Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinhSáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinh
Trang 1MỤC LỤC
A – MỞ ĐẦU 1
I – Lí do chọn đề tài 1
II – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
III – Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 2
IV – Giả thiết khoa học của đề tài 2
V – Phương pháp nghiên cứu 2
VI – Đóng góp mới của đề tài 2
VII – Cấu trúc của đề tài 2
B – NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 3
1.1.1 Vài nét về năng lực phản biện 3
1.1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản theo hướng PTNL học sinh hiện nay 3
1.1.3 Vài nét về tổ chức hoạt động tranh biện 5
1.1.4 Vài nét về đặc trưng thể loại của VB “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) 7
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
1.2.1 Thực tế sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học đọc hiểu VB hiện nay 8
1.2.2 Thực tế dạy học VBNL và VB Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm) 9
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC DẠY HỌC VĂN BẢN CHIẾU CẦU HIỀN 11
2.1 Quy trình tổ chức hoạt động tranh biện trong dạy học 11
2.2 Tổ chức dạy học VB “Chiếu cầu hiền” theo hình thức tranh biện 12
2.2.1 Một số lợi thế về dạy học VB “Chiếu cầu hiền” theo hướng PTNL HS 12
2.2.2 Tiến trình tổ chức dạy học VB “Chiếu cầu hiền” theo hình thức TB 12
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 15
3.1.Thực nghiệm sư phạm 15
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 15
3.1.2 Đối tượng thực nghiệm 15
3.1.3 Kế hoạch và nội dung thực nghiệm 15
3.2 Kết quả thực nghiệm 15
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 15
3.3.1 Đánh giá việc tổ chức dạy học thực nghiệm 15
3.3.2 Đánh giá qua kết quả học tập của học sinh 15
C – KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
CTGD : Chương trình giáo dục
VB : Văn bản VBNL : Văn bản nghị luận
PTNL : Phát triển năng lực PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáo khoa
TB : Tranh biện HĐTB : Hoạt động tranh biện NLPB : Năng lực phản biện TDPB : Tư duy phản biện
Trang 3A – MỞ ĐẦU
I – Lí do chọn đề tài
Thế giới đang bước vào thời đại 4.0, trong đó giáo dục đóng vai trò là động lực thúc đẩy cuộc cách mạng này đạt được mục tiêu của nó Vì vậy,tư duy giáo dục hiện nay cũng phải thay đổi Giáo dục không chỉ có sứ mệnh cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, mà quan trọng là phát triển tư duy và sự sáng tạo cho người học Chính vì thế, việc rèn luyện tư duy phản biện và tích cực hóa hoạt động học sinh (HS), được xem là yêu cầu quan trọng trong tiến trình đổi mới PPDH theo hướng PTNL hiện nay
Tranh biện (Debate) là một trong những hoạt động lâu đời nhất của nền văn minh
Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức…, việc thực hành tranh biện (TB) được thể hiện rõ ràng không chỉ qua các hoạt động giáo dục (educational debate) mà còn qua các phương tiện truyền thông (media) và đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội TB là cuộc trình diễn tổng hợp các kỹ năng: tư duy phản biện, nói trước công chúng, nghiên cứu, tổ chức sắp xếp, làm việc nhóm, nghe, ghi chép… Ngày nay, TB được dùng như một PPDH tích cực, được người trẻ đón nhận đầy hứng thú Sử dụng TB trong dạy học là bước đi đúng đắn để nhằm đạt được mục tiêu phát triển toàn diện các NL của HS Môn Ngữ văn là một trong những bộ môn chính chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) hiện nay, với nhiệm vụ hình thành và phát triển các năng lực (NL) cốt lõi cho người học Trong đó NL ngôn ngữ là một trong những trọng tâm của môn Ngữ văn Hoạt động tranh biện (HĐTB) sẽ là phương pháp lí tưởng trong việc rèn luyện kỹ Nói – Nghe cho HS
