1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu từ ngữ chỉ hoa trong tiếng anh và tiếng việt tt

27 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 712,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về khả năng tạo từ, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm văn hóa

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

N U ỄN T Ị T ỦY CHUNG

ĐỐI C IẾU TỪ N Ữ C Ỉ OA TRON

TIẾN AN VÀ TIẾN VIỆT

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ N ÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT NA

M

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS à Quang Năng

Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp

Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Khang

Phản biện 3: PGS.TS Lê Hùng Tiến

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi giờ ngày tháng năm 201

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Đối chiếu các lớp từ ngữ dưới các góc độ khác nhau giữa các ngôn ngữ

đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới và ở Việt Nam và có những đóng góp đáng kể trong thực tế sử dụng ngôn ngữ

Từ ngữ chỉ hoa có số lượng khá lớn và mang ý nghĩa phong phú, đa dạng nên chúng trở thành đối tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ và bình diện Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về từ ngữ chỉ hoa có đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt

Về mặt thực tiễn, người học, người sử dụng ngôn ngữ gặp nhiều khó khăn trong việc học và dịch các từ và cụm từ vì phương thức cấu tạo từ, cụm từ, đặc điểm ngữ nghĩa của chúng phức tạp, gồm nhiều tầng bậc Nghiên cứu về khả năng tạo từ, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm văn hóa giữa hai cộng đồng ngôn ngữ sẽ giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và dịch thuật được thuận lợi hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩa

của các từ ngữ chỉ hoa cũng như các hướng nghĩa biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để làm sáng tỏ những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đồng thời chỉ ra được các yếu

tố văn hóa, đặc điểm tư duy của cộng đồng người sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt có thể tác động đến sự tương đồng và khác biệt này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Hệ thống hóa lý luận về từ, nghĩa của từ và các khái niệm có liên quan (2) Miêu tả và phân tích đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa và nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt;

(3) Đối chiếu đặc điểm định danh, biến thể định danh và đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa nói chung, ý nghĩa biểu trưng nói riêng của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đơn vị từ ngữ chỉ hoa trong

tiếng Anh và tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Vì từ ngữ chỉ hoa có số lượng lớn biểu thị các phương diện khác nhau của hoa, nên trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ giới hạn tập trung vào các từ ngữ là tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt và tập trung nghiên cứu các bình diện sau: Cấu tạo các từ ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 4

2 dùng để gọi tên các loài hoa, phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và ý nghĩa biểu trưng

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu, phân tích thành tố nghĩa; thủ pháp thống kê, phân loại Ngoài ra, luận án cũng kết hợp đường hướng diễn dịch và quy nạp để tìm ra kết quả nghiên cứu

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu nghiên cứu gồm hai nhóm: Nhóm 1 bao gồm 347 từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và 355 từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt được thu thập từ từ

điển giải thích Oxford Advanced Learner‟s Dictionary, Nxb ĐH Oxford, tb 2015

và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb Từ điển Bách Khoa, 2012), từ

điển sinh học, sách báo và các trang mạng về hoa và nghệ thuật cây cảnh Nhóm

2 gồm 75 thành ngữ, tục ngữ, cac dao về hoa trong tiếng Anh và 156 trong tiếng Việt được thu thập từ các từ điển thành ngữ, tục ngữ và kho tàng ca dao

5 Đóng góp của luận án

Qua việc hệ thống hóa và kế thừa cơ sở lý luận đi trước, nghiên cứu sâu

về các từ ngữ chỉ hoa trong ngữ liệu và luận giải sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và nghĩa biểu trưng giữa hai ngôn ngữ, luận án góp phần bổ sung và làm sáng rõ các đặc trưng văn hóa của ngôn ngữ và tư duy của hai cộng đồng người Anh và Việt Ngoài ra, luận án cũng đã xây dựng được mô hình cấu tạo, định danh và sự biểu hiện bằng ngôn ngữ trong cách định danh cũng như trong các nghĩa vị của từ ngữ chỉ hoa và luận giải sự tương đồng cũng như khác biệt giữa hai ngôn ngữ dựa trên các đặc trưng văn hóa và tư duy dân tộc Điều này giúp cho những người học tập, giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ có thêm cái nhìn về phương thức tư duy về thế giới khách quan của hai dân tộc Việt và Anh và những biểu hiện của tư duy này trong lĩnh vực nghiên cứu cụ thể là các lớp từ ngữ chỉ hoa

