí điểm cải cách pháp lý và quy định
Bên cạnh các nghiên cứu chung, còn có nhiều nghiên cứu về các KKT
tự do của các nước cụ thể Chu (1982) phân tích chi phí vốn của việc thành lập ĐKKT tại Trung Quốc Nghiên cứu chỉ ra hai loại chi phí: i) liên quan đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng và ii) sự phát triển đô thị của các ĐKKT Hầu hết các chi phí vốn cho việc thành lập ĐKKT là trách nhiệm của chính
Trang 21phủ Trung Quốc Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy lợi ích từ việc thành lập ĐKKT không nên được đánh giá bằng phần thưởng tài chính, vì có những lợi ích phi tiền tệ khác Nghiên cứu của Oborne (1986) đánh giá hiệu quả của việc thành lập các ĐKKT đối với nền kinh tế và chỉ ra rằng, các ĐKKT được thành lập như một phần của chính sách mở cửa diễn ra vào những năm 1970 ĐKKT góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài song cũng làm gia tăng chi phí xây dựng hạ tầng Claus Knoth (2000) phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc trong thiết lập các ĐKKT trong quá trình chuyển đổi Nghiên cứu thừa nhận rằng việc sử dụng mô hình toán học không giúp ích phân tích toàn diện về tác động của các ĐKKT đối với nước sở tại Nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị về những yếu tố ảnh hưởng tới sự thành bại của các đặc khu là: quốc gia cần xác định mục tiêu của mình từ việc thành lập các ĐKKT, cho dù các mục tiêu này là ngắn hạn hay dài hạn; các quyết định lựa chọn vị trí của các khu vực một cách đúng đắn, cho dù các khu vực này được thiết lập ở các nơi phát triển lạc hậu; sự sẵn có của lao động có tay nghề cao trong nước; và kế hoạch ưu đãi thuế được cung cấp cho các nhà đầu tư Douglas Zhihua Zeng (2011) lưu ý rằng, các ĐKKT
và các cụm công nghiệp đã đóng góp quan trọng cho sự thành công kinh
tế của Trung Quốc Nhiều cụm công nghiệp, ĐKKT đã góp phần đáng kể làm tăng tổng sản phẩm trong nước, việc làm, xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Các ĐKKT cũng đã đóng vai trò quan trọng đưa công nghệ mới vào Trung Quốc và thực hành quản lý hiện đại
Malini Tantri (2011) đánh giá hiệu quả của các ĐKKT của Ấn Độ và chỉ ra rằng, mặc dù hiệu quả của các khu đã được cải thiện qua nhiều năm, đặc biệt với sự ra đời của chính sách ĐKKT, song vẫn chưa thể vượt qua một ngưỡng nhất định Bên cạnh đó, các nhà hoạch định chính sách
có thể thấy mâu thuẫn đang nổi lên giữa các khu chỉ phục vụ mục đích
Trang 22xuất khẩu và các khu được coi là hoạt động hiệu quả Nghiên cứu của Abdul Raheem (2011) kết luận rằng, tác động của các ĐKKT ở Ấn Độ về tạo việc làm, cả trực tiếp và gián tiếp, cho đến nay vẫn là nhiều nhất, qua
đó ĐKKT mang lại phát triển con người và giảm nghèo ở Ấn Độ Các ĐKKT của Ấn Độ có tiềm năng tạo ra việc làm ở địa phương là khá lớn mặc dù đóng góp ở tầm quốc gia còn hạn chế, song có thể đóng vai trò khởi xướng quá trình phát triển con người và xóa đói giảm nghèo ở Ấn Độ Siddhartra Mitra (2010) xem xét chính sách đặc khu kinh tế ở Ấn Độ trong việc hoàn thành các mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm và duy trì tiến độ tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở lý thuyết kinh tế và lịch sử, nghiên cứu kết luận rằng hấp thụ lao động nông nghiệp là cần thiết cho sự phát triển kinh tế bền vững của một quốc gia đang phát triển Các ĐKKT
là một phương tiện giúp điều này Tuy nhiên, chính sách ĐKKT ở Ấn Độ, nhất là những vấn đề liên quan đến đất đai và hạ tầng có nhiều hạn chế
Trong tác phẩm “Một nghiên cứu lý thuyết về các khu tự do: kinh
nghiệm Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore và Ai Cập”, Manwer Osreer
(1996) đánh giá kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển các khu tự do (FZ) và vai trò của chúng đối với nước sở tại Nghiên cứu này đi đến kết luận: 1) có nhiều định nghĩa khác nhau cho các FZ; 2) có các loại
FZ khác nhau; 3) sự thành công của việc thành lập FZ phụ thuộc vào việc tiến hành nghiên cứu khả thi và 4) các FZ có tác động xã hội đối với nước chủ nhà Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra nhiều khuyến nghị như: tiến hành một vài nghiên cứu khả thi trước khi thành lập FZ; cần nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác; cần sự linh hoạt trong phân cấp quản lý và vận hành FZ là yếu tố rất quan trọng để đảm bảo lợi ích từ các khu này
Nghiên cứu của Zwena Ryal (1997) Khu tự do và phát triển: nghiên
cứu về khu xuất khẩu công nghiệp của Tunisia, đảo Morris và Algeria xem
Trang 23xét kinh nghiệm của một số nước châu Phi trong việc thiết lập các khu xuất khẩu công nghiệp (IEZ); xác định lý do đằng sau sự thành công và thất bại của các khu này Nghiên cứu cho thấy, việc thiết lập các IEZ bởi các nước đang phát triển nên được kết hợp với một quốc gia hoặc nhà đầu tư chiến lược và có cam kết từ chính phủ Cuối cùng, nghiên cứu chỉ