CTGD môn Ngữ văn mới đã chỉ ra, trọng tâm sẽ tập trung vào ba loại văn bản (VB) chính đó là: VB văn học, văn bản nghị luận (VBNL) và VB thông tin Việc tìm tòi, sử dụng các PHDH tích cực vào dạy học hiện nay, được xem sẽ là bước chuẩn bị tốt để đón
nhận CT và SGK mới VB Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm) là một trong những VBNL
hay, giàu giá trị được đưa vào CT và SGK hiện hành Ở VB này, tôi nhận thấy có rất nhiều lợi để rèn luyện các NL cốt lõi mà môn Ngữ văn hướng đến Tuy nhiên, với đặc trưng là
VBNL trung đại, nên Chiếu cầu hiền khá khô khan, khó hấp dẫn, vì thế GV và HS thường
“cho qua” hoặc dạy học “đối phó” hoặc không khai thác được giá trị ngầm về PPDH của
VB Từ thực tế đó tôi quyết định lựa chọn đề tài: Tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản
“Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo hình thức tranh biện nhằm phát triển năng lực phản biện cho học sinh Qua đề tài này tôi muốn xây dựng phương án dạy học VB
Trang 4Chiếu cầu hiền bằng HĐTB, từ đó hướng tới rèn luyện, phát triển các NL cốt lõi của người
học
II – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu: HĐTB trong dạy học đọc hiểu VB
2 Phạm vi nghiên cứu: Văn bản Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm) ở CT Ngữ văn 11 –
tập 1 (cơ bản)
III – Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
1 Mục tiêu của đề tài: Đề xuất cách thức tổ chức HĐTB qua dạy học VB Chiếu cầu hiền theo hướng PTNL HS Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, người viết muốn rút ra một
số kinh nghiệm trong dạy học đọc hiểu VB Chiếu cầu hiền nói riêng và dạy học đọc
hiểu VB nói chung
2 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu lí luận HĐTB trong dạy học theo PTNL
- Đề xuất cách thức tiến hành HĐTB qua dạy học đọc hiểu VB Chiếu cầu hiền
- Thực nghiệm sư phạm
IV – Giả thiết khoa học của đề tài
Nếu tổ chức HĐTB qua dạy học đọc hiểu VB Chiếu cầu hiền thành công thì sẽ giúp
cho GV có thêm một PPDH hiệu quả Từ đó vận dụng linh hoạt trong từng hoàn cảnh và đối tượng HS cụ thể để đạt được mục tiêu dạy học theo hướng tiếp cận NL hiện nay
V – Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, thống kê, thực nghiệm sư phạm
VI – Đóng góp mới của đề tài
Đề tài có sự nghiên cứu về lí luận về HĐTB trong dạy học; cách thức tổ chức dạy học
VB Chiếu cầu hiền theo hướng phát triển năng lực phản biện Vì vậy, đề tài sẽ là một
trong những tài liệu tham khảo tốt cho GV trong việc tìm tòi đổi mới PPDH
VII – Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm những nội dung chính sau:
Chương I – Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương II – Tổ chức dạy học đọc hiểu VB Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm) theo hình
thức tranh biện
Chương III – Thực nghiệm sư phạm
Trang 5B – NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Vài nét về năng lực phản biện
Năng lực phản biện (NLPB) là một khái niệm có nguồn gốc xuất phát từ thuật ngữ tư
duy phản biện (Critical thinking) Nó được hiểu là một loại hình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá những thông tin đã có theo các cách nhìn khác nhau, qua đó nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề [10,5] NLPB là là NL phát
