1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

84 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 151,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổsung một số điều năm 2019 sau đây viết tắt là Luật Cán bộ, công chức, địnhnghĩa về cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, đư

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TRƯƠNG QUÂN

ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TRƯƠNG QUÂN

ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC

THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Mạnh Hùng

ĐẮK LẮK, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệuđược nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Trương Quân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới lãnhđạo Nhà trường và quý thầy, cô giáo của Học viện Khoa học Xã hội đã tậntình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và quá trình thực hiện Luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo - TS.Nguyễn MạnhHùng người hướng dẫn khoa học đã luôn luôn tận tình giúp đỡ tôi trong quátrình hoàn thiện Luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời chân thành cảm ơn lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy,

Sở Nội vụ tỉnh, Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk tạo điều kiện, cung cấp cho tôicác văn bản, số liệu liên quan đến các nội dung của Luận văn

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi không thể tránh khỏithiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của quý thầy, côgiáo

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Trương Quân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 7

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN -PHÁP LÝ VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, 7

CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 7

1.1 Khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 7

1.2 Khái niệm và sự cần thiết của đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 15

1.3 Nguyên tắc, đối tượng, điều kiện, nội dung, hình thức đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 23

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 26

Tiểu kết Chương 1 30

CHƯƠNG 2 31

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 31

LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 31

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk có liên quan đến việc đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 31

2.2 Thực trạng cán bộ, công chức tỉnh Đắk Lắk là người dân tộc thiểu số34 2.3 Thực trạng đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiếu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 40

Tiểu kết Chương 2 48

Trang 6

Chương 3 49

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ 49

ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 49

3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số 49

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 54

3.3 Một số kiến nghị 57

Tiểu kết chương 3 61

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk 35Bảng 2.2: Chất lượng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tỉnh ĐắkLắk 35Bảng 2 3: Cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy, BTV, Bí thư,

Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịchUBND cấp xã, phường, thị trấn (nhiệm kỳ 2015-2020) 33Bảng 2 4: Cán bộ là người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy, BTV, Bí thư,

Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch,Phó Chủ tịchUBND cấp huyện (nhiệm kỳ 2015-2020) 36Bảng 2 5: Công chức lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấp huyện là người DTTS

(nhiệm kỳ 2015-2020) 37

Trang 8

: Nhà xuất bản : Trình độ quản lý : Quản lý nhà nước : Quản lý kinh tế : Tương đương : Số lượng

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quan điểm về cán bộ, đào tạo cán bộ đã được các nhà kinh điển chủnghĩa Mác-Lênin đề cập Kế thừa quan điểm đó, trong sự nghiệp xây dựng vàphát triển đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đặcbiệt quan tâm đến công tác cán bộ, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số Ngày 12-3-

2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị quyết vềcông tác dân tộc đã xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tạichỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của địa phương Đồng thời có

kế hoạch đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ cơ sở và cấp huyện là người dân tộcthiểu số; đổi mới chương trình, nội dung, hình thức đào tạo ”[1] Vì vậy, côngtác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụthường xuyên, là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng cả trước mắtcũng như lâu dài trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, tam giác phát triểnCampuchia - Lào - Việt Nam; dân cư của Tỉnh ngoài các dân tộc thiểu số tạichỗ còn có dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến làm ăn, sinhsống Tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, trình độdân trí có nơi còn thấp, chưa đồng đều nên đội ngũ cán bộ, công chức của hệthống chính trị của Tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế Một bộ phận không nhỏ cán

bộ, công chức có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ chưa đạt chuẩntheo quy định của Tỉnh, của Trung ương Đây là nguyên nhân cơ bản khiếnchất lượng, hiệu quả trong công tác của hệ thống chính trị chưa cao, chưa đápứng được yêu cầu công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước, của địaphương

Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung, đápứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, cần phải tăng cường công tác

Trang 10

đào tạo cán bộ, công chức Trong đó, đào tạo cán bộ, công chức là ngườiDTTS đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao trình độ, năng lực thực thi công

vụ của cán bộ, công chức đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của công tác lãnhđạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa -hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Xuất phát từ lẽ đó, việc chọn đề tài “Đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để làm Luận văn Thạc sĩ

Luật học, là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Công tác đào tạo cán bộ, công chức là một vấn đề quan trọng, luônđược Đảng, Nhà nước quan tâm Trên thực tế cũng như trên phương diệnkhoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến công tác này vàmỗi đề tài có mục đích và phạm vi nghiên cứu khác nhau và có những đónggóp nhất định như:

- Nguyễn Hải Đông (năm 2015), “Năng lực cán bộ, công chức người đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay” Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí

và Tuyên truyền, Hà Nội

- Đỗ Quang Trà (năm 2015), “Đào tạo cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ” Luận văn Thạc sĩ , Đại học Đà

- Trương Thị Như Yến (năm 2015), “Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

- Lương Hữu Nam (2017), “Phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

- Nguyễn Thị Tĩnh (2018), “Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng đội

Trang 11

ngũ cán bộ dân tộc thiểu số”, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia

Để góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức DTTS, tác giả đưa ra các kiến nghị, đề xuất, nhất là những kiến nghị gắnliền với công tác đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS Điều này phù hợpvới tinh thần mà Luận văn đề cập đến Tuy vậy, đây là những đề xuất chungcho tất cả các cán bộ, công chức nói chung chứ không riêng gì cho cán bộ,công chức người DTTS

