Luật TGPL năm 2017 đã khắc phục cơ bản những bất cập, hạn chế của hoạt động TGPL trong thời gian qua, cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổ chức thực
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NÔNG THỊ THU TRANG
VAI TRÒ CỦA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HỒ QUANG HUY
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hồ Quang Huy Các số liệu cũng như những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Tôi hoàn toàn xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Học viên
Nông Thị Thu Trang
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TGPL: Trợ giúp pháp lý
TGVPL: Trợ giúp viên pháp lý HĐPHLN: Hội đồng phối hợp liên ngành
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG 9
1.1 Một số vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý 9
1.2 Một số vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 18
1.3 Quy định hiện hành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 33
1.4 Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng 40
1.5 Kinh nghiệm quốc tế về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng và những bài học kinh nghiệm 43
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TẠI TỈNH CAO BẰNG 49
2.1 Khái quát đặc điểm của công tác trợ giúp pháp lý tại tỉnh Cao Bằng 49
2.2 Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng 54 2.3 Một số tồn tại, hạn chế của công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Cao Bằng và nguyên nhân 61
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TẠI TỈNH CAO BẰNG 66
3.1 Phương hướng 66
3.2 Giải pháp 68
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Luật Trợ giúp pháp lý (viết tắt là TGPL) năm 2017 đã được thông qua với tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành Luật TGPL năm 2017 đã bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước về xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và quan điểm về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Luật TGPL năm 2017 đã khắc phục cơ bản những bất cập, hạn chế của hoạt động TGPL trong thời gian qua, cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổ chức thực hiện TGPL của Nhà nước, chú trọng tính bền vững của công tác TGPL theo hướng lấy người được TGPL làm trung tâm, kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ TGPL, đề cao hiệu quả sử dụng ngân sách và khuyến khích sự đóng góp, hỗ trợ tài chính của xã hội cho hoạt động TGPL, tạo cơ sở pháp lý cho công tác TGPL phát triển bền vững, thể hiện đúng bản chất của TGPL là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đưa hoạt động TGPL vào nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện vụ việc TGPL, đặc biệt là các vụ việc tham gia tố tụng Trong khi đó, qua nhiều năm thực hiện cải cách tư pháp, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng tiếp tục khẳng định một trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là “ xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham
Trang 6gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [12] Các quan điểm chỉ đạo quan trọng này cho thấy, việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động có tính cấp thiết và mang tính quyết định đối với việc đổi mới hoạt động tư pháp Và đó cũng chính là điều kiện để trợ giúp viên pháp lý (viết tắt là TGVPL) và luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL có điều kiện tham gia tố tụng được thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, đồng thời các quyền bào chữa, bảo vệ của bị cáo, đương sự được đảm bảo hơn trên thực tế Từ đó vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng ngày càng được coi trọng, vị trí của TGVPL và luật sư ký hợp đồng cộng tác thực hiện TGPL được nâng cao, tham gia ngày càng sâu hơn vào các lĩnh vực tố tụng
Tuy nhiên, tại tỉnh Cao Bằng, chất lượng thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là: nhận thức về TGPL nói chung
và TGPL trong hoạt động tố tụng nói riêng của một bộ phận cán bộ làm công tác tiến hành tố tụng còn hạn chế; Số lượng vụ việc tham gia tố tụng còn rất thấp so với số lượng án phải giải quyết của các cơ quan tiến hành tố tụng và chỉ tập trung vào các vụ án hình sự mà chưa chú trọng đến các vụ án dân sự, hành chính; Công tác phối hợp thực hiện TGPL giữa Trung tâm và các cơ quan tiến hành tố tụng đôi khi chưa chặt chẽ, việc cung cấp các bản sao bản
án, quyết định tố tụng chưa kịp thời, đặc biệt là cung cấp các bản án phúc thẩm; Chất lượng vụ việc TGPL chưa được nâng cao, việc quản lý, đánh giá chất lượng vụ việc đôi khi chưa bảo đảm thực chất; Nhận thức của một số lãnh đạo cơ quan tiến hành tố chưa đồng đều, toàn diện; Sự phản hồi về chất lượng tham gia TGPL của đội ngũ TGVPL và Luật sư tham gia TGPL chưa được thường xuyên, chất lượng tham gia tố tụng chưa đồng đều Chính vì
Trang 7vậy, công tác TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnh vẫn chưa phát huy được toàn diện, đầy đủ ý nghĩa, vai trò và hiệu quả trên thực tế
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn hoạt động tại địa phương, tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ
thực tiễn tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Đề tài "Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài:
TS Tạ Thị Minh Lý Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL; thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL, từ đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động này trong thời gian tới
- Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý, năm 2008 Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về TGPL; thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL trong điều kiện đổi mới
- Luận văn thạc sĩ: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, năm 2012 Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện
- Luận văn thạc sĩ: “Hoạt động TGPL của Luật sư ở Việt Nam hiện nay” của Trần Thị Việt Hà, năm 2015 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý, thực trạng pháp luật và hoạt động TGPL của Luật sư Việt Nam Đưa
Trang 8ra một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Luật sư trong hoạt động TGPL ở Việt Nam
- Luận văn thạc sĩ: “Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự là TGVPL trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Thu Phương, năm
2015 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý, thực trạng thực hiện TGPL trong vai trò người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự của TGVPL, đưa ra những giải pháp nâng cao hiêu quả hoạt động bào chữa, bảo
vệ quyền lợi cho đương sự trong tố tụng hình sự của TGVPL
- Các bài viết, bài nghiên cứu về trợ giúp pháp lý: Vai trò của TGPL trong đảm bảo thực hiện quyền con người trong hoạt động tố tụng – Phan Thị Bích Thủy trong trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp Quảng Bình; Vai trò của TGVPL trong hoạt động tố tụng – Thanh Trịnh; Vai trò của TGVPL trong