hiện những điểm bất cập/ bất hợp lý, bất khả thi, bất khả dụng và cất lên tiếng nói cảnh báo có ý nghĩa trên cơ sở lật trở vấn đề, quan sát đối tượng từ nhiều phía (nhất là phía nghịch, mặt trái)
Có thể thấy, giữa TDPB và NLPB có mối quan hệ biện chứng TDPB là nền tảng, là
cơ sở để hình thành NLPB Dựa trên khả năng tư duy độc lập, khả năng phán đoán, suy nghĩ, lật lại vấn đề sau khi đã có cái nhìn đa chiều về vấn đề, người học huy động vốn tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng lập luận, biện bác của mình để khẳng định, đồng tình hoặc bác bỏ những suy nghĩ, quan điểm, ý kiến và biện luận của người khác, nhằm làm sáng tỏ vấn đề dưới một góc nhìn khác Ngược lại, trong quá trình huy động tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng và thái độ để phản biện, tranh luận, đối thoại vấn đề thì khả năng nhận thức, phán đoán, tư duy độc lập, phản biện của con người càng được nâng cao và phát triển
CTGDPT tổng thể và CT môn Ngữ văn đã xác định các NL cần hình thành và phát triển cho HS đó là: NL tự học và tự chủ, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL giao tiếp
và hợp tác; đối với bộ môn Ngữ văn còn có NL chuyên biệt là NL ngôn ngữ và NL văn học [1] Khi phân tích các thành tố hợp thành NL chung và NL chuyên biệt, chúng tôi nhận thấy cho sự giao thoa với thành tố hợp thành của TDPB và NLPB Vì thế việc phát triển NLPB cho HS là một trong những phương pháp để hình thành và phát triển NL cần thiết của người học
1.1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản theo hướng PTNL học sinh hiện nay
Dạy học theo PTNL là xu hướng của giáo dục hiện đại, với trọng tâm là chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học phát triển NL Bộ môn Ngữ văn ngoài NL chung thì còn có NL chuyên biệt, đó là: NL văn học và NL ngôn ngữ Theo đó, dạy học
Trang 6đọc hiểu VB có thể được xem là một trong những phương pháp đặc thù của môn học
Để hiểu rõ hơn về vấn đề dạy học đọc hiểu VB theo hướng PTNL HS, chúng ta cần thấy được mục tiêu cần đạt của NL văn học và NL ngôn ngữ theo chuẩn mà CTGDPT đã đề
ra
CT môn Ngữ văn giúp HS hình thành, phát triển khả năng đọc VB văn học; cảm thụ; phân tích đánh giá văn học; tư duy hình tượng; xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh, góp phần hoàn thiện nhân cách Tất cả các biểu hiện của NL văn học đều
phải hình thành, phát triển thông qua rèn luyện các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe NL
ngôn ngữ là NL sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp Thông qua CT Ngữ văn
HS được hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học tập, phát triển,
đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống Biểu hiện của NL ngôn ngữ đi từ đơn giản là đọc trôi chảy các kiểu VB đến biết nói rõ ràng, mạch lạc; biết trình bày một cách thuyết phục và bảo vệ quan điểm cá nhân… và yêu cầu cao hơn là hiểu ý kiến của người khác, chắt lọc thông tin quan trọng từ các bài thuyết trình, các cuộc đối thoại, thảo luận, tranh luận… [7]
Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới PPDH Ngữ văn trong việc tiếp nhận VB Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn thì hiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề này của CT và SGK Ngữ văn mới Cách dạy đọc – hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho HS những cảm nhận của GV về VB được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS NL tự đọc một cách tích cực, chủ động,
