1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở việt nam hiện nay

99 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 109,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế về “Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tưnhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Yến năm 2013, tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nộ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN ĐÔNG

PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN ĐÔNG

PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Hồ Ngọc Hiển

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Cáckết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác Các số liệu,thông tin, tài liệu tham khảo trong luận văn có xuất xứ rõ ràng, được trích dẫnđầy đủ

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Trần Văn Đông

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 9 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp tư nhân 9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 18 1.2 Nội dung của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 23

1.2.1 Thành lập doanh nghiệp tư nhân 23

1.2.2 Những giới hạn đối với chủ doanh nghiệp tư nhân 23

1.2.3 Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân 24

1.2.4 Quản lý doanh nghiệp tư nhân 25

1.2.5 Cho thuê, bán, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân 25

1.2.6 Chế độ thuế, kế toán đối với doanh nghiệp tư nhân 26

Kết luận chương 1 28

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30

2.1 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay 30

2.1.1 Quy định của pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân 30

1.2.2 Quy định của pháp luật về những giới hạn đối với chủ doanh nghiệp tư nhân 34

2.1.3 Quy định của pháp luật về vốn của doanh nghiệp tư nhân 36

Trang 5

2.1.4 Quy định của pháp luật về quản lý doanh nghiệp tư

nhân 37

2.1.5 Quy định của pháp luật về cho thuê, bán, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân 41

2.1.6 Quy định của pháp luật về chế độ thuế, kế toán đối với doanh nghiệp tư nhân 46

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay 50

2.2.1 Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và nguyên nhân 50

2.2.2 Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và nguyên nhân 56

Kết luận chương 2 65

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 67

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam 67

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam 73

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam 73

3.2.1 Giải pháp thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam 81

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 6

Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh

doanh theo loại hình doanh nghiệp 53Bảng 2 Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân trong tổng kim

ngạch xuất khẩu 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là loại hình doanh nghiệp dân doanh,được hình thành từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện đổi mới kinh tế, địnhhướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN),nhằm phát huy mọi tiềm năng của các cá nhân trong xã hội

Doanh nghiệp tư nhân ra đời và phát triển là minh chứng cho quyết tâmchính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệquyền tự do kinh doanh - một quyền kinh tế quan trọng của mọi người

Chủ trương Đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với sở hữu

tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân (KTTN) là trọng tâm, tạo ra động lực tolớn cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nước ta (trong đó có DNTN).Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) đã banhành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 về phát triển KTTN trở thànhmột động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Nghị

quyết đã nêu rõ quan điểm của Đảng về phát triển DNTN: “ có các cơ chế,

chính sách khuyến khích thành lập DNTN; thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp nhà nước và DNTN [2].

Thể chế hóa đường lối của Đảng về quan tâm tạo cơ hội cho DNTNphát triển, Quốc hội Việt Nam khoá VIII đã thông qua đạo luật quan trọng làLuật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sựphát triển DNTN, là cột mốc quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong quá trìnhđổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990: Công dân ViệtNam đủ 18 tuổi có quyền thành lập DNTN (Điều 1); Nhà nước công nhận sự tồntại lâu dài và phát triển của DNTN, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật củaDNTN với các doanh nghiệp khác và tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh

Trang 9

doanh Trong khuôn khổ pháp luật, chủ DNTN có quyền tự do kinh doanh vàchủ động trong mọi hoạt động kinh doanh (Điều 3).

Đến năm 1999, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được hợp nhấtvới Luật Công ty năm 1990, đổi tên thành Luật Doanh nghiệp, được sửa đổi,

bổ sung trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 vàLuật Doanh nghiệp năm 2020

Từ cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên, các DNTN ở Việt Nam ngày càngđược quan tâm tạo cơ hội để phát triển Theo số liệu thống kê của Bộ Tàichính, đến cuối năm 2017, Việt Nam có khoảng 600 nghìn doanh nghiệp,trong đó có trên 500 nghìn DNTN [32]

Thực tiễn từ năm 2005 cho đến nay, trên cơ sở sự hình thành khungpháp lý nhằm công nhận và bảo đảm sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệpthuộc thành phần KTTN, DNTN đã và đang khẳng định vị trí của mình trongnền kinh tế Theo dự báo, KTTN Việt Nam trong đó có DNTN trong nước dựkiến sẽ đạt mức đóng góp cho GDP Việt Nam mỗi năm đạt 50% vào năm

2020 hay 55% vào năm 2025 và 60% đến 65% vào năm 2030 [34]

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội nghị Thủ tướng vớidoanh nghiệp năm 2019, Việt Nam có khoảng 17.000 DNTN quy mô lớn và21.000 DNTN quy mô vừa [35]

Tuy nhiên, hiện nay các DNTN của Việt Nam chưa phát huy được hếttiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh

Trên thực tế, những năm qua, DNTN vẫn gặp nhiều rào cản gia nhậpthị trường, khó tiếp cận vốn ngân hàng và gặp nhiều khó khăn liên quan đếncác thủ tục thuế và hải quan và những thách thức về quản trị doanh nghiệp,chất lượng nguồn nhân lực, chi phí lương và bảo hiểm ngày càng cao, chi phílogistics lớn Do đó, DNTN đóng góp cho GDP chỉ chiếm hơn 10% trong tỷ

lệ đóng góp cho GDP của khối kinh tế tư nhân

Trang 10

Hạn chế này một phần là do các DNTN chưa có kinh nghiệm hoạt độngtrong nền kinh tế thị trường Mặt khác, chưa có khung chính sách thật rõ ràng

và ổn định từ phía Nhà nước nhằm đưa ra các biện pháp hữu hiệu tạo điềukiện cho các DNTN phát huy hết khả năng cho sự nghiệp phát triển kinh tếđất nước Dù đã có nhiều thành tựu, nhưng những nỗ lực cải cách thể chế chođến nay vẫn đang loay hoay ở việc cởi trói, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc,chứ chưa tạo được nhiều điều kiện thuận lợi để hỗ trợ khu vực tư nhân trong

đó có DNTN phát triển Hệ thống luật pháp về doanh nghiệp nói chung trong

đó có DNTN và môi trường kinh doanh như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật

về Môi trường, Luật Đầu tư công,… còn có nhiều điểm bất hợp lý, thiếu nhấtquán và chồng chéo

Từ đó cho thấy cần phải nghiên cứu thấu đáo vấn đề pháp luật về DNTN

ở Việt Nam hiện nay để đánh giá khách quan, khoa học những ưu điểm, hạnchế, nguyên nhân và giải pháp phát huy ưu điểm, hạn chế của pháp luật về

DNTN, tạo môi trường pháp luật thuận lợi cho DNTN phát triển để đóng góptích cực cho sự vận hành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Pháp luật về doanh nghiệp

tư nhân ở Việt Nam hiện nay”để nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Luật kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Pháp luật về doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng không phải làmột nội dung mới mẻ ở Việt nam Hiện nay, đã có khá nhiều đề tài cũng như cácbài nghiên cứu pháp lý, các bài báo bàn về vấn đề này ở góc độ vĩ mô hoặcnghiên cứu chuyên sâu về từng loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần,công ty TNHH 2 thành viên, doanh nghiệp tư nhân…Theo đó, các nhà nghiêncứu tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp ở khá nhiều góc độ như nội dung vềchế độ pháp lý về thành lập, giải thể và phá sản doanh nghiệp; Một số giải