tố tụng dân sự - Thanh Hà; Vai trò của TGVPL trong tố tụng dân sự - Thanh
Hà mục nghiên cứu, trao đổi – Trang thông tin điện tử của Cục Trợ giúp pháp lý; Vai trò của TGVPL với tư cách người bào chữa tại phiên tòa hình sự - Nguyễn Thị Nga, Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; Vai trò của TGVPL và luật sư cộng tác viên trong hoạt động tố tụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam – Lê Hằng Vân - Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Quảng
Nam; Vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng - Ngọc Hải-Phan Thủy (báo
Quảng Bình)
Nội dung các bài viết, bài nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lý luận về vai trò của TGVPL trong việc tham gia tố tụng, từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuất một số giải pháp để nâng cao vai trò, chất lượng, hiệu quả công tác của TGVPL trong giải quyết vụ án tố tụng nói riêng và hoạt động tham gia tố tụng nói chung Đặc biệt trong danh mục bài viết đã nêu ra
có bài viết của tác giả Ngọc Hải - Phan Thủy đăng trên báo Quảng Bình với tiêu đề "Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng", bài viết cũng đã
Trang 9nêu bật được một số vai trò cùng với một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, chưa có bài viết cũng như luận văn có nội dung nghiên cứu một cách toàn diện về vai trò của hoạt động TGPL về cả vai trò hoạt động của người thực hiện cũng như tổ chức thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, đặc biệt là tại địa bàn miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nguồn lực dành cho công tác này vẫn còn hạn chế Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn
để từ đó góp phần tìm ra những định hướng, cũng như giải pháp nâng cao vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng một cách toàn diện trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Cao Bằng, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nhằm thực hiện tốt hơn nữa vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu ra ở trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về TGPL, địa vị, vai trò, nhiệm vụ của tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng
Thứ hai, phân tích những quy định pháp luật tố tụng và pháp luật có liên quan về vai trò của TGPL trong các hoạt động tố tụng cụ thể
Thứ ba, làm rõ thực trạng thực hiện quy định pháp luật cũng như hoạt động thực tiễn về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnh Cao Bằng Chỉ ra những két quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Trang 10Thứ tư, đề xuất phương hướng, các giải pháp nâng cao và phát huy vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực trạng vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý về TGPL bao gồm nghiên cứu về vai trò của tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL, việc thực hiện TGPL trong các lĩnh vực tốt tụng cụ thể trong hoạt động tố tụng
Về thời gian: Nguồn số liệu giai đoạn từ năm 2018 – 2019 (từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2019)
Về không gian: Luận văn nghiên cứu vai trò của TGPL trong hoạt động
tố tụng từ thực tiễn tại địa bàn tỉnh Cao Bằng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về thực hiện chính sách bảo vệ quyền con người, quyền công dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên việc sử dụng các các phương pháp thu thập, xử lý số liệu, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và phân tích thông tin … để giải quyết những vấn đề đã đặt ra Cụ thể:
Tại chương 1 trình bày những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý và trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, tác giả sử dụng phương pháp thu thập,
Trang 11phân tích, tổng hợp để đưa ra những luận điểm, căn cứ và lập luận đối với các vấn đề trong nội dung đề tài
Tại chương 2, để có thể đánh giá một cách khách quan, chính xác thực trạng công tác trợ giúp pháp lý tại địa bàn tỉnh Cao Bằng, tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập, xử lý số liệu, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp kết quả số liệu các vụ việc trong thực tế của Trung tâm TGPL
Tại chương 3, để có thể đưa ra phương hướng, giải pháp thiết thực, đạt hiệu quả cao, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả chủ yếu đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phân tích thông tin
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đầu tiên ở tỉnh Cao Bằng về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng, đánh giá thực trạng
về vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng từ đó đưa ra những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao và phát huy vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết không chỉ cho các nhà lập pháp, nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các học viên cao học khác mà còn là tài liệu phục vụ cho đội ngũ những người thực hiện trợ giúp pháp lý trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình trong thực tế
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương Cụ thể:
Chương 1 Vấn đề lý luận về TGPL và TGPL trong hoạt động tố tụng
Trang 12Chương 2 Thực tiễn thực hiện vai trò của TGPL trong hoạt động tố
tụng tại tỉnh Cao Bằng
Chương 3 Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của TGPL trong
hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng
Trang 13Chương 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
1.1 Vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý
1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý
Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb Khoa học xã hội,
1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý” Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc
“hỗ trợ tư pháp” Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “Legal aid” trên thế giới
và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là“trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các
văn bản pháp luật và nhiều tài liệu chính thống khác ở nước ta hiện nay
Trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn
từ nước Anh và đã có một lịch sử hơn 500 năm Ngay từ thế kỷ 15, pháp luật Anh quốc đã quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: "chính nghĩa" cần được dành chung cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ được hưởng - điều đó không có gì thay thế được
Tuy nhiên, trước thế kỷ 20, TGPL mới manh nha tại các nước vì khi đó nhà nước tư bản phát triển rất mạnh, phúc lợi xã hội kém, TGPL mới chỉ dừng lại ở ý tưởng của một số nhà chính trị tiến bộ, chứ chưa triển khai có tổ chức
Ở một số nước châu Âu theo hệ thống luật án lệ như ở Anh, thì xuất phát từ yêu cầu phải có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng, xuất phát từ công lý đòi hỏi nhằm tránh những vụ án oan nên ban đầu là các luật sư với nghĩa vụ bảo đảm công lý đã giúp các bên trên cơ sở tự nguyện, thiện nguyện