ra rằng, việc thành lập IEZ là tốn kém cho các nước đang phát triển Jamil Taher (1998) đánh giá việc thành lập các khu kinh tế tự do ở các nước Ả Rập trong khía cạnh thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm và tăng cường ngoại thương Kết luận chính của nghiên cứu này là: khu tự do ở các nước Ả Rập phải cạnh tranh dựa trên cơ sở chất lượng dịch vụ được cung cấp và hàng hóa được sản xuất trong các khu này Jenkins, Esquivel và Larraine (1998) đã đưa ra kết luận trong nghiên cứu về các KCX ở nước Mỹ Latinh rằng, các KCX có lợi ích chính là tạo việc làm Ở các nước đang phát triển với thất nghiệp tương đối cao, các KCX có thể là một cơ chế hiệu quả giúp giảm gánh nặng kinh tế và xã hội của các nhóm người thất nghiệp Nghiên cứu của M Tekere (2000) xem xét vai trò của việc thiết lập các KCX ở Châu Phi và chỉ ra rằng hầu hết các KCX ở Châu Phi đã thất bại trong việc đạt được các mục tiêu đặt ra lúc thành lập Các KCX thất bại do: 1) thiếu sự cam kết của chính phủ dẫn đến các mục tiêu bị đảo ngược; 2) chi phí cơ sở hạ tầng cao khi phải phát triển các KCX; 3) bộ máy quan liêu của chính phủ; 4) sự lựa chọn vị trí nghèo nàn dẫn đến thất bại trong việc thu hút đầu tư; 5) thiếu tiếp tục với cải cách thương mại; và 6) quản lý kém Nghiên cứu kết luận rằng, các KCX không phải là một chiến lược khả thi cho phát triển kinh tế ở các nước châu Phi Ngày nay, các KCX không còn được xem là một giải pháp phát triển xuất khẩu cho châu Phi theo quan điểm tự do hóa thương mại Nghiên cứu của Caleb Mireri (2000) phân tích kinh nghiệm phát triển KCX ở Kenya bằng cách so sánh tình trạng của công
Trang 24nhân trong và ngoài khu Theo nghiên cứu này, kết quả tiêu cực từ việc thiết lập các KCX là: sự không an toàn của người lao động do sự biến động về số lượng doanh nghiệp hoạt động trong khu chế xuất; tiền lương cho lao động trong khu có thể thấp hơn những người làm việc bên ngoài Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy các vấn đề khác liên quan đến lao động như: thiếu cơ hội đào tạo và thăng tiến, phân biệt đối xử chủng tộc, rủi ro tai nạn công nghiệp và ô nhiễm
Ở Việt Nam, các nghiên cứu đầu tiên về mô hình thể chế, quản trị KKT chủ yếu tập trung vào trường hợp của Trung Quốc, như nghiên cứu của Cù Ngọc Hưởng (1997) “Đặc khu kinh tế của Trung Quốc”, của Bạch Minh Huyền và Phạm Mạnh Thường (1998) “Mô hình đặc khu kinh tế của Trung Quốc và những bài học cho phát triển đặc khu kinh tế Việt Nam”, của Mai Ngọc Cường (2003) “Các khu chế xuất Châu Á - Thái Bình Dương và Việt Nam”…
Các nghiên cứu về KKT ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh trong vài năm trở lại đây, khi việc xây dựng cũng như nhiều vấn đề của KKT thu hút sự chú ý của công luận và chính sách Có thể kể ra một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Võ Đại Lược (2008), “Xây dựng khu kinh tế mở Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Hoàng Xuân Hòa (2008) “Xây dựng và phát triển mô hình đặc khu kinh tế - một số kinh nghiệm đối với Việt nam”, Võ Đại Lược (2009) “Các khu kinh tế tự do ở Dubai, Hàn Quốc và Trung Quốc”, Nguyễn Quang Thái (2010) “Vấn đề xây dựng các đặc khu kinh tế, các khu kinh tế mở ở vùng ven biển Việt Nam trong những năm tới”, Nguyễn Xuân Thắng (2014) “Tính khả thi trong việc xây dựng đặc khu kinh
tế tại Việt Nam” v.v
Ngoài ra, có một số luận án cũng đã nghiên cứu mô hình các KKT tự
do trên thế giới, từ đó rút ra một số gợi mở và kiến nghị chính sách cho việc xây dựng các đặc KKT ở Việt Nam Ví dụ, luận án của Đặng Thị Phương Hoa
Trang 25(2011) “Thực tiễn phát triển các khu kinh tế tự do ở một số nước Châu Á và gợi ý cho Việt Nam”, Cao Tường Huy (2014) "Kinh nghiệm Đông Á về phát triển khu kinh tế và bài học cho phát triển Khu kinh tế Vân Đồn", Trịnh Mạnh Linh (2016) “Đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm Trung Quốc và đề xuất chính sách cho Việt Nam”…
Các đánh giá về việc phát triển các KKT đã có ở Việt Nam nhìn chung không có nhiều tích cực Ví dụ, theo Lê Đăng Doanh (2011), một số KKT gây
ra lãng phí hàng ngàn tỉ đồng vốn ngân sách đầu tư không hiệu quả, cùng với
đó là hàng trăm ngàn hecta đất nông nghiệp bị lấy đưa vào quy hoạch rồi bỏ hoang Theo Nguyễn Mại (2011), các KKT cửa khẩu mọc lên khắp nơi nhưng vắng lặng, hiệu quả thấp chỉ là một trong những vấn đề của tình trạng đầu tư, nhất là việc thành lập các KKT để thu hút đầu tư
Nhìn chung, do nội hàm của các KKT rất khác nhau, nên cho tới nay, các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu đối với KKT; mỗi một cách tiếp cận đều cố gắng làm sáng tỏ một khía cạnh nhất định của KKT tự do ở các giai đoạn phát triển khác nhau và trên những nền tảng chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau
1.2 Các nghiên cứu về quản trị và quản trị các khu kinh tế tự do
Thuật ngữ “quản trị” xuất hiện vào khoảng cuối những năm 1970, là một cách tiếp cận mới đối với cải cách thể chế để thúc đẩy phát triển Có nhiều quan niệm khác nhau về “quản trị”, từ các quan niệm mang tính chất
“mỏng” cho đến các quan niệm mang tính chất “dày”, từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô (Kaufmann, Daniel, Aart Kraay and Massimo Mastruzzi, 2010)