Những nội dung liên quan đến cán bộ, công chức, nhất là công tác xâydựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương nói trên đã được một

số nhà nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Kết quả của các công trìnhnghiên cứu trên là cơ sở khoa học để đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứkhoa học nhằm củng cố, tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức là người DTTS trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đạihoá đất nước và hội nhập quốc tế Việc nghiên cứu về đào tạo cán bộ, côngchức là người DTTS của hệ thống chính trị tỉnh Đắk Lắk dưới góc độ Luậthọc vẫn chưa có tác giả nào thực hiện Trên cơ sở đánh giá thực trạng côngtác đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS, luận văn đề xuất các giải pháp

cụ thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo cán bộ, công

Trang 12

chức là người DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và có thể vận dụng một cách

có chọn lọc đối với những địa phương, đơn vị có cán bộ, công chức là ngườiDTTS ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn làm rõ những vấn đề về lý luận liên quan đến công tác đàotạo cán bộ, công chức là người DTTS và đánh giá thực tế công tác này tại tỉnhĐắk Lắk

Từ những hạn chế, bất cập xuất phát từ thực tiễn đào tạo cán bộ, côngchức là người DTTS của tỉnh Đắk Lắk, đưa ra những phương hướng và giảipháp thực hiện để nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức của Tỉnh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải được các cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận về đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS

- Đánh giá được thực trạng đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS tại tỉnh Đắk Lắk

- Đưa ra những quan điểm và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 1 Đối tượng nghiên cứu

- Quan điểm lý luận về đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS

- Pháp luật thực định ở Việt Nam về đào tạo cán bộ, công chức là ngườiDTTS

- Thực tiễn đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS trên địa bàn tỉnhĐắk Lắk

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Trên phạm vi địa bàn tỉnh Đắk Lắk

- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2015 - 2019

Trang 13

- Nội dung nghiên cứu: Về công tác đào tạo cán bộ, công chức là ngườiDTTS từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước về cán bộ, công chức và đào tạo cán bộ, công chức

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Lịch sử, logic,phân tích, so sánh, tổng hợp và phương pháp thống kê để phân tích, đánh giácác nội dung có liên quan, phương pháp thu thập nguồn số liệu: Số liệu từTỉnh ủy, UBND Tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk

6 Ý nghĩa của đề tài

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Nhận diện được những hạn chế, bất cập trong công tác đào tạo cán bộ,công chức là người DTTS của tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức

là người DTTS của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và của cả nước nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung chính của Luận văn gồm 03 Chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp lý về đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Trang 14

Chương 2 Thực trạng đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu

số tại tỉnh Đắk Lắk

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

Trang 15

CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN -PHÁP LÝ VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ,

CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số.

1.1.1.Khái niệm cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Để đưa ra khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức là người DTTS,cần làm rõ một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức; cán bộ, công chức

là người DTTS

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ là người làm việc trong cơ quannhà nước; người giữ chức vụ phân biệt với người bình thường, không giữchức vụ, trong cơ quan, tổ chức nhà nước; cán bộ tổ chức, cán bộ đại đội” [19,tr.249]

Ở Việt Nam từ cán bộ được sử dụng một cách quen thuộc, phổ biến.Hiểu theo nghĩa thông thường thì “cán bộ” được hiểu là người làm việc trong các

cơ quan của Đảng, của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội từ

Trung ương đến cơ sở

Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổsung một số điều năm 2019 (sau đây viết tắt là Luật Cán bộ, công chức), địnhnghĩa về cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổnhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộngsản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong

biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[24].

Từ định nghĩa trên cho thấy, cán bộ có các dấu hiệu như sau: Là côngdân Việt Nam; được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danhtheo nhiệm kỳ; làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trungương đến cấp huyện; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 16

Tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức định nghĩa về cán bộ cấpxã: “Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức

vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí

thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” Theo

quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức thì cán bộ cấp xã gồmcác chức vụ: “Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồngnhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận

Tổ quốc; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liênhiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh” [24]

Như vậy, cán bộ cấp xã có dấu hiệu như sau: Là công dân Việt Nam,được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ, không có dấu hiệu trong biên chếnhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước như cán bộ quy định tạikhoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức

Về công chức, đây là một thuật ngữ được sử dụng từ rất sớm trong cácvăn bản pháp luật từ những năm 1950 của thế kỷ XX cho đến nay Quy chếCông chức Việt Nam được quy định tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu khái niệm về côngchức: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữmột chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoàinước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do

Chính phủ định”[20].

Ngày 26-02-1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnhCán bộ, công chức Đây là văn bản pháp lý quy định về cán bộ, công chức củaNhà nước Việt Nam Qúa trình triển khai thực hiện, Pháp lệnh đã bộc lộnhững hạn chế, bất cập và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000 và năm 2003.Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 đã phân định được các đối tượng làmviệc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là viên chức, đồng thời quyđịnh về công chức cấp xã Pháp lệnh chỉ nêu thuật ngữ chung về cán bộ, công

Trang 17

chức mà chưa đưa ra được khái niệm cán bộ, khái niệm công chức cụ thể.