6 Ý nghĩa của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần vào việc nghiên cứu một

số vấn đề lý thuyết về các lớp từ ngữ và nghĩa biểu trưng, như cơ sở để các từ có thể tập hợp thành các nhóm từ ngữ; có thể chuyển nghĩa hoặc tạo nghĩa biểu trưng; những quan hệ ngữ nghĩa trong mỗi nhóm từ ngữ Chính sự đối chiếu ngữ nghĩa nói chung, nghĩa biểu trưng nói riêng của các từ ngữ chỉ các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt có thể giúp thấy được một số đặc trưng văn hóa - dân tộc trong ngôn ngữ và tư duy của hai cộng đồng người Anh và Việt

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đối chiếu từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt có đóng góp thiết thực cho thực tiễn giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Anh với tư cách là những ngoại ngữ Đồng thời, nó

Trang 5

3 cũng giúp cho việc phân tích, bình giá các từ ngữ chỉ hoa xuất hiện với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương bằng tiếng Anh hay tiếng Việt Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án cũng phục vụ cho công tác biên, phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh – Việt, Việt – Anh

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục luận án bao gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 Đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa trên thế giới

Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu cụ thể về nhóm từ ngữ chỉ hoa dưới các góc độ khác nhau Nghiên cứu dưới góc độ văn hóa có Huss et all (2017) về ý nghĩa các loài hoa theo hướng văn hóa và tri nhận Nghiên cứu dưới góc độ tâm lý là nhóm tác giả Haviland-Jones et all (2005) thuộc khoa tâm lý và

di truyền học của trường đại học New Jersey về các loài hoa theo cách tiếp cận môi trường đối với cảm xúc tích cực Các tác giả thực hiện ba nghiên cứu khác nhau và đi đến kết luận hoa là một yếu tố mang lại cảm xúc tích cực mạnh mẽ đối với con người Ngoài ra, tác giả Frownfelter (2010), thông qua những bức tranh

vẽ màu nước về hoa, đã nghiên cứu về hoa như một cách nói ẩn dụ để giải quyết những vấn đề cảm xúc có liên quan đến chủ đề giới tính nữ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa ở Việt nam

Ở Việt Nam, hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ hoa nói chung và từ ngữ chỉ hoa nói riêng dưới các góc độ ngữ nghĩa học và cú pháp học Ở góc độ ngữ nghĩa có các tác giả Cao Thị Thu (1995), Nguyễn Thị Thanh Hường (2014), Trần Hạnh Nguyên (2014) và gần đây nhất là Lê Thị Kim Dung (2019) Dưới góc độ cú pháp và ngữ nghĩa học có Hà Thị Quế Anh (2007)

1.2 Cơ Sở lý luận

1.2.1 Lý thuyết về từ và nghĩa của từ

1.2.1.1 Từ

Khái niệm về từ: S.E Jakhontov đã chỉ ra các nhà ngôn ngữ học dùng thuật ngữ

từ để gọi các hiện tượng khác nhau nhưng có quan hệ với nhau Có ít nhất năm quan niệm khác nhau về từ đó là: Từ chính tả, từ từ điển học, từ ngữ âm, từ biến

Trang 6

4 hình và từ hoàn chỉnh Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một

số âm tiết cố định, bất biến, có một ‎ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.”

