1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT

56 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 813,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPTSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Đóng góp mới của đề tài 2

6 Kết cấu đề tài 2

NỘI DUNG 3

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn THPT 3

1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học 4

1.3 Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu trong nhà trường phổ thông 5

1.3.1 Diện mạo và đặc điểm của văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 5

1.3.2 Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu - nhìn từ định hướng sách giáo khoa và hướng dẫn giảng dạy 7

1.3.3 Hướng tiếp cận các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông của giáo viên và học sinh 10

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC PHI HƯ CẤU 12

2.1 Đặc điểm nghệ thuật của văn bản văn học phi hư cấu 12

2.2 Tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT 13

2.2.1 Hướng dẫn học sinh tự đọc văn bản 13

2.2.2 Gợi mở cho học sinh các hướng tích hợp văn bản văn học phi hư cấu 14

2.2.3 Gợi mở học sinh khám phá giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của văn bản 17

2.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo 24

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 25

3.1 Giới thiệu chung 25

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 25

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 26

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 26

3.2.1 Lựa chọn địa bàn thực nghiệm 26

3.2.2 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 26

3.3 Nội dung thực nghiệm 27

3.3.1 Nguyên tắc thiết kế giáo án và giáo án thực nghiệm 27

3.3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm 42

3.4 Kết quả thực nghiệm 43

3.4.1 Kết quả định tính 43

3.4.2 Kết quả định lượng 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

PHỤ LỤC 52

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong chương trình môn Ngữ văn trung học phổ thông, các văn bản văn

học phi hư cấu chiếm tỷ lệ không lớn, song không thể thiếu, nhằm cấp cho học sinh một cái nhìn toàn diện về các hình thức văn bản văn học Hầu hết các văn bản văn học phi hư cấu được dạy, học trong chương trình THPT là văn học Việt Nam, tiêu biểu, đặc sắc ở những thời kỳ khác nhau Dạy học các văn bản này, vì vậy không chỉ để hiểu nội dung văn bản, mà còn giúp các em hiểu hơn về con đường vận động, phát triển của các hình thức văn học dân tộc

1.2 Dạy học đọc hiểu là phương pháp dạy học tích cực, nhằm phát huy khả

năng chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc tiếp nhận những giá trị tư tưởng, nghệ thuật đặc sắc của văn bản văn học Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản văn học chưa có nhiều thành tựu, nhất là với những văn bản văn học phi hư cấu Người dạy và người học đang gặp không ít khó khăn, cả trong nhận thức và thực tiễn dạy học

1.3 Mỗi loại văn bản văn học có chức năng, cấu trúc, và sức hấp dẫn riêng

Theo đó, dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu cũng có nguyên tắc, cách thức riêng Cái riêng đó là gì? Làm thế nào để giúp học sinh nhận biết được điều đó? Đó là những vấn đề chưa có được sự rõ ràng trong nhận thức và thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT hiện nay

1.4 Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Dạy học đọc hiểu

các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT” với mong

muốn góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng những nguyên tắc, phương pháp dạy đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT

2.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ

Thứ nhất, chỉ ra được cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng nguyên tắc, phương

pháp dạy đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT

Trang 3

2

Thứ hai, xây dựng được những nguyên tắc, phương pháp dạy đọc hiểu văn bản

văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT

Thứ ba, thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả bước đầu Từ đó, đề xuất

những giải pháp có tính khả thi trong hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi

hư cấu ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của người học

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nội dung, phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT

3.2 Phạm vi khảo sát là các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng đồng thời hai phương pháp: nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm Trong đó sẽ áp dụng một số thao tác cụ thể, như: khảo sát, thống kê, miêu tả; phân tích, tổng hợp; so sánh đối chiếu; thực nghiệm sư phạm

5 Đóng góp mới của đề tài

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn

học phi hư cấu Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 4

3

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn THPT

Dạy học đọc hiểu văn bản văn học là một nội dung then chốt trong chương trình

Ngữ văn ở nhà trường phổ thông Thuật ngữ “đọc hiểu” chính thức xuất hiện trong

chương trình giáo dục phổ thông lần đầu tiên vào năm 2002 Theo Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”, “Đọc hiểu là hoạt động truy

tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Trong bài viết Đọc hiểu văn bản - khâu đột phá trong dạy học văn hiện nay (2013) Trần Đình Sử quan niệm: “Đọc là hoạt động tâm lí nhằm

giải mã văn bản, chuyển văn bản kí hiệu văn tự thành văn bản bằng ngôn ngữ tương ứng với văn bản chữ viết, là giải mã văn bản để tìm ý nghĩa”

Nói đến đọc hiểu là nói đến một loại giờ học Ngữ văn trong nhà trường phổ

thông, tồn tại song song, đối sánh với giờ học lí luận văn học, văn học sử… “Đọc hiểu” cũng là chuỗi hoạt động nhằm giúp HS nâng cao khả năng đọc rồi có thể đọc hiểu những văn bản cùng thể loại Từ đọc hiểu mà thấm thía các giá trị văn học, bản thân có những trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về con người, về chính mình, đồng thời

rút ra cách thức tiếp nhận văn bản, có thể vận dụng khi cần thiết Khái niệm đọc hiểu thể hiện sự thay đổi trong tư tưởng, quan niệm dạy học Ngữ văn Nếu “giảng văn”

hay “phân tích” chủ ý nhấn mạnh vai trò người thầy gắn với quá trình truyền thụ một

chiều thì đọc hiểu đề cao vai trò chủ thể HS, đặt ra vấn đề tương tác nhịp nhàng giữa

thầy và trò trong hoạt động chiếm lĩnh văn bản

Trong cấu trúc chương trình Ngữ văn phổ thông, đọc hiểu chiếm tỉ trọng đa phần ở các khối lớp Các văn bản đọc hiểu được xây dựng theo trục thể loại kết hợp với trục lịch đại, chú trọng nguyên tắc tích hợp, chú ý định hướng phát triển năng lực ở người học Nội dung đọc hiểu trong SGK Ngữ văn THPT được sắp xếp theo trình tự nhóm thể loại, văn bản văn học dân gian đến văn bản văn học viết thuộc các giai đoạn

từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, từ đầu thế kỉ XX đến 1945, từ 1945 đến 1975, từ sau

1975 đến hết thế kỉ XX Song song với các tác phẩm văn học của dân tộc là nội dung đọc hiểu các tác phẩm văn học nước ngoài được tinh tuyển bao gồm Sử thi Ấn Độ -

Hy Lạp cổ đại, thơ Đường (Trung Quốc), thơ Hai cư của Ba Sô (Nhật Bản), tiểu thuyết

Trang 5

4

chương hồi (Trung Quốc), truyện ngắn hiện thực trào phúng của A Sê Khốp (Nga), tiểu thuyết lãng mạn của V Huy go (Pháp), thơ tình của A Puskin (Nga) và R Tagor (Ấn Độ), …

Như vậy, cấu trúc chương trình đã thể hiện mục tiêu bồi dưỡng cho HS cách thức đọc hiểu văn bản dựa trên đặc trưng loại hình và thể loại để thấy đặc sắc tác phẩm

1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học

Với mục tiêu xây dựng một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, việc phát triển phẩm chất, năng lực cho người học được xem là một yêu cầu cốt lõi của giáo dục Việt Nam trong thời hiện đại Đây là một nhận thức mang tính nguyên tắc đã được khẳng

định trong Nghị quyết 88 (28/11/2014) của Quốc Hội Theo đó: “Mục tiêu giáo dục

phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh” Để thực hiện mục tiêu này, giáo dục phổ thông cần: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”

Từ những định hướng trong Nghị quyết 88 của Quốc hội, chương trình giáo dục

phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định những phẩm chất, năng lực cốt lõi mà

HS Việt Nam cần phải có, bao gồm sáu phẩm chất (Yêu gia đình, quê hương, đất nước; Nhân ái, khoan dung; Trung thực, tự trọng, chí công vô tư; Tự lập, tự tin, tự chủ và tinh thần vượt khó; Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng, chấp hành kỉ luật, pháp luật) và ba năng lực (Năng lực làm chủ và phát triển bản thân: tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo, quản lí bản thân; Năng lực xã hội: giao tiếp, hợp tác; Năng lực công cụ: tính toán, sử dụng ngôn ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin)

Tháng 7 năm 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Chương trình phổ thông mới có sự thay đổi ít nhiều trong việc xác định mục tiêu, yêu cầu của giáo dục

phổ thông Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông hướng tới hình thành và phát

triển cho HS năm phẩm chất (yêu nước; nhân ái; chăm chỉ; trung thực; trách nhiệm)