Trang 14Theo quy tắc và hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự thì thuật ngữ TGPL bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật, giúp đỡ và đại diện cho người bị giam giữ, người bị bắt hoặc
tù nhân, người bị tình nghi hoặc bị buộc tội hoặc phạm tội hình sự và cho nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tư pháp hình sự miễn phí cho những người có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc theo yêu cầu của công lý Hơn nữa, TGPL cũng bao hàm cả khái niệm giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lý và cung cấp các dịch vụ khác cung cấp cho mọi người, tuy nhiên không phải thực hiện độc lập mà thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp và quá trình tư pháp phục hồi
Ở nước ta, TGPL ra đời khá muộn so với lịch sử nền tư pháp Việt Nam Hoạt động này được nghiên cứu từ năm 1995 và ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển của những năm đầu đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của dịch vụ pháp lý Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân ngày một tăng đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động TGPL
Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối tượng chính sách, thành lập Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp Theo đó, Cục TGPL được thành lập thuộc Bộ Tư pháp, vừa có chức năng giúp Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về TGPL, vừa trực tiếp thực hiện TGPL trong trường hợp cần thiết Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâm TGPL trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập để tham mưu cho Ủy ban nhân
Trang 15dân tỉnh quản lý và thực hiện hoạt động TGPL tại địa phương Và cũng chính trong Quyết định này, thuật ngữ TGPL được sử dụng chính thức tuy nhiên, phải đến khi Luật TGPL năm 2006 ban hành thì khái niệm TGPL mới được
đề cập một cách chính thức (tại Điều 3)
Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt động TGPL của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra quan niệm chung về TGPL một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bản của nó Theo quan niệm chung hiện nay thì TGPL được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội bằng các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội
Theo Điều 2 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 thì TGPL được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật [10] Với tính chất toàn diện và đầy đủ như vậy, luận văn sử dụng định nghĩa này là định nghĩa xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận văn
Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Tổ chức TGPL của Nhà nước ra đời đã tạo cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng
có được điều kiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với
Trang 16các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật
và góp phần thực hiện công bằng xã hội
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động trợ giúp pháp lý
- Là một loại hình dịch vụ công đặc biệt:
+ Với tư cách là một trong những chức năng xã hội của nhà nước và trách nhiệm của nhà nước, trong hoạt động TGPL, người thực hiện TGPL hoàn toàn không được nhận bất kỳ khoản thù lao, lợi ích vật chất nào từ người được TGPL, mà hoạt động này chỉ hướng đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo
về mặt pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng được TGPL
+ Người thực hiện TGPL: Bao gồm những người đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn riêng, theo quy định tại Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người thực hiện TGPL gồm có:
"- Trợ giúp viên pháp lý;
- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của
tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
- Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
- Cộng tác viên trợ giúp pháp lý." [10]
Nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL và phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp hóa, Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư tham gia thực hiện TGPL
- Là hoạt động có tính chính trị, có tính pháp lý và có tính kinh tế
+ Tính chính trị:
Trang 17Trong hoạt động TGPL, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, thể hiện định hướng chính trị, chính sách xã hội của Nhà nước ta TGPL vừa là biện pháp tăng cường pháp chế, vừa góp phần thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đối tượng này, đảm bảo công bằng xã hội, quyền bình đẳng khi tiếp cận pháp luật của các đối tượng
+ Tính pháp lý:
Thể hiện qua việc quy định từ cơ cấu tổ chức đến hoạt động của tổ chức, từ đối tượng được TGPL đến người thực hiện TGPL, đặc biệt là việc quy định trình tự thủ tục phải tuân thủ và đảm bảo thực hiện khi thực hiện TGPL cho các đối tượng
+ Tính kinh tế:
Hoạt động TGPL không thu phí đối với đối tượng được TGPL, các Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp là đơn vị sự nghiệp không có thu của Nhà nước, tuy nhiên giá trị kinh tế của hoạt động lại thể hiện ở việc Nhà nước thông qua việc cung ứng tài chính cho hoạt động TGPL, qua đó sẽ góp phần giữ ổn định xã hội, tránh được những chi phí dành cho việc khiếu kiện kéo dài, từ đó tạo tâm lý ổn định cho người dân an tâm lao động, sản xuất tạo ra của cải, là tiền đề để tạo ra giá trị kinh tế vô cùng to lớn
- Là dịch vụ công được xã hội hóa:
Thể hiện ở việc Nhà nước đã tạo ra cơ chế để các cá nhân, tổ chức khi
có đủ điều kiện theo quy định pháp luật có thể tham gia thực hiện TGPL thông qua việc cho phép các tổ chức được đăng ký tham gia TGPL tự nguyện bằng chính nguồn lực của cá nhân, tổ chức đó hoặc thông qua việc ký hợp đồng với các tổ chức này để đáp ứng cầu TGPL bằng nguồn lực được chi trả
từ ngân sách nhà nước
- Đối tượng được trợ giúp pháp lý:
Trang 18Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, thì đối tượng được TGPL bao gồm:
"- Người có công với cách mạng
- Người thuộc hộ nghèo
- Trẻ em
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
- Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo
- Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:
+ Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
+ Người nhiễm chất độc da cam;
+ Người cao tuổi,
+ Người nhiễm HIV "[10]
Trên cơ sở kế thừa quy định về đối tượng được TGPL theo Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng diện người được TGPL (từ 06 diện người lên 14 diện người) để phù hợp với các chính sách đặc thù và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam Hai đối tượng được kế thừa hoàn toàn từ quy định của Luật TGPL năm 2006 là người thuộc hộ nghèo và người có công với cách mạng; hai đối tượng được kế thừa và mở rộng là trẻ em không
Trang 19nơi nương tựa thành tất cả trẻ em, người dân tộc thiểu số "thường trú" thành
"cư trú" tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cư trú sẽ rộng hơn thường trú vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú)
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 đã bổ sung hai nhóm người là người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi (hiện nay đang thuộc trường hợp
cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự) và người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo để bảo đảm chính sách hình sự đối với đối tượng này Ngoài ra, Luật TGPL năm 2017 cũng có quy định mới trong việc áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 08 nhóm người cụ thể để tạo điều kiện cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý và các đối tượng khác để phù hợp với những văn bản luật khác là Luật Người cao tuổi năm 2010, Luật Người khuyết tật 2010, Luật Phòng chống mua bán người năm 2011
1.1.3 Nguyên tắc của hoạt động trợ giúp pháp lý
Nguyên tắc nghề nghiệp là những chuẩn mực, những yêu cầu thuộc về bản chất của một loại hình nghề nghiệp buộc các chủ thể khi tham gia vào quá trình hành nghề đều phải tuân theo, phải thực hiện đúng
TGPL có thể coi là một ngành nghề đặc biệt với những chuẩn mực, yêu cầu nhất định nhằm đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ pháp lý, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp của đối tượng được TGPL, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật Những chuẩn mực về hành vi, phẩm chất, đạo đức, tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh nghề nghiệp và những yêu cầu đối với tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải tuân theo được gọi là quy tắc nghề nghiệp TGPL
Trang 20Nguyên tắc hoạt động TGPL được quy định tại Điều 3 Luật TGPL năm
2017 bao gồm các quy định:
- Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp TGPL [10]
Ngày 8/12/2008, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 09/2008/QĐ-BTP về việc ban hành quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý Theo đó, các tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm túc 12 quy tắc nghề nghiệp TGPL Đó là
+ Giữ gìn và không ngừng nâng cao uy tín nghề nghiệp;
+ Trung thực, khách quan;
+ Tuân thủ và tôn trọng pháp luật;
+ Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;
+ Bảo đảm bí mật thông tin về vụ việc TGPL;
+ Tác phong, thái độ và hành vi ứng xử đúng mực;
+ Không phân biệt đối xử;
+ Tôn trọng, hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp;
+ Tôn trọng, phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án
+ Cộng tác, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tin đại chúng;
+ Cộng tác, hỗ trợ chính quyền cơ sở;
+ Phối hợp, cộng tác với các cơ quan, tổ chức, cá nhân;[18]
- Kịp thời, độc lập, tôn trọng sự thật khách quan: Đây là nguyên tắc quan trọng, thể hiện đặc trưng của nghề TGPL với tư cách là nghề luật, gắn với thực thi pháp và áp dụng pháp luật [10]
Người thực hiện TGPL phải luôn trung thực, tôn trọng sự thật khách quan để tìm ra bản chất khách quan của sự việc, tránh những sai sót không
Trang 21đáng có, phải có trách nhiệm thu thập đầy đủ, toàn diện các thông tin cần thiết
về vụ việc TGPL và các tài liệu có liên quan
Tổ chức thực hiện TGPL có trách nhiệm sử dụng các biện pháp cần thiết để hỗ trợ người thực hiện TGPL trong việc thu thập đầy đủ các thông tin tài liệu liên quan; không can thiệp trái pháp luật vào quá trình thực hiện vụ việc của người thực hiện TGPL hoặc có hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ việc
Việc thực hiện TGPL phải kịp thời, đảm bảo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng, tuân thủ một cách nghiêm túc quy định về trình tự, thủ tục thực hiện TGPL
- Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL: Đây cũng chính là một trong những nguyên tắc của hoạt động TGPL, giữ vai trò quyết định, chi phối tất cả hoạt động TGPL [10]:
Nguyên tắc này đòi hỏi người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL phải luôn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đặt lợi ích của người được TGPL làm mục đích hoạt động của mình; phải sử dụng mọi biện pháp để hướng đến bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp, tôn trọng các quyền của người được TGPL; bảo đảm thời gian, tiến độ chất lượng vụ việc TGPL
- Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL [10]:
Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của hoạt động TGPL Đối tượng được TGPL là những đối tượng đặc thù, bao gồm người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng chính sách là những người yếu thế trong xã hội, họ không có khả năng tài chính Với vai trò là một chính sách xã hội, Nhà nước
đã quy định nguyên tắc không thu phí, lợi ích vật chất, lợi ích khác từ người
Trang 22được TGPL để thực hiện chức năng xã hội của mình Quy định này nhằm làm
rõ hơn việc miễn phí hoàn toàn trong hoạt động TGPL đối với đối tượng được TGPL, kể cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất
1.1.4 Nội dung trợ giúp pháp lý
Theo quy định tại Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, thì Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực trừ lĩnh vực kinh doanh thương mại với các hình thức TGPL bao gồm: tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng
Theo quy định tại Điều 26 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 thì phạm vi thực hiện TGPL bao gồm:
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc
một trong các trường hợp sau đây: người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương; vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương; vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ở Trung ương yêu cầu [10]
Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng [10]
Tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi đăng ký [10]
1.2 Vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
1.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng là hoạt động của Trợ giúp viên pháp lý (viết tắt là TGVPL) hoặc luật sư thực hiện TGPL cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý bằng việc tham gia tố tụng với tư cách
là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng
Trang 231.2.2 Đặc điểm của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Về người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, đối với việc thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, người thực hiện phải đảm bảo thỏa mãn điều kiện là Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư ký hợp đồng tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý Cụ thể Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư, bổ sung tiêu chuẩn phải trải qua tập sự nghề (trợ giúp pháp lý hoặc luật sư) tại khoản 3 Điều 19 của Luật Việc tập sự TGPL tương tự như tập sự luật sư với tư cách là một dịch vụ pháp lý tương đương, điều này rất cần thiết để chuyên viên pháp lý
có thời gian vận dụng kiến thức, giúp họ hoàn thiện những kỹ năng, đặc biệt
là kỹ năng tham gia tố tụng để tự tin cung cấp dịch vụ pháp lý khi được bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý Đồng thời, Luật cũng tiếp tục ghi nhận sự tham gia của đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp luật có kinh nghiệm đang hoạt động có hiệu quả, đồng thời chọn lọc những người có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm thực tiễn và bảo đảm về mặt thời gian tham gia TGPL để làm cộng tác viên TGPL một cách thực chất, hiệu quả Đối với Tư vấn viên pháp luật hoặc Cộng tác viên TGPL chỉ được thực hiện TGPL với hình thức