có sắc thái cá nhân Yêu cầu quan trọng của việc dạy học đọc hiểu VB theo hướng PTNL
HS hiện nay là phải biết kết hợp các phương pháp dạy đọc, phương pháp dạy viết, phương pháp dạy nói và nghe
Khi thực hiện phương pháp dạy đọc, GV cần chú ý lựa chọn các kỹ thuật dạy học phù
hợp từ bài khác nhau, như: Đóng vai (văn bản truyện, kịch); tổ chức trò chơi, cuộc thi;
kể lại câu chuyện (văn bản truyện); thảo luận, tranh luận về ý nghĩa của một số chi tiết quan trọng; Đọc diễn cảm, ngâm (văn bản thơ, nghị luận); kĩ thuật đọc tích cực; kĩ thuật
đặt câu hỏi; kĩ thuật giải quyết tình huống… Đối với phương pháp dạy viết, nhất là đối
với yêu cầu của cấp THPT, GV cần hướng tới cho HS tạo lập được VB có tính chất đối thoại, đánh giá về các vấn đề đã học, qua đó kích thích rèn luyện TDPB và NLPB cho
Trang 7HS Về phương pháp dạy nói và nghe GV phải hướng dẫn cho HS cách thức, quy trình
chuẩn bị một bài trình bày và trình bày trước nhóm, tổ, lớp; cách thức chuẩn bị một cuộc thảo luận, tranh luận
Như vậy có thể nhận thấy yêu cầu của CT mới đưa ra đối với các kỹ năng cần thiết phải rèn luyện cho HS chính là biểu hiện của NLPB Chính vì thế việc phát triển NLPB
cũng chính là phương pháp để hình thành và phát triển NL cần thiết của người học
1.1.3 Vài nét về tổ chức hoạt động tranh biện
a) Khái niệm
“TB được hiểu là quá trình tư duy và biểu đạt tư duy từ thu thập, phân tích xử lý thông tin đến xây dựng, hệ thống sắp xếp các lập luận để ra quyết định… TB giúp giải quyết vấn đề, bằng cách chỉ ra những xung đột/ mâu thuẫn giữa các luận điểm do người học sử dụng tư duy phản biện để phản đối trực tiếp trên luận điểm của đối phương”[15;73]
Có thể nói TB là quá trình giao lưu ngôn ngữ đòi hỏi những người tham gia phải chứng minh được quan điểm của mình là đúng đắn bằng hệ thống các lập luận logic Đó
là cách ngắn nhất và ôn hòa nhất giúp mọi người cùng đi đến một nhận thức chung Chính vì thế, tranh biện được coi là tinh hoa của NL sử dụng ngôn ngữ, là cách thức phát triển trí tuệ, là hòn đá mài sắc tư duy
b) Cách thức tổ chức hoạt động tranh biện trong dạy học Ngữ văn
Phương pháp TB được sử dụng trong dạy học là cách GV đưa ra, gợi mở cho HS suy nghĩ, đánh giá về một vấn đề nhất định theo những hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Sau đó GV tổ chức cho các em trao đổi, bàn bạc, phản biện về vấn đề đó nhằm làm
rõ những khía cạnh khác nhau của vấn đề và làm giàu sự hiểu biết của cá nhân theo yêu cầu của mục tiêu và nhiệm vụ dạy học
Tranh biện được tổ chức theo các hình thức sau:
+ Tổ chức TB theo nhóm: TB theo nhóm là hình thức tổ chức cho HS học tập, trao
đổi, phản biện theo từng nhóm, cùng giải quyết một nhiệm vụ học tập cụ thể nào đó dưới
sự điều khiển và tổ chức của GV Khi tổ chức tranh luận theo nhóm sẽ diễn ra đồng thời hai hoạt động: việc thảo luận giữa các thành viên trong nhóm để thống nhất ý kiến chung
và tranh luận giữa các nhóm với nhau
+ Tổ chức TB giữa HS với HS: Đây là hình thức có khả năng phát huy tính tích cực,
chủ động của từng HS trong học tập rất tốt, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ dạy học hiện
Trang 8nay Tranh luận cá nhân có thể giúp HS khám phá ra những giá trị tiềm ẩn của mình như khả năng hùng biện trước đám đông, khả năng tư duy logic hay khả năng tự chủ
+ Tổ chức TB giữa GV với HS: Trong quá trình dạy học sẽ các tình huống có vấn đề,
GV sẽ nêu ra những luồng ý kiến khác nhau và cung cấp những tư liệu, căn cứ để cho