Để khắc phục những hạn chế trên khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, côngchức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổnhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơquan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ởTrung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhândân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[ 25]

Theo định nghĩa trên, công chức có các dấu hiệu sau: Là công dân ViệtNam; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ tương ứngvới vị trí việc làm; công việc có tính chuyên nghiệp và thường xuyên; làmviệc trong các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp huyện,trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộcCông an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độchuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước Ngoài ra, được phân loại theo trình độ chuyên môn, trình độđược đào tạo Tuy định nghĩa không thể hiện rõ nhưng việc bổ nhiệm vàongạch, vị trí việc làm cũng phần nào đã thể hiện nội dung này

Tại khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức định nghĩa về công chứccấp xã: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chứcdanh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và

hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[24].

Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức thì côngchức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự;Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường hoặc địa

Trang 18

chính nông nghiệp xây dựng và môi trường; Tài chính kế toán; Tư pháp

-hộ tịch; Văn hóa - xã -hội Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý [24]

Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện nay, để xác định một người làcông chức cần xem xét các yếu tố: Có quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sáchnhà nước; có nơi làm việc là cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân

Hiện nay, DTTS là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trênphạm vị toàn cầu Đây là thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học và được cácnhà nghiên cứu thường sử dụng để chỉ những dân tộc có ít dân số Trên thực

tế, khái niệm DTTS chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong mộtquốc gia đa dân tộc

Theo nguyên tắc về bình đẳng giữa các dân tộc và theo quan điểm củaChủ nghĩa Mác-Lênin, thì khái niệm DTTS không mang ý nghĩa phân biệt vềđịa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà nó được chi phối bởi những điềukiện lịch sử, kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi dân tộc

Về khái niệm “Dân tộc” có thể hiểu theo hai bình diện Theo nghĩathông thường khái niệm dân tộc để chỉ một cộng đồng tộc người có chungngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, đời sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc.Theo nghĩa rộng dân tộc chỉ cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốcgia, một nước

Dân tộc Việt Nam là một khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng: Là dântộc, quốc gia, là một cộng đồng chính trị - xã hội, bao gồm 54 thành phần dântộc, từ ít người đến nhiều người, từ thiểu số đến đa số, cùng sinh sống trongphạm vi một lãnh thổ, một quốc gia Việt Nam

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, DTTS được định nghĩa là: “dân tộc có sốdân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số)

Trang 19

sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế - xã hội”[19, tr.520].

Theo Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14-01-2011 củaChính phủ về công tác dân tộc, quy định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc

có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam” [11]

Như vậy, khái niệm DTTS dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít,chiếm tỷ lệ thấp trong tương quan về lượng dân số trong một quốc gia đa dântộc Khái niệm DTTS cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh vềdân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dântộc có thể được xem là đa số ở quốc gia này, nhưng có thể được coi là thiểu số

ở quốc gia khác Như người Kinh được xem là dân tộc đa số ở Việt Nam,nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Campuchia (người Kinh chỉ là 1/33dân tộc thiểu số của Campuchia); ngược lại người Khmer được coi là dân tộc

đa số ở Campuchia, nhưng là DTTS ở Việt Nam (người Khmer chỉ là 1/54dân tộc thiểu số của Việt Nam) Quan niệm về DTTS và dân tộc đa số, cũngnhư nội hàm của khái niệm này hiện nay còn nhiều vấn đề chưa thống nhất và

nó cũng được vận dụng xem xét trong từng trường hợp, điều kiện cụ thể Mặtkhác, nó còn phụ thuộc vào quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số củamỗi quốc gia, mỗi dân tộc Những nội dung được phân tích trên, về cơ bản làtương đối thống nhất đối với giới nghiên cứu về dân tộc học trên thế giới

Hiện nay, khái niệm cán bộ, công chức DTTS được sử dụng tương đốiphổ biến ở Việt Nam Từ khái niệm cán bộ, công chức, DTTS cho thấy: Cán

bộ, công chức, DTTS là tập hợp của các khái niệm cán bộ, công chức vàDTTS Cán bộ, công chức DTTS là chỉ những người cán bộ, công chức đangcông tác trong hệ thống chính trị, gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên đoàn Lao động, Hội

Trang 20

Nông dân, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức chính trị - xã hội khác, có xuấtthân là DTTS Đặc điểm để phân biệt cán bộ, công chức DTTS trong đội ngũcán bộ, công chức của hệ thống chính trị là thành phần dân tộc của người cán

bộ đó thuộc dân tộc đa số hay DTTS Đặc điểm này không có ý nghĩa phânbiệt về năng lực, trình độ học vấn hay địa vị xã hội của người cán bộ, côngchức Khi trở thành cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị của Việt Namthì có xuất thân từ thành phần dân tộc đa số hay DTTS số đều phải đáp ứngđầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định của Đảng, Nhà nước về cần thiếtđối với mỗi chức danh và vị trí công tác và phải hoàn thành tốt công việcđược giao

Đội ngũ cán bộ, công chức người DTTS là tập hợp những cá nhân thuộcdân tộc ít người được bầu cử, bổ nhiệm, phê chuẩn, tuyển dụng vào các chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của hệ thống chính trị, hưởnglương từ ngân sách Nhà nước và được điều chỉnh bởi các quy định của phápluật về cán bộ, công chức