Đơn vị cấu tạo từ:

Trong luận án này, chúng tôi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu về đơn

vị cấu tạo từ: “Hình vị là những đơn vị được tạo ra từ các âm vị, tự thân có nghĩa

nhưng không được dùng trực tiếp để giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với nhau tạo thành câu… Hình vị (hay yếu tố cấu tạo từ) tiếng Việt là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất với dạng chuẩn tối thiểu là 1

âm tiết, tự thân có nghĩa (từ vựng hay ngữ pháp), có thể chịu tác động của phương thức cấu tạo để cấu tạo từ cho tiếng Việt”

Phương thức cấu tạo từ:

Trong tiếng Anh, Greenbaum (1973) phân chia phương thức cấu tạo từ thành 3 loại chính: từ đơn (simple words), từ ghép (compoundings) và từ phái sinh (derivatives), trong đó từ ghép được tạo thành bằng nhiều hình thức Từ phái sinh được cấu tạo bằng cách sử dụng phụ tố (affixation) bao gồm tiền tố (prefix)

và hậu tố (suffix) để bổ sung ý nghĩa từ vựng cho chính tố để tạo nên một từ mới

Trong tiếng Việt, theo Đỗ Hữu Châu, từ tiếng Việt được tạo nên bởi ba

phương thức tác động vào hình vị đó là: từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình

vị Tiếng Việt có từ đơn, từ ghép và từ láy

Khái niệm về cụm từ (ngữ):

Cụm từ (phrase) được định nghĩa trong Oxford Advanced Learner’s

Dictionary (2015) là Cụm từ (hay ngữ) là một nhóm từ nhỏ không có một động từ

xác định, nó vừa có ý nghĩa riêng vừa đóng vai trò là thành phần của một câu”

Theo Diệp Quan Ban: “Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết

hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức năng ngữ pháp của kiến trúc này”)

1.2.1.2 Nghĩa của từ

Khái niệm nghĩa của từ:

Theo Đỗ Hữu Châu (2005): “nghĩa của từ là một thực thể tinh thần” và

nó bao gồm 4 thành phần: (a) Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật; (b) Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm; (c) Ý nghĩa biểu thái tương ứng với chức năng biểu thái Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng Còn (d) Ý nghĩa ngữ pháp tương ứng với chức năng ngữ pháp

Cấu trúc nghĩa của từ:

Trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa của các từ đại diện, Hoàng Phê đã kệt

luận về cấu trúc nghĩa của từ: “Nói tóm lại, nghĩa của từ nói chung: + Là một tập

hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; + Giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cập bậc) biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; + Các nét nghĩa có

Trang 7

5

tính độc lập tương đối.” Nét nghĩa là thành tố nghĩa nhỏ nhất không thể chia cắt

được nữa, nó giống như nét khu biệt của âm vị học

Các phương thức chuyển nghĩa:

Cấu trúc nghĩa của từ luôn luôn vận động phát triển ngữ nghĩa học truyền thống đã phát hiện ra những quá trình phát triển ý nghĩa cơ bản đó là mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa, chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ

Khái niệm nghĩa biểu trưng (symbol):

Theo Hoàng Tiến Tựu thì: “Biểu trưng là cách lấy một sự vật, hiện tượng

nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó khác mang tính trừu tượng Đó là hiện tượng khá phổ biến và quen thuộc đối với các dân tộc và phản ánh quan niệm ngây thơ, dân gian của mỗi tộc người đôi khi được cố định hoá trong ngôn ngữ Khi một sự vật, hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững”

1.2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa là một vấn đề đã được đề cập khá sớm trong các nghiên cứu ngôn ngữ học và nhân học/dân tộc học từ thế kỉ XIX

Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đi liền với văn hóa của mỗi dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau, chúng phát triển trong sự tương tác qua lại với nhau, tức có cái này phải có cái kia và ngược lại Ngôn ngữ là phương tiện thúc đẩy sự hình thành văn hóa của mỗi dân tộc, là phương tiện lưu trữ văn hóa cũng như sự biểu hiện và truyền đạt các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc giữa các xã hội khác nhau hay từ người này sang người khác trong cộng đồng Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ đi đôi với sự biến đổi và phát triển của văn hóa