Trang 6

5

và mười năng lực cốt lõi, trong đó có ba năng lực chung cho tất cả các môn học và

hoạt động giáo dục (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo) và bảy năng lực chuyên môn (ngôn ngữ; tính toán; tìm hiểu tự nhiên và xã hội; công nghệ; tin học; thẩm mĩ; thể chất)

Mặc dù có những khác biệt nhất định trong cách diễn giải về các phẩm chất, năng lực cụ thể của HS, song nhìn chung các chương trình giáo dục phổ thông trong những năm gần đây đều thống nhất trong định hướng giáo dục Mục tiêu giáo dục phổ thông đã được xác định cụ thể, rõ ràng Đó là hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho HS

Hầu hết các văn bản văn học được chọn học trong chương trình THPT đều mang ý nghĩa tiêu biểu cho từng giai đoạn văn học, kiểu loại văn bản Vì vậy, đều chứa đựng một khả năng to lớn trong việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho HS Mỗi văn bản văn học, thông qua quá trình đọc hiểu của HS, ở những mức độ, cách thức khác nhau đều góp phần hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho các

em Trong số những phẩm chất, năng lực đã được xác định, so với các môn học khác,

môn Ngữ văn có những ưu thế vượt trội ở khả năng hình thành, phát triển năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mĩ và năng lực sáng tạo

1.3 Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu trong nhà trường phổ thông hiện nay

1.3.1 Diện mạo và đặc điểm của văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông

Văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn chiếm số lượng không nhiều, được phân bố rải đều ở cả ba khối của cấp học, bao gồm phần bắt buộc và đọc thêm Dựa vào sự phân biệt tương đối giữa hư cấu và phi hư cấu, có thể xếp những văn bản sau đây vào loại văn bản văn học phi hư cấu:

- Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Ngô Sĩ Liên (Ngữ văn 10)

- Thái sư Trần Thủ Độ, Ngô Sĩ Liên (Ngữ văn 10)

- Vào phủ Chúa Trịnh, Lê Hữu Trác (Ngữ văn 11

- Những ngày đầu của nước Việt Nam mới,Võ Nguyên Giáp (Ngữ văn 12)

Ngoài bốn văn bản nêu trên, có thể xếp hai văn bản Người lái đò Sông Đà của Nguyên Tuân (Ngữ văn 12) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc

Trang 7

6

Tường (Ngữ văn 12) vào loại văn bản văn học phi hư cấu, mặc dù ở đó ranh giới giữa

hư cấu và phi hư cấu là hết sức nhòe mờ Cả hai văn bản đều thuộc thể ký, được viết dựa trên những hình ảnh, con người, sự việc có thật Các chi tiết, sự kiện, hình ảnh hết sức xác thực Những rung động, sáng tạo của nhà văn đều dựa trên những sự thật đời

sống, nhất là ở Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Năng lực sáng tạo, tài năng

nghệ thuật của nhà văn không phải là ở khả năng tưởng tượng, hư cấu mà là ở cách kể, cách tả, lối hành văn độc đáo Những gì Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường kể, tả

trong hai tác phẩm Người lái đò Sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông? hoàn toàn

không phải là sản phẩm của một trí tưởng tượng thuần túy mà là từ những quan sát, vốn tri thức văn hóa, xã hội, lịch sử phong phú và sự trải nghiệm đời sống sâu sắc của nhà văn Cảnh sắc, sự vật, con người, chi tiết, sự kiện hiện lên trong tác phẩm đều thấm đẫm cảm xúc trữ tình và đầy mỹ cảm Đó không chỉ là kể mà còn là tả; không chỉ nhìn thấy mà còn tưởng tưởng, phóng tác Các hình tượng trung tâm như sông Đà, Người lái đò sông Đà, sông Hương vừa thực một cách gần gũi lại vừa hư ảo qua sự thăng hoa nghệ thuật của ngòi bút nhà văn Nói cách khác, thực một cách tương đối, có nhiều khác biệt so với các chi tiết, sự kiện trong các văn bản văn học phi hư cấu đã nêu trên Cách tiếp cận hai văn bản này, vì vậy phải hết sức linh hoạt, biến hóa, không thể rập khuôn máy móc

Dưới góc nhìn loại hình văn học, có thể thấy trong số các văn bản văn học phi

hư cấu đã nêu trên, có ba văn bản thuộc loại hình văn học trung đại (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; Thái sư Trần Thủ Độ; Vào phủ chúa Trịnh) và ba văn bản văn học hiện đại (Người lái đò Sông Đà; Ai đã đặt tên cho dòng sông?; Những ngày đầu của nước Việt Nam mới) Ba văn bản thuộc loại hình văn học trung đại đều có sự

pha trộn, đan cài giữa văn và sử Ở đó, chi tiết, sự kiện là xương sống, hồn cốt làm nên sức sống, sức hấp dẫn của văn bản và được tái hiện một cách tuần tự theo theo trật tự tuyến tính Tính chân thực là điều được coi trọng, đề cao Sự can dự của người kể là rất ít và được ẩn kín đằng sau cách kể, lối hành văn Cách kể, lối viết luôn đề cao chân, thực; không phóng đại, khoa trương, không vượt thoát tính quy phạm của văn xuôi trung đại Khác với các văn bản văn học trung đại, các văn bản văn học hiện đại lại

mang đậm dấu ấn nhà văn Điều này không chỉ thể hiện ở hai văn bản Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc

Trang 8

7

Tưởng mà cả ở đoạn trích Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (trích hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Võ Nguyên Giáp) Ở đó, dấu ấn của người kể

là hết sức rõ nét Nó được thể hiện ở tâm thế, cách kể, cách bình và một ngôn ngữ giản

dị, gần ngôn ngữ đời sống Người đọc có thể tìm thấy ở đó nhiều tư liệu lịch sử chân xác, và qua đó có được một sự hình dung khá rõ ràng về một giai đoạn lịch sử dân tộc không thể nào quên Điều này cho thấy, phi hư cấu không hề loại bỏ hay kìm hãm năng lực sáng tạo, dấu ấn của nhà văn

Về mặt ngôn ngữ, các văn bản văn học trung đại được người đọc tiếp nhận qua ngôn ngữ dịch Sự sai khác so với nguyên tác là điều khó tránh Nhiều hình ảnh, từ ngữ gốc Hán khá xa lạ với HS Trong khi đó các văn bản văn học hiện đại được người đọc tiếp xúc trên nguyên tác, với một ngôn ngữ phổ thông, gần gũi với người đọc Trong đọc hiểu văn bản văn học, sự phân biệt này là cần thiết Bởi lẽ, tiếp nhận văn bản văn học qua bản dịch có những nguyên tắc, phương pháp riêng so với tiếp nhận văn bản văn học trên nguyên tác Đây là điều cả người dạy, người học phải ý thức một cách rõ ràng

1.3.2 Dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu - nhìn từ định hướng sách giáo khoa và hướng dẫn giảng dạy

Cấu trúc của bài đọc hiểu văn bản văn học bao gồm nhiều phần, trong đó phần hướng dẫn học bài có vai trò hết sức quan trọng Đó là những gợi mở mang tính định hướng để các em khám phá, chiếm lĩnh văn bản Trong SGK, phần hướng dẫn học bài gồm một hệ thống câu hỏi được người biên soạn thiết kế với mục đích hướng dẫn HS

có thể tự tìm hiểu văn bản Nhìn vào hệ thống câu hỏi ở các văn bản văn học phi hư cấu, có thể thấy sự tương ứng, đồng đều về số lượng và kiểu dạng câu hỏi Mỗi văn

bản bao gồm từ 4 đến 6 câu hỏi Văn bản có số lượng câu hỏi nhiều nhất là Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (6 câu hỏi) Văn bản Vào phủ chúa Trịnh có số

lượng câu hỏi ít nhất (4 câu hỏi) Các văn bản còn lại đều có 5 câu hỏi Trong thời lượng một bài học từ một đến hai tiết, số lượng câu hỏi như vậy là phù hợp Tuy nhiên, vấn đề không chỉ ở số lượng, mà còn ở kiểu dạng, tính chất câu hỏi phải đáp ứng yêu cầu một bài đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu Đây là điều cần được quan tâm trong thiết kế hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc hiểu