Từ những phân tích như trên, có thể đi đến một quan niệm chung về

cán bộ, công chức DTTS, như sau: “Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là

những cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức,đang công tác, làm việc trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, cóthành phần xuất thân từ DTTS [37]

1.1.2 Vai trò của cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “cán bộ là nhữngngười đem chính sách của Đảng, của Chính Phủ giải thích cho dân chúng hiểu

rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng,cho Chính Phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[21, tr.54] Điều này càng

có ý nghĩa hơn khi gắn với vai trò của cán bộ, công chức là người DTTS đốivới sự nghiệp xây dựng và phát triển các vùng DTTS

Trang 21

Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi đa phần đều có sự góp mặt của cán

bộ, công chức người DTTS là những cá nhân đại diện cho dân tộc mình thamgia công tác ở những vị trí khác nhau trong các cơ quan chính quyền các cấp.Đối với cán bộ, công chức DTTS khu vực miền Trung - Tây Nguyên, ngoàinhững đặc điểm mang tính tích cực, có tác động to lớn đến đồng bào các dântộc, vẫn còn những hạn chế về cơ cấu, năng lực công tác nhưng vị trí, vai tròcủa họ lại ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội, ổn định

an ninh quốc phòng vùng dân tộc miền núi Đặc biệt, đối với đội ngũ cán bộ,công chức lãnh đạo, quản lý là người DTTS công tác ở các cơ quan cấp tỉnh,cấp huyện thuộc đối tượng đào tạo LLCT, chuyên môn nghiệp vụ tại các Họcviện Chính trị, Học viện Hành chính lại có vị trí, vai trò hết sức quan trọng.Cán bộ, công chức DTTS là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạotrong quá trình xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạtđộng hiệu lực, hiệu quả Đối với vùng miền núi có đông đồng bào dân tộcsinh sống thì vai trò của họ không thể thiếu trong bất cứ lĩnh vực công tácnào Họ là những trụ cột, là những người tham gia điều hành tổ chức bộ máy

ở cơ sở và góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị do Đảng và nhân dângiao phó Bộ máy chính quyền địa phương đang dần được cải cách và hoàn thiện,đội ngũ cán bộ, công chức đoàn kết, nhất trí xây dựng phong trào cách mạng quầnchúng ngày càng sâu rộng Là lực lượng lãnh đạo, quản lý tại chỗ, cán bộ, côngchức DTTS sống và làm việc, có quan hệ gần gũi với nhân dân,

điều này càng khẳng định hơn vị trí, vai trò của họ

Để phát huy vị thế đối với công tác lãnh đạo, quản lý tại địa phươngvùng đồng bào dân tộc, cần đặc biệt quan tâm đối với đội ngũ cán bộ, côngchức DTTS để họ thực sự là lực lượng đi đầu trong phát triển kinh tế, xã hội,

ổn định an ninh quốc phòng ở địa phương trong giai đoạn hiện nay

Cán bộ, công chức DTTS đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức,thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối Đảng, chính sách, pháp luật của

Trang 22

Nhà nước ở địa phương vùng dân tộc miền núi Vai trò này thể hiện rõ quathực tiễn đạt được trên các mặt của đời sống xã hội ở địa phương vùng dântộc miền núi trong nhiều năm qua Với trách nhiệm và vai trò của mình, họ đãgóp phần xây dựng kế hoạch, phương hướng nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra,giám sát quá trình thực hiện và làm cho chủ trương, đường lối chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực Tuy nhiên, để thực hiệntốt vai trò của mình, cán bộ, công chức DTTS phải thực sự là những người cónăng lực, tâm huyết với nhiệm vụ chính trị được giao; hiểu và lĩnh hội sâu sắcquan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có khảnăng cụ thể hóa vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng công việc, từng lĩnhvực, từng vùng miền khác nhau Những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn củacán bộ, công chức DTTS sẽ giúp Đảng và Nhà nước bổ sung, hoàn chỉnh chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ngày cànghoàn thiện.

Cán bộ, công chức DTTS quyết định lớn đến phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảoan ninh chính trị và xây dựng tình đoàn kết các dân tộc Với vai trò làđội ngũ trụ cột ở địa phương, lãnh đạo chỉ đạo việc thực hiện chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước, cán bộ, công chức DTTS góp phần cảithiện tình hình kinh tế, xã hội vùng miền núi, nâng cao đời sống của nhân dâncác dân tộc; giữ vững quốc phòng, an ninh nhất là an ninh nông thôn và biêngiới Bên cạnh những thành quả đạt được, hầu hết các vùng miền núi còn gặpnhiều khó khăn, thách thức do tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau; đời sốngvật chất và tinh thần của người dân vẫn còn thấp, trình độ dân trí của đồngbào dân tộc chưa cao, một số phong tục tập quán lạc hậu vẫn tồn tại, hiểu biết

về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cònhạn chế Điều đáng quan tâm, có những vùng đông đồng bào dân tộc sinhsống, các thế lực thù địch ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ,nhân quyền nhằm kích động, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc và xuyên tạc

Trang 23

chống phá lại chế độ ta Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế,

xã hội, giữ vững an ninh, chính trị làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch, cán bộ, công chức DTTS phải là lực lượng nòng cốt,vững vàng về lập trường tư tưởng, có quan điểm cách mạng, nhận thức chínhtrị và phẩm chất đạo đức tốt để lãnh đạo,chỉ đạo xây dựng tình đoàn kết cácdân tộc ở địa phương