1.2.3 Lý thuyết về định danh

Khái niệm định danh: Kolshanskij (1977) cho rằng quá trình định danh

là quá trình gắn cho kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm phản ánh các đặc trưng nhất định của một biểu vật Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2007),

chức năng định danh chỉ là một dạng thức của chức năng biểu vật Bản thân từ đã

có chức năng định danh thì sẽ có chức năng biểu vật, song không phải bất cứ sự biểu vật nào cũng theo lối định danh Biểu vật theo cách định danh là cách biểu vật tổng hợp Đó là cách gán một hình thức âm thanh (thường ở dạng ngắn gọn) cho sự vật, hiện tượng Ở các tên gọi đó, sự vật và hiện tượng hiện ra trực tiếp trong tổng thể của nó chứ không thông qua các đặc điểm

Đơn vị định danh: Dưới góc độ ngữ nghĩa học, đơn vị định danh gồm có

định danh gốc (định danh bậc 1) và định danh phái sinh (định danh bậc 2) Đơn vị định danh gốc là những từ tối giản về mặt hình thái – cấu trúc, mang nghĩa đen,

được dùng làm cơ sở để tạo ra các đơn vị định danh khác, ví dụ như cây, hoa, nụ,

cành… Đơn vị định danh phái sinh là những đơn vị định danh có đặc trưng hình

thái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị gốc, mang nghĩa biểu trưng hóa, ví dụ như hoa

lá, hoa hoét, cười khẩy v.v

Trang 8

6

1.2.4 Lý thuyết về đối chiếu ngôn ngữ

Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu: Theo Bùi Mạnh Hùng (2008) Ngôn

ngữ học đối chiếu là một phân ngành của ngôn ngữ học so sánh nhằm “so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất kì để xác định những điểm giống nhau khác nhau giữa các ngôn ngữ đó, không tính đến vấn đề các ngôn ngữ được so sánh có quan hệ cội nguồn hay thuộc cùng một loại hình hay không” Ngôn ngữ học đối chiếu có vai trò quan trọng trong nghiên cứu các đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ngôn ngữ

Các bình diện đối chiếu ngôn ngữ: Về cơ bản, Bùi Mạnh Hùng (2002)

cho rằng có 4 bình diện đối chiếu ngôn ngữ: đối chiếu ngữ âm, đối chiếu từ vựng, đối chiếu ngữ pháp (hình thái học và cú pháp học) và đối chiếu ngữ dụng học Luận án của chúng tôi sẽ nghiên cứu tập trung vào bình diện từ vựng giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt, cụ thể đó là đối chiếu từ ngữ là tên gọi các loài hoa trong hai ngôn ngữ

Các cách tiếp cận và các bước so sánh đối chiếu: Có hai phương pháp

cơ bản trong nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ gồm phương pháp đối chiếu một chiều và phương pháp đối chiếu hai chiều (Bùi Mạnh Hùng, 2008) Luận án sử dụng phương pháp đối chiếu hai chiều

TỪ N Ữ C Ỉ OA TRON TIẾN AN VÀ TIẾN VIỆT

2.1 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ ng chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.1.1 Về mô hình khái quát

chỉ loại “hoa”: T; T + flower’s name; T + flower/blossom word, còn trong

Trang 9

7 tiếng Việt yếu tố chỉ loại “hoa” đứng trước còn dấu hiệu được chọn định danh

“T” đứng sau: oa/b ng + “T”

2.1.2 Về đặc điểm cấu tạo

Xét về mặt cấu tạo, tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt đều có thể có cấu tạo là từ đơn, từ ghép (ghép đẳng lập và ghép chính phụ) và cụm từ (ngữ)

Sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ có ảnh hưởng đến sự kết hợp từ ngữ

và số lượng chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong tiếng Anh, số lượng từ đơn chiếm số lượng nhiều nhất 170 từ (chiếm 49%), tiếp đến là từ ghép