Trang 11

pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trongquá trình hội nhập; Quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay…

Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đếnpháp luật về DNTN trên các bình diện khác nhau Điển hình là một số côngtrình nghiên cứu khoa học sau đây:

- Bài viết “Vài bình luận về pháp luật về doanh nghiệp tư nhân” của TSNgô Huy Cương đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp

chí Luật học số 26 năm 2010 Từ thực trạng pháp luật còn thiếu những giảipháp để giải quyết những tranh chấp có liên quan và có nhiều bất cập trongviệc điều tiết các mối quan hệ của DNTN, tác giả đã tập trung phân tích bảnchất pháp lý của DNTN từ đó chỉ ra bất cập của pháp luật về DNTN;

- Luận văn Thạc sĩ Luật học về “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng muabán doanh nghiệp tư nhân” của tác giả Ngô Thị Hường, bảo vệ năm 2011 tại KhoaLuật, Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai trên cơ sở những vấn đề cơ bản về hợpđồng mua bán doanh nghiệp tư nhân, từ đó phân tích thực trạng pháp luật ViệtNam về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân và kiến nghị những giải pháphoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân

- Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế về “Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tưnhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Yến năm

2013, tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu các quy địnhpháp lý về địa vị pháp lý của DNTN trên cơ sở sử dụng và xem xét các quyđịnh của Luật doanh nghiệp (LDN) 2005, Luật Thương mại 2005 và các vănbản pháp luật có liên quan từ đó nhận định về thực trạng phát triển của DNTNtrong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế về “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở

4

Trang 12

Việt Nam” của Phùng Đức Dũng năm 2018, tại Viện Đại học Mở Hà Nội đãlàm rõ các vấn đề lý luận về DNTN, phân tích, đánh giá tổng quan thực trạngpháp luật hiện hành về DNTN, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiệnpháp luật về DNTN ở Việt Nam.

- Luận án Tiến sĩ Luật học về “Thủ tục pháp luật về đầu tư đối vớidoanh nghiệp tư nhân ở nước ta trong điều kiện Việt Nam trở thành nên kinh tế thịtrường đầy đủ” của Trương Công Đắc năm 2016, tại Học viện Khoa học xã hội đã

đi sâu phân tích những vấn đề lý luận về thủ tục pháp luật về đầu tư đối với DNTNtrong nền kinh tế thị trường, phân tích thực trạng tủ tục pháp luật về đầu tư đối vớiDNTN tại Việt Nam, đề xuất những giải pháp hoàn thiện về quy định và thủ tụcpháp luật đối với đầu tư của DNTN; …

Tuy nhiên, các nghiên cứu mới tập trung làm rõ địa vị pháp lý củaDNTN và các quy định pháp luật về DNTN; một số công trình chỉ tìm hiểu vềmột DNTN ở một địa phương cụ thể, một hoạt động cụ thể của DNTN hoặcnghiên cứu DNTN dưới góc độ một đơn vị kinh doanh thuộc thành phầnKTTN Do đó, tính đến thời điểm này, chưa có công trình nghiên cứu nào tiếpcận dưới góc độ Luật Kinh tế để nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận

và thực tiễn “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay” Cho nên đây là đề tài mới, học viên có thể kế thừa phát triển các kết quả nghiên

cứu đã được công bố trong quá trình nghiên cứu luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, thực trạngpháp luật về DNTN ở nước ta hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp để hoànthiện pháp luật về DNTN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Một là, làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về DNTN: Khái niệm,

đặc điểm, vai trò, nội dung của pháp luật về DNTN.

Hai là, phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về DNTN, chỉ ra ưu điểm,

Trang 13

hạn chế, nguyên nhân của ưu điểm hạn chế của pháp luật về DNTN ở Việt Nam hiện nay.

Ba là, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp hoàn thiện

pháp luật về DNTN tạo cơ sở cho DNTN phát triển

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Pháp luật và thực hiện pháp luật

về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập

trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật về DNTN từ góc

độ ngành Luật Kinh tế, tập trung nghiên cứu khái quát các qui định pháp luật vềDNTN trong Luật doanh nghiệp năm 2014, sửa đổi năm 2020 và các văn bản phápluật có liên quan hiện hành

Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý

luận và thực tiễn về pháp luật về DNTN ở Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu, đánh giá tình hình phát triển,

đóng góp của DNTN đối với nền kinh tế Việt Nam từ các số liệu được cập nhật từtháng 7 năm 2015 (LDN năm 2014 có hiệu lực) đến hết tháng 6 năm 2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Trong Luận văn tác giả kết hợp tổng thể nhiều phương pháp nghiêncứu Phương pháp luận được sử dụng trong luận văn là những phương pháp

cơ bản của khoa học pháp lý bao gồm phương pháp phân tích, phương pháptổng hợp, phương pháp so sánh, lịch sử, hệ thống, logic, diễn giải

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong tất cả 03 chương của

luận văn để luận giải các nội dung liên quan đến chủ đề luận văn; phân tích các qui định pháp lý được lý giải, dẫn chiếu trong các văn bản pháp luật, tổng hợp các qui định pháp luật về DNTN để có cái nhìn toàn diện hơn về địa vị pháp lý

Trang 14

của DNTN ở Việt Nam hiện nay; đặc biệt là trong đánh giá, tổng hợp, sử dụngcác tài liệu, số liệu trong các công trình nghiên cứu đã công bố, số liệu trongcác báo cáo tổng kết của các cơ quan có thẩm quyền có liên quan đến đề tàiluận văn.

Phương pháp lịch sử được sử dụng trong chương 1 và chương 2 để tìm hiểu

khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về DNTN, đánh giá thực pháp luật về DNTN và thực hiện pháp luật về DNTN bối cảnh cụ thể về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của Việt Nam - Phương pháp so sánh, đối chiếu

giữa các qui định trong LDN 2014 với LDN tư nhân 2005, Luật công ty 1990,đối chiếu các quy định trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung năm

2019 và các văn bản pháp luật khác về/liên quan đến doanh nghiệp Ngoài ra,luận văn còn thực hiện đối chiếu, tổng kết với thực trạng áp dụng các qui địnhpháp luật trên thực tế nhằm rút ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế của phápluật hiện hành làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về DNTN

- Phương pháp thống kê được sử dụng trong phần mở đầu và chương 2

của luận văn nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài vàthực trạng pháp luật về DNTN và thực hiện pháp luật về DNTN ở Việt Nam hiệnnay

Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử để xem xét quá trình hình thành, phát triển một cách khách quan

pháp luật về DNTN

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn:

Kết quả nghiên cứu của luận văn đã góp phần hệ thống hóa những vấn

đề lý luận về pháp luật về DNTN; làm rõ thêm vị trí, vai trò, tầm quan trọngcủa pháp luật về DNTN là cơ sở pháp lý để DNTN phát triển trở thành mộtđộng lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam

Những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của kết quả hạnchế của pháp luật và thực hiện pháp luật về DNTN ở Việt Nam hiện nay được

Trang 15

chỉ ra trong luận văn góp thêm luận cứ khoa học cho việc xác định những ràocản đối với sự phát triển của DNTN ở Việt Nam, từ đó có thể xác định đúngcác phương hướng, giải pháp phát huy kết quả và khắc phục hạn chế của phápluật và thực hiện pháp luật về DNTN Các phương hướng và giải pháp hoànthiện pháp luật và thực hiện pháp luật về DNTN ở Việt Nam được luận giảitrong luận văn có tính khả thi có thể tham khảo trong quá trình nghiên cứu đềxuất chính sách pháp luật xóa bỏ rào cản để DNTN phát triển ngày càng tốthơn.