Cán bộ, công chức DTTS là những người có khả năng tuyên truyền, vậnđộng, thuyết phục đồng bào dân tộc thực hiện chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đây là thế mạnh của đội ngũ cán

bộ, công chức DTTS hiện nay, đa số cán bộ, công chức DTTS tham gia côngtác trong các tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở là những người có uy tín,tiếng nói của họ có ảnh hưởng to lớn đến tình cảm và nhận thức của ngườidân Do thấu hiểu phong tục tập quán, ngôn ngữ đồng bào địa phương nên cán

bộ, công chức DTTS có thể đi sâu, đi sát nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyệnvọng của người dân và có phương pháp vậnđộng, thuyết phục đồng bào thựchiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững trật tự an ninh xã hội,ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giúp đồng bào tin tưởng vào chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tham gia,cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển địa phương [43]

1.2 Khái niệm và sự cần thiết của đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

1.2.1.Khái niệm đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Đào tạo, bồi dưỡng là hai thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trongcác lĩnh vực cuộc sống của xã hội hiện đại, nhất là trong lĩnh vực quản lýhành chính nhà nước

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nênngười có hiểu biết, có nghề nghiệp; đào tạo thành người có tri thức; đào tạochuyên môn, nghiệp vụ”[19, tr.593]

Trang 24

Khoản 1, Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 05-3-2010 củaChính phủ quy định: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thốngnhững tri thức, kỷ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”[10].

Đào tạo được hiểu là quá trình tác động đến con người, làm cho người

đó nắm vững tri thức, kỹ năng, thái độ một cách hệ thống, có khả năng thựchiện có hiệu quả những hoạt động nghề nghiệp nhất định Khái niệm đào tạo

có những điểm khác biệt so với bồi dưỡng, giáo dục mang một ý nghĩa chung,phản ánh quá trình truyền thụ, lĩnh hội tri thức của loài người, qua đó làmbiến đổi nhân cách Còn đào tạo là hoạt động được quy định về phạm vi, cấp

độ, cấu trúc, quy trình một cách chặt chẽ với những hạn định cụ thể về mụctiêu, chương trình, nội dung đào tạo và có hệ thống cho mỗi khoá học vớinhững thời gian, trình độ và tính chất cụ thể Quá trình này được tiến hành ởcác cơ sở giáo dục đào tạo khác nhau, tuỳ từng cấp học, thời gian học và nộidung đào tạo của mỗi khoá học, người học sẽ được cấp bằng tốt nghiệp tươngứng với trình độ, chương trình đã đào tạo nếu đạt được những yêu cầu củakhóa học, về tính chất, đào tạo là một thuộc tính cơ bản của quá trình giáodục Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, đào tạo không còn làquá trình chuyển giao một chiều mà bằng những phương tiện dạy - học hiệnđại Các cơ sở đào tạo tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy giúp ngườihọc chủ động tích cực, tự chiếm lĩnh và trang bị tri thức cho bản thân, đó làquá trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tự đào tạo của người học.Chất lượng đào tạo sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất nếu quá trình đào tạo chuyểnbiến theo phương thức này, người học sẽ được truyền đạt những kinh nghiệm,được mở rộng tầm hiểu biết và được bù đắp những thiếu hụt về kiến thức, kỹnăng, thái độ để không chỉ làm tốt công việc được giao mà còn đương đầu vớinhững thay đổi, thách thức của môi trường xung quang có ảnh hưởng đến cánhân, tổ chức

Trang 25

Từ phân tích trên, có thể hiểu đào tạo là quá trình làm biến đổi hành vicon người thông qua quá trình truyền đạt và tiếp nhận tri thức một cách có hệthống với sự hỗ trợ của các phương tiện cần thiết, hay có thể hiểu đào tạo làquá trình hoạt động thống nhất hữu cơ của việc dạy và học Thông qua đàotạo, mỗi người sẽ được trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn,nghiệp vụ, kỹ năng cần thiết để họ có thể đảm nhận được công việc và hoànthành một cách tốt nhất theo yêu cầu của tổ chức hoặc nhu cầu của cá nhân.

Bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, là hoạt động hướng vàomục tiêu liên tục bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuậtnghề nghiệp, nâng cao năng lực nói chung cho người đã được đào tạo sau mộtthời gian công tác nhất định

Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 05-3-2010 của Chính phủquy định: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹnăng làm việc…”[10]

Như vậy, khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trên thực tế

đã trở thành hoạt động nhằm không ngừng nâng cao trình độ kiến thức, kỹnăng cho cán bộ, công chức Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức có sựkhác nhau đó là: Đào tạo thường dùng trong trường hợp cán bộ, công chứcchưa được trang bị kiến thức, những kinh nghiệm để thực hiện công việc nào

đó Còn bồi dưỡng dùng để diễn tả hoạt động cung cấp thêm kiến thức, thôngtin, kinh nghiệm cần thiết cho cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dưỡng là haihoạt động có sự gắn kết tương đối và không thể thiếu trong quá trình vận hànhquản lý bộ máy nhà nước Công tác đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện nhằmxây dựng đội ngũ cán bộ, công chức bảo đảm về trình độ, năng lực, phẩm chất

để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Từ những phân tích, nhận định trên, có thể hiểu: Đào tạo cán bộ, côngchức DTTS là quá trình truyền đạt và tiếp nhận tri thức một cách có hệ thống

Trang 26

đối với người DTTS nhằm đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹnăng cần thiết của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.