HS có được những hiểu biết nhất định về chủ đề đó Sau đó, GV sẽ khích lệ tư duy của
HS bằng cách đưa ngay ra ý kiến của bản thân mình Từ đó, HS mới có thể mạnh dạn đưa ra ý kiến, nếu ý kiến đó khác với quan điểm của GV và tranh biện với GV
Có một điểm khác biệt rất quan trọng của HĐTB với các hình thức giao tiếp khác đó
là khi tiến hành TB cần tách thành 2 lập luận: ỦNG HỘ hoặc PHẢN ĐỐI HS khi được
phân công vào nhóm nào thì cần phải tuân thủ theo yêu cầu của nhóm Vì vậy để giành chiến thắng trong tranh biện, HS cần phải tìm tòi, nghiên cứu đề kỹ để có những lập luận về vấn đề mình bảo vệ
c) Quy tắc tổ chức HĐTB trong dạy học:
Thứ nhất: Xác định rõ mục đích của TB, làm nổi bật nội dung bài học Xác định mục
đích TB là việc đưa ra những dự kiến sư phạm về sự biến đổi của HS sau khi thực hiện các HĐTB Xác định mục đích TB có ý nghĩa quan trọng, bởi có xác định được mục đích thì mới lựa chọn được hình thức tổ chức phù hợp Đồng thời, việc xác định mục đích tranh luận sẽ giúp GV có những định hướng rõ ràng cho cuộc tranh luận, tránh sa
đà, lạc hướng gây mất thời gian mà không đạt hiệu quả cao Nội dung TB phải là nội dung trọng tâm, cốt lõi của đặc trưng môn học Ví dụ đối với môn Ngữ văn và VB nghị luận thì cần phải làm bật nổi được lí lẽ, lập luận cũng tư tưởng quan điểm của người viết Từ đó rèn luyện kỹ năng đọc – viết – nói – nghe cho HS
Thứ hai: Lựa chọn vấn đề TB phù hợp và cân đối về mặt thời gian khi tổ chức TB Về
lựa chọn vấn đề TB, GV cần hiểu rõ, hiểu sâu kiến thức và hiểu rõ đối tượng HS của mình, trình độ nhận thức ra sao, họ đã có cái gì, cần có cái gì thì GV mới có thể đưa ra vấn đề TB đúng đắn, sáng suốt và phù hợp nhất Về cân đối thời gian khi tổ chức TB là một thử thách lớn của phương pháp này, bởi muốn TB hay đúng nghĩa thì phải cho HS tranh luận đến cùng để bảo vệ ý kiến của mình Do đó, để hoạt động tranh luận có chất lượng, GV cần có sự lựa chọn vấn đề phù hợp, yêu cầu HS chuẩn bị kỹ để đưa ra những
ý kiến TB chất lượng, đúng trọng tâm Đặc biệt cần chú ý đến đối tượng HS khi lựa chọn vấn đề TB, nội dung phải đi từ đơn giản đến phức tạp nhằm khơi gợi sự hứng thú cho người học
Trang 9Như vậy có thể thấy tổ chức HĐTB là một trong những biện pháp dạy học tích cực, đáp ứng được những yêu cầu mới của CTGD mới hiện nay
1.1.4 Vài nét về đặc trưng thể loại của VB “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm)
Chiếu cầu hiền thuộc thể chiếu – một thể văn được các vua chúa dùng để ban bố mệnh lệnh cho bề tôi hoặc chỉ thị cho mọi người Chính vì thể Chiếu cầu hiền mang đặc
trưng của kiểu VBNL
a Vài nét về VBNL
“Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn
luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức ) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần được giải đáp, cần được làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra
chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin với mình” [2;110]
Từ đó ta có thể thấy, VBNL là sản phẩm của tư duy khoa học, là kiểu tư duy đi tìm đúng bản chất sự vật hiện tượng, phản ánh đúng sự vật hiện tượng bằng nhiều phương pháp tư duy, trong đó có tư duy logic và tư duy phản biện Tư duy logic là một cấp độ cao của tư duy, ở đó các mối liên hệ được sắp xếp theo một trình tự nhất định, có quy luật, căn cứ khoa học Tư duy phản biện là trình độ tư duy luôn tìm ra những mặt đối lập trong quá trình tìm hiểu sự vật hiện tượng, vì thế luôn khám phá cái mới Trong VBNL vẫn có hình tượng, cảm xúc nhưng đặc điểm nổi bật vẫn là nghệ thuật lập luận sắc bén, luận cứ sắc sảo, ngôn từ chính xác, sống động và thuyết phục Chính vì thế văn chương nghệ thuật thường gõ cửa trái tim và kích thích trí tưởng tượng người đọc trước tiên, còn VNL nghiêng về khai mở tư duy, bừng sáng trí tuệ, khơi nguồn cảm hứng tranh