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các tác giả quan tâm nghiêncứu về chủ đề pháp luật và thực hiện pháp luật về DNTN ở Việt Nam; là tàiliệu tham khảo các học viên trong quá trình nghiên cứu, học tập có liên quanđến pháp luật về DNTN tại cơ sở đào tạo của Học viện Khoa học xã hội vàcác cơ sở đào tạo khác

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về pháp luật về doanh nghiệp tư nhân Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp

tư nhân ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT

VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp tư nhân

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân

Ở Việt Nam, sự tồn tại và phát triển của khu vực KTTN trong đó cóDNTN mới được pháp luật chính thức thừa nhận từ năm 1990, khi LuậtDoanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được thông qua Cũng từ đó, thuật ngữ

“Doanh nghiệp tư nhân” được sử dụng và biết đến ngày càng nhiều Tuynhiên, cho đến nay, trong thực tế vẫn có những trường hợp hiểu nhầm về nộihàm của khái niệm này Phổ biến nhất là tình trạng sử dụng thuật ngữ “Doanhnghiệp tư nhân” để chỉ một (hoặc các) doanh nghiệp “thuộc thành phầnKTTN” Và như vậy, những người nhầm lẫn đã dùng thuật ngữ “Doanhnghiệp tư nhân” như là một đối trọng để phân biệt với “Doanh nghiệp Nhànước” - doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước

Dùng thuật ngữ “Doanh nghiệp tư nhân” như là cách gọi vắn tắt của

“Doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN” là không chính xác Chúng ta nên sửdụng một thuật ngữ khác phù hợp hơn để chỉ những doanh nghiệp thuộc thànhphần KTTN, đó là “Doanh nghiệp dân doanh”, vì thực ra, từ qui định ở LuậtDoanh nghiệp tư nhân 1990: “DNTN là đơn vị kinh doanh có mức vốn khôngthấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”; cho đến quy địnhtrong Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 DNTNluôn được coi là một trong những hình thức đặc trưng về tổ chức kinh doanh mà

cá nhân muốn đầu tư có thể lựa chọn Về bản chất, DNTN được pháp luật vềdoanh nghiệp ở Việt Nam qui định tương tự như Doanh nghiệp cá nhân

Trang 17

(Sole Proprietorship) ở các nước khác [21] Và như vậy, DNTN chỉ là mộtloại hình doanh nghiệp đặc thù thuộc thành phần KTTN.

Theo Khoản 1 Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005 “DNTN là doanhnghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” Đây là một khái niệm ngắn gọn giúpchúng ta phân biệt DNTN với các hình thức tổ chức kinh doanh khác Các yếu tố

cơ bản tạo nên khái niệm này và cũng là những đặc điểm quan trọng nhất, đó là

“loại hình”, “chủ sở hữu” và “chế độ trách nhiệm”

Đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, tại Điều 183, Luật Doanh nghiệpnăm 2020 tiếp tục tái khẳng định quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005:

“DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”

Từ phân tích trên, cho thấy khái niệm DNTN được thừa nhận, ghi nhận trong

pháp luật Việt Nam là: DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

1.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập

và làm chủ: Doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như ở

các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của DN cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất Về quan hệ sở hữu vốn trong DNTN:

Nguồn vốn ban đầu của DNTN xuất phát từ tài sản của chủ doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốnđầu tư, chỉ phải khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợpgiảm vốn xuống dưới mức đã đăng kí Vì vậy, không có giới hạn nào giữaphần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của DNTN và phần còn lại thuộc sởhữu của chủ doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là không thể tách bạch tài sảncủa chủ DNTN và tài sản của chính DNTN đó

Trang 18

Thứ hai, về quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý trong DNTN:

Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân cóquyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của DNTN.Chủ DNTN là người đại diện theo pháp luật của DNTN

Thứ ba, về phân phối lợi nhuận trong DNTN: Vấn đề phân chia lợi

nhuận không đặt ra đối với DNTN bởi DNTN chỉ có một chủ sở hữu và toàn

bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ thuộc vềmột mình chủ doanh nghiệp Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là cá nhân duynhất đó sẽ có nghĩa vụ chịu mọi rủi ro trong kinh doanh

Thứ tư, DNTN không có tư cách pháp nhân: Một pháp nhân phải có tài

sản riêng, tức phải có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân đó với nhữngngười tạo ra pháp nhân DNTN không có sự độc lập về tài sản vì tài sản củaDNTN không độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ DNTN

Căn cứ theo Điều 74 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 thì một tổ chức

được công nhận là pháp nhân khi có đủ 04 điều kiện sau đây: Một là , được

thành lập hợp pháp; Hai là , phải có cơ quan điều hành; Ba là, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác; Bốn là, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của

pháp nhân và nhân danh mình tham gia vào các quan hệ một các độc lập.

Đối với trường hợp DNTN: Căn cứu về điều kiện “được thành lập theo

quy định của pháp luật”: DNTN được cá nhân thành lập theo quy định của

Luật doanh nghiệp

Căn cứ về điều kiện cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của DNTN được thực

hiện theo quy định của Điều 185 Luật doanh nghiệp năm 2014: Chủ DNTN cóthể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh

Căn cứ về tính độc lập của tài sản và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ:

Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật dân sự 2015, tài sản của pháp nhân bao gồmvốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác

mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này,

Trang 19

luật khác có liên quan Tuy nhiên, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm2014: Vốn đầu tư của chủ DNTN do chủ DNTN tự đăng ký Tài sản được sửdụng vào hoạt động kinh doanh của chủ DNTN không phải làm thủ tụcchuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, chủDNTN có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp chủ DNTN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Như vậy, ở tiêu chí này, tài sản của DNTN và chủ DNTN không có tínhđộc lập rõ ràng do không có ranh giới Chủ DNTN có thể tăng hoặc giảm sốvốn đầu tư bất cứ lúc nào Đồng nghĩa vốn đầu tư của DNTN cũng có thểđược chủ DNTN sử dụng như tài sản cá nhân

Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm

về mọi nghĩa vụ của DNTN bằng toàn bộ tài sản của mình chứ không dừng

lại ở số vốn đăng ký đầu tư của chủ DNTN

Căn cứ về điều kiện “Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”: Trong quan hệ tố tụng, DNTN không được nhân danh

mình để tham gia với tư cách độc lập mà tư cách tham gia là của chủ DNTN.