1.2.2 Vai trò của đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Trong bối cảnh hiện nay đang vận động và phát triển dưới những hìnhthái quá độ, nghịch lý biểu hiện sự xung đột giữa cái cũ và cái mới làm thayđổi căn bản phương thức sản xuất và kinh tế dẫn đến những biến đổi về vănhoá, chính trị, xã hội đối với mỗi quốc gia, dân tộc Đặc điểm nổi bật của bốicảnh hiện nay đó là toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Cách mạng khoa học vàcông nghệ, kinh tế tri thức diễn ra mạnh mẽ đã tác động sâu sắc đến sự pháttriển của nhiều nước; các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới nhữnghình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển; hòa bình độc lập dântộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấutranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôngiáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố tranh chấp lãnhthổ, biển đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tụcdiễn ra phức tạp

Các nước đang phát triển và kém phát triển đang phải đối đầu với cuộcđấu tranh gay go, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp,

áp đặt và xâm lược của các nước lớn để bảo vệ chủ quyền quốc gia Nhữngvấn đề toàn cầu mang tính cấp bách đang thách thức cả nhân loại, đó là vấn đềgìn giữ hòa bình, chống khủng bố, đẩy lùi sự phân hóa giàu nghèo, tình trạngthất nghiệp, ô nhiễm môi trường sinh thái, thiên tai, dịch bệnh

Để giải quyết vấn đề trên đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường sự hợptác quan hệ song phương, đa phương trên tất cả các lĩnh vực Nằm trong xuthế biến đổi chung của thế giới, bên cạnh những thành tựu to lớn về kinh tế,văn hóa, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế,đất nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém ảnh hưởng đến tiến trình pháttriển chung của đất nước Đặc biệt, đối với các tỉnh miền núi tiềm lực kinh tế

Trang 27

cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn ở mức thấp; kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực thấp; còn nhiều mâuthuẫn, khó khăn bộc lộ trong quá trình quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệmôi trường, thu hút đầu tư phát triển; việc tổ chức lại sản xuất, bảo đảmkhông gian sinh sống cho các buôn, làng, nhất là giải quyết các vấn đề về đấtđai và nâng cao dân trí còn nhiều vấn đề bất cập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn xãhội và ảnh hưởng đến khối đoàn kết dân tộc; thế trận quốc phòng toàn dân và

an ninh nhân dân chưa thực sự vững chắc; các lực lượng và hệ thống chính trịnắm tình hình, nắm dân cư chưa chắc nên vẫn còn bị động phải đối phó vớinhiều tình huống về an ninh chính trị Các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài

“nhân quyền”, “tự do dân tộc”, “tự do tôn giáo” đang ra sức kích động chốngphá cách mạng làm mất ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn; vấn đề an ninhnông thôn, an ninh lương thực, an ninh biên giới đang bị đe dọa, nhiều kẻ xấu

đã lợi dụng lòng tin, sự nhẹ dạ của đồng bào các dân tộc phá hoại đời sốngcủa đồng bào, phá hoại chính sách phát triển kinh tế- xã hội của Đảng, Nhànước

Trước tình hình trên, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối,chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế, xã hội của đất nước, trong đó đặc biệt quantâm đến vấn đề đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độLLCT đối với cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý các cấp được xem là nhiệm

vụ then chốt trong công tác cán bộ của Đảng

Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị về tiếp tụcđổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo lý luận chính trị cho cán bộlãnh đạo, quản lý tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng: “Đào tạo lý luậnchính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng Mỗicán bộ, công chức phải thấm nhuần tư tưởng của Bác về học tập suốt đời, học

đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện phẩmchất đạo đức, tư cách người cách mạng” Đồng thời Nghị quyết đề ra nhiệm

Trang 28

vụ, giải pháp: “Điều chỉnh, bổ sung chế độ đối với người dạy và người học,

ưu tiên đối với cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số ”[3]

Xuất phát từ vị trí, vai trò và đặc điểm của cán bộ, công chức DTTS,Đảng ta luôn khẳng định sự cần thiết của công tác đào tạo cán bộ, công chứcngười DTTS Hoạt động thực tiễn đòi hỏi cần phải có tư duy lý luận, hiểu vànhận thức đúng đắn các quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước để thực hiện một cách đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện và hoàncảnh cụ thể của thực tiễn, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cáchmạng, tư cách của người cán bộ, công chức trong bối cảnh hiện nay Yêu cầuđối với công tác đào tạo LLCT không chỉ nâng cao tư duy lý luận mà thôngqua đó tăng cường năng lực hoạt động thực tiễn cho cán bộ, công chức DTTS

Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc thiểu số cùng chung sống, trong đó

có 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,3% dân số cả nước Đồng bào DTTS chủ yếusinh sống ở 52 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thực hiện chủ trương,chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ, trong những năm qua độingũ cán bộ, công chức người DTTS đã được quan tâm đào tạo nhằm nâng caotrình độ chuyên môn, LLCT góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế-xãhội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội vùng DTTS của cả nước Cácchính sách của Đảng, Nhà nước về cán bộ, công chức DTTS từng bước đượchoàn thiện Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, điều chỉnh,

bổ sung kịp thời, bước đầu đáp ứng được yêu cầu trong thực tiễn đào tạo,quản lý, sử dụng cán bộ, công chức là người DTTS Các cấp ủy đảng, chínhquyền các địa phương đã lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm tạo điều kiện cử cán bộ,công chức là người DTTS tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ, LLCT

Trang 29

Theo Đề án xây dựng cơ chế đặc thù trong tuyển dụng công chức, viênchức người dân tộc thiểu số công tác tại vùng dân tộc thiểu số và miềm núicủa Ủy ban Dân tộc của Chính phủ (Dự thảo lần 3), số liệu về số lượng cán

bộ, công chức, viên chức: Năm 2017, số cán bộ, công chức, viên chức cảnước là 2,72 triệu người Tỷ lệ nữ và người DTTS ở nhiều địa phương, bộ,ngành Trung ương chưa đạt theo mục tiêu, yêu cầu đề ra:

Đối với bộ, ngành Trung ương: Tổng số cán bộ, công chức, viên chức

là 365.990 người, trong đó DTTS 18.120 người, chiếm 4,95% Một số bộ,ngành có tỷ lệ cán bộ, công chức người DTTS cao như: Ủy ban Dân tộc, ViệnKiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tàichính

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tổng số cán bộ,công chức,viên chức là 1.528.430 người, trong đó người DTTS 162.120người, chiếm 10,6% Một số địa phương có tỷ lệ cán bộ, công chức ngườiDTTS cao, gần tương ứng với tỷ lệ dân số là người DTTS, như: Bắc Cạn, HàGiang, Hòa Bình, Tuyên Quang, Lai Châu và Thanh Hóa Hầu hết các tỉnhcòn lại tỷ lệ cán bộ, công chức là người DTTS còn thấp so với tỷ lệ dân số làngười DTTS chỉ chiếm 30% so với cán bộ, công chức của tỉnh, trong khi tỷ lệDTTS của tỉnh là 80,1%; các tỉnh khác như: Đắk Lắk 13% so với 31%, ĐắkNông 09% so với 32,4%

Về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Đối với các bộ, ngành Trung ương, tổng số cán bộ, công chức 151.900người, cơ cấu về chất lượng cụ thể: Về trình độ chuyên môn đào tạo: Tiến sĩ,chiếm 0,4%; thạc sĩ, chiếm 02%; đại học, chiếm 75%; cao đẳng, chiếm 10%;trung cấp, chiếm 11,4%; sơ cấp, chiếm 01%; chưa qua đào tạo, chiếm 0,2%

Về lý luận chính trị: Cử nhân, chiếm 04%; cao cấp, chiếm 7,5%; trung cấp,chiếm 37%; sơ cấp, chiếm 14%; chưa đào tạo, chiếm 37,5%

Trang 30

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổng số cán bộ,công chức là 634.330 người, cơ cấu về chất lượng cụ thể như sau:Về trình độchuyên môn đào tạo: Tiến sĩ, chiếm 0,03%; thạc sĩ, chiếm 0,8%; đại học,chiếm 45,5%; cao đẳng, chiếm 8,67%; trung cấp, chiếm 35,8%; sơ cấp, chiếm07%; chưa qua đào tạo, chiếm 2,2% Về lý luận chính trị: Cử nhân, chiếm0,6%; cao cấp, chiếm 4,3%; trung cấp, chiếm 29,3%; sơ cấp, chiếm 12%;chưa đào tạo, chiếm 53,8%.

Với sự tăng lên về số lượng, chất lượng có chuyển biến tiến bộ của độingũ cán bộ, công chức là người DTTS Tiêu biểu cho chất lượng đội ngũ này

là những đại biểu đại diện cho việc tham gia hoạt động trong hệ thống chínhtrị ngày càng đông, nhiều người đã trở thành cán bộ, công chức cao cấp củaĐảng, Quốc hội, Chính phủ Trong nhiệm kỳ gần đây, số đại biểu Quốc hội làngười DTTS chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ dân số của người DTTS: Nhiệm kỳQuốc hội khóa XI có 86 đại biểu; nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII có 86 đại biểu;nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII có 78 đại biểu; nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV có

86 đại biểu Hầu hết cán bộ, công chức người DTTS có chẩm chất chính trị,nhiệt tình công tác, gắn bó với nhân dân, tích cực học tập nâng cao nhận thức,chuyên môn, năng lực công tác Vì vậy, họ đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo,quản lý tại cơ quan, đơn vị, là hạt nhân tập hợp sức mạnh khối đoàn kết cácdân tộc trong việc tổ chức thực hiện đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của đất nước và vùng DTTS vàmiền núi đặt đội ngũ cán bộ, công chức người DTTS cũng như công tác cán

bộ của nền hành chính trong hệ thống chính trị phải nâng cao chất lượng nhưKết luận số 64-KL/TW, ngày 28-5-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XIcủa Đảng về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị

từ Trung ương đến cơ sở” đã đề cập: “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ,công chức để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trình độ, năng

Trang 31

lực, kỹ năng công tác; kết hợp việc đào tạo với thực hiện luân chuyển để rènluyện trong thực tiễn”[2].