Ngân hàng thế giới định nghĩa quản trị dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại là dưới góc độ thực thi quyền lực chính trị vì mục đích phát triển (WB, 1989; 1992; 2017) Quản trị cũng liên quan đến sự tương tác giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước (WB, 2017) Quản trị cũng được hiểu bao gồm các yếu tố truyền thống và thể chế (Kaufmann, Kraay and
Trang 26Mastruzzi, 2010) Ở góc độ vi mô, quản trị một tổ chức thường được hiểu là
hệ thống các quy tắc, quy định, thủ tục, cơ chế mà thông qua đó tổ chức (doanh nghiệp, cơ quan công quyền, hoặc các tổ chức xã hội) được điều hành
và kiểm soát (Giáo trình Nhập môn Quản trị học, 2013) Quản trị và quản lý một tổ chức có điểm tương đồng theo nghĩa: là tổng hợp các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua nỗ lực (sự thực hiện) của người khác
Đặc biệt, các nghiên cứu đều nhấn mạnh ý nghĩa của vấn đề quản trị tốt đối với phát triển, dù ở tầm vĩ mô như quốc gia, hay tầm vi mô như một tổ chức, từ đó cố gắng đưa ra các tiêu chí, khía cạnh để đo lường chất lượng quản trị ADB (1995) coi quản trị tốt bao gồm các yếu tố: có trách nhiệm giải trình, các bên liên quan tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, dự đoán được và minh bạch Đối với AfDB (1999), quản trị tốt bao gồm: trách nhiệm giải trình, minh bạch, chống tham nhũng, sự tham gia của công chúng
và khung khổ pháp lý và tư pháp tốt Đối với Hiệp hội Phát triển Quốc tế (1998), quản trị tốt được hiểu là việc đảm bảo trách nhiệm giải trình ở cấp độ
vi mô và vĩ mô; quy trình thực thi và hoạch định chính sách minh bạch, luật pháp và sự tham gia của các tổ chức xã hội vào việc xây dựng chiến lược phát triển cho các công dân bị ảnh hưởng Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (1997) thậm chí còn mở rộng danh sách này thành chín thuộc tính, như: có sự tham gia, thượng tôn pháp luật, minh bạch, có tính phản hồi, hướng tới đồng thuận, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược AfDB (2014)
đã đề xuất 5 chỉ số để đánh giá chất lượng quản trị ở 40 quốc gia châu Phi, bao gồm: quyền tài sản và quản trị dựa trên quy tắc, chất lượng quản lý ngân sách và tài chính, hiệu quả huy động doanh thu, chất lượng quản trị công, minh bạch, trách nhiệm giải trình và tham nhũng trong khu vực công Chỉ số Ibrahim về quản trị châu Phi (IIAG) (2016) đưa ra một bộ bốn chỉ số: an toàn
và pháp trị, tham gia và nhân quyền, cơ hội kinh tế bền vững và phát triển con
Trang 27người Rotberg và Gisselquist (2009) mở rộng danh sách Chỉ số Ibrahim thành năm yếu tố chính bao gồm ba chỉ số sau cộng với an toàn và bảo mật, thượng tôn pháp luật, minh bạch và tham nhũng Thực tế cho thấy, không có một bộ chỉ số thống nhất nào để đo lường chất lượng quản trị (UNDP 1997; AfDB 1999) Tuy nhiên, có thể nhận thấy, quản trị tốt phải có các yếu tố cốt lõi như: tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và thượng tôn pháp luật, mà các hoạt động kinh tế và chính trị của một xã hội nên được dựa vào; đồng thời đây cũng thường là khung khổ để xây dựng các chỉ tiêu, tiêu chí đo lường chất lượng quản trị nói chung
Mặc dù vấn đề quản trị được nhiều tổ chức quốc tế đề cao về mặt lý thuyết như một phương pháp và công cụ khá lý tưởng, song về mặt thực tế, đây là vấn đề dường như rất khó triển khai Kết quả của cải cách quản trị trên thế giới cho đến nay vẫn còn hạn chế và khác biệt giữa các quốc gia và trên các lĩnh vực như: tài chính công, quản lý tài nguyên thiên nhiên, giáo dục, hành chính công, v.v (AfDB 2012; Bachelard 2016; Coolidge and Rose-Ackerman 1997; Lienert and Modi 1997; Lienertb 1998; World Bank 2017) Một số nghiên cứu cho rằng, mặc dù Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu phát triển, nhất là trong việc giảm nghèo (với 700 triệu người thoát khỏi đói nghèo trong gần 40 năm qua), các chỉ số quản trị của Trung Quốc lại không thay đổi nhiều Tuy nhiên, những thất bại phát triển ở các nước như Ấn Độ, Braxin…nơi có sự bất bình đẳng sâu sắc về mặt xã hội lại được cho có nguyên nhân là nền quản trị quốc gia yếu kém (WB, 2017)
Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận quản trị để phân tích, đánh giá sự thành bại của các KKT tự trên thế giới, gắn yếu tố quản trị với tên gọi, mục tiêu, vai trò, chức năng và tác động của các KKT tự do
i)- Mối liên hệ giữa mô hình quản trị với tên gọi, mục tiêu, chức năng của các khu kinh tế tự do
Trang 28Các nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ quản trị đều cho thấy, tên gọi của các KKT tự do dù xuất phát từ nội hàm rất khác nhau của các KKT, gắn với các giai đoạn phát triển, những nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau,
song ít nhiều liên quan đến mô hình quản trị các KKT tự do
Phần lớn nghiên cứu quan niệm và định hình các KKT tự do theo tính
“đặc thù” của mô hình thể chế và quản trị Ví dụ, Grubel (1984: 43) cho rằng,