166 từ (chiếm 47,8%) Ngược lại, từ ghép trong tiếng Việt lại chiếm số lượng cao nhất với 298 từ (chiếm 83,9%), từ đơn đứng thứ hai với số lượng khá chênh lệch

so với từ ghép chỉ có 39 từ (chiếm 10,1%) Từ ghép trong tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình) được cấu tạo bởi hai hình vị gồm có hai loại: từ ghép bởi hai hình vị

viết liền nhau chỉ là một từ (sun/flower - hoa hướng dương) và từ ghép bởi hai hình vị viết tách rời nhau là hai từ (purple lilac - hoa tử đinh hương tím Ngoài ra,

tiếng Anh còn có từ ghép được cấu tạo bởi các hình vị kết hợp với nhau bằng các

gạch nối (silver – leaved geranium - hoa phong lữ lá bạc) Còn trong tiếng Việt

(ngôn ngữ đơn lập, hình thức từ chặt chẽ) chỉ tồn tại từ ghép bởi các hình vị được

viết tách rời nhau như cúc dại, bèo tây, đào phai, cúc họa mi, cúc thạch thảo

Tiếng Anh có đặc điểm tổng hợp tính (có pha phân tích tính), biến hình (hòa kết) nên tiếng Anh có từ phái sinh mà tiếng Việt không có Trái lại, tiếng Việt có từ láy gọi tên hoa còn tiếng Anh không có Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tích tính, đơn lập, hình thức từ chặt chẽ, không biến hình nên thể hiện rõ sự chi phối trong cách cấu tạo định danh từ ngữ chỉ hoa Do đặc điểm đơn lập nên số lượng vỏ âm tiết bị hạn chế dẫn đến số lượng từ đơn bị khống chế Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong giao tiếp, tiếng Việt dùng cách ghép để tạo ra số lượng từ ngữ mới

Cụm từ hay ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt đều chiếm số lượng rất ít, cụm từ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh là 6 trong số

347 từ ngữ, chiếm 1,7% và trong tiếng việt là 9 trong số 355 từ ngữ, chiếm 2,5%

Trong tiếng Việt không thấy xuất hiện tên gọi hoa dưới hình thức là một

cụm từ được tạo ta bằng các giới từ giống như tiếng Anh, ví dụ: lily of the valley

Trang 10

Ta có mô hình khái quát:

ếu tố chỉ loại + các dấu hiệu/đặc điểm

dùng để định danh

Do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ nên vị trí của các yếu tố trong mô hình định danh khác nhau Tuy nhiên, trong cả hai ngôn ngữ, yếu tố đặc trưng hay các đặc điểm được lựa chọn định danh lại có điểm tương đồng rõ nét đó là đều chủ yếu dựa vào màu sắc, hình dạng, nguồn gốc, kích cỡ, mùi vị, cấu tạo và các đặc tính khác của hoa

Các đặc điểm định danh + tên hoa Tên hoa + các đặc điểm định danh Các kiểu định danh:

1 Màu sắc + tên hoa

5 Hình dạng của con vật + tên hoa

6 Nguồn gốc địa danh + tên hoa

7 Đặc điểm hương vị + tên hoa

8 Đặc điểm thời gian + tên hoa

9 Đặc điểm cấu tạo + tên hoa

10 Môi trường sống / nơi sinh trưởng

+ tên hoa

11 Tên người + tên hoa

12 Các đặc tính khác + tên hoa

1 Tên hoa + màu sắc

2 Tên hoa + hình dạng của sự vật

3 Tên hoa + hình dạng của bộ phận cơ thể con vật

4 Tên hoa + hình dạng của bộ phận cơ thể người

5 Tên hoa + hình dạng của con vật

6 Tên hoa + nguồn gốc địa danh

7 Tên hoa + đặc điểm hương vị

8 Tên hoa + đặc điểm thời gian

9 Tên hoa + đặc điểm cấu tạo

10 Tên hoa + nguồn gốc môi trường sống

Tỷ lệ Số

lƣợng

Tỉ lệ

1 Định danh dựa vào màu sắc 38/164 10,9 60/231 16,9

2 Định danh theo hình dạng của sự vật 26/164 7,5 34/231 9,6

3 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ

thể con vật

5/164 1,4 17/231 4,8

Trang 11

9

4 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ

thể người

7/164 2 4/231 1,1

5 Định danh theo hình dạng của con vật 3/164 0,9 4/231 1,1

6 Định danh dựa vào cấu tạo của hoa 13/164 3,7 36/231 10,1

7 Định danh theo nguồn gốc địa danh 18/164 5,2 18/231 5

8 Định danh theo nguồn gốc môi trường

sống

11/164 3,2 10/231 2,8

9 Định danh theo đặc điểm hương vị 13/164 3,7 15/231 4,2

11 Định danh dựa vào thời gian 12/164 3,4 9/231 2,5

13 Định danh theo vai trò trong y học 0 0 12/231 3,4

14 Định danh dựa vào các đặc tính khác 8/164 2,3 6/231 1,2 Bảng so sánh trên cho thấy số lượng các kiểu định danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt khá tương đồng và gần nhau Trong tiếng Anh có

12 kiểu định danh tên các loài hoa và trong tiếng Việt có 13 kiểu định danh Số lượng các kiểu định danh các loài hoa có tính chất phổ quát trong 2 ngôn ngữ là

giống nhau gồm có: định danh dựa vào hình dạng, màu sắc, môi trường sống,

nguồn gốc, hương vị, cấu tạo và thời gian Điều này phản ánh đặc điểm tư duy

ngôn ngữ trong cách tri nhận định danh các loài hoa của người Anh và người Việt khá gần nhau Khi tri giác để định danh các loài hoa, cả hai cộng đồng người Anh

và Việt đều chú ý đầu tiên đến hai đặc trưng màu sắc và hình thức của hoa nên

hai đặc trưng này đứng thứ hạng đầu tiên và thứ hạng thứ hai

Tuy nhiên, cách định danh các loài hoa trong hai ngôn ngữ cũng có

những điểm khác biệt người Anh chọn đặc trưng tên người để định danh cho

chính loài hoa mà hoàn toàn không thấy xuất hiện trong tiếng Việt Sự khác biệt này là do hoa mang tên người thường là do các nhà sinh học, thực vật học tạo ra trong quá trình nghiên cứu, lai tạo, điều này phản ánh trình độ khoa học và kỹ thuật phát triển cao của nước Anh Còn ở Việt Nam, vốn là nước nông nghiệp, thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều loài hoa có tên gọi gắn bó với điều kiện sống của

cư dân nông nghiệp

Ngược lại, trong tiếng Việt có hai kiểu định danh dựa vào kích cỡ và vai trò trong y học của hoa thì lại không thấy xuất hiện trong tiếng Anh Điều này là

do Việt Nam là nước nông nghiệp, sự tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là y học chưa phát triển nên người dân có xu hướng chữa bệnh bằng các loài hoa và cây cỏ trong dân gian Vì vậy, đặc trưng vai trò trong y học của các loài hoa được người Việt lựa chọn để định danh hoa

Bên cạnh đó, về mặt số lượng thì ở một số đặc trưng cũng không hoàn

toàn có sự tương đồng, ví dụ: đặc trưng cấu tạo (tiếng Anh có 13 trong khi tiếng Việt có 36); hình dạng của sự vật (tiếng Anh 26 và tiếng Việt có số lượng là 34

Trang 12

10

đơn vị định danh) hay về hình dạng bộ phận cơ thể động vật (tiếng Anh có 5

trong khi tiếng Việt có đến 17 đơn vị)

Như vậy, ngoài những sự tương đồng thì cũng có những khác biệt về đặc điểm định danh các loài hoa trong tiếng Anh và Việt Điều này cho thấy việc lựa chọn lý do đặt tên gọi loài hoa ở mỗi dân tộc có thể giải thích bằng đặc điểm lịch

sử, tâm lý của dân tộc, phụ thuộc vào môi trường và điều kiện sinh sống của dân tộc đó, nghĩa là phụ thuộc vào các nhân tố ngoài ngôn ngữ