Từ góc nhìn ấy, dựa trên khảo sát, phân loại câu hỏi hướng dẫn học bài trong

Trang 9

8

SGK, chúng tôi nhận thấy, hệ thống câu hỏi đều bám sát văn bản, tập trung khai thác nội dung và nghệ thuật các văn bản Đó là một định hướng đúng Tuy nhiên, hạn chế của hệ thống câu hỏi là chưa chú trọng đến các cấp độ của một bài đọc hiểu Câu hỏi

về tác giả, thể loại của tác phẩm còn chưa được quan tâm Trong khi đây là những yếu

tố góp phần không nhỏ để tiếp nhận, giải mã văn bản Những câu hỏi mang tính sáng tạo, theo lối gợi mở, phát huy tính tích cực chủ động của HS chưa được chú trọng Điều này ít nhiều đã làm giảm hứng thú học tập, nhất là những HS, có năng lực tư duy, cảm thụ văn chương Bên cạnh đó, một hạn chế khá rõ là còn thiếu những câu hỏi mang tính tích hợp, phát huy năng lực tư duy sáng tạo của HS Tuy nhiên, nếu dừng lại

ở đó, những năng lực khám phá, sáng tạo, liên hệ, đối chiếu và khái quát, tổng hợp những giá trị của văn bản còn chưa được chú trọng Bên cạnh đó, các câu hỏi định hướng cách đọc hiểu, kĩ năng đọc hiểu chưa được quan tâm Nói cách khác, con đường, cách thức đọc hiểu một văn bản văn học phi hư cấu chưa được các nhà biên soạn sách giáo khoa chú ý nhiều qua hệ thống câu hỏi Trong ba mức độ nhận thức (nhận biết, hiểu, sáng tạo), hệ thống câu hỏi mới chỉ thể hiện ở hai mức độ (nhận biết, hiểu) Qua cách kể của Ngô Sĩ Liên, có thể thấy những phẩm chất của nhân vật Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được tái hiện một cách chân thực, sinh động trên các mặt, như: tài năng, phẩm chất, nhân cách, đạo đức Hình tượng cái tôi tác giả Ngô Sĩ Liên cũng cần được định hướng, gợi mở để học sinh phát hiện (tài năng, trung thực, đáng kính) Mặt khác, tính chất đọc hiểu văn bản văn học đòi hỏi phải có những câu hỏi mang tính

mở, ví như: Lời cha dặn đã đặt Trần Quốc Tuấn trước những mâu thuẫn nào? Tại sao Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn lại không nghe lời cha lấy lại thiên hạ? Cách giải quyết của ông? Nếu là chúng ta thì sẽ giải quyết như thế nào? Các em có suy nghĩ, nhận xét và đánh giá như thế nào về nhân vật người kể chuyện? Đó là một cái tôi như thế nào? Thái độ, tình cảm…? Điều chúng ta học tập được ở Ngô Sĩ Liên? Nhận xét về nghệ thuật của đoạn trích? Liên hệ, so sánh với tác phẩm sử kí nổi tiếng của Trung Quốc

như Sử kí Tư Mã Thiên? Dĩ nhiên, trong khuôn khổ SGK không thể đưa tất cả những

câu hỏi này vào, song đó là những nội dung cần phải tính tới trong thiết lập hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc hiểu mà người dạy phải quan tâm, gợi mở cho HS Nghĩa là, người dạy không thể chỉ dừng lại ở những câu hỏi trong SGK mà phải chủ động suy nghĩ, phát triển, gợi mở thêm ở nhiều bình diện, cấp độ khác của văn bản Hệ thống câu hỏi phải

Trang 10

độ và kĩ năng Ở phần lưu ý dạy học, các tác giả thường định hướng nội dung, phương pháp giảng dạy, tiến trình tổ chức dạy học và cách kiểm tra đánh giá Định hướng đọc

hiểu văn bản Vào phủ chúa Trịnh, sách giáo viên, tập một, do Phan Trọng Luận chủ

biên, phần mục tiêu bài học nêu: giúp HS hiểu rõ giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm, cũng như thái độ trước hiện thực và ngòi bút kí sự chân thực, sắc sảo của Lê Hữu Trác qua đoạn trích miêu tả cuộc sống và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa Không khó để thấy rằng, SGV chủ yếu mới định hướng về kiến thức, thái độ mà chưa

có định hướng về kĩ năng đọc hiểu văn bản kí sự, kĩ năng sống của HS Phần định hướng chưa chú ý đến cách tổ chức hoạt động đọc hiểu, như: khâu chuẩn bị, hệ thống

câu hỏi, các bước tiến hành Định hướng dạy học đọc hiểu văn bản Những ngày đầu của nước Việt Nam mới, SGV Ngữ văn 12, tập 1, do Phan Trọng Luận chủ biên, không

có phần định hướng về kiến thức, kĩ năng và thái độ, chỉ có phần gợi ý về thể loại, tác

phẩm Những năm tháng không thể nào quên và hướng dẫn đọc thêm Định hướng

trong phần hướng dẫn đọc thêm cũng chỉ cung cấp nội dung kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi hướng dẫn đọc thêm của SGK Có thể thấy SGV là phần giảng giải những câu hỏi đề ra ở phần Hướng dẫn học bài của SGK, chưa có định hướng cụ thể, chi tiết cách dạy học đọc hiểu các văn bản nói chung và văn bản văn học phi hư cấu nói riêng

Từ những định hướng đọc hiểu trong SGK và SGV, có thể thấy vấn đề đặc trưng của văn bản văn học phi hư cấu chưa được chú ý Việc định hướng đọc hiểu các

Trang 11

10

văn bản văn học phi hư cấu không có gì khác so với định hướng dạy, học đọc hiểu văn bản văn học hư cấu Hệ quả của nó là cả người dạy và người học chỉ tập trung tìm kiếm các giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản mà ít chú ý đến cách đọc văn bản Nói cách khác, phương pháp, kĩ năng đọc chưa được quan tâm Mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của HS qua giờ dạy, học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu, chưa được thể hiện rõ qua hệ thống câu hỏi và định hướng dạy, học

1.3.3 Hướng tiếp cận các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông của giáo viên và học sinh

Để có cái nhìn khách quan về tình hình dạy, học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu ở trường THPT hiện nay, chúng tôi đã khảo sát thực tế bằng một hệ thống phiếu trả lời trắc nghiệm Đối tượng khảo sát là 20 GV Ngữ văn và 400 HS ở 2 trường THPT trên địa bàn huyện A và huyện B Nội dung khảo sát tập trung vào những vấn

đề về nhận thức, quan niệm, phương pháp dạy, học đọc hiểu các văn bản văn học phi

hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT Kết quả khảo sát gợi cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ về thực trạng dạy, học văn hiện nay ở trường THPT

Về phía giáo viên

Chúng tôi đã thiết lập một mẫu phiếu điều tra với 10 câu hỏi trắc nghiệm nhằm khảo sát những vấn đề được nêu Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết GV đều ý thức được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT Có tới 87.5% GV được hỏi cho rằng việc dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT là cần thiết hoặc rất cần thiết Bên cạnh đó còn có một số GV tỏ thái độ không quan tâm tới việc dạy học các văn bản văn học phi hư cấu (5%) Đặc biết có tới 20% GV cho rằng không có hứng thú với việc dạy học văn bản văn học phi hư cấu Nhiều GV chưa phân biệt được sự khác biệt giữa văn bản văn học hư cấu và văn bản văn học phi hư cấu Có tới 62,5% GV được hỏi cho rằng không có sự khác biệt giữa văn bản văn học hư cấu với văn bản văn học phi hư cấu Điều này đã dẫn tới những khó khăn vướng mắc khi dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu GV chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản bản thân (50%) và tham khảo tài liệu (37.5%)

Khảo sát hiệu quả dạy học các văn bản văn học phi hư cấu, cho thấy chất lượng không cao Có 50% GV được hỏi đánh giá, mức độ hiệu quả của việc dạy học đọc hiểu

Trang 12

Về phía học sinh

Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát về ý thức, thái độ học tập, sự nhận thức và phương pháp đọc hiểu của HS Kết quả khảo sát đặt ra cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ Khi được hỏi về tính cần thiết của việc học các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn, có 86,5% HS được hỏi trả lời là cần thiết và rất cần thiết Tuy nhiên, khi được hỏi về đặc điểm của văn học phi hư cấu, nhận thức của các em còn hết sức mơ hồ Có 34.75% HS được hỏi cho rằng văn bản văn học phi hư cấu được viết dựa trên trí tưởng tượng của nhà văn, 52.75% HS không nhận diện được văn bản văn học phi hư cấu Đa số HS đều không nắm được đặc trưng thể loại văn học này, và không biết phương pháp tiếp cận Hầu hết HS cho rằng không có sự khác biệt giữa văn bản văn học hư cấu và văn bản văn học phi hư cấu; chỉ cần chuẩn bị bài theo hướng dẫn của SGK là có thể hiểu đươc văn bản Điều đáng buồn là HS không có hứng thú, thậm chí là chán học loại văn bản này (37,25%) Nhìn vào kết quả khảo sát, có thể thấy GV đang gặp nhiều lúng túng, khó khăn, trong việc hướng dẫn HS đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu Trong đó, có những nguyên nhân nằm ở đặc điểm của văn bản phi hư cấu, có nguyên nhân thuộc về năng lực, kĩ năng sư phạm của người dạy, như không nắm vững nguyên tắc, phương pháp dạy học văn bản văn học phi hư cấu