1.3 Nguyên tắc, đối tượng, điều kiện, nội dung, hình thức đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Đào tạo cán bộ, công chức quyết định sự phát triển của mỗi địaphương, đơn vị nói riêng và đất nước nói chung, công tác đào tạo là nhiệm vụquan trọng hàng đầu, cần tiến hành thường xuyên, trận trọng, khoa học vàhiệu quả, là yêu cầu khách quan trong xây dựng và nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức trong giai đoạn cách mạng hiện nay

1.3.1 Nguyên tắc đào tạo cán bộ, công chức

Theo quy định của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, ngày 01-9-2017 củaChính phủ về đào tạo cán bộ, công chức gồm: Đào tạo phải căn cứ vào tiêuchuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp, chức vụ lãnh đạo, quản lý và

vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, phù hợpvới kế hoạch đào tạo và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơquan, đơn vị Thực hiện phân công, phân cấp trong đào tạo theo tiêu chuẩnngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; kết hợp phân công vàcạnh tranh trong tổ chức đào tạo theo yêu cầu của vị trí việc làm Đề cao ýthức tự học và việc lựa chọn chương trình đào tạo theo yêu cầu vị trí việc làmcủa cán bộ, công chức Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả [12]

Như vậy, nguyên tắc đào tạo cán bộ, công chức người DTTS là phảicăn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh và phù hợp với

kế hoạch đào tạo của địa phương, đơn vị và đảm bảo công khai, minh bạchtrong công tác đào tạo

1.3.2 Đối tượng cán bộ, công chức đào tạo

Theo quy định của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP gồm: Cán bộ trongcác cơ quan nhà nước; công chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố

Trang 32

trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi

là cấp huyện); công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) [12]

Theo quy định của Ban Tổ chức Trung ương về đối tượng được đào tạocao cấp lý luận chính trị - hành chính tại Học viên Trung tâm và Học viện cáckhu vực đối với cấp Tỉnh: Tỉnh ủy viên, thành ủy viên, trưởng, phó các sở,ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố trở lên; cán bộ chủ chốt cấp huyện (Bíthư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân) vàtương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh này; trưởng phòng

và tương đương của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố; cấp ủy viêncấp huyện, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dâncấp huyện và tương đương; trưởng phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện vàtương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh nêu trên

Đối tượng được đào tạo Trung cấp LLCT: Cán bộ lãnh đạo, quản lý củaĐảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và cácđơn vị tương đương); trưởng, phó phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện vàtương đương; trưởng, phó phòng của sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh vàtương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ, công chức cấp cơ

sở và một số đối tượng khác

Như vậy, theo quy định trên đối tượng được đào tạo về chuyên mônnghiệp vụ là cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị từ trung ương đến cấpxã; đối tượng đào tạo LLCT là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý các cấp và

dự nguồn các chức danh trong quy hoạch

1.3.3 Điều kiện đào tạo cán bộ, công chức

Theo quy định của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP gồm: Về điều kiệnđào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học: “Là cán bộ, công chức cấp xã làngười DTTS hoặc công tác tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu,vùng xa, vùng DTTS, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và

Trang 33

phải có cam kết thực hiện nhiệm vụ, công vụ tại cơ quan, đơn vị sau khi hoànthành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 02 lần thời gian đàotạo… Điều kiện đào tạo sau đại học đối với cán bộ, công chức: Có thời giancông tác từ đủ 03 năm trở lên và 02 năm liên tục liền kề trước thời điểm được

cử đi đào tạo hoàn thành tốt nhiệm vụ; không quá 40 tuổi tính từ thời điểmđược cử đi đào tạo sau đại học lần đầu; có cam kết thực hiện nhiệm vụ, công

vụ tại cơ quan, đơn vị sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian

ít nhất gấp 02 lần thời gian đào tạo; chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị tríviệc làm” [12]

Theo Nghị quyết số 143/2014/NQ-HĐND tỉnh, ngày 13-12-2014 củaHĐND Tỉnh quy định về chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học: “Cán bộ, côngchức được cấp có thẩm quyền cử đi đào tạo tại các cơ sở trong nước để nângcao trình độ chuyên môn phục vụ cho vị trí đang đảm nhiệm hoặc đã quyhoạch; khi đi học phải là đại học chính quy và chuyên ngành học sau đại họcphải cùng chuyên ngành đã học đại học trước đó và có tuổi đời không quá 40tuổi; riêng đối với thạc sĩ phải có kết quả bảo vệ đạt loại giỏi, xuất sắc”[ 22]

Như vậy, về điều kiện đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại họcphải là cán bộ, công chức cấp xã người DTTS hoặc cán bộ, công chức côngtác tại các vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ và phải cam kết thựchiện nhiệm vụ, công vụ tại cơ quan, đơn vị sau khi hoàn thành chương trìnhđào tạo Đối với đối tượng đào tạo sau đại học quy định về độ tuổi và chuyênngành học sau đại học phải cùng chuyên ngành đã học đại học trước đó

1.3.4 Hình thức, nội dung đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

Về hình thức đào tạo nói chung và đào tạo LLCT nói riêng được quy địnhtại Quy chế đào tạo Cao cấp LLCT ban hành