2.2.3 Về các biểu hiện ngôn ngữ trong các kiểu định danh

Trong phần này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích và đối chiếu các biểu hiện ngôn ngữ trong các kiểu định danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Chúng tôi sẽ chia thành các bảng nhỏ để thuận tiện cho việc đối chiếu

STT định danh Các kiểu Tiếng Anh

Tần số xuất hiện

Tiếng Việt

Tần số xuất hiện

1 Màu sắc

+tên hoa

yellow golden

multi-1 nhiều màu / bảy màu / ngũ sắc

5

blue green

Anh và người Việt đều chọn những sắc màu tiểu biểu, chủ đạo như vàng, trắng

và đỏ vì vậy, các màu sắc này xuất hiện với tần suất cao trong các tên gọi hoa

Trong hai ngôn ngữ, màu đỏ được thể hiện qua nhiều từ đồng nghĩa khác nhau

Ví dụ: trong tiếng Anh có red (màu đỏ) = fire (lửa) = blood (huyết/máu) =

scarlet (màu đỏ tươi) = cardinal (màu đỏ thắm) và trong tiếng việt có đỏ = lửa/hỏa = huyết = nhung = son môi

Tuy nhiên, về mặt số lượng các màu sắc dùng để định danh các loài hoa thì trong tiếng Việt nhiều và đa dạng hơn do tiếng Việt có sự vay mượn nhiều từ

Trang 13

11

đồng nghĩa từ tiếng Hán (ví dụ: trắng/ bạch; đen/huyền; nhiều màu/ngũ sắc,…) Màu blue (xanh nước biển) và green (xanh lá cây) được sử dụng nhiều để định

danh hoa trong tiếng Anh nhưng xuất hiện rất ít trong tiếng Việt do đó là loài hoa

nhập khẩu từ nước ngoài, ngược lại màu nâu, nhung xanh, cam có trong tiếng

Việt Nhưng không có trong tiếng Anh

Tiếng Việt

Tần

số Xuất hiện

1

lục bình / pingpong / đồng tiền / kiếm / rẻ quạt / xác pháo / cầu / đăng =lồng đèn / bông tai / giọt nước / buồm / ngọc / pháo bông / tòa sen

1

Về biểu hiện ngôn ngữ trong kiểu định danh “hình dạng của sự vật + tên hoa”, các sự vật được sử dụng để định danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng

Việt có sự tương đồng nhiều như: hình dạng star (ngôi sao), button (nút áo),

slipper (hài), bell (chuông), trumpet (kèn) và sun (mặt trời) Trong đó, hình dạng ngôi sao, hài và chuông có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong cả hai ngôn ngữ

Ngoài ra, các sự vật khác được sử dụng để định danh các loài hoa trong hai ngôn ngữ cũng khá đa dạng, các biểu hiện ngôn ngữ thể hiện hình dạng trong tiếng Việt chiếm ưu thế hơn tiếng Anh

Do sự khác nhau về môi trường sống, đặc điểm khí hậu, thời tiết và thổ nhưỡng giữa hai nước nên có những loài hoa chỉ có ở vùng này mà lại không có ở vùng kia Nước Anh có khí hậu lạnh giá có băng tuyết nên hình dạng giọt tuyết

và băng được sử dụng để định danh hoa mọc trên tuyết, hoa xứ lạnh như:

snowdrop (hoa giọt tuyết), ice plant (hoa băng) nhưng không có loại hoa như vậy

ở Việt Nam - có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Còn trong tiếng Việt, các sự vật được đưa vào định danh loài hoa là những sự vật quen thuộc, giản dị gắn liền với

văn hóa phương đông nói chung và văn hóa Việt nam nói riêng đó là chiếc lục

bình, tòa sen, xác pháo, lồng đen (đăng), quạt nan, v.v

Ngày đăng: 25/12/2020, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w