KKT là một khu vực địa lý xác định mà các hoạt động kinh tế trong đó không phải áp dụng những quy định điều tiết và thuế của chính phủ như đang áp dụng chung cho toàn nền kinh tế quốc dân Theo Madani (1999), KKT là một
khu vực khép kín, có các nguyên tắc về thuế khoá đặc thù Tương tự theo
Aggarwal (2010: 2), KKT là vùng công nghiệp được hưởng một số chính sách
ưu đãi đặc biệt nhằm “sản xuất hướng ra xuất khẩu” Theo Tổ chức lao động
quốc tế, KKT là khu công nghiệp có những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút đầu
tư nước ngoài (ILO, 1998)
Tính đặc thù của các KKT tự do thường chủ yếu thể hiện ở mức độ tự
do thương mại và môi trường thể chế, pháp lý Theo Ngân hàng thế giới và
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc, KKT là khu công nghiệp
khép kín, nơi các công ty có được những điều kiện về tự do thương mại và
môi trường pháp lý tự do (WB, 1992; UNIDO, 1995) Kusago và Tzannatos
(1998) cho rằng, KKT là một vùng công nghiệp có ranh giới rõ ràng, bao gồm một khu vực tự do thương mại nằm trong cơ chế về thương mại và thuế quan chung của một quốc gia, các công ty nước ngoài ở đây chủ yếu sản xuất để xuất khẩu và được hưởng ưu đãi về tài chính và thuế khoá
Các nghiên cứu cũng phân loại KKT theo các thế hệ gắn liền với sự
tiến hóa và thay đổi của mô hình quản trị khu Ví dụ, dựa vào kinh nghiệm
của châu Á, Ho Kwon Ping (1979) phân các KKT thành hai thế hệ: các khu chế xuất cuối những năm 1960 là thế hệ thứ nhất và các đặc khu kinh tế của Trung Quốc kể từ cuối những năm 1980 là thế hệ thứ hai Meng Guangwen
Trang 29(2005) cho rằng, các KKT tự do bắt đầu phát triển từ các cảng tự do, thành phố
tự do, các khu thương mại tự do, sau đó, chúng sinh ra các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế và các dạng KKT khác Ở khía cạnh này, nhiều nghiên cứu thực tế
quan niệm: mô hình KKT tự do gắn liền với mô hình quản trị KKT tự do
Đặc biệt, các nghiên cứu còn xem nhiều KKT tự do quy mô lớn và mang tính chất toàn diện có thể được xem như là “thành phố công nghiệp” Đây là một thực thể lãnh thổ xã hội có một cộng đồng dân cư và một cộng đồng doanh nghiệp (Becattini, 1990) Trong “thành phố công nghiệp”, khác với các vùng địa lý khác, cộng đồng dân cư và cộng đồng doanh nghiệp hoà quyện với nhau, trở thành như những điểm “nút” của quá trình toàn cầu hoá
và phát triển kinh tế Các yếu tố quan trọng của mô hình này gồm: 1) Có sự tập trung về mặt địa lý và lĩnh vực kinh doanh của các công ty; 2) Có môi trường hợp tác - cạnh tranh lành mạnh; 3) Có một bản sắc văn hoá - xã hội, tạo điều kiện cho sự tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau; và 4) Quá trình tập trung
công nghiệp và đô thị kết hợp, bổ sung cho nhau (Schmitz, 1995) Theo khía cạnh này, mô hình quản trị các KKT tự do tổng hợp, quy mô lớn thực chất chính là mô hình quản trị đô thị hiện đại
Nghiên cứu của tổ chức Oliver Wyman (2018) cho rằng, các KKT tự
do đã trải qua nhiều thế hệ, mang những đặc trưng về thể chế và quản trị khác nhau, phù hợp với chức năng và vai trò của các khu này Ví dụ, những KKT
tự do thế hệ đầu tiên chủ yếu là những đặc khu chế tạo và dịch vụ, cung cấp nhiều ưu đãi và tương đối khép kín Đặc biệt, báo cáo này nhấn mạnh đến tính
“xuyên quốc gia” và “tính quốc tế” của các khu tự do thế hệ mới này Điều đó
có nghĩa rằng, môi trường thể chế và quản trị của các KKT tự do cần đáp ứng những chuẩn mực toàn cầu
ii)- Mối liên hệ giữa mô hình quản trị với vai trò, tác động của khu kinh
tế tự do
Từ góc độ quản trị, các nghiên cứu đều cho rằng, mô hình quản trị là yếu
tố quan trọng để các KKT tự do phát huy vai trò tích cực của mình; cũng là
Trang 30nguyên nhân cho những tác động tiêu cực, không mong mốn của các khu này
Các đánh giá về tác động của các KKT tự do trải từ những nhận xét tích cực cho đến tiêu cực trên các mặt như: tăng trưởng, thương mại, đầu tư, lao động, năng suất, môi trường và xã hội (Aggarwal, 2007; ILO, 1998; 2003; Heron, 2004) Những tác động này được rút ra từ những nghiên cứu thực tiễn các KKT tự do ở một loạt nước đang phát triển, từ Trung Quốc, cho tới Ấn
Độ, Bangladesh, châu Phi và Mỹ Latinh và một số nền kinh tế công nghiệp phát triển ở châu Á-Thái Bình Dương Ví dụ, nghiên cứu của Kumar Rajiv (1989) “Đánh giá các khu chế xuất của Ấn độ”, của Aradhna Aggarwal (2010) “Tác động kinh tế của các Đặc khu kinh tế: Các quan điểm lý thuyết
và phân tích đối với các đặc khu kinh tế mới nổi ở Ấn độ”, của L Lakshmana (2009) “Tiến hóa của các khu kinh tế và một số vấn đề: Kinh nghiệm của Ấn Độ”, nghiên cứu của Meng Guangwen (2009) "Kinh nghiệm và triển vọng của Khu kinh tế Tự do Trung Quốc sau hơn 20 năm", Báo cáo của Bộ Tài chính và Kinh tế Hàn Quốc (2003) “Các khu kinh tế tự do ở Hàn Quốc: Tương lai của Đông Bắc Á”, của Chungjin Kim (2007) “Nghiên cứu về kế
hoạch phát triển của Khu kinh tế tự do Incheon, Hàn Quốc: dựa trên so sánh
với khu kinh tế tự do Phố Đông, Trung Quốc”, nghiên cứu của E.B Armas và