luận, hùng biện ở người đọc
VBNL có một số đặc trưng cơ bản như: bày tỏ quan điểm, tư tưởng; giàu cảm xúc
và có cấu trúc chặt chẽ, logic
b VBNL trung đại Việt Nam
Về VBNL trung đại thường gắn với những sự kiện lịch sử của dân tộc, được sử dụng trong bộ máy hành chính quốc gia mang tính quy phạm cao Đặc điểm nổi bật của loại VB này là tính chất “văn, sử, triết bất phân” Vì thế khi đọc hiểu VBNL trung đại chúng ta cần lưu ý một số yêu cầu sau:
- Luôn đặt văn bản vào thời điểm mà nó ra đời để tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác của VB; từ đó tìm những căn cứ để lí giải đặc điểm của VB
Trang 10- Chú ý đến thi pháp của văn học trung đại
- Chú ý đến bố cục, cách tư duy, lập luận, cách diễn đạt hàm súc
- Chú ý đến giọng điệu, tình cảm của người viết được thể hiện trong VB
c Vài nét cơ bản về VB “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm
- Về đặc trưng thể loại: Chiếu cầu hiền thuộc thể Chiếu – một kiểu văn nghị luận
thời trung đại Với những đặc điểm như: là thể văn dùng để bày tỏ quan điểm, tư tưởng; giàu cảm xúc và có cấu trúc chặt chẽ, logic Người viết dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ
để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức )
- Về hoàn cảnh ra đời: Năm 1788, Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào xâm lược nước ta Nguyễn Huệ lên ngôi, quét sạch quân Thanh Triều Lê sụp đổ, trước sự kiện trên, một số bề tôi của triều Lê đã bỏ trốn hoặc đi ở ẩn Quang Trung giao cho Ngô Thì
Nhậm thay mình viết Chiếu cầu hiền nhằm thuyết phục sĩ phu Bắc Hà, tức các tri thức
của triều đại cũ (Lê -Trịnh) ra cộng tác với triều đại Tây Sơn Vì thế Chiếu cầu hiền là tác phẩm thể hiện rõ tư tưởng tiến bộ của Vua Quang Trung và trí tuệ uyên bác của Ngô Thì Nhậm
- Về kiến thức cơ bản cần đạt: Qua VB này HS cần nắm được: Vai trò và trách nhiệm của hiền tài; thực trạng của đất nước lúc bấy giờ (Cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà
và những khó khăn buổi đầu của triều đại mới); giải pháp (Con đường cầu hiền)
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Thực tế sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học đọc hiểu VB hiện nay
a Những chuyển biến tích cực
CT Ngữ văn hiện hành so với CT SGK hợp nhất năm 2000 đã có sự đổi mới chuyển
từ giảng văn sang đọc hiểu VB Với sự chuyển biến này, nhiều PPDH tích cực được sử dụng để giúp HS trở thành trung tâm của quá trình dạy học Chính vì thế các hiện tượng như: dạy học đọc chép, dạy học nhồi nhét, áp đặt dạy học văn như các nhà nghiên cứu văn học… đang từng giảm dần và chấm dứt hẳn
Qua quan sát thực tế và khảo sát điều tra, tôi nhận thấy các PPDH tích cực thường được giáo viên sử dụng trong các giờ đọc hiểu VB hiện nay là: phương pháp vấn đáp (vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa, vấn đáp tìm tòi…) (65% GV sử dụng); phương pháp nêu và giải quyết vấn đề (20%); phương pháp hoạt động nhóm (15%)… Các PPDH này được cung cấp đến GV thông qua các tài liệu tập huấn, được thể hiện