là tư vấn pháp luật hoặc đại diện ngoài tố tụng Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo năng lực người thực hiện TGPL để từ đó, có thể bào chữa, bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong các
vụ việc tố tụng
Về người được trợ giúp pháp lý, bên cạnh việc thỏa mãn là đối tượng thuộc một trong các diện quy định tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017, đối tượng trong hoạt động tố tụng còn là đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính, là người bị buộc tội, bị can, bị cáo hoặc người bị hại trong các vụ án hình sự Tóm lại, đối tượng của TGPL trong hoạt động tố tụng là những đối tượng thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL và có tư cách
Trang 24pháp lý được các cơ quan tiến hành tố tụng công nhận trong việc quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng
Ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật TGPL năm
2017, theo đó, việc tham gia tố tụng của người thực hiện TGPL là TGVPL hoặc luật sư thực hiện TGPL tham gia tố tụng là việc tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng
Như vậy, về cơ bản, hoạt động tham gia tố tụng của TGVPL gần giống như của luật sư, tuy nhiên, có một số điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhất, luật sư thực hiện hoạt động tố tụng cho nhiều đối tượng,
trong khi đó, đối tượng của TGVPL thu hẹp chỉ những người thuộc diện được TGPL theo pháp luật TGPL mới được hưởng dịch vụ pháp lý này
Thứ hai, luật sư thực hiện hoạt động tố tụng ở tất cả các lĩnh vực, còn
TGVPL thực hiện hoạt động tố tụng ở các lĩnh vực, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại
Thứ ba, hoạt động tham gia tố tụng của luật sư là hoạt động có thu phí,
còn hoạt động tham gia tố tụng của TGVPL là hoạt động miễn phí
Việc thực hiện TGPL trong hoạt động tụng được đảm bảo thực hiện theo trình tự, thủ tục (Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017):
"Khi người được trợ giúp pháp lý yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ việc, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý
Trường hợp người được trợ giúp pháp lý là người bị bắt, người bị tạm giữ yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp pháp lý, trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm thụ lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý
Trang 25Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp
lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý cảu bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương Ngay sau khi nhân được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm TGPL nhà nước có trách nhiệm thụ lý theo quy định và cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng
Việc cử người tham gia tố tụng phải được lập thành văn bản và gửi cho người được trợ giúp pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan."[10]
Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng có nhiều quy định mới về trợ giúp pháp lý trong tư pháp hình sự: đối tượng trợ giúp pháp lý được mở rộng hơn (từ 06 nhóm đối tượng lên thành 14 nhóm); trách nhiệm của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương khi người được trợ giúp pháp lý có yêu cầu trong thời hạn Luật định (khoản 3 Điều 31); Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia
Trang 26chỉ định bào chữa (Điều 71)[4] Đồng thời, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam
cũng đã quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam:
"được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, TGPL" (điểm đ khoản 1 Điều 9)[11]
Ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn
2015 - 2025, Đề án ra đời tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao chất lượng công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, một trong những nội dung trọng tâm đổi mới được nêu trong Đề án đó chính là đổi mới trọng tâm hoạt động TGPL, chú trọng thực hiện nhiệm vụ chính là cung cấp vụ việc TGPL, đặc biệt là những vụ việc trong lĩnh vực tham gia tố tụng Có thể nói đây là nội dung mang tính định hướng cho hoạt động TGPL và cũng khẳng định vị trí, vai trò của hình thức tham gia tố tụng trong hoạt động TGPL trong giai đoạn hiện nay
1.2.3 Nguyên tắc trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng được thực hiện thông qua quá trình người thực hiện TGPL phối hợp với người tiến hành tố tụng, vì vậy nó luôn được đặt trong mối quan hệ giữa người thực hiện TGPL - đối tượng được TGPL - Cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, bên cạnh việc đảm bảo tất cả các nguyên tắc của hoạt động TGPL, TGPL trong hoạt động tố tụng cần phải chú trọng cả những nguyên tắc đối với cả đội ngũ người tiến hành tố tụng đó chính là đảm bảo những nguyên tắc trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính
1.2.4 Nội dung trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng, do
Trang 27đó hoạt động này chủ yếu thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính
Là một trong những hình thức chính của hoạt động TGPL, khác với hình thức tư vấn pháp luật chủ yếu thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng là một hình thức thực hiện mà nội dung tập trung chủ yếu vào nội dung tố tụng với mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, hoạt động này không chỉ chịu sự điều chỉnh của các văn bản về TGPL mà còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật quy định về tố tụng, cụ thể ở đây là Bộ luật
Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đảm bảo tuân thủ một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh theo trình tự thủ tục riêng, từ việc giải thích quyền được TGPL đến việc thông tin, thông báo về TGPL và tiếp nhận, thụ lý và thực hiện TGPL theo quy định của các văn bản tố tụng đó quy định
Thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng không chỉ là hoạt động riêng của người thực hiện TGPL, mà còn là kết quả của sự phối hợp của Trung tâm TGPL với các cơ quan tiến hành tố tụng, là hoạt động của người thực hiện TGPL trong mối quan hệ công tác với những người tiến hành tố tụng
1.2.5 Mối quan hệ giữa trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng với quyền con người, quyền công dân
Để tăng cường bảo vệ quyền con người, các quốc gia đều quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền cùng với việc đặt tổ chức và hoạt động của công quyền trong khuân khổ Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh đó, quyền con người cũng gắn liền với các trào lưu tiến bộ xã hội của nhân loại để không ngừng mở rộng và nâng cao các giá trị của dân chủ, xác lập vị thế, vai trò quan trọng của các cá thể - con người, chủ thể của mọi hành vi xã hội Pháp luật trở thành một trong các công cụ quan trọng của Nhà nước pháp quyền điều chỉnh xã hội để bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia Trong đó,