Trang 13

12

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ĐỌC

HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC PHI HƯ CẤU 2.1 Đặc điểm nghệ thuật của văn bản văn học phi hư cấu

Nhìn vào chương trình Ngữ văn THPT, có thể chia các văn bản văn học thành hai loại: hư cấu (fiction) và phi hư cấu (non-fiction) Văn bản văn học phi hư cấu được xây dựng trên cơ sở những sự kiện, biến cố có thật, có thể được kiểm chứng một cách khách quan Đó không phải là câu chuyện được tưởng tượng, hư cấu, bịa đặt Những

sự việc, con người ở đây đều được xác định rõ ràng về địa chỉ Sức hấp dẫn mà văn xuôi phi hư cấu đem lại chính là sức hấp dẫn của sự thật Nhà văn khi sáng tạo một tác phẩm theo lối phi hư cấu thường có tư chất của nhà nghiên cứu đi tìm sự thật Điều chính yếu làm nên giá trị, phẩm chất và ưu thế của văn học phi hư cấu là tính chính xác và trung thực của nó Sự kiện đã xảy ra khi nào? Ở nơi chốn nào? Ai đã tham gia vào sự kiện đó? Trong tất cả những trường hợp này, người đọc đòi hỏi câu trả lời cặn

kẽ và rõ nghĩa, dù đó là con số, ngày tháng, lời khẳng định hay phủ định Việc đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu phải chú trọng tới sự thật được nói tới trong tác phẩm

Văn bản phi hư cấu giống như những mảnh tranh ghép, được xây dựng từ những bức chân dung nhân vật, những bức tranh miêu tả cảnh quan đời người và sân khấu chính trị - xã hội, những suy niệm và trầm tư thế sự Đồng thời là những bức tranh thiên nhiên hết sức thơ mộng, trữ tình của quê hương, đất nước Đương nhiên, những bức tranh ấy được tô điểm bằng tình cảm chân thật của người cầm bút, được tái hiện thông qua các thủ pháp nghệ thuật điêu luyện Với những đặc điểm đó, thể ký điển hình cho văn học phi hư cấu Bút ký, tùy bút, đặc biệt là hồi ký, ký sự đều coi trọng tính chân thực, xem đó là phẩm chất nghệ thuật nổi bật của thể loại Ngoài ra, tự truyện, tiểu thuyết tư liệu cũng mang đặc điểm của văn học phi hư cấu Cấu trúc nghệ thuật của các văn bản văn học phi hư cấu có những khác biệt so với văn học hư cấu Ở

đó người kể, cách kể, ngôn ngữ kể luôn giữ vai trò quan trọng trong việc tái hiện hiện thực đời sống Những hư cấu, tưởng tượng, phóng tác được tiết giảm tới mức tối đa

Mở một văn bản phi hư cấu, người đọc tin rằng đây là cuộc đời tự nó lên tiếng, người trần thuật không can thiệp làm méo mó bản chất của sự kiện Nhưng đồng thời, người đọc cũng chờ đợi cuộc gặp gỡ với một người trần thuật sâu sắc và tinh tường, có năng

Trang 14

13

lực phán xét thông minh và nhạy bén Cái tôi của người cầm bút được thể hiện một cách rõ ràng, tràn đầy cảm xúc Tác giả quan sát tinh tế, ghi chép chân thực, tỉ mỉ, tả cảnh sinh động, kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, bộc lộ thái độ một cách kín đáo, để sự vật tự nói Nếu như văn học hư cấu có thể trần thuật những sự việc không có trong thực tế, trí tưởng tượng và hư cấu của nhà văn được phát huy cao độ, miễn sao thế giới nhà văn kiến tạo phải đảm bảo lôgic của hiện thực thì văn học phi hư cấu chỉ trần thuật người thật, việc thật một cách xác thực Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là văn bản văn học phi hư cấu chỉ hoàn toàn nói sự thật Trong chừng mực nào đó, văn học phi hư cấu cũng có sự hư cấu, như tổ chức, sắp xếp, gia công thêm về sự kiện và mô tả tâm trạng Đây là điều dẫn tới sự nhập nhằng trong phân định giữa văn bản văn học hư cấu và văn bản văn học phi hư cấu, dẫn tới

sự đồng nhất về phương pháp giảng dạy của GV

Như vậy có thể thấy, sức hấp dẫn của văn bản văn học phi hư cấu là sự thật Tính nghệ thuật của văn bản văn học phi hư cấu là ở khả năng tổ chức, dẫn dắt vấn đề

ở cách kể, lối kể và ngôn ngữ, giọng điệu người kể Những điều này đều có trong văn bản văn học hư cấu, song ở văn học phi hư cấu lại có những khác biệt, mang tính đặc thù Muốn dạy học đọc hiểu tốt các văn bản văn học phi hư cấu, nhất định cả GV và

HS phải nắm vững những đặc trưng của dạng văn bản này

2.2 Tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT

2.2.1 Hướng dẫn học sinh tự đọc văn bản

Quá trình tự tìm hiểu văn bản văn học của HS là hết sức cần thiết, theo nguyên tắc dạy học lấy người học làm trung tâm HS muốn chiếm lĩnh tri thức một cách khoa học, lôgic phải bắt đầu từ khâu tự đọc văn bản Hoạt động tự đọc văn bản diễn ra ở nhà, ở lớp, dưới sự hướng dẫn của GV

HS tự đọc văn bản trước hết thông qua hệ thống câu hỏi phần Hướng dẫn học bài

ở SGK Đó là hệ thống câu hỏi để hướng dẫn HS có thể tự mình tìm hiểu văn bản văn

học Các câu hỏi Hướng dẫn học bài thường tập trung định hướng vào các yếu tố của

văn bản, hạn chế tối đa những câu hỏi biểu hiện nội dung cho sẵn Loại câu hỏi đó thường chỉ dạy HS tìm vị trí trên bản đồ của một địa danh đã cho biết trước, không giúp phát triển trí lực, ít dạy cho HS tính chủ động và lòng tự tin Hệ thống câu hỏi đó thiết

Trang 15

14

kế theo con đường như sau: yêu cầu HS tìm hiểu, cắt nghĩa các chi tiết, yếu tố của văn

bản; sau đó liên kết chúng lại, so sánh, đối chiếu để rút ra ý nghĩa khái quát của nó Vì

thế, bấy nhiêu yếu tố thì cũng có bấy nhiêu câu hỏi nhằm vào việc khai thác, khám phá

chung Câu hỏi về ý nghĩa của chi tiết, hình tượng, suy luận, biểu tượng; câu hỏi về kết

cấu; câu hỏi để tưởng tượng, suy luận; câu hỏi về chủ đề, tư tưởng; câu hỏi về phong

cách, sáng tạo của tác giả trên cơ sở bài đọc hiểu… Đó là những câu hỏi có tính gợi mở

Và để cho HS đọc hiểu văn bản tốt nhất, GV cần phải thiết kế hệ thống câu hỏi ngắn

gọn, rõ ràng, dễ hiểu; đúng lúc, đúng chỗ; phù hợp với trình độ HS; kích thích suy nghĩ

của HS; sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp; không hỏi nhiều vấn đề cùng

một lúc; phải đa dạng hóa câu hỏi

2.2.2 Gợi mở cho học sinh các hướng tích hợp văn bản văn học phi hư cấu

Một trong những đổi mới quan trọng của chương trình và SGK Ngữ văn là lấy

quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình và biên

soạn SGK Những vấn đề như trục tích hợp, tích hợp dọc, tích hợp ngang…đã được

giới thiệu rộng rãi, có vai trò định hướng trong thiết kế bài giảng và cách thức dạy học

của GV Lí thuyết liên văn bản đòi hỏi trong tiếp thu văn chương luôn cần có sự đối

sánh Theo đó, GV cần định hướng cho HS các địa chỉ tích hợp để HS đối sánh, tìm ra