Trang 11qua các giờ dạy thí điểm, các giờ thao giảng đổi mới PPDH… dần dần lan tỏa trong suốt quá trình dạy học Hình thức kiểm tra đánh giá mới hiện nay đã giúp cho các PPDH tích càng phát huy giá trị và hiệu quả của nó
b Một số tồn tại, hạn chế
Đổi mới PPDH theo hướng lấy HS làm trung tâm, nghĩa là HS trở thành chủ thể của quá trình tiếp nhận tri thức, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là vai trò của GV bị xem nhẹ Muốn cho HS tích cực chủ động thì người GV phải năng động, sáng tạo, đưa ra các PPDH hiệu quả Trên thực tế, vẫn còn một số bộ phận GV khá thụ động trong tiếp nhận cái mới, ít đầu tư cho công tác chuyên môn, dẫn đến việc đổi mới PPDH thực sự chưa
đi vào chiều sâu Bên cạnh, việc HS thiếu hợp tác, lười học văn cũng đã tác động không nhỏ đến tâm tư, nhiệt huyết của các GV yêu nghề Một thực tế dễ nhận thấy, HS ngại tranh luận, ngại bày tỏ điểm… cho nên khi GV tổ chức các PPDH mới như: thảo luận nhóm, nêu vấn đề… cũng không đem lại được hiệu quả cao
Qua thực tiễn và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy: để thực sự cuốn hút được HS vào bài học thì vấn đề đề cập đến phải phù hợp với hứng thú và sự quan tâm của các em; vấn đề phải có sự liên hệ thực tế; thứ nữa vấn đề phải có tính tranh luận,
đa chiều… Chính vì thế sử dụng HĐTB trong dạy học, sẽ là một lựa chọn giúp cho GV khơi gợi hứng thú học tập của HS, qua đó hình thành và phát triển các NL cốt lõi cho
lí dạy cho qua, ít nhấn mạnh Khi dạy thường thiên về truyền đạt kiến thức, chú trọng nội dung hơn là nghệ thuật, vì thế giờ dạy nặng về lí trí hơn là cảm xúc thẩm mỹ
CT Ngữ văn hiện hành được xây dựng trên tinh thần tích hợp, tuy nhiên GV chưa
có ý thức dạy học tích hợp các VBNL với phần tiếng Việt và Làm văn trong CT, GV chưa khai thác lợi thế của VBNL để rèn luyện PTNL HS
b Về phía HS
Trang 12Về thái độ học tập, chúng ta dễ nhận thấy HS khá thờ ờ khi tiếp nhận những VBNL trong CT Có thể thấy ở mỗi tiết đọc hiểu VBNL, các em không hứng thú mà cũng không quan tâm nhiều về nội dung và nghệ thuật của các VBNL
Về kiến thức, kỹ năng đọc hiểu và tạo lập VBNL của HS nhìn chung chưa cao Đối với HS THPT thì hầu hết các bài kiểm tra đánh giá đều được thực hiện bằng hình thức viết VNL (NLXH và NLVH) Một thực tế chúng ta dễ nhận thấy số HS có khả năng lập luận, trình bày vấn đề một cách mạch lạc là rất ít Đa số các em làm bài theo cảm tính, nhớ đến đâu viết đến, các luận điểm, luận cứ thiếu tính logic, khoa học Vì thấy đối với một bài NLXH lỗi thường gặp của HS là thường đem dẫn chứng ra trước, nói lan man theo suy nghĩ chủ quan của mình Còn đối với NLVH, nếu là thơ thì các em thường
“diễn nôm, diễn xuôi” ý thơ, nếu là văn xuôi thì các em chủ yếu là tóm tắt lại cốt truyện chứ chưa tạo được các luận điểm, luận cứ chặt chẽ Đặc biệt kỹ năng phản biện, tranh luận còn khá yếu Một trong những nguyên nhân của lỗi thường gặp này đó là HS chưa
có ý thức học kỹ năng lập luận từ các VBNL trong CT Đó cũng là một “lỗ hỏng” đáng tiếc trong việc rèn luyện PTNL của bản thân qua hệ thống VBNL
Từ những tồn tại của thực tế đó, chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận, tìm ra giải pháp
để khắc phục Tổ chức HĐTB khi dạy học đọc hiểu VBNL sẽ biện pháp hữu hiệu nhằm tích cực hóa hoạt động của HS góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất và NL cốt lõi của người học mà CT hướng đến
Trang 13CHƯƠNG II: TỔ CHỨC DẠY HỌC VĂN BẢN CHIẾU CẦU HIỀN
(NGÔ THÌ NHẬM) THEO HÌNH THỨC TRANH BIỆN 2.1 Quy trình tổ chức hoạt động tranh biện trong dạy học