M Sadni Jallab (2002) “Đánh giá vai trò và tác động của các khu chế xuất đối với thương mại thế giới: Trường hợp của Mêhicô”, của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO, 1995) “Các khu chế xuất: Nguyên tắc và thực tiễn” Các nguyên nhân chủ yếu, cụ thể thường được liệt kê lý giải cho sự thành bại của các KKT tự do là: mô hình quản trị khu không đủ hiện đại, không mang lại cho cơ quan quản lý khu quyền tự do và tự chủ cần thiết; thiếu
sự phân quyền; các quy định và chính sách không phù hợp (như về đầu tư, thuế quan, đất đai, hạ tầng, ); lợi thế của các khu không còn phụ thuộc vào các ưu đãi về thuế khoá, v.v (Aggarwal, 2010; Lakshmana, 2009; Kim, 2007)
Trang 31Về khía cạnh tiêu cực, nhiều quan điểm phê phán tác động của các KKT tự do như: 1) Hoang phí diện tích rộng về cơ sở hạ tầng; 2) Giá trị gia tăng nội địa thấp; 3) Chênh lệch lương theo giới tính; 4) Khai thác lực lượng lao động địa phương; đặc biệt là phụ nữ trẻ; 5) Các điều kiện sản xuất khó khăn; 6) Thiếu chuyển giao công nghệ; và 7) Thiếu liên kết ngược Ví dụ, P
Warr (1993) cho rằng, các KKT tự do phản ánh một trường hợp điển hình của
sự phát triển kinh tế phụ thuộc Các thể chế ưu đãi của KKT tự do cho phép
các nhà đầu tư kiếm lợi từ lực lượng lao động rẻ, biến các khu này ở các nước ngoại vi trở thành những lãnh địa xuất khẩu, phụ thuộc và đầu tư nước ngoài và liên kết một cách bị động vào quá trình sản xuất toàn cầu do các công ty xuyên quốc gia kiểm soát mà không tạo ra được những tác động lành mạnh cho nội địa
Bên cạnh đó, nếu thiếu các cơ chế quản trị phù hợp, các KKT tự do còn đem lại một số nguy cơ tiềm tàng như rơi vào các hoạt động lắp ráp kỹ năng thấp (WB, 1992) và thu hút phải loại vốn FDI công nghệ thấp (Ahrens và Meyer-Baudeck, 1995) vì các nhà đầu tư thường cố gắng bảo mật lợi thế công nghệ của họ Nghiên cứu của WB cũng cho thấy, các KKT tự do có thể gặp phải những vấn đề như mất an toàn lao động; và các chính phủ thường nới lỏng các tiêu chuẩn kiểm soát về môi trường để thu hút cả những ngành gây ô nhiễm (FIAS, 2008) Ngoài ra, ở những nền kinh tế chuyển đổi, KKT có thể
dẫn đến những méo mó về việc vận dụng chính sách vì không phải tất cả các
doanh nghiệp trong nước đều được phép chuyển vào các KKT tự do nên giới quan chức sẽ quyết định các doanh nghiệp nào được và doanh nghiệp nào không, tạo ra những hiện tượng tiêu cực (Rosenthal, 2000: 13)
Các nghiên cứu từ lý thuyết cho đến thực tiễn còn cho thấy mối liên hệ của vấn đề quản trị ở cấp độ vĩ mô (quốc gia) với cấp độ vi mô (khu) trong việc phát triển các KKT tự do, đặc biệt khi phân tích các chính sách và khung khổ quy định nhằm đạt được cả các mục tiêu vĩ mô của quốc gia cũng như các
Trang 32mục tiêu vi mô về phát triển bản thân KKT Khi nghiên cứu các KKT tự do của Nhật Bản, Hiroki Harada (2011) cho rằng các KKT này không chỉ là một công cụ thể phát triển kinh tế mà còn là sự phát kiến và phối hợp chính sách giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Các KKT tự do và quá trình phân quyền là hai mặt của một đồng xu Các KKT tự do là một cấu trúc quản trị thuộc thẩm quyền của chính phủ trung ương song các hoạt động chính sách lại được giao cho các chính quyền địa phương Đây là một trong cách phân quyền về lập pháp ở Nhật Bản
Các KKT có lợi thế nhờ có môi trường thể chế và mô hình quản trị tốt
D Madani (1999) và J Cling và G Letilly (2001) đưa ra các lý do chính để phát triển KKT tự do ở các nước đang phát triển, như: Hỗ trợ chiến lược cải cách kinh tế rộng hơn KKT tự do là một công cụ đơn giản cho phép một quốc gia phát triển và đa dạng hóa xuất khẩu, giảm bớt những thiên kiến chống xuất khẩu mà vẫn giữ nguyên được các hàng rào bảo hộ Đặc biệt, KKT tự do
là “các phòng thí nghiệm” áp dụng các chính sách mới và quan điểm mới
Các chính sách tài chính, pháp luật, lao động và giá cả được đưa ra và thử nghiệm lần đầu ở các KKT trước khi nhân rộng ra toàn quốc
Một số đại diện của lý thuyết tân cổ điển cho rằng, KKT tự do giúp cải thiện các hoạt động thị trường và tận dụng các lợi thế kinh tế so sánh (Rankevica, 2004) Ưu thế về thể chế và quản trị giúp cho KKT tự do mang lại lợi ích gồm: 1) Thu hút FDI; 2) Khuyến khích việc làm; 3) Gia tăng xuất khẩu; và 4) Khuyến khích thiết lập các quan hệ kinh tế trong nước và sử dụng nguyên liệu địa phương H Johansson (1994) đưa thêm vào ý tưởng của lý thuyết tân cổ điển: 1) FDI và KKT tự do cung cấp và bù đắp cho các doanh nghiệp địa phương thiếu kỹ thuật, marketing và quản lý; 2) Các doanh nghiệp quốc tế hay liên doanh tại KKT tự do chỉ dẫn cho các nhà xuất khẩu nội địa thiếu kinh nghiệm cách tiếp cận với các kênh phân phối quốc tế; và 3) những
Trang 33KKT tự do tạo ra những mối quan hệ nội bộ với tập đoàn đa quốc gia, giúp cho các doanh nghiệp trong nước tham gia thị trường quốc tế
Tuy nhiên, các quản điểm lý thuyết hiện nay còn khá khác biệt khi liên
hệ giữa vấn đề quản trị KKT tự do với môi trường thể chế, quản trị chung của quốc gia Các nghiên cứu theo trường phái kinh tế tân cổ điển cho rằng, tự do thương mại là chính sách tốt nhất mà các chính phủ cần tiến hành Nếu chính phủ không thể, hoặc chưa thể tiến hành tự do thương mại trên toàn nền kinh tế thì các KKT tự do có thể đem lại một số hiệu quả Song cũng vì thế, các KKT