điểm chung, điểm riêng, khắc sâu các kiến thức, kĩ năng được hình thành qua bài đọc

hiểu

Dạy học văn bản Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Ngô Sĩ Liên), GV

cần cung cấp cho HS các địa chỉ tích hợp, như: văn bản Hịch tướng sĩ (Trần Quốc

Tuấn - Ngữ văn 8,9); Thái sư Trần Thủ Độ (Ngô Sĩ Liên - Ngữ văn 10) Ngoài ra,

còn có thể tích hợp với các bài thơ thời Trần, để thấy rõ hào khí Đông A, như: Tụng

giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh - Trần Quang Khải), Thuật hoài (Tỏ lòng - Phạm

Ngũ Lão)… Dạy học văn bản Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự - Lê

Hữu Trác) GV cần cung cấp cho HS các địa chỉ tích hợp, như: Hoàng Lê nhất

thống chí, Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, (Ngữ văn 9); Vũ trung tùy bút (Phạm

Đình Hổ - Ngữ văn 9)… Các địa chỉ tích hợp này đều được sáng tác cùng thời kỳ,

có chung chủ đề, chung quan điểm, đồng thời lại có những điểm riêng về phong

cách, cá tính sáng tạo, có sự khác biệt trong cách thể hiện đối tượng Tích hợp với

các văn bản này sẽ giúp HS có cơ sở, có định hướng để khám phá các văn bản văn

Trang 16

tích hợp có cùng chủ đề Văn bản Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn có thể tích hợp với bài Quan niệm về đạo đức, (GDCD 10); văn bản Vào phủ chúa Trịnh có thể tích hợp với bài 21 Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI- XVIII, (Lịch sử 10)

Bên cạnh đó, cần chú ý tích hợp ngang giữa ba phân môn (Đọc văn, Làm văn, Tiếng Việt) Đây là các phân môn có yêu cầu, tri thức riêng, nhưng tất cả được tích hợp trong hoạt động nghe, nói, đọc, viết, mà chủ yếu là đọc hiểu và làm văn Do đó, hai trục tích hợp chính của chương trình là đọc và viết Các văn bản văn học được sắp xếp trên hai trục chính: Đọc văn và Làm văn Phần tiếng Việt vừa phục vụ cho việc Đọc văn vừa phục vụ cho việc Làm văn Trong chương trình Ngữ văn 10, các kiểu bài làm văn tự sự được học với các bài đọc hiểu văn bản tự sự Chính những lí thuyết về văn tự sự giúp ích rất nhiều cho việc đọc hiểu các văn bản tự sự, trong đó có văn bản

văn học phi hư cấu Trong khi đó bài Hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt ở đầu sách Ngữ văn 10 sẽ là cơ sở đọc hiểu văn bản và làm văn

Khi dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong phần văn học hiện đại Việt Nam, GV yêu cầu HS tích hợp với các văn bản văn học phi hư cấu trong phần văn học trung đại Việt Nam Đây là những văn bản có chung đặc trưng cấu trúc, nên

có cách tiếp cận và khám phá tương đối giống nhau Tuy nhiên cũng cần phải so sánh,

đối chiếu đề tìm ra những khác biệt Nếu đem so sánh với cái tôi Ngô Sĩ Liên trong Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, cái tôi Lê Hữu Trác trong Vào phủ chúa Trịnh với cái tôi của Nguyễn Tuân trong Người đò Sông Đà, cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? Có thể thấy những khác biệt rõ nét Cái tôi trong

Trang 17

32 Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ (Địa lí 12) Đây là một

vùng đất với nhiều núi đá vôi, sông suối, đèo dốc Quan sát bản đồ, để thấy được điểm đặc biệt của sông Đà là trong khi mọi dòng sông đều chảy về hướng đông, sông Đà lại chảy về hướng bắc “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu” Sông Đà nói riêng và Tây Bắc nói chung là một vùng kinh tế tiềm năng về thủy điện, du lịch Theo

đó, ở bài học này có thể tích hợp với bài 21.Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965) (Lịch

sử 12) để các em thấy được công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, trong

đó có phong trào đi xây dựng vùng kinh tế mới Tây Bắc

Hướng tích hợp tiếp theo là tích hợp ngang giữa ba phân môn: Đọc văn, Làm

văn và Tiếng Việt Trong chương trình Ngữ văn 12, các tiết tiếng Việt: Thực hành một

số phép tu từ ngữ âm, cú pháp, sẽ được tích hợp với các văn bản nói trên để khai thác văn bản một cách toàn diện Ví dụ: văn bản Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân sử

dụng các pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc: “Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt cả năm” để diễn tả dòng chảy dữ dội, khủng khiếp của dòng Sông Đà Những câu văn giàu giá trị tạo hình, gợi cảm được Nguyễn Tuân

sử dụng hết sức phong phú, đa dạng trong Người lái đò Sông Đà thể hiện chất tài hoa, uyên bác ở ông Các tiết làm văn về nghị luận văn học như Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học cũng góp phần hiểu sâu sắc hơn về văn bản Ngoài ra, GV cũng cần định hướng HS tích hợp với bài lí luận văn học Quá trình văn học và phong cách văn học, để HS nhận biết phong cách của các nhà văn

Vấn đề tích hợp các kĩ năng sống cho HS cũng cần phải được chú trọng Có rất nhiều kĩ năng sống, GV cần phải quan tâm tích hợp cho HS qua dạy học các văn bản văn học phi hư cấu, như: kĩ năng tự nhân thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giải

Trang 18

17

quyết mâu thuẫn, kĩ năng hợp tác, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng giải quyết vấn

đề… Khi dạy bài Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Ngô Sĩ Liên), đứng trước

tình huống có vấn đề "Tại sao Trần Quốc Tuấn lại không nghe lời cha lấy lại ngai

vàng?" hay ở bài Những ngày đầu của nước Việt Nam mới - Võ Nguyên Giáp, gặp

tình huống có vấn đề: Đất nước ở trong tình thế nguy nan HS phải vận dụng kĩ năng sống kiên định để tin tưởng vào mục tiêu, lí tưởng và con đường mình đã lựa chọn Không suy chuyển, dao động, đánh mất niềm tin vào Đảng, Chính phủ và đánh mất niềm tin vào chính mình GV có thể gợi ý HS đặt mình vào hoàn cảnh đó để giải quyết vấn đề

2.2.3 Gợi mở học sinh khám phá giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của văn bản

Văn bản văn học trung đại nói chung, văn bản văn học phi hư cấu nói riêng có những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ đặc sắc riêng Thông qua dạy học đọc hiểu các văn bản cụ thể, GV cần hướng dẫn, gợi ý HS khái quát được các gia trị nội bật của văn bản Về cơ bản, dạy học đọc hiểu một văn bản văn học phi hư cấu trong văn học trung đại Việt Nam, GV cần gợi ý cho HS khái quát những vấn đề sau:

a) Tính xác thực của nhân vật, sự kiện

b) Sự thể hiện cái tôi của người cầm bút

c) Đặc sắc nghệ thuật

Đặc trưng, ưu thế của văn học phi hư cấu là tái hiện một cách chân thực các

nhân vật, sự kiện Văn bản Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Ngữ văn 10) là một

ví dụ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn được trích từ Đại Việt sử kí toàn thư

được Ngô Sĩ Liên Tác phẩm hoàn thành vào năm 1479, gồm 15 quyển, ghi chép lịch

sử từ thời Hồng Bàng cho đến khi Lê Thái Tổ lên ngôi (1428) Sách được biên soạn

dựa trên cơ sở cuốn Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu thời Trần và Sử kí tục biên của Phan Phu Tiên ở đầu đời Lê Đại Việt sử kí toàn thư là sử biên niên là loại sử lấy thời

gian làm trục chính Trên cơ sở đó, các sự kiện lịch sử được ghi chép theo thời gian (năm, mùa, tháng, ngày) Đây là bộ chính sử lớn của Việt Nam thời trung đại, thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ, vừa có giá trị sử học, vừa có giá trị văn học Trong văn bản

Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Ngô Sĩ Liên), người đọc thấy rõ nhân vật lịch

sử Trần Quốc Tuấn được tác giả thuật lại một cách chi tiết, tỉ mỉ và hết sức sinh động Đặc điểm của sử là tôn trọng sự thật khách quan, không hư cấu.Tài năng của nhà viết

Trang 19

18

sử thể hiện ở việc lựa chọn sắp xếp các sự kiện, chi tiết để làm nổi bật chân dung lịch

sử vừa chân thực, vừa sống động Trong đoạn trích có ba chuyện kể về Trần Quốc Tuấn: chuyện về kế sách giữ nước, chuyện về lòng trung nghĩa và chuyện về công lao, đức độ Trong câu chuyện về kế sách giữ nước, tác giả tường thuật rõ về thời gian:

“Tháng 6, ngày 24, sao sa”, nhân sự kiện Hưng Đạo Đại Vương ốm, nhà vua tới thăm, hỏi han và được dặn dò: tùy thời mà đưa ra sách lược phù hợp, binh pháp chống giặc cần vận dụng linh hoạt; phải biết tập hợp đoàn kết toàn dân, phải “khoan thư sức dân

để làm kế sâu rễ bền gốc” Qua việc trình bày kế sách giữ nước, ta thấy Trần Quốc Tuấn là một người có kiến thức uyên bác, trí thông minh tuyệt vời, tài năng phi thường, và là một người có tầm nhìn xa trông rộng, thương yêu dân, đất nước, tận trung đến giây phút cuối cùng trong đời Câu chuyện thật về lòng trung nghĩa được tác giả thuật lại rất gay cấn và hấp dẫn Việc ông làm trái lời di huấn của An Sinh Vương Trần Liễu, cha ông, chứng tỏ ông đã đặt lợi ích đất nước, triều đình lên trên quyền lợi gia đình, cá nhân Giữa chữ hiếu và chữ trung, ông đặt chữ trung lên trên một cách tự nguyện, mặc dù trong hoàn cảnh ấy ông hoàn toàn có thể giành lấy ngôi vua về tay mình Việc thử lòng Dã Tượng và Yết Kiêu, một mặt, thấy được nhân cách cao thượng

và tấm lòng trung nghĩa, thẳng thắn, cương trực, hết lòng vì chủ của hai gia nô, mặt khác, khẳng định tư tưởng của Trần Quốc Tuấn hoàn toàn đúng, nên đã tìm được sự đồng cảm ở mọi người, kể cả tầng lớp gia nhân Chi tiết ông cảm động đến khóc, khi nghe lời giãi bày của người gia nô là một chi tiết đắt giá, cho thấy nhân cách cao cả của ông Việc thử thách với hai người con trai Quốc Hiến và Quốc Tảng với hai câu trả lời trái ngược nhau và hai thái độ khác nhau đã làm rõ tính cách thận trọng, trung nghĩa và lối giáo dục con cái trong một nhà rất công bằng và nghiêm khắc của Hưng Đạo Vương Công lao, đức độ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được lưu truyền, được nhân dân quý mến, trân trọng bậc nhất Ông không chỉ là vị Quốc Công Tiết chế văn võ song toàn, mà còn là chỗ dựa tinh thần cho hai vua trong những lúc vận nước lâm nguy Câu nói khảng khái của ông gợi nhớ đến câu nói của Trần Thủ Độ mấy chục năm trước đó: “Đầu tôi chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo!” Ông tiến cử được nhiều người tài, soạn nhiều sách huấn luyện quân sự, binh pháp, và khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ dưới quyền Hình ảnh này đã được khắc họa đậm nét trong

Hịch tướng sĩ do ông viết (tác phẩm HS đã được học ở THCS) Mặc dù hình ảnh Hưng

Trang 20

cuộc sống con người của nhà văn đều được thể hiện qua cái tôi tác giả Vào phủ chúa Trịnh là văn bản được viết theo hình thức ký sự Cái tôi tác giả bộc lộ trước hết ở thái

độ, cách nhìn nhận của tác giả đối với cuộc sống nơi phủ chúa một cách chân thật, khách quan Lê Hữu Trác đã miêu tả, ghi chép tỉ mỉ, đầy đủ con đường vào phủ chúa,

từ khi được lệnh truyền cho đến khi y lệnh về chờ thánh chỉ Sự xa hoa, quyền quý trong bức tranh hiện thực được miêu tả, tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc Tác giả còn thể hiện trực tiếp thông qua cách quan sát, lời bình và những suy nghĩ của mình về

sự tráng lệ, dư thừa, xa hoa nơi phủ chúa Ông nhận xét: “cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường” Tác giả còn làm một bài thơ miêu tả cái đẹp rực rỡ, sang trọng của “lầu từng gác vẽ”, “rèm châu”, “hiên ngọc”, “hoa cung”, “vườn ngự”… Ngoài ra, tác giả còn xen vào những lời bình luận nhẹ nhàng mà sâu cay, như “Ông san mâm cơm cho tôi ăn Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia” Ở đây, tác giả đã có những nhận xét khách quan về vẻ đẹp, sự giàu sang của phủ chúa Nhưng thái độ của tác giả thì lại hết sức thờ ơ, dửng dưng, bàng quan với những quyến rũ vật chất ấy, tỏ thái độ không đồng tình với cuộc sống ngột ngạt, thiếu ánh sáng, khí trời và đồng thời cũng thấp thoáng một chút mỉa mai, châm biếm

Người đọc còn thấy được cái tôi của Lê Hữu Trác qua việc tái hiện cảnh bắt mạch, kê đơn bốc thuốc Mặc dù tác giả không chêm xen lời bình luận khi thấy không cần thiết, nhằm tạo ấn tượng nổi bật về sự trung thành, trung thực của sự thật được ghi chép, nhưng con người tác giả vẫn hiện lên một cách đậm nét Chỉ qua một đoạn trích ngắn, nhận ra ông là một người hóm hỉnh, có tài quan sát, có tài thuật kể của một nhà văn đích thực Trong tư cách người thầy thuốc, ông rất tận tụy với công việc, có cái tâm trong sáng của một kẻ sinh ra để trị bệnh cứu người Khi nắm rõ bệnh trạng của

Trang 21

20

thế tử, ông biết không thể dùng thứ thuốc công phạt mà các lương y khác vẫn kê Theo ông, để khỏi làm hao mòn nguyên khí của người bệnh, trước hết phải dùng thứ thuốc thật bổ nhằm giữ “cái căn bản tiên thiên” Nhưng ông lại sợ thành công trong việc chữa trị theo hướng đó sẽ ràng buộc ông vào danh lợi, khiến ông không thể “về núi” theo tâm nguyện một đời Có lúc ông suy tính: “Chi bằng ta dùng thứ phương thuốc hòa hoãn, nếu không trúng thì cũng không sai bao nhiêu” Tất nhiên, cuối cùng ông đã không là thế Ông nghĩ: “Cha ông mình đời đời chịu ơn nước, ta phải dốc hết cả lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được” Có lẽ, trong tác phẩm, đây là trường hợp hiếm hoi mà lời được chép ra, dù hết sức chân thành, lại không hoàn toàn phản ánh đúng nỗi băn khoăn có thật trong lòng tác giả.Với cách đọc hiểu hiện nay, ta hiểu lời được ông viết ra đó mới chỉ nói lên được phần thói quen, phần quán tính trong cách nghĩ, cách phát ngôn của một thời mà thôi Sự thực, đó phải là nỗi băn khoăn xuất phát từ đạo đức nghề nghiệp, từ lòng vị tha của một nhân cách cao cả, từ một con người có những phẩm chất cao quý: khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích cuộc sống tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị nơi quê nhà

Điều hấp dẫn và tạo nên sự thành công cho đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh thể

hiện chi tiết, sự kiện có những nét riêng Tác giả quan sát tinh tế, ghi chép chân thực, tỉ

mỉ, tả cảnh sinh động, kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, bộc lộ thái độ một cách kín đáo, để sự vật tự nói Ngoài ra, tác giả còn kết hợp giữa văn xuôi và thơ làm tăng chất trữ tình cho tác phẩm Cái tôi cá nhân của tác giả được bộc lộ mạnh mẽ, rõ ràng Mọi sự kiện trong đoạn trích đều quy tụ về cái tôi cá nhân

của tác giả: tôi thấy, tôi nghĩ, tôi cho rằng, tôi bảo, tôi nói… để rồi, khép lại đoạn trích

là hình ảnh một Lê Hữu Trác với nhiều tư cách khác nhau: nhà nho, nhà văn, nhà sử học và thầy thuốc

Sự khác biệt trong kí sự của Lê Hữu Trác so với những tác phẩm kí khác thời trung đại Việt Nam biểu hiện ở chỗ, tác giả ghi chép sự việc theotrật tự thời gian Qua việc miêu tả hành trình vào chữa bệnh trong phủ chúa, chúng ta biết được quang cảnh

và cung cách sinh hoạt nơi đây Thái độ phê phán của tác giả kín đáo ẩn sau sự việc Phần trích còn có những đoạn tái hiện tâm trạng của nhân vật trong thiên kí sự giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người tinh thần của Lê Hữu Trác Trong khi đó, một tác

phẩm kí trung đại khác là Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (Học sinh được học