Cụ thể, khoản 3 Điều 185 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: chủ DNTN

là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trướcTrọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến DNTN

Như vậy, từ việc xét các điều kiện của pháp nhân được quy định trong

Bộ luật dân sự năm 2015, có thể kết luận: DNTN không có tư cách pháp nhân

vì: Tài sản của DNTN không có tính độc lập với cá nhân chủ sở hữu DNTN;

chủ DNTN tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạtđộng của doanh nghiệp chứ không phải DNTN

Thứ năm, chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động: Do tính chất độc lập về tài sản

không có nên chủ DNTN - người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro

Trang 20

của Doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn Chủ DNTN khôngchỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong phạm

vi phần vốn đầu tư đã đăng kí mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảntrong trường hợp phần vốn đầu tư đã đăng kí không đủ

Có thể khái quát đặc điểm của DNTN được thể hiện trong 04 nguyên

tắc hoạt động của DNTN là “bốn tự” gồm: i) Tự bỏ vốn; ii) Tự tổ chứ; iii) Tự

chủ trong kinh doanh; iv) Tự bù lỗ Đây là cơ chế gắn kết hoạt động (lợi ích)

với năng lực hoạt động của người lao động, một cơ chế hoạt động tối ưu

hướng tới kết quả cao trong hoạt động của DNTN mà các loại hình doanhnghiệp khác không có

Từ đặc điểm của DNTN cho thấy DNTN có những nét tương đồng vànhững nét khác biệt với Hộ kinh doanh và Công ty TNHH một thành viên

Một là, so sánh giữa DNTN với Hộ kinh doanh: Theo quy định của pháp

luật thì giữa mô hình Hộ kinh doanh và DNTN có những đặc điểm giống nhaunhư sau: i) Cả hai hình thức này đều là do cá nhân làm chủ, đều tự chịu tráchnhiệm về mọi hoạt động của đơn vị mình bằng toàn bộ tài sản của mình Chủ thểthành lập phải là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành

vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; ii) Pháp luật quy định cả hai đềukhông được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa hộ kinh doanh và DNTN: Về chủ thể thành lập của DNTN và hộ kinh doanh có những điểm khác biệt sau đây:

Đối với DNTN chỉ duy nhất do một cá nhân thành lập và cá nhân đóphải chịu mọi trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chính mình Trong khi đó,đối với Hộ kinh doanh, do tính chất của Hộ kinh doanh có thể do một cá nhânthành lập hoặc có thể là một nhóm, một hộ gia đình cùng thành lập Cho nên,việc chịu trách nhiệm đối với Hộ kinh doanh cũng sẽ mang tính chất là trên cơ sởtoàn bộ tài sản của cá nhân, của nhóm hoặc của hộ gia đình Như vậy, mặc dùcùng tính chất là chịu trách nhiệm vô hạn của người thành lập đối với DNTN

Trang 21

và Hộ kinh doanh Tuy nhiên, nếu như DNTN chỉ là trách nhiệm của một cánhân thì ở Hộ kinh doanh có thể là của một nhóm người hoặc của một hộ giađình.

Hai là, so sánh giữa DNTN với Hộ kinh doanh: Công ty TNHH một thành

viên và DNTN đều là các loại hình doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh củaLuật Doanh nghiệp Hai loại hình này dễ gây nhầm lẫn vì một số những điểmtương đồng như đều có con dấu riêng, có cơ cấu tố chức, có những trường hợpđều do một cá nhân làm chủ sở hữu Nhưng thực tế, hai loại hình này có bản chấtpháp lý khác nhau và có nhiều điểm khác biệt Cụ thể:

Về bản chất: DNTN là cá nhân kinh doanh Do đó, DNTN không có tư

cách pháp nhân Công ty TNHH một thành viên là pháp nhân kinh doanh Do

đó, công ty TNHH có tư cách pháp nhân

Về chủ sở hữu: DNTN do một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách

nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình đối với các khoản nợ của doanh nghiệp.

Do không có tính chất độc lập về tài sản của doanh nghiệp bởi mang bản chất

là cá nhân kinh doanh nên chủ DNTN là người chịu trách nhiệm duy nhấttrước các rủi ro của doanh nghiệp, cá nhân này phải dùng toàn bộ tài sản củamình không chỉ là phần tài sản đã đăng kí để trả toàn bộ số nợ khi doanhnghiệp đó xảy ra rủi ro

Công ty TNHH một thành viên: Do một cá nhân hoặc một tổ chức làmchủ sở hữu, chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sảnkhác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Doanh nghiệp tư nhân: Chủ sở hữu tự quản lý hoặc thuê người quản lýCông ty TNHH một thành viên: Do tổ chức làm chủ sở hữu được tổchức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây: i) Chủ tịchcông ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; ii) Hội đồng thànhviên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên

1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp tư nhân

Trang 22

Từ lý luận và thực tiễn ở Việt Nam đã chứng minh rằng các doanh nghiệptrong khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN đã và đang đóng vai trò độnglực quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, thể hiện trước hết

ở tỷ lệ đóng góp ngày càng cao của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có DNTNvào GDP và nguồn thu ngân sách, cũng như thể hiện ở hiệu quả sản xuất kinh doanh

và ở nhiều phương diện khác Có thể khái quát vai trò của khu vực kinh tế tư nhân,trong đó có DNTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

ở Việt Nam hiện nay sau đây:

Thứ nhất, DNTN đã và đang góp phần huy nguồn lực tự nhân dân và

trong xã hội vào sản xuất kinh doanh, là cùng với các doanh nghiệp khác của

khu vực kinh tế tư nhân tạo động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, góp phầnquan trọng vào sự phát triển kinh tế -xã hội đất nước

Nguồn lực này có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau như: tài chính,đất đai, thiết bị máy móc, kinh nghiệm quản lý, kỹ năng lao động…sự phát triểnKTTN trong đó có DNTN sẽ khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm năng đó và

xã hội hoá các yếu tố sản xuất tập trung vào phát triển kinh tế xã hội

Trên thế giới, hầu hết quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển,DNTN có vai trò rất đặc biệt quan trọng, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh

tế Do tính năng động, linh hoạt và hiệu quả nên DNTN trong khối KTTNluôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn khu vực kinh tế công cộng và sự đóng gópnày tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế các nước từ chỗ nền kinh tế chủ yếu

là doanh nghiệp Nhà nước, đến nay, KTTN trong đó có DNTN đã đóng gópkhoảng 42% vào GDP (theo số liệu của Tổng cục Thống kê) và tạo ra ngàycàng nhiều việc làm Năm 2019, số lao động trên 15 tuổi đang làm việc choKTTN trong đó có DNTN chiếm 83,3%, khoảng 45,2 triệu người [24]

Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất Trong mộtnền kinh tế đang phát triển nguồn vốn rất khan hiếm và đặc biệt đối với các nềnkinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn, khi các tổchức tài chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm

Trang 23

từ dân cư, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư.