Đối với giờ đọc hiểu trong môn Ngữ văn phần nội dung có thể tiến hành tổ chức cho
HS TB đó là: Ở phần hình thành kiến thức mới hoặc luyện tập mở rộng vấn đề Thông
qua TB HS có thể tự chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức hơn Tuy nhiên GV cần lưu ý, không phải VB nào hay vấn đề gì trong VB cũng có thể tiến hành HĐTB Một VB chỉ nên chọn 1 đến 2 vấn đề để TB, khi HS tranh biện GV cần có sự định hướng để tránh đi
xa đề, lạc đề hoặc làm sai lệch kiến thức
Bước 1: Xác định vấn đề TB: Mỗi bài học có thể có nhiều vấn đề để TB, tuy nhiên
GV chỉ nên chọn 1 vấn đề phù hợp nhất với đối tượng HS để tổ chức
Bước 2: Giao nhiệm vụ, HS chuẩn bị nghiên cứu về vấn đề TB: GV cần phân công
cụ thể: nhóm ủng hộ và nhóm phản đối; định hướng tài liệu phù hợp
Bước 3: Tiến hành tranh biện:
+ Mỗi nhóm sẽ căn cứ vào phần trình bày của nhóm đối phương để phản biện
+ Thời gian cho mỗi lượt phản biện tối đa là 1 phút
+ Các thành viên trong mỗi nhóm cần thay phiên nhau, tránh trường hợp chỉ một người TB từ đầu đến cuối
Bước 4: Nhận xét đánh giá
GV sẽ đưa ra nhận xét, đánh giá cho mỗi nhóm và chốt lại kiến thức cốt lõi của bài học Tiêu chí đánh giá sẽ là:
- Chất lượng các luận điểm tranh luận
- Kỹ năng trình bày của mỗi nhóm
- Thái độ làm việc và tranh biện của mỗi nhóm
Trang 14Trong đó tiêu chí kỹ năng và thái độ TB rất quan trọng, bởi mục đích của hoạt động này
là thông qua quá trình chiếm lĩnh tri thức HS có thể rèn luyện được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ có văn hóa và đạt được mục đích giao tiếp
2.2 Tổ chức dạy học VB “Chiếu cầu hiền” theo hình thức tranh biện
2.2.1 Một số lợi thế về dạy học VB “Chiếu cầu hiền” theo hướng PTNL HS
Vấn đề của VB Chiếu cầu hiền đề cập đó là: vai trò và trách nhiệm của nhân tài đối
với đất nước Đây là vấn đề mang tính thời đại, luôn có giá trị và có tính thời sự, phù hợp với tầm tiếp nhận của HS Chính vì thế khi dạy đọc hiểu VB này theo hướng PTNL
GV rất có lợi thế để tổ chức các PPDH mới, phát huy tính tích cực của HS Có thể nhận thấy ở Chiếu cầu hiền tích hợp rất nhiều kiến thức liên về lịch sử, văn hóa, văn học, giáo dục… là cơ hội để HS mở rộng tầm hiểu biết cũng như bày tỏ được quan điểm cá nhân của mình
Về hình thức thể hiện, Chiếu cầu hiền là VBNL với những đặc trưng cốt lõi với có
của nó Bên cạnh những đặc điểm của kiểu VBNL trung đại, thì cách lập luận của Chiếu cầu hiền cũng khá hiện đại, dễ tiếp nhận Đặc biệt, qua các luận điểm được đặc ra trong
VB rất phù hợp để GV rèn luyện kỹ Đọc – viết – Nói – Nghe cho HS PPDH mà tôi triển khai ở đây, nhằm nhấn mạnh đến PP dạy nói – nghe cho HS – một trong những kỹ năng còn bị bỏ ngỏ từ trước đến nay
2.2.2 Tiến trình tổ chức dạy học VB “Chiếu cầu hiền” theo hình thức TB
Bước 1: Xác định vấn đề tranh biện:
Với VB “Chiếu cầu hiền” tôi đã chọn 2 vấn đề để tổ chức cho HS tranh biện:
- Vấn đề 1: Trước cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà với triều đại Tây Sơn em đồng tình hay phản đối?
- Vấn đề 2: Từ tư tưởng của bài Chiếu theo các em, đối với du học sinh hiện nay nên
VỀ (Việt Nam) hay Ở (nước ngoài)?
Với 2 vấn đề này tùy vào đối tượng của HS tôi đã chọn mỗi lớp một vấn đề để TB
Bước 2: Giao nhiệm vụ, HS chuẩn bị nghiên cứu về vấn đề tranh biện
* Yêu cầu về nội dung:
- Vấn đề 1: Yêu cầu HS tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam vào thời kỳ bài Chiếu ra đời
- Vấn đề 2: Yêu cầu HS cập nhật tình hình, bối cảnh thực tế thời đại hiện nay