Trang 22

21

đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh ở lớp 9), phản ánh sự thật cùng thời điểm

lại có sự ghi chép tản mạn, chủ quan, không gò bó theo hệ thống kết cấu, song vẫn tuân theo mạch tư tưởng, cảm xúc chủ đạo là phê phán thói ăn chơi xa xỉ, tệ nhũng nhiễu nhân dân của vua chúa và quan lại hậu cần Thái độ phê phán, bất bình của tác giả khá rõ rệt

Trong khi đó, sự hấp dẫn của văn bản bản Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Ngô Sĩ Liên) là nghệ thuật kể chuyện và khắc họa nhân vật Nhân vật được khắc

họa trong những tình huống có kịch tính, có độ căng đầy thử thách (mâu thuẫn hiếu - trung, lời vua vờ hỏi trong lúc thế giặc mạnh) Phẩm chất nhân vật được hiện lên qua nhiều mối quan hệ, nhiều góc nhìn: quan hệ với vua, quan hệ với dân, quan hệ với tướng sĩ dưới quyền, quan hệ với con cái và đối với bản thân Trong nghệ thuật trần thuật, tác giả không tuân thủ việc trình bày các chi tiết về nhân vật theo trật tự ngày tháng đơn điệu Dấu hiệu của sự gia công ở nhà ghi sử thể hiện ở cách đảo thời gian khi kể về nhân vật: bắt đầu bằng sự kiện Hưng Đạo Đại Vương ốm, vua đến thăm để hỏi về kế sách giữ nước Tiếp đó là giới thiệu những nét riêng về nhân vật Trở lại với dòng sự kiện: Trần Quốc Tuấn mất, được tặng những danh hiệu cao quý Sau đó tác giả nói tiếp về đức độ, công lao của ông qua những mẫu chuyện sinh động để gián tiếp giải thích cho sự phong tặng trên Phần cuối nói đến những trước tác của ông để lại Phía sau các chi tiết là mạch kể nhất quán, lôgic, nghệ thuật kể chuyện phức hợp nhiều chiều thời gian, vừa liên tiến vừa hồi ức, kết hợp trong lời kể là những nhận xét của người viết, bộc lộ chính kiến và định hướng cho người đọc

Nghệ thuật kể chuyện và khắc họa nhân vật đã đem lại hứng thú cho người đọc khi tiếp xúc với nhân vật lịch sử qua các văn bản văn học phi hư cấu thời trung đại Điều này đã tạo nên màu sắc văn chương cho một tác phẩm chính sử đồ sộ Nhờ sự tôn trọng sự thật và tài năng văn chương, Ngô Sĩ Liên đã tạo cho câu chuyện lịch sử đậm màu sắc văn chương Dù không hư cấu nhưng sự phụ gia yếu tố văn học đã làm cho văn bản trở nên cuốn hút, sâu sắc và có sức sống lâu bền trong lòng người đọc

Văn bản văn học phi hư cấu trong văn học Việt Nam hiện đại tiếp nối nghệ thuật kí truyền thống đó là tôn trọng sự thật, trần thuật người thật, việc thật một cách

xác thực Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) là một tác phẩm rút từ tập ký Sông Đà

(1960) Đây là kết quả của chuyến đi lên Tây Bắc trước đó của Nguyễn Tuân Cảm

Trang 23

22

hứng chủ đạo của cả tập kí là tìm kiếm “chất vàng mười” của thiên nhiên, con người Tây Bắc, một “thứ vàng mười đã thử lửa” như cách nói của ông Sông Đà, là một con sông hung bạo ở miền núi Tây Bắc của Tổ quốc Nó thể hiện ở hình dáng, bờ vách, thác nước, hút nước chết người Hiện hình như một “kẻ thù số một của con người”

Đó là những chi tiết có thực, được ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân khắc họa đầy ấn tượng trong tác phẩm “Sự thực” về Sông Đà không chỉ có vậy Nó còn có một “sự thực” khác Đó là vẻ đẹp trữ tình thơ mộng, là tiềm năng giàu có của nguồn thủy điện Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của Sông Đà đã hiện lên qua hình ảnh mềm mại như một “áng tóc trữ tình”, những bờ bãi hai bên bờ sông với vẻ đẹp nguyên sơ như thời hồng hoang Không khó để “kiểm chứng” những “sự thật” ấy của Sông Đà Đến với Sông Đà, với Tây Bắc, không chỉ có thiên nhiên hoang sơ, hùng

vĩ, trữ tình làm đắm say du khách, mà còn có những người lao động cần cù, giản dị, tài hoa Đó là hình ảnh người lái đò Sông Đà vừa mang vẻ đẹp của một trang sĩ trên trận chiến với thác nước Sông Đà, vừa mang trong mình phong thái, tâm hồn nghệ sĩ Qua ngòi bút của Nguyễn Tuân, người lái đò Sông Đà hiện lên mộc mạc, gần gũi, thô ráp (tay dài lêu nghêu như sào chống đò, chân khuỳnh khuỳnh, nhỡn giới xa vời vợi) vừa chân thực, vừa giàu sức gợi

“Sự thật” trong tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc

Tường là dòng sông Hương, và rộng hơn là vùng đất cố đô Huế thơ mộng; là trầm tích văn hóa, lịch sử của Huế; là vẻ đẹp tâm hồn con người xứ Huế Có một “sự thật” khác của Sông Hương, núi Ngự là nó đã trở thành nguồn cảm hứng cho thơ ca từ bao đời nay Dưới ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường, những vẻ đẹp tiềm ẩn của sông Hương, núi Ngự với những kinh thành trầm mặc uy nghi, những con người Huế dịu dàng đã hiện lên vừa gần gũi, vừa có sức khơi gợi về thiên nhiên, con người của một vùng đất

Trang 24

23

những ngày đầu nước Việt Nam mới Thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt hoành hành khắp nơi Nhưng chính trong hoàn cảnh khó khăn chồng chất ấy, sức mạnh của niềm tin vào cách mạng, vào Đảng, Bác Hồ đã giúp nhân dân ta vượt qua tất cả Giữa muôn trùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện lên như một vị “cứu tinh” của dân tộc Bản lĩnh, vững vàng, lập trường kiên định, hành xử uyển chuyển, có tầm nhìn

xa rộng, Bác đã đưa dân tộc vượt qua thử thách, bước vào một thời kỳ mới của lịch sử

Đó là những “sự thật” hiển nhiên đã được lưu truyền trong sử sách, trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt

Cùng với việc tái hiện chân thực hiện thực đời sống, các văn bản văn học phi

hư cấu còn thể hiện cái tôi của người cầm bút So với cái tôi trong văn học trung đại, cái tôi trong văn hiện hiện đại có nhiều khác biệt Đó là cái tôi cá nhân, cá thể

với một sự ý thức sâu sắc về con người cá nhân, cá tính Ở Người lái đò Sông Đà,

đó là cái tôi tài hoa, mạnh mẽ đến quyết liệt; ở Ai đã đặt tên cho dòng sông? là cái

tôi tài hoa, uyên bác, giàu tình cảm Tôn trọng sự thật song thể ký không hề hạn chế năng lực sáng tạo của nhà văn Nhờ đó, qua các văn bản ký người đọc đón nhận được một lượng thông tin phong phú, đa dạng, vừa chân thực, vừa giàu sức gợi Tất

cả những điều đó phụ thuộc vào tài năng, vốn sống, sự trải nghiệm của nhà văn

Được rút từ một hồi ký lịch sử của một trong những “khai quốc công thần”, Những ngày đầu của nước Việt Nam mới đã thể hiện rõ nét cái tôi của người viết Đó là

con người khiêm nhường, giản dị, chân thành, có tầm nhìn xa trông rộng, mang phong thái cốt cách một vĩ nhân

Trên phương diện nghệ thuật, các văn bản phi hư cấu trong văn học hiện đại được học trong chương trình Ngữ văn THPT cũng có nhiều đặc sắc, như ngôn ngữ trần thuật, tổ chức trần thuật, khắc họa nhân vật, nghệ thuật tổ chức lời văn Mỗi văn bản

có những đặc sắc riêng Trong Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân kể, tả Sông Đà từ

nhiều góc nhìn, với những cử li khác nhau Có khi là sự tinh tường, tỉ mỉ của một nhà khoa học; có khi thì bằng con mắt của một họa sĩ; khi thì qua ống kính của một nhà quay phim dạt dào cảm xúc; có lúc là một lữ khách ngước xuôi sông nước Ngôn ngữ trần thuật linh hoạt biến hóa, kết hợp giữa kể, tả, bình với một lối viết tài hoa Viết về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường viết bằng giọng điệu trữ tình giàu chất suy tưởng, triết lý Trong khi trần thuật, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật với