Do đó khả năng huy động vốn của khu vực KTTN trong đó có DNTN trở nên rấtquan trọng Nếu các DNTN được đặt trong môi trường kinh doanh bình đẳng vàđược tạo cơ hội thuận lợi thì các chủ doanh nghiệp có thể tự tin mạo hiểm vớikhoản tiền tiết kiệm quý giá của bản thân họ, thậm chí của họ hàng và bạn bè họ

để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận Môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ khiến cácchủ DNTN có thể kiểm soát ở mức độ nào đó các hoạt động và số phận kinhdoanh của họ Tuy nhiên do hệ thống tài chính kém phát triển nên các khoản tiềntiết kiệm có thể trở thành vốn sẵn có của các DNTN nhưng lại tồn tại dưới hìnhthức khác nhau nằm ngoài các thể chế tài chính chính thức

Thứ hai, phát triển DNTN góp phần tạo ra các cơ hội việc làm Một kết

quả của việc huy động vốn và hình thành vốn của các DNTN là tạo ra cơ hộiviệc làm cho các thành viên khác trong cộng đồng Việc làm sẽ mạng lại thunhập cao cho những người lao động và nâng cao mức sống của gia đình họ

Nhìn chung, chủ doanh DNTN khác với các nhà quản lý ở các doanhnghiệp nhà nước ở chỗ họ có quyền quyết định lớn hơn trong việc thuê mướnlao động Vì vậy không những các doanh nhân hoàn toàn có thể tăng số lượnglao động làm thuê theo ý họ mà còn có thể nâng cao hiệu quả trong việc sửdụng nguồn nhân lực trong cộng đồng Điều đáng nói là khả năng giải quyếtviệc làm của DNTN cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước Theotính toán thì DNTN chỉ bỏ ra khoảng 50 triệu đồng tiền vốn thì đã giải quyếtviệc làm được cho 1 lao động, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước phải bỏ tớikhoảng 300 triệu đồng mới giải quyết được 1 người lao động có việc làm

Thứ ba, phát triển DNTN góp phần tạo nguồn thu thuế cho chính phủ,

đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước, làm gia tăng tổng sản phẩm quốcdân Những năm gần đây thu ngân sách nhà nước từ khu vực KTTN trong đó cóDNTN ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách Nhà

Trang 24

nước, trong khi đó thu ngân sách từ các doanh nghiệp nhà nước lại có xuhướng chiếm tỷ trọng ngày càng giảm trong tổng thu ngân sách của nhà nước.Điều đó chứng tỏ rằng, khu vực KTTN trong đó có DNTN đã và đang đóngvai trò quan trọng trong thu ngân sách nhà nước.

Thứ tư, khu vực KTTN trong đó có DNTN góp phần làm cho nền kinh

tế phát triển năng động hơn Với những ưu thế năng động, dễ thích nghi, phát

triển đa dạng của khu vực KTTN trong đó có DNTN đã làm cho nền kinh tếphát triển năng động hơn Sự cạnh tranh mạnh mẽ của khu vực KTTN trong

đó có DNTN với các thành phần kinh tế khác đã giúp nền kinh tế phát triểnnăng động, sáng tạo, phát triển theo cơ chế thị trường Trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế và với vai tròriêng của mình khu vực KTTN trong đó có DNTN tạo ra cho mỗi quốc gianhiều cơ hội phát triển, đồng thời DNTN cũng là một trong những chủ thểbiến những cơ hội, thời cơ từ hội nhập kinh tế quốc tế thành hiện thực

Có thể nói, DNTN có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội,nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những mặt tiêu cực mang tính chất kìm hãm sựphát triển của nền kinh tế nếu luật pháp không rõ ràng, không có cơ chế, chínhsách để điều chỉnh phù hợp để DNTN có thể phát triển nhanh và bền vững Đểhạn chế những tiêu cực này đòi hỏi Nhà Nước phải có biện pháp can thiệp thíchhợp và những chính sách cụ thể để có thể làm cho DNTN phát huy hết những vaitrò tích cực của nó, đồng thời hạn chế tối đa những mặt tiêu cực mà nó có thểgây ra, trên cơ sở đó thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững đất nước Thực tếcho thấy DNTN phát triển tốt hay xấu phụ thuộc vào thể chế kinh tế của cácquốc gia Các nước phát triển có DNTN phát triển mạnh và thực đóng vai tròquan trọng vào phát triển của các quốc gia đó và các mặt hạn chế của DNTNkhông có cơ hội tồn tại vì thể chế kinh tế của các quốc gia này khá hoàn chỉnh,

đã nhân rộng tính tích cực của DNTN và cũng hạn chế tốt các tồn tại,

Trang 25

tiêu cực của DNTN như giải quyết tốt vấn đề môi trường cũng như các vấn đề

xã hội

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

Để xác định khái niệm pháp luật về DNTN, cần dựa trên cơ sở kháiniệm về DNTN và khái niệm pháp luật nói chung

Thứ nhất, dựa trên cơ sở khái niệm về DNTN: Như đã đề cập ở mục

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh

nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Theo đó, DNTN do tư nhân bỏ

vốn thành lập và tự tổ chức kinh doanh Chủ doanh nghiệp được tự chủ trong

điều hành và tổ chức kinh doanh, bảo toàn vốn, tự tìm kiếm thị trường vàkhách hàng, tự chịu trách nhiệm về khoản lỗ bằng toàn bộ tài sản của mình.Các DNTN chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của DN, nó phụ thuộc

vào một cá nhân chủ sở hữu, nguồn vốn hạn chế, “vòng đời” của một DNTN

được xác định qua các giai đoạn: tạo lập, duy trì, biến đổi và chấm dứt tư cáchchủ thể pháp luật của DNTN, các giai đoạn này đều chịu sự chi phối, tác độngcủa các quy định pháp luật của nhà nước cũng như điều kiện kinh tế - chínhtrị, văn hóa- xã hội của mỗi quốc gia

Thứ hai, dựa trên khái niệm pháp luật nói chung: Có nhiều quan niệm

khác nhau về pháp luật như: Pháp luật là ý muốn của Thượng đế; pháp luật làphương tiện để quản lý xã hội (pháp luật gắn liền với xã hội, ở đâu có xã hộithì ở đó có pháp luật); pháp luật là những tiêu chuẩn căn bản mà mọi ngườiphải tuân theo để quản lý xã hội và trừ khử những điều gian tà, bất chínhtrong xã hội; pháp luật là công lý đại diện cho sự công bằng xã hội, bảo vệ lợiích cho tất cả mọi người trong xã hội; pháp luật là ý chí của giai cấp thống trịđược đề lên thành luật;…

Các quan điểm hiện đại đều cho rằng, pháp luật là công cụ quản lý xã hội

Trang 26

ra đời khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội trở nên phứctạp, đặc biệt là khi trong xã hội có sự phân hóa thành các giai cấp có lợi íchđối lập nhau, các công cụ pháp lý xã hội khác như tập quán, đạo đức, tín điềutôn giáo … không còn đủ khả năng duy trì được trật tự xã hội và bảo vệ lợiích của giai cấp thống trị Trong những điều kiện như vậy, nhà nước đã banhành ra pháp luật (thừa nhận những quy định đã có trong xã hội là pháp luật

và bảo đảm cho chúng được thực hiện, đồng thời nhà nước đặt ra những quyđịnh pháp luật mới) để tổ chức và quản lý xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của xãhội vừa để bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền

Theo nghĩa hẹp, pháp luật gồm các quy định mà phần lớn là các quy tắc

xử sự chung do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi íchcủa cả xã hội và vì lợi ích của giai cấp thống trị

Theo nghĩa rộng, pháp luật không chỉ gồm các quy tắc xử sự chung màcòn bao hàm cả các nguyên tắc xử sự, các tư tưởng, học thuyết pháp lý …được thể hiện ở các loại nguồn pháp luật khác nhau

Thông thường, pháp luật được hiểu khái quát như sau: Pháp luật là hệthống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện,thể hiện ý chí của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sựtồn tại và phát triển của cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai cấpthống trị [18]