tự do chỉ là chính sách “tốt hàng thứ hai” Các KKT tự do thực chất là những
công cụ bóp méo thương mại, tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các
công ty trong nội địa và các công ty trong KKT Nếu phần còn lại của nền kinh tế không được tự do hoá thì các KKT tự do chỉ là những vùng sản xuất khép kín và đóng góp rất ít cho nền kinh tế Các KKT tự do sẽ không còn quan trọng nữa nếu chính phủ thi hành một chính sách tự do hoá thương mại trên toàn quốc (Madani, 1999; Rosenthal, 2000)
Theo Guangwen Meng (2003) và Eingereicht von Claus Knoth (2000), KKT tự do được dùng như một công cụ thể chế để thực hiện các mục tiêu kinh tế, thậm chí xã hội và chính trị Các KKT tự do đều có những mục tiêu kinh tế vi mô giống nhau, nhưng các mục tiêu vĩ mô thì khác nhau Các mục tiêu vi mô là thúc đẩy thương mại, xuất khẩu, việc làm, thu hút ngoại tệ, thu hút vốn nước ngoài, thu hút công nghệ tiên tiến và đào tạo nhân lực Những mục tiêu vĩ mô là thúc đẩy phát triển khu vực đến tiến hành cải cách cơ cấu và hợp tác và liên kết kinh tế khu vực Tuy nhiên, những người theo trường phái tân cổ điển cũng lập luận rằng KKT tự do chỉ là giải pháp thay thế cho một vùng để liên kết vào phân công lao động quốc tế mà không buộc cả nền kinh tế phải tham gia vào tự do hóa thương mại (Madani, 1999; Sipnanger, 1984)
iii)- Các khía cạnh thực tiễn của mô hình quản trị các KKT tự do
Có nhiều tài liệu đề cập đến các góc độ khác nhau của quản trị các khu kinh tế tự do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, 2016) có nghiên
Trang 34cứu hướng dẫn về phối hợp và phát triển các đặc khu kinh tế ở khu vực ASEAN, trong đó đề cập đến các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa các đối tác tham gia vào quá trình quản lý, điều hành các ĐKKT như: chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các nhà đầu tư, các nhà vận hành
và quản lý trực tiếp các ĐKKT; nhấn mạnh yêu cầu phải làm rõ trách nhiệm, phân quyền, tăng cường xây dựng năng lực thể chế và quản trị tốt Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2009) cũng đưa ra nghiên cứu về các tập quán tốt nhất trong việc phát triển các KKT, tập trung chủ yếu vào các KKT ở khu vực Trung Đông, trong đó nhấn mạnh đến các khung khổ chính sách, khung khổ các biện pháp ưu đãi, khung khổ thể chế và khung khổ các quy định Nghiên cứu này cho rằng, về khía cạnh thể chế và quản trị, yếu tố chính góp phần vào sự thành công của các KKT tự do là sự tự chủ và hiệu quả của cơ quan quản lý, giám sát các hoạt động của các KKT trong các lĩnh vực như nhân sự, kiểm soát ngân sách, tài trợ, hợp tác với các nhà phát triển và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (OECD, 2009)
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2019) đã có nghiên cứu cập nhật về thực trạng phát triển, các mô hình và khung khổ quy định và thể chế của các KKT tự do trên thế giới Nghiên cứu này đánh giá, các KKT tự do được thành lập, hoạt động và giải thể theo những khung pháp lý ban hành ở các cấp quản trị khác nhau Nghiên cứu cũng phân tích các luật về KKT tự do ở 115 quốc gia và các mô hình thiết lập thể chế, từ đó khái quát các mô hình quản trị, quản lý các KKT này và đưa ra những khuyến nghị chính sách
Từ thực tiễn phát triển các KKT tự do, nhiều quốc gia cũng có những nghiên cứu tổng kết hoặc hướng dẫn quy trình, quá trình thành lập và vận hành các KKT tự do Ví dụ, Bộ Ngoại thương và Công nghiệp Nam Phi (2018) đã xây dựng bản Hướng dẫn chỉ rõ các quy định, thủ tục thành lập KKT tự do ở nước này Tuy chỉ mới tập trung vào các thủ tục hướng dẫn
Trang 35thành lập song Hướng dẫn này về cơ bản cho thấy định hướng quản trị các KKT tự do ở Nam Phi Tương tự, nhiều chính phủ như Thái Lan, Hàn Quốc, Pakistan, v.v cũng có các hướng dẫn về quá trình vận hành, quản lý các KKT
tự do, nhằm đáp ứng yêu cầu tuân thủ quy định, thủ tục ở các nước này Đặc biệt, một số nghiên cứu đã phân tích, chỉ ra những định hướng, mô hình quản trị các KKT tự do nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển mới như: phát triển bền vững, ít các bon, tăng trưởng xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, v.v (Farole và Akinci, 2011; Tejani, 2011; Yeo và Akinci, 2011)
Nghiên cứu của Tom Farole và Josaphat Kweka (2011) cho rằng, có bốn nguyên tắc quan trọng để thiết kế một khung khổ thể chế hữu hiệu cho các KKT tự do là: i) tính rõ ràng trong vai trò và trách nhiệm; ii) tự chủ và bao trùm; iii) có thẩm quyền và phối hợp tốt; và iv) có nguồn lực và năng lực tốt Từ việc nghiên cứu chương trình phát triển các KKT tự do của Tanzania, các tác giả cho rằng mặc dù chương trình này mới chỉ đạt được các kết quả hạn chế song có triển vọng sáng sủa khi Tanzania kết hợp hai mô hình thể chế tương tự nhau là của các đặc khu kinh tế và các khu chế xuất, nhờ vậy khắc phục được các yếu kém về thể chế hiện tại