Trang 28pháp luật với công chúng, nhất là những bộ phận dân nghèo, người yếu thế,
dễ bị tổn thương trong xã hội là một vấn đề mà các chế độ chính trị khác nhau
ở tất cả các nước đều quan tâm nghiên cứu và giải quyết theo cách riêng của mình sao cho hiệu quả, phù hợp với truyền thống pháp luật, điều kiện kinh tế
- xã hội Cộng đồng quốc tế cũng đã đi đến sự thống nhất trong nhận thức chung về bảo vệ quyền con người thông qua các điều ước quốc tế Trong đó, TGPL vừa được khẳng định như một quyền độc lập của con người vừa là công cụ để bảo vệ quyền công dân khác Điều này thể hiện rất rõ trong những nội dung của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng Liên hợp quốc) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Thông qua và để ngỏ cho các nước ký kết, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966)
Để ghi nhân những nội dung cơ bản của nhân quyền và yêu cầu các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền long trọng tuyên bố: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị" [25] Là
một loại hình dịch vụ pháp lý có miễn phí, giảm phí, TGPL ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nghề luật sư và gắn liền với yêu cầu của một xã hội thượng tôn pháp luật, suy tôn pháp quyền Hiện tại, một số quốc gia đã quy định quyền được TGPL của công dân trong Hiến pháp và các đạo luật cụ thể, đồng thời có cơ chế về nguồn lực để bảo đảm thực thi trong thực tiễn cuộc sống Tại Hiến pháp Áo (Khoản 3 Điều 24) khẳng định: "các quy phạm có liên quan của Hiến pháp bảo đảm cho người nghèo trước sự quản lý của hoạt động tư pháp có quyền yêu cầu và tiến hành biện hộ cho bản thân", theo đó, TGPL là quyền mà mọi công dân đều được hưởng, bao gồm cả người nghèo Bản tuyên bố mang tính Hiến pháp của nước Pháp đã khẳng định rõ: "khi
Trang 29công dân gặp những vấn đề về pháp luật, có quyền hưởng sự trợ giúp và yêu cầu Chính phủ TGPL cho họ" hoặc "công dân được hưởng quyền bảo đảm pháp luật xã hội, Chính phủ có nghĩa vụ bảo đảm pháp luật cho công dân"
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước rất quan tâm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là nhóm công dân yếu thế ngay từ đầu lập nước với chế định "tư pháp bảo trợ" năm 1946 Chỉ 02 tháng sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhằm bảo đảm có Luật sư thực hiện bào chữa cho bị can, bị cáo trước các phiên xét xử tại Tòa án của chế độ dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 10/SL ngày 10/10/1945 về việc duy trì tổ chức luật sư cũ Hiến pháp năm 1946 (Điều 67) quy định: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, trong đó có quy định về chế
độ "Tư pháp bảo trợ", theo đó “nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh
án sẽ cử một Luật sư hoặc một bào chữa viên để bào chữa” Tiếp nối tinh thần
đó, các bản Hiến pháp của nước ta, mà trực tiếp là tại Điều 50, 51 Hiến pháp
năm 1992 đã quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật” [8] và "Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân”[8] Đặc biệt
khi công dân bị truy cứu trách nhiệm có quyền sử dụng dịch vụ pháp lý theo
Điều 132, Hiến pháp năm 1992 thì “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”[8]
Như vậy, quyền con người đã được công nhận chính thức, thành Hiến định ở Việt Nam, để từ đây được thể chế thành các quyền của công dân trong
Trang 30các luật chuyên ngành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước và các lực lượng toàn xã hội Theo đó, cơ chế bảo đảm quyền con người là tổng thể các chính sách và biện pháp mà Nhà nước
và xã hội thực hiện để các quyền con người trong mọi điều kiện, hoàn cảnh đều được thực thi trên thực tế phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Đồng thời, các cơ quan bảo vệ pháp luật có chức năng bảo
vệ các quyền cụ thể của công dân thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử, xử lý các hành vi vi phạm quyền công dân
Trợ giúp pháp lý được hình thành từ năm 1997 để góp phần bảo vệ quyền con người, tiếp tục theo tư tưởng "tư pháp bảo trợ" trên cơ sở chỉ đạo tại nhiều văn kiện của Đảng, trong đó có Chỉ thị số 12-CT/TƯ ngày 12/7/1992 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta" Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII và chủ trương của Ban bí thư Trung ương Đảng tại Thông báo số 485/CV-VPTW ngày 31/5/1995 của Văn phòng Trung ương Đảng nêu rõ:
"cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật" và khẳng định cần "tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí " để họ không bị thiệt thòi do điền kiện kinh tế, văn hóa, địa lý mang lại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra chủ trương "đẩy mạnh công tác TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách theo hướng xã hội hóa" hoặc "từng bước xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp"
Trang 31Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (ngày 21/5/2002), Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 -
2010 (Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ), Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ) đã khẳng định TGPL là một chính sách góp phần xóa đói, giảm nghèo và xác định yêu cầu:
"Hoàn thiện khuân khổ pháp luật, tăng cường TGPL và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật để người nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp luật"
Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-
CP của Chính phủ nhằm hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo
Có thể nói, bảo vệ quyền con người của nhóm công dân yếu thế là bản chất chủ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chính sách dân tộc và dân vận của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa trong nhiều văn bản pháp luật nói chung và trong các văn bản pháp luật về TGPL nói riêng, bảo đảm khuân khổ pháp lý cho TGPL hoạt động hiệu quả, khẳng định vai trò của pháp luật trong bảo đảm quyền con người, góp phần ổn định trật tự xã hội, yên lòng dân, thúc đẩy sự pháp triển chung của đất nước
Trợ giúp pháp lý là công cụ bảo vệ quyền con người cho nhóm công dân đặc biệt
Trang 32Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 tại Điều 7 đã quy định người được TGPL là nhóm người được hưởng ưu đãi của nhà nước do có công lao to lớn đóng góp cho đất nước trong sự nghiệp giành độc lập của dân tộc hoặc nhóm yếu thế, bị rào cản kinh tế, ngôn ngữ hoặc thể chất trong việc tự bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp khi có vướng mắc, tranh chấp pháp luật
Ngoài ra đối tượng được TGPL còn được xác định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Bên cạnh đó, TGPL còn thực hiện cho các đối tượng theo các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về TGPL trong phạm vi thời gian và địa bàn do chương trình, dự án đó quy định