Trên cơ sở khái niệm DNTN và khái niệm pháp luật, có thể đưa ra khái

niệm Pháp luật về DNTN là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban

hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt động và chấm dứt tư cách chủ thể (rút khỏi thị trường kinh doanh) của DNTN Pháp luật về DNTN tại Việt Nam hiện nay bao gồm hệ

thống các văn bản quy phạm pháp luật, mà xương sống là Luật Doanh nghiệp

2014, Luật Doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung năm 2020 với vai trò là đạo luật cơbản nhất có các quy định quy định chung về các DNTN

Trang 27

1.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh của pháp luật về DNTN: Phạm vi điều

chỉnh của pháp luật về DNTN bao gồm những quy tắc chuẩn mực các chủ thểcần tuân thủ và sử dụng trong quá trình xây dựng, hoạt động, chuyển đổiDNTN; những hành vi bị cấm trong quá trình vận hành DNTN; các chủ thể cóthẩm quyền quản lý nhà nước về DNTN và những vấn đề có liên quan

Thứ hai, về đối tượng điều chỉnh của pháp luật về DNTN

Một là, nhóm quan hệ quản lý DNTN: Là quan hệ phát sinh trong quá

trình quản lý DNTN giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủthể kinh doanh là DNTN

Nhóm quan hệ này có đặc điểm: Quan hệ quản lý DNTN phát sinh vàtồn tại giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan bị quản lý (các chủ thể kinhdoanh là DNTN) khi các cơ quan quản lý DNTN thực hiện chức năng quản lýcủa mình Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí bất đẳng (Vì quan hệ nàyhình thành và được thực hiện dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng)

Cơ sở pháp lý để điều chỉnh nhóm quan hệ này: Chủ yếu thông qua cácvăn bản pháp lý do các cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành bao gồm cácvăn bản luật và dưới luật liên quan đến quá trình thành lập, hoạt động kinhdoanh, quyền, nghĩa vụ và quá trình phá sản/ chấm dứt hoạt động kinh doanhcủa DNTN

Hai là, các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa DNTN và các chủ thể kinh doanh khác: Đây là những quan hệ kinh tế thường

phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặcthực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời củaDNTN Đây là nhóm nhóm quan hệ chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhấtthuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về DNTN

Nhóm quan hệ này có đặc điểm: Là những quan hệ phát sinh trực tiếp trong

Trang 28

quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh của DNTN và cácchủ thể kinh doanh khác Chúng phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của cácbên thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng kinh tế hoặc những thoả thuận.

Chủ thể của nhóm quan hệ này chủ yếu là quan hệ phát sinh trong quátrình kinh doanh của DNTN với các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phầnkinh tế khác trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi Cóthể nói đây là nhóm quan hệ tài sản - quan hệ hàng hoá- tiền tệ

Ba là, các quan hệ phát sinh trong nội bộ DNTN: Là các quan hệ phát

sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh giữa Giám đốc DNTN với ngườilao động trong nội bộ DNTN, trong đó chủ đạo là quan hệ phát sinh trong quátrình sử dụng lao động, chế độ chính sách cho người lao động; là các quan hệbảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện cam kết,thỏa thuận thể hiện trong hợp động lao động

Cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ này: Thông qua Luật Lao động,nội quy, quy chế, điều lệ, cam kết giữa Giám đốc DNTN với người lao độngtrong nội bộ DNTN nhưng không được trái với các quy định của pháp luật cóliên quan và không được trái với truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam

Thứ ba, về phương pháp điều chỉnh của pháp luật về DNTN: Do pháp

luật về DNTN vừa điều chỉnh quan hệ quản lý kinh tế giữa chủ thể khôngbình đẳng vừa điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng với nhau phátsinh trong quá trình kinh doanh cho nên pháp luật về DNTN sử dụng và phốihợp nhiều phương pháp tác động khác nhau như kết hợp phương pháp mệnhlệnh với phương pháp thoả thuận theo mức độ linh hoạt tuỳ theo từng quan hệkinh tế cụ thể

Tuy nhiên phương pháp điều chỉnh của pháp luật về DNTN được bổ sungnhiều điểm mới: Phương pháp mệnh lệnh trong điều chỉnh pháp lý các hoạt độngkinh doanh hầu như không còn được áp dụng rộng rãi Các quan hệ tài

Trang 29

sản với mục đích kinh doanh được trả lại cho chúng nguyên tắc tự do ý chí tự

do khế ước

Phương pháp mệnh lệnh: Được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh nhóm

quan hệ quản lý kinh tế giữa sinh trong quá trình quản lý DNTN giữa các cơquan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh là DNTN làquan hệ bất bình đẳng với nhau Để phù hợp với đặc trưng của nhóm quan hệnày pháp luật về DNTN đã tác động vào chúng bằng cách quy định cho các cơquan quản lý nhà nước về DNTN trong phạm vi chức năng của mìnhcó quyền

ra quyết định chỉ thị bắt buộc đối với DNTN (bên bị quản lý) Còn bên bịquản lý có nghĩa vụ thực hiện quyết định đó

Phương pháp thoả thuận: Được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ phát

sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau Bản chấtcủa phương pháp này thể hiện ở chỗ: Pháp luật về DNTN quy định cho cácbên tham quan hệ kinh tế có quyền bình đẳng với nhau, thoả thuận những vấn

đề mà các bên quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ kinh tế mà không

bị phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Điều này có nghĩa làpháp luật qui định quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh củaDNTN chỉ được coi là hình thành trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các bên

và không trái với các quy định của nhà nước

Thứ tư, về chủ thể của pháp luật về DNTN: Doanh nghiệp tư nhân do

một cá nhân đứng ra thành lập doanh nghiệp, đồng thời tự chịu trách nhiệm

bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Thuật ngữ “pháp nhân” dùng để phân biệt chủ thể pháp luật là tổ chứcvới cá nhân Nếu một tổ chức có tư cách pháp nhân thì tổ chức đó có đầy đủquyền và nghĩa vụ của pháp nhân mà pháp luật dành cho Theo quy định tại

Bộ Luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi thỏa mãnbốn dấu hiệu sau đây:

Trang 30

Một là, phải được thành lập một cách hợp pháp: phải tồn tại dưới một

hình thái xác định và phải được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phépthành lập, đăng ký hoặc công nhận

Hai là, phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: cấu trúc bên trong của pháp

nhân bao gồm cơ quan lãnh đạo, bộ phận chuyên môn, đảm bảo cho tổ chức

có khả năng thực tế để hoạt động và điều hành đảm bảo tính nhất quán tronghoạt động của pháp nhân

Ba là, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách

nhiệm bằng tài sản đó Điều này có nghĩa là tài sản của pháp nhân độc lập với

tài sản của người thành lập, thành viên của tổ chức, pháp nhân tự chịu tráchnhiệm tài sản của mình và trong giới hạn tài sản của mình

Bốn là, pháp nhân nhân danh mình than gia các quan hệ pháp luật một

cách độc lập

Do đó, DNTN không có tư cách pháp nhân vì không có đó khôdókhông ư cách pháp nkhông có sư cách pháp nhânan gia các quan hệ pDNTNkhông có sư cách pháp nhânan gia các quan hệ pháp luậtDNTN ChTNDNTNphTN có sư cách pháp nhânan gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.g

cN có sư cách ập về tài

1.2 Nội dung của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.2.1 Thành lập doanh nghiệp tư nhân

Pháp luật về DNTN quy định những vấn đề cơ bản, các điều kiện trong quá trình thành lập DNTN, là cơ sở điều chỉnh xử sự của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là chủ thể có thẩm quyền cấp phép thành lập DNTN và chủ DNTN.