Khi nghiên cứu về mô hình ĐKKT Thâm Quyến của Trung Quốc, A Herlevi (2017) đã chỉ ra sự khác biệt của đặc khu này so với các đặc khu và KKT khác của Trung Quốc Sự khác biệt này nằm ở mô hình thể chế và quản trị; đồng thời đây cũng là yếu tố then chốt làm nên sự thành công của Thâm Quyến so với các KKT tự do khác Đặc biệt, Trung Quốc đã không còn coi những ĐKKT như Thâm Quyến chỉ là một phòng thí nghiệm nữa mà là hình
mẫu phát triển, mô hình mẫu về thể chế và quản trị, với bốn đi đầu: i) đi đầu trong xây dựng, thúc đẩy hình thành các cơ chế, thể chế chất lượng cao; ii) đi đầu trong hệ thống kinh tế hiện đại hóa; iii) đi đầu trong cục diện mới mở cửa toàn diện; và iv) đi đầu trong cục diện quản trị xã hội cùng xây dựng, cùng
quản lý, cùng hưởng thụ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2018)
Trang 36Tại Hàn Quốc, chính phủ Hàn Quốc đặt ra mục tiêu xây dựng được một
hệ thống thể chế “đẳng cấp thế giới tốt nhất” để tạo điều kiện cho các nhà đầu
tư sinh sống và kinh doanh tại các khu này Đáng chú ý nữa, Hàn Quốc cũng
đã quy định khu vực đảo Cheju trở thành một “thành phố tự do quốc tế” thuộc
tỉnh tự trị Jeju hoạt động theo Luật đặc biệt, với chủ trương “không visa,
không thuế” (Cao Tường Huy, 2014; Nguyễn Mạnh Hùng và Nguyễn Minh
Thắng, 2017) Tại Trung Đông, thành phố Dubai thuộc UAE đã xây dựng hàng chục KKT tự do thực sự hiện đại và có tính quốc tế cao, trong đó nổi bật
là Trung tâm tài chính quốc tế Dubai và Trung tâm đa hàng hóa Dubai (DMCC) Các khu này có tính quốc tế cao, bộ máy quản lý có quyền tự chủ cao, hệ thống tòa án độc lập, xét xử theo hệ thống luật pháp và thông lệ tốt nhất của thế giới (Nguyễn Mạnh Hùng và Nguyễn Minh Thắng, 2017)
Trong số các nghiên cứu ở Việt Nam, một số tác giả cho rằng, yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại của các KKT tự do ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay là mô hình thể chế và quản trị (Võ Đại Lược, 2008; Nguyễn Xuân Thắng, 2014; Cao Tường Huy, 2014) Nghiên cứu của Võ Đại Lược (2008) cho rằng, về cơ bản Việt Nam đã chuyển đổi sang kinh tế thị trường và cơ chế thị trường đã thực sự tác động đến hoạt động của nền kinh tế Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập WTO Với khá nhiều lợi thế về địa kinh tế,
về nhân lực, về tài nguyên, đến nay, Việt Nam mới xây dựng được một Khu kinh tế mở Chu Lai với những thể chế hạn hẹp chỉ ngang với các KKT cửa khẩu Với thể chế mở cửa hạn hẹp, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, hiện nay, các khu này đang ở vào thế thua kém các KKT tự do trong khu vực và không tận dụng được lợi thế địa kinh tế của Việt Nam
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng khẳng định, tư duy về xây dựng mô hình thể chế và quản trị KKT tự do theo chuẩn mực toàn cầu, thậm chí theo những chuẩn mực tốt nhất của thế giới, đang trở nên phổ biến trong cuộc đua tranh giữa các khu nhằm thu hút
Trang 37nguồn vốn đầu tư (Bản thảo Đề án thành lập Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Bắc Vân Phong, 2013) Yếu tố then chốt của những KKT phát triển thành công nhất trên thế giới hiện nay là có một thể chế hành chính-kinh tế đạt
“đẳng cấp hàng đầu thế giới”, có mức độ tự do và tự chủ cao Các KKT cần một bộ máy vận hành và quản lý gọn nhẹ, với phương thức quản lý hiện đại, minh bạch và linh hoạt (Nguyễn Xuân Thắng, 2014) Đối với mô hình thể chế
và quản trị của các KKT tự do, cạnh tranh và thu hút nguồn lực bằng sự “ưu đãi” là tư duy hội nhập của những năm 1980; tư duy hội nhập của thế kỷ XXI
là cạnh tranh và thu hút nguồn lực bằng những yếu tố “vượt trội” - tức là tạo
ra sự khác biệt và lợi thế nhờ đạt tới một “đẳng cấp” cao hơn (Nguyễn Mạnh Hùng, 2016)
1.3 Khái quát các khoảng trống và đóng góp của luận án
Thứ nhất, có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá ý nghĩa,
vai trò, đặc điểm của mô hình quản trị các KKT tự do trong bối cảnh hiện nay Nhiều nghiên cứu đều khẳng định, mô hình quản trị có ý nghĩa quan trọng, thậm chí là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự thành bại của các KKT tự do; đồng thời cho rằng, mô hình quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các khu kinh tế tự do, từ tên gọi, chức năng, mục tiêu, cho đến những tác động dự kiến của các khu này
Tuy nhiên, các nghiên cứu lý luận dường như vẫn chưa theo kịp thực tiễn phát triển các KKT tự do, vốn thay đổi rất nhanh và rất linh hoạt Hệ thống lý thuyết hiện tại không đề cập nhiều đến một khung khổ lý thuyết để tiếp cận nghiên cứu các KKT trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
và dưới tác động kinh tế-xã hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Do vậy, luận án sẽ bổ sung cho khoảng trống này của các nghiên cứu hiện tại thông qua việc xây dựng một khung lý thuyết về quản trị để nghiên cứu các KKT tự do trong bối cảnh mới; đồng thời, tổng kết thực tiễn, hệ thống hoá mô hình quản trị các KKT tự do của một số nước trên thế giới, bổ sung cho cơ sở