Ở Việt Nam, TGPL đang ngày càng khẳng định được vị trí trong đời sống xã hội như một biện pháp pháp luật do Nhà nước tổ chức thực hiện để góp phần bảo vệ quyền công dân và được điều chỉnh bằng một đạo luật Với
tư cách vừa là quyền, vừa là công cụ để bảo vệ các quyền cụ thể khác của công dân trong từng lĩnh vực xã hội nhất định, TGPL nằm trong phạm trù hoạt động chung của tiến bộ và phát triển nhân loại
TGPL ra đời đã bổ sung thêm cho công dân nghèo một loại dịch vụ miễn phí để họ sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền côn dân khi bị vi phạm hoặc đe dọa bị vi phạm Đồng thời, TGPL bổ sung cho thị trường dịch
vụ pháp lý một địa chỉ làm tăng tính cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch
vụ pháp lý nói chung Qua dịch vụ này, người dân được nâng cao hiểu biết pháp luật, khuyến nghị có ý thức tôn trọng pháp luật; tăng khả năng ứng xử tích cực với pháp luật, giúp bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và xã hội
Do gắn liền với quyền được bảo vệ của con người, hoạt động TGPL có tác động mạnh mẽ đến quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người Thực hiện tốt chính sách TGPL trong thực tế là một trong những bộ phận quan trọng của cơ chế bảo đảm xác định đúng đắn về quyền
Trang 33con người và thực hiện các quyền con người TGPL chính là một biện pháp
mà Nhà nước sử dụng như công cụ để bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận quyền con người, quyền công dân
1.2.6 Trách nhiệm phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Trợ giúp pháp lý là chính sách của Đảng và Nhà nước, để thực hiện đồng bộ và có hiệu quả chính sách này cần có sự phối hợp tham gia của rất nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng
Luật Trợ giúp pháp lý (Khoản 2 Điều 27) đã quy định: "tham gia tố tụng là một hình thức TGPL do Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL nhà nước và Luật sư thực hiện"[10] Để hướng dẫn chi tiết thi hành vấn đề TGPL trong hoạt động tố tụng, Luật TGPL (Điều 52) quy định: "Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này"[10] Luật TGPL đã quy định
một số vấn đề về hoạt động tham gia tố tụng, như: Nội dung tham gia, việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng và hiệu lực của giấy chứng nhận; thẩm quyền, thời hạn cử người tham gia tố tụng để các ngành có căn cứ hướng dẫn thi hành Ngày 29/6/2018, liên ngành Tư pháp - Công an - Quốc phòng - Tài chính - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng Như vậy, các quy định pháp luật TGPL hiện hành đã xác định cụ thể nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, các Trung tâm
và Chi nhánh của Trung tâm liên quan đến công tác phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng Đây là một bước tiến lớn nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cơ quan thông qua việc xác lập cơ chế chịu trách nhiệm
và cơ chế phối hợp trong việc cử người có đủ tiêu chuẩn tham gia tố tụng;
Trang 34thẩm quyền, thời hạn, trình tự thủ tục đăng ký người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự là đối tượng được TGPL; nội dung phối hợp giữa Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm với các cơ quan tiến hành
tố tụng Cơ chế phối hợp thường xuyên được thiết lập thông qua Hội đồng phối hợp liên ngành (viết tắt là HĐPHLN) về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và ở từng địa phương Việc Hội đồng chỉ đạo thống nhất công tác phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng đã tạo điều kiện cho ngành
tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng và các ngành có liên quan cùng tháo gỡ
và triển khai thực hiện tốt chính sách TGPL của Đảng và Nhà nước
Các quy định pháp luật về phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng đã tạo cơ sở pháp lý và các yếu tố thực tiễn thuận lợi cho các TGVPL, đội ngũ Luật sư tham gia tố tụng tại các giai đoạn tố tụng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch của quá trình tố tụng, các điều kiện và nguyên tắc làm việc, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
là người nghèo và đối tượng chính sách
Trách nhiệm của Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các Chi nhánh của Trung tâm:
Có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
cơ sở giam giữ và trại giam một số văn bản liên quan đến thực hiện TGPL như: Bảng thông tin về TGPL, Tờ thông tin về TGPL, Đơn yêu cầu TGPL; đặc biệt là Bản thông tin về người được TGPL, Biên bản giải thích về quyền
được TGPL miễn phí để cung cấp cho đương sự, Sổ theo dõi vụ việc TGPL theo mẫu để các cơ quan có thẩm quyền tố tụng, cơ sở giam giữ, trại giam
theo dõi việc TGPL; Có trách nhiệm cung cấp cho cơ sở giam giữ băng ghi
âm, đĩa ghi âm, USB hoặc phương tiện khác có chứa nội dung thông tin về
TGPL dạng âm thanh;
Trang 35Khi nhận được thông báo, thông tin của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm có trách nhiệm kiểm tra diện người có yêu cầu TGPL, bảo đảm người được TGPL đúng đối tượng; cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL có đủ tiêu chuẩn tham gia tố tụng; nghiệm thu hồ sơ vụ việc TGPL và chi trả bồi dưỡng; giải quyết các khiếu nại theo quy định; phối hợp với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, người tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện TGPL của Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư tham gia tố tụng trong việc bảo đảm tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về TGPL và quy định của pháp
luật tố tụng
Trợ giúp viên pháp lý và Luật sư ký hợp đồng tham gia thực hiện TGPL có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật
về TGPL
Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng
Trách nhiệm truyền thông về TGPL: các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ
sở giam giữ thực hiện việc niêm yết bảng thông tin về TGPL, đặt hộp tin TGPL tại trụ sở của các cơ quan, niêm yết tờ thông tin về TGPL trong buồng tạm giữ, buồng tạm giam, tại nơi làm thủ tục tiếp nhận người bị tam giữ, người bị tạm giam, tại nơi làm thủ tục tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, phòng thăm gặp, phòng làm việc của người vào chữa và nơi sinh hoạt chung của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; phát miễn phí tờ gấp pháp luật, đơn yêu cầu TGPL Đồng thời, Trung tâm còn có trách nhiệm phối hợp thực hiện các hoạt động truyền thông và hướng dẫn về TGPL tại các đơn
vị trong ngành
Trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin về TGPL: ngay tại thời
bắt, tạm giữ, lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người bị hại, lấy
Trang 36lời khai đương sự, đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc tại thời điểm gửi thông báo thụ lý vụ án, gửi thông báo nhận đơn yêu cầu thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển cho họ đọc Bản thông tin về người được TGPL theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư để người được TGPL đọc và ký xác nhận Trường hợp họ không