Trang 25

24

những hình ảnh đặc sắc, giàu nhạc điệu, thấm đẫm chất thơ

Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là những nghệ sĩ tài hoa, giàu cá tính,

có vốn sống, vốn văn hóa sâu rộng, là hai “bậc thầy” viết ký trong văn học hiện đại

Việt Nam Họ say mê cái đẹp, suốt đời đi tìm cái đẹp Nhưng với Nguyễn Tuân, ông

luôn có thiên hướng đi tìm cảm giác mạnh Cái đẹp phải là những hiện tượng đập mạnh vào giác quan của người nghệ sĩ, gây ấn tượng khác thường, thậm chí là dữ dội

Là người đẹp, phải đẹp “đổ quán xiêu đình”, “nghiêng nước nghiêng thành”; là thiên nhiên đẹp, phải là đèo cao, thác dữ, là gió cuồng, bão táp Trong khi đó, với Hoàng

Phủ Ngọc Tường, cái đẹp phải thơ mộng, dịu dàng Ở đoạn trích Những ngày đầu của nước Việt Nam mới của Võ Nguyên Giáp, có những nét đặc biệt trong nghệ thuật thể

hiện Tác giả tái hiện những chi tiết, sự kiện lịch sử từ điểm nhìn của một người lãnh đạo trong chính quyền cách mạng Vừa là nhân chứng, vừa là là người can dự vào sự kiện lịch sử Các sự kiện, vì vậy được kể lại mang tính toàn cảnh, tổng thể, được phác họa ở những nét lớn, những cái gây ấn tượng sâu sắc với nhiều người Giọng điệu trần thuật khách quan Những cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá thường mang tính khách quan, điển hình cho cảm nghĩ chung của những người lãnh đạo Đảng và Chính phủ Cách trần thuật như vậy đã làm cho tác phẩm mang tính chất một cuốn biên niên sử Về mặt này, có thể thấy có sự gần gũi với những văn bản kí trung đại đã học ở các lớp dưới,

GV cho HS tích hợp, đối chiếu, so sánh để làm rõ ràng đặc trưng của văn bản văn học phi hư cấu

Gợi mở cho HS khái quát các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ đặc sắc qua đọc hiểu văn bản văn học là việc làm cần thiết Bởi lẽ, suy đến cùng sau khi đọc xong một văn bản những điều cốt yếu nhất đọng lại ở các em là gì Do văn bản văn học phi hư cấu có những đặc trưng riêng so với văn bản văn học hư cấu, nên việc gợi mở cho HS khái quát giá trị tư tưởng thẩm mĩ có những khác biệt Mặt khác, cách thức và nội dung gợi

mở ở văn bản văn học phi hư cấu hiện đại cũng có những khác biệt nhất định so với văn bản văn học phi hư cấu trong văn học trung đại Ba phương diện chủ yếu HS cần khái quát được (tính xác thực của nhân vật, sự kiện; cái tôi nhà văn; đặc sắc nghệ thuật) là giống nhau, song ở văn học hiện đại cách thể hiện có nhiều khác biệt

2.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục có định hướng được tổ chức ngoài

Trang 26

25

giờ học chính khóa của HS trên lớp Đây là một trong hai hoạt động học tập cơ bản thực hiện theo kế hoạch của nhà trường, nhằm hình thành và phát triển nhân cách, năng lực toàn diện cho HS, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội

Với phần dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu trong chương trình Ngữ văn THPT, việc tổ chức hoạt động trải nhiệm là cần thiết, hữu ích, tăng hứng thú học tập, bổ sung kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp cho các em Một trong những đặc điểm nổi bật của văn bản văn học phi hư cấu tính chân xác của các sự kiện, chi tiết, nhân vật, gắn với địa danh lịch sử, những vùng miền cụ thể trên đất nước Theo đó, hoạt động trải nghiệm ở đây có thể là tham quan bảo tàng,

di tích lịch sử, nghe nói chuyện, câu lạc bộ văn học Dạy học các văn bản Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, Thái sư Trần Thủ Độ (Trích Đại việt sử kí toàn thư - Ngô

Sĩ Liên), GV có thể tổ chức cho HS nghe nói chuyện về lịch sử triều Trần và Trần Thủ

Độ; khi dạy học văn bản Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự - Lê Hữu

Trác), GV có thể tổ chức cho HS đến Hương Sơn (Hà Tĩnh) thăm khu di tích lịch sử văn hóa Lê Hữu Trác Những hoạt động này sẽ giúp cho HS vui vẻ, tự hào, phấn khởi, tăng hứng thú học tập, có những cảm nhận, đánh giá về vấn đề liên quan đến tiết học, bài học của các em

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Giới thiệu chung

3.1.1 Mục đích thực nghiệm

Thực nghiệm sự phạm là sự cụ thể hóa những vấn đề lý luận đã được trình bày

ở hai chương 1 và 2 Việc thực nghiệm nhằm xác lập kết quả nghiên cứu, tính đúng đắn, hiệu quả của đề tài đã được triển khai

Qua thực nghiệm, chúng tôi sẽ có những đánh giá bước đầu về giá trị, đóng góp của đề tài, đưa ra những nguyên tắc, phương pháp, thấy được những lợi thế để phát huy, rút ra được những hạn chế để khắc phục, bổ sung, hoàn thiện

Thu thập, xử lí kết quả TN ở từng trường TN để đưa ra những giải pháp tích cực, những phương pháp dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu ở trong chương trình Ngữ văn THPT một cách phù hợp

Đề xuất phương án dạy học đọc hiểu các văn bản văn học phi hư cấu ở trong

Trang 27

26

chương trình Ngữ văn THPT đối với các cấp quản lí, các trường và nhất là các GV giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm

Trong quá trình tiến hành TN, chúng tôi đã thống nhất chọn mỗi khối 2 lớp: lớp

TN và lớp ĐC Những lớp này phải có chất lượng học tập tương đương nhau Điều đó sẽ giúp chúng tôi trong quá trình tiến hành TN và dễ dàng hơn trong việc so sánh, đối chiếu

Khi tiến hành TN không thông báo trước cho HS, không có người dự giờ, học sinh

TN không biết đang được TN, giáo viên phải giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Ngoài ra, trong quá trình tiến hành dạy TN cũng không được làm đảo lộn trật tự, kế hoạch của trường và của GV TN

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

3.2.1 Lựa chọn địa bàn thực nghiệm

Tổ chức TN tại 2 lớp bất kì của cùng một GV giảng dạy tại 2 trường với môn Ngữ văn lớp 10 &11 Cụ thể như sau:

- Trường THPT X

- Trường THPT Y

3.2.2 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm

Để thấy xem xét tính khả thi của phương pháp nghiên cứu, chúng tôi chọn các lớp TN và ĐC dựa vào điểm kiểm tra tập trung môn Ngữ văn (bài kiểm tra chất lượng đầu năm học) gần tương đương nhau Chúng tôi đã chọn các cặp lớp TN và ĐC tương đương nhau về các mặt sau:

- Số lượng HS

- Chất lượng học tập môn Ngữ văn

- GV giảng dạy là cùng một GV và dạy 2 lớp khác nhau

- Các trường tham gia TN đều có 3 tiết/tuần

Trang 28

27

(GV: Lê Văn B)

3.3 Nội dung thực nghiệm

3.3.1 Nguyên tắc thiết kế giáo án và giáo án thực nghiệm

Thiết kế 1 Đọc văn HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

(Trích Đại Việt sử kí toàn thư) - Ngô Sĩ Liên

2 Kĩ năng: Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản sử kí

3 Thái độ: Bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trân trọng những người hiền tài và những giá trị văn hoá, lịch sử của dân tộc

II CHUẨN BỊ

1 Chuẩn bị của giáo viên

- SGK, SGV, thiết kế hoạt động dạy học

- Bảng phụ ghi sơ đồ lập luận

- Phiếu học tập

- Tranh ảnh, máy chiếu

2 Chuẩn bị của học sinh

- Đọc và nắm vững những tri thức về tác giả, tác phẩm ở phần tiểu dẫn, tìm hiểu

đặc trưng thể loại; đọc và cảm nhận khái quát văn bản

- Tìm hướng phân tích, khám phá văn bản

- Hoàn thành các phiếu học tập do GV yêu cầu

- Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu liên quan về nhà văn, tác phẩm

- Chuẩn bị bài theo hướng dẫn của SGK

III HOẠT ĐỘNG

Ngày đăng: 25/12/2020, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w