lý luận và thực tiễn về mô hình quản trị các KKT tự do
Trang 38Thứ hai, làn sóng hình thành các KKT tự do đã trải qua một số giai
đoạn, tạo ra một số mô hình quản trị khác nhau ở các nước và các khu vực trên thế giới Đối với mỗi mô hình quản trị khác nhau, mục tiêu, đặc điểm, chức năng và tác động của các KKT tự do cũng thay đổi Bên cạnh những KKT tự do thuộc thế hệ đầu tiên đã xuất hiện những KKT tự do thế hệ mới,
có những đặc điểm, chức năng, vai trò hoàn toàn khác trước Đồng thời, ngay
cả những KKT đã được thành lập cũng đang trong quá trình cải cách, chuyển đổi để đáp ứng yêu cầu mới
Sự nở rộ của các loại hình KKT tự do với nhiều đặc điểm, mục đích, chức năng khác nhau trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hơn và cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, tổng kết và phát hiện những đặc điểm trong mô hình quản trị các KKT tự do thế hệ mới, được hình thành từ khoảng những năm 2000 trở lại đây; đặc biệt, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước trong việc xây dựng những mô hình này, từ đó rút ra các bài học, các gợi mở chính sách đối với Việt Nam trong việc xây dựng mô hình quản trị của các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt trong tương lai đủ sức cạnh tranh với các KKT tự do ở khu vực và trên thế giới
Thứ ba, hầu hết các nghiên cứu hiện nay đều tiếp cận nghiên cứu mô
hình quản trị các KKT tự do dưới góc độ rời rạc, đề cập đến một số khía cạnh
cụ thể như pháp lý, phân quyền, tài chính, hành chính, thuế quan…Đến nay không nhiều nghiên cứu tiếp cận mô hình của các KKT tự do dưới góc độ quản trị đô thị, nhất là khi các KKT tự do thế hệ mới đều mang dáng dấp của những đô thị hiện đại, thành phố quốc tế, nằm trong mạng lưới đô thị toàn cầu Do vậy, việc nghiên cứu những mô hình quản trị KKT mang tính ưu việt, vượt trội, đạt tầm đẳng cấp thế giới theo hướng quản trị đô thị sẽ góp phần bù đắp các khoảng trống nghiên cứu, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển các KKT tự do hiện nay trên thế giới và có tính gợi mở cho Việt Nam
Trang 39Tiểu kết chương 1
Nhìn chung, các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn hiện nay có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu đối với KKT; mỗi một cách tiếp cận đều cố gắng làm sáng tỏ một khía cạnh nhất định của KKT tự do trên những nền tảng chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu lý thuyết vẫn chưa theo kịp thực tiễn phát triển các KKT tự do, vốn thay đổi rất nhanh và rất linh hoạt Hệ thống lý thuyết hiện tại không đề cập nhiều đến việc tiếp cận nghiên cứu các KKT trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư Tiếp cận dưới góc độ quản trị mở ra một hướng mới cho việc nghiên cứu về mô hình, chiến lược và phương thức phát triển các KKT tự do trong bối cảnh mới Do vậy, luận án bổ sung vào khoảng trống của các nghiên cứu hiện tại thông qua việc xây dựng một khung lý thuyết để nghiên cứu vấn đề quản trị các KKT tự do; tổng kết thực tiễn mô hình quản trị các KKT tự do của một số nước trên thế giới, bổ sung cho cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình quản trị các KKT tự do thế hệ mới và rút ra những gợi mở chính sách phù hợp cho Việt Nam
Trang 40CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CÁC
KHU KINH TẾ TỰ DO
2.1 Khái quát về khu kinh tế tự do
2.1.1 Quan niệm về khu kinh tế tự do
Các KKT tự do trên thế giới có lịch sử từ khá lâu đời Những KKT đầu tiên đã xuất hiện từ thế kỷ 15 là các khu cảng tự do với chức năng chủ yếu là phục vụ quan hệ mậu dịch giữa các quốc gia Vào giữa thế kỷ XX, hầu hết các KKT trên thế giới là các khu thương mại song đến nay các KKT tự do đã phát triển dưới nhiều hình thức, với nhiều mô hình, chức năng khác nhau
Có nhiều cách gọi và phân loại “khu kinh tế tự do” (KKT) như: Khu tự
do, Khu phi thuế quan, Khu Thương mại Tự do, Khu Chế xuất, Khu kinh tế đặc biệt, Đặc khu hành chính-kinh tế, Đặc khu hành chính, Khu kinh tế mở hay Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt như quy định trong Hiến pháp năm
2013 và trong Dự thảo luật về đơn vị này của Việt Nam thời gian qua, cũng được xem như một dạng của khu kinh tế tự do, phân biệt với các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp, khu chế xuất truyền thống Mỗi cách gọi thể hiện chức năng chính của KKT tự do (như Khu công nghiệp, Khu chế xuất), mô hình thể chế-quản trị cơ bản (Đặc khu hành chính, Đặc khu hành chính – kinh tế), đồng thời gắn với giai đoạn phát triển của các KKT tự do phổ biến trên thế giới Có thể điểm ra quan niệm về một số dạng hình KKT tự do phổ biến trên thế giới như sau [20, 93]
i) Cảng tự do: Đây là loại hình khu có lịch sử lâu đời nhất (như Cảng tự
do Geonoa của Italia thành lập năm 1547) Khu cảng được coi như một vùng lãnh thổ riêng biệt (có tính chất “tự trị”), được áp dụng các cơ chế đặc biệt, như: qui chế hải quan độc lập; tầu thuyền được ra vào một cách tự do, mọi hàng hóa, nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm nhập khẩu không bị đánh thuế