tự đọc được thì cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho họ biết
Nếu họ tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý thì phải giải thích
rõ cho họ về quyền được TGPL miễn phí Trong tố tụng hình sự, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể nội dung và điền thông tin vào Biên bản giải thích về quyền được TGPL miễn phí; trong
tố tụng dân sự và tố tụng hành chính thì phải giải thích quyền được TGPL
Trong tố tụng hình sự:
Trường hợp đương sự tự nhận mình là người được TGPL và có yêu cầu TGPL thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản (theo mẫu) cho Trung tâm và phải ghi vào biên bản tố tụng, lưu
hồ sơ vụ án Đối với người bị bắt, bị tạm giữ thì ngoài việc thông báo bằng văn bản thì người tiến hành tố tụng phải thông báo ngay bằng điện thoại cho
Trung tâm
Trường hợp đương sự tự nhận mình là người được TGPL và chưa có yêu cầu TGPL thì thông tin (theo mẫu) cho Trung tâm, Chi nhánh biết để thực hiện việc kiểm tra diện người được TGPL, của người TGPL hoặc
thông tin lại
Chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội thuộc diện được TGPL theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì đề nghị
Trung tâm, chi nhánh của ngay người thực hiện TGPL bào chữa cho họ
Trang 37Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: Việc thông báo, thông tin được thực hiện như thông báo, thông tin trong tố tụng hình sự, tuy nhiên việc
thông báo không phải ghi vào biên bản tố tụng
Trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trong các hoạt động tham gia tố tụng Cụ thể: đăng ký
bào chữa, đăng ký người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra, lịch xét
xử cho tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL; tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện TGPL gặp gỡ, tiếp xúc với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm hỏi cung, lấy lời khai cho người thực hiện TGPL; thông báo lịch xét xử bằng văn bản trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính dưới hình thức bảo đảm cho tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL ít nhất 10 ngày trước ngày xét xử (07 ngày nếu xét xử rút gọn); ghi rõ trong bản án, quyết định thông tin về người thực hiện TGPL và ý kiến, quan điểm bào chữa hoặc bảo vệ của họ; xác nhận về thời gian hoặc công việc của người thực hiện TGPL khi làm việc với các cơ quan
1.3 Quy định hiện hành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
1.3.1 Trợ giúp pháp lý trong tố tụng Hình sự
Trong tố tụng hình sự, TGPL bao gồm các hoạt động tư vấn pháp lý, hỗ trợ và đại diện cho người bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tù giam, bị tình nghi hay
bị cáo buộc, hoặc bị buộc tội và cho các nạn nhân, nhân chứng trong quá trình
tố tụng hình sự, được cung cấp miễn phí cho những người không có đủ điều kiện hoặc khi lợi ích công lý đòi hỏi như vậy Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì TGVPL là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự bắt đầu ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi kết thúc việc xét xử với tư cách là Người bào chữa; Người bảo vệ quyền
Trang 38và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự Hoạt động của TGVPL trong tố tụng hình sự mang tính đặc thù bởi đây là chủ thể đại diện để thực thi trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước đối với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định cụ thể về thực hiện trợ giúp trong hoạt động tố tụng:
- Bổ sung tư cách của TGVPL trong tham gia tố tụng:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ghi nhận người bào chữa bao gồm Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân Trong bối cảnh ra đời sau, Luật TGPL năm 2006 đã ghi nhận chức danh TGVPL là người đại diện hợp pháp để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hình sự Thực tiễn quá trình triển khai các hoạt động nghiệp vụ tố tụng trong những năm qua, đội ngũ TGVPL gặp không ít khó khăn xuất phát từ việc tư cách TGVPL chưa được ghi nhận tại văn bản tố tụng cao nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, do đó khi thực hiện các hoạt động tố tụng, TGVPL thực hiện theo quyền và nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp, do đó có hạn chế hơn so với quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, dẫn đến quá trình tác nghiệp chưa được bảo đảm Thậm chí, ở một số nơi, cơ quan tiến hành tố tụng
từ chối TGVPL tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho người được TGPL Do đó, để khắc phục được những hạn chế đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận TGVPL với tư cách là người bào chữa tạo ra
sự thống nhất trong quá trình thực hiện về hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự, cụ thể:
Trang 39Tại Điều 72, Điều 83, Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là:
"+ Luật sư
+ Người đại diện
+ Bào chữa viên nhân dân
+ Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý" [4]
- Bổ sung trách nhiệm cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo, giải thích quyền được trợ giúp pháp lý
Mặc dù các biện pháp thông tin, truyền thông về TGPL đã được thực hiện tích cực trong thời gian qua, nhưng do nhận thức và hiểu biết của người dân còn hạn chế, nhất là người nghèo, người dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa, miền núi là những người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc có trình độ dân trí thấp, không biết chữ nên họ chưa hiểu, chưa nhận thức được về quyền được TGPL của mình hoặc không biết nơi liên hệ hoặc chưa được giải thích hoặc được giải thích nhưng chưa đầy đủ, thấu đáo về quyền được trợ giúp pháp lý và chưa sử dụng quyền được TGPL của mình Vì vậy, nhằm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng biết quyền và nghĩa vụ của mình, Bộ luật
Tố tụng hình sự đã quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng (Điều 71), cụ thể tại khoản 1 quy định: "cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích
và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng "[4]
Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
Trang 40trách nhiệm giải thích cho họ quyền được TGPL; nếu họ đề nghị được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm
TGPL nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng với việc quy định: “Việc thông báo, giải thích phải được ghi vào biên bản”[4]
- Bổ sung cơ chế bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý trong trường hợp chỉ định người bào chữa (khoản 2 Điều 76)
Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định chỉ định người bào chữa
cho những đối tượng sau:
“1 Trong những trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người chưa thành niên”[4]
Đồng thời, đã bổ sung cơ chế bảo đảm quyền được TGPL trong các
trường hợp trên, cụ thể tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư để bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên để bào chữa cho thành viên của tổ chức mình "[4]