Điều kiện chung như tên doanh nghiệp; trụ sở; ngành nghề kinh doanh;vốn; các yêu cầu với chủ doanh nghiệp

Điều kiện riêng như do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu, mỗi cánhân chỉ được làm chủ một DNTN

1.2.2 Những giới hạn đối với chủ doanh nghiệp tư nhân

Trang 31

Cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thỏa mãn các điều kiện quyđịnh tại khoản 1 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 thì đều có quyền thành lậpdoanh nghiệp tư nhân Chủ sở hữu doanh nghiệp có trách nhiệm vô hạn khôngphân tán được rủi ro trong kinh doanh Do không có tư cách pháp nhân nênmức độ rủi ro của chủ doanh nghiệp tư nhân cao Chủ doanh nghiệp phải chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Không có sự phân tán rủi ro cùngnhững chủ thể khác như những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Bên cạnh

đó chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN lại tạo sự “an toàn” hơn cho chủ

nợ vì chủ nợ có khả năng đòi được nợ không chỉ giới hạn trong số vốn đầu tưcủa chủ doanh nghiệp vào doanh nghiệp đó

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủdoanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh; thành viêncông ty hợp danh

1.2.3 Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân

Vốn đầu tư của chủ DNTN là khoản vốn mà chủ DNTN đăng ký với cơquan đăng ký kinh doanh để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp

Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp sẽ do chủ doanh nghiệp tự đăng ký.Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư Trong

đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam (VND), ngoại tệ, vàng và các tài sảnkhác Đối với các loại vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại, số lượng vàgiá trị còn lại

Toàn bộ các khoản vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê Nếuđược sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì phải được ghichép đầy đủ vào sổ kế toán Và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo đúngquy định của pháp luật

Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảmvốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng

Trang 32

hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ

kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký.Thì chủ doanh nghiệp chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với Cơ quanđăng ký kinh doanh

1.2.4 Quản lý doanh nghiệp tư nhân

Chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thựchiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

Chủ DNTN có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hànhhoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lýdoanh nghiệp thì chủ DNTN phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh vàvẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Chủ DNTN là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đếndoanh nghiệp

Chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1.2.5 Cho thuê, bán, chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, quy định về cho thuê DNTN: Theo quy định của pháp luật thì

chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, trong đó có hoạt động cho thuê doanh nghiệp

Thứ hai, quy định về bán DNTN: Pháp luật quy định về quyền và nghĩa

vụ/trách nhiệm của các bên bán và mua DNTN phát sinh trong quá trình chuyểnnhượng quyền sở hữu DNTN; về trách nhiệm đối với người lao động của DNTNtrên cơ sở tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật về bán DNTN

Thứ ba, quy định về thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân: Đây là quy

định mới của Luật Doanh nghiệp 2014 so với các văn bản luật trước đây Đó làquy định về việc DNTN có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạnnếu đủ các điều kiện theo Điều 199 Luật Doanh nghiệp 2014 Việc chuyển

Trang 33

đổi DNTN thành công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ làm thay đổi về loại hìnhdoanh nghiệp chứ không khiến cho chủ DNTN được miễn trừ các nghĩa vụbằng toàn bộ tài sản của mình nếu những nghĩa vụ đó chưa được thực hiện.Luật Doanh nghiệp 2020 bổ sung quy định trên theo hướng mở rộng, cụ thểhơn các điều kiện và quy trình chuyển đổi DNTN.

Như vậy, pháp luật về DNTN quy định những nội dung điều chỉnh chặtchẽ từng giai đoạn trong quá trình thành lập, hoạt động và chuyển đổi của mộtDNTN Pháp luật về DNTN đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy và bảotoàn năng lực cạnh tranh thực tế của các DNTN trên thị trường thông qua quátrình xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động cho các DNTN ngay từ nhữngbước đầu tiên Pháp luật về DNTN là tạo lập môi trường kinh doanh và cạnhtranh tự do, bình đẳng giữa các DNTN Vai trò thứ ba: Tạo cơ chế và trình tựthủ tục để các DNTN tham gia thị trường và các bên liên quan có thể bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi hành vi xâm hại, vi phạm pháp luật

Thứ tư, pháp luật còn quy định về thủ tục tạm ngừng kinh doanh, giải

thể, phá sản DNTN tương tự thủ tục tạm ngừng kinh doanh, giải thể, phá sảncác doanh nghiệp nói chung tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanhnghiệp 2020

1.2.6 Chế độ thuế, kế toán đối với doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, chế độ thuế với DNTN: Pháp luật quy định về chế độ thuế đối

với DNTN trên nguyên tắc tạo ra “sân chơi” thực sự bình đẳng cho các thànhphần kinh tế, tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ những thành phần kinh tế còn nhiềukhó khăn, trong đó có DNTN: i) Lệ phí môn bai; ii)Thuế thu nhập doanh nghiệp;

iii) Thuế giá trị gia tăng (VAT); iv) Thuế thu nhập cá nhân; đối với nhữngDNTN sản xuất kinh doanh các mặt hàng và lĩnh vực đặc thù thì pháp luật quyđịnh DNTN phải nộp thêm các loại thuế tương ứng như: i) Thuế tài nguyên; ii)Thuế tiêu thụ đặc biệt; iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Thứ hai, chế độ kế toán đối với DNTN: Cơ sở pháp lý để thực hiện chế

Trang 34

độ kế toán đối với DNTN là Luật Kế toán năm 2015 và các văn bản hướngdẫn thi hành.

Pháp luật quy định, DNTN phải bố trí kế toán và kế trưởng, ngoại trừ doanh nghiệp siêu nhỏ; đồng thời quy định những người không được làm kế toán để đảm bảo các nguyên tắc kế toán, phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong các DNTN.

Trang 35

Doanh nghiệp tư nhân có các đặc điểm là: do một cá nhân bỏ vốn ra thànhlập và làm chủ; về quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý trong DNTN: chỉ

có một cá nhân là chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền quyết định mọivấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của DNTN và là người đại diện theopháp luật của DNTN Về phân phối lợi nhuận không đặt ra trong DNTN, do toàn

bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ thuộc vềmột mình chủ doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ chịu mọi rủi rotrong kinh doanh; DNTN không có tư cách pháp nhân, không được phát hành bất

kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn, do đó chịu trách nhiệm vô hạn trongkinh doanh; cần phải thấy rõ giữa DNTN với Hộ kinh doanh và Công ty TNHHmột thành viên có sự tương đồng và khác biệt để có cơ chế phù hợp, cụ thể chotừng loại hình kinh doanh đảm bảo tạo cơ sở pháp lý cho DNTN, Hộ kinh doanh

và Công ty TNHH một thành viên phát huy được thế mạnh của mỗi mô hình đểkinh doanh có hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng thực chất giữa các mô hìnhkinh doanh thuộc thành phần kinh tế tư nhân; DNTN có vai trò là động lực quantrọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nước ta; góp phần huy nguồn lực tựnhân dân và trong xã hội vào sản xuất kinh doanh; góp phần tạo ra các cơ hộiviệc làm cho mọi người; tạo nguồn thu thuế cho chính phủ, đóng góp quan trọngvào ngân sách nhà nước, làm gia tăng tổng sản phẩm quốc dân; góp phần làmcho nền kinh tế phát triển năng động hơn

Pháp luật về DNTN là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hànhhoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành

Trang 36

lập, hoạt động và chấm dứt tư cách chủ thể (rút khỏi thị trường kinh doanh) của

DNTN Pháp luật về DNTN có 04 đặc điểm cơ bản về phạm vi điều chỉnh; đối

tượng điều chỉnh và về chủ thể của pháp luật về DNTN; trong đó đặc điểm quan trọng về chủ thể của pháp luật về DNTN là không có tư cách pháp nhân Nội

dung của pháp luật về DNTN bao gồm các quy định về: Thành lập DNTN;Những giới hạn; vốn đầu tư; quản lý; Cho thuê, bán, chuyển đổi doanh nghiệp tưnhân; chế độ thuế, kế toán đối với doanh nghiệp tư nhân

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Quy định của pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, khái quát sự kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật

về điều kiện thành lập DNTN

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 thì: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân (Điều 1); người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án tù mà chưa được xoá án, thì không được phép thành lập doanh nghiệp tư nhân (Điều 6); nghiêm cấm viên chức tại chức trong bộ máy Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân dân thành lập doanh nghiệp tư nhân (Điều 7) Các quy định này cho thấy DNTN chỉ được thành lập khi có sự cho phép của nhà nước.

Các quy định trên đã được sửa đổi bổ sung trong Luật Doanh nghiệp năm

1999, 2005, 2014, 2020 theo hướng ngày càng thông thoáng hơn về điều kiệnthành lập DNTN: Đó là quy định DNTN thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh,chứ không phải xin giấy phép kinh doanh như quy định trong Luật trước đây

Khoản 1 Điều 183 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” Ngay từ quy định này

tính chất một chủ của DNTN đã được khẳng định rất rõ ràng Cá nhân Việt Nam,

cá nhân nước ngoài thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 Luậtdoanh nghiệp 2014 thì đều có quyền thành lập DNTN Đây là quy định mới củaLuật doanh nghiệp 2005 và được Luật doanh nghiệp 2014 kế thừa, bởi các vănbản trước đó như Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Đầu tư

Trang 38

nước ngoài (năm 1996 và sửa đổi năm 2000) quy định: cá nhân Việt Namthành lập doanh nghiệp một chủ thì đó là DNTN, còn cá nhân nước ngoàithành lập doanh nghiệp một chủ thì doanh nghiệp đó là doanh nghiệp 100%vốn đầu tư nước ngoài.

Khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Mỗi cá nhân chỉ

được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

Pháp luật quy định mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN làbởi vì cá nhân là chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sảncủa mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên tài sản cá nhânkhó hoặc không thể đảm bảo cho nhiều doanh nghiệp hoạt động cùng một lúc

Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợ củaDNTN, luật chỉ cho phép mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN

Điểm này cũng được xem là sự hạn chế tiếp theo về điều kiện thành lậpDNTN, nhưng nó phù hợp với thực tế hiện tại khi thành lập doanh nghiệp, bởi

vì chế độ trách nhiệm tài sản của chủ DNTN là chế độ chịu trách nhiệm vôhạn, cho nên khi thành lập doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp phải chịu tráchnhiệm trong việc kinh doanh của công ty của mình mà đáp ứng không đầy đủviệc kinh doanh của chính mình thì chủ DNTN không được phép thực hiệnnhững điều như trên

Khoản 4 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Doanh nghiệp tư

nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020 tiếp tục tái khẳng định các quy địnhtrên của Luật Doanh nghiệp 2014

Pháp luật quy định như trên là do trong quá trình hoạt động, DNTN phải

tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh

Trang 39

nghiệp; vì vậy, đây là mô hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân

riêng biệt để tham gia vào các doanh nghiệp có sự tách bạch về tài sản cánhân và tài sản công ty như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần haycông ty hợp danh

Sở dĩ quyền góp vốn của chủ DNTN được quy định như trên là bởi chủDNTN thì phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sản của mình về hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợicủa khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợ của các doanh nghiệp nên pháp luậtquy định mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN

Như vậy, từ quy định của Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều

188 Luật Doanh nghiệp 2020 cho thấysự thống nhất trong nhận thức vềDNTN của cả hai văn bản Luật Doanh nghiệp này

Thứ hai, có thể khái quát nội dung quy định của pháp luật về điều kiện thành lập DNTN

Một là, điều kiện chung về thành lập DNTN:

Điều kiện về tên doanh nghiệp: Tên DNTN phải đảm bảo không bị

trùng, không gây nhầm lẫn đối với doanh nghiệp khác trên phạm vi cả nước,

Tên doanh nghiệp bao gồm 3 loại tên: Tên công ty tiếng Việt, Tên công tytiếng nước ngoài, và tên công ty viết tắt

Điều kiện về trụ sở chính của doanh nghiệp: Trụ sở chính của doanh

nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổViệt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, đườnghoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, quận,huyện, thị xã, thành phố thuộctỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện

tử (nếu có)

Điều kiện về ngành nghề kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh phải đảm

bảo có trong hệ thống ngành nghề kinh tế quốc dân hoặc pháp luật chuyên

Trang 40

ngành, không bị cấm đầu tư kinh doanh.

Điều kiện về vốn đầu tư: Đủ vốn đầu tư phù hợp với quy mô kinh

doanh và ngành nghề kinh doanh, trường hợp quy định về vốn pháp định thì

vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định, là điều kiện bắt buộc đểthành lập DNTN

- Chủ doanh nghiệp: Không vi phạm điều 13 Luật doanh nghiệp 2014

Hai là, điều kiện riêng:

- Điều kiện về chủ thể trực tiếp thành lập và quản lý DNTN: i) Do một cá

nhân duy nhất là cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, thành lập vàlàm chủ có nghĩa là DNTN là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ Tất cả các cánhân đều có quyền thành lập DNTN trừ những cá nhân không

có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam; ii) Mỗi cá nhân chỉđược làm chủ một DNTN; DNTN không có tư cách pháp nhân; iii) ChủDNTN là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết địnhđối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyếtđịnh việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tàichính khác theo quy định của pháp luật; có thể trực tiếp hoặc thuê người khácquản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làmGiám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm vềmọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ ba, về trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh: Đây là một đảm bảo

pháp lý quan trọng giúp các bạn hàng của chủ DNTN biết được người giaodịch với mình có đủ tư cách pháp lý để tham gia vào các quan hệ kinh tế haykhông Khi đó, khách hàng dễ dàng xác định mối quan hệ kinh doanh củamình với DNTN, giảm thời gian và chi phí trong khâu tìm kiếm bạn hàng

Thứ tư, Hồ sơ thành lập doanh nghiệp tư nhân: Theo Luật Doanh Nghiệp

2014, Điều 20 quy định, hồ sơ thành lập doanh nghiệp tư nhân gồm: Giấy đề

Ngày đăng: 25/12/2020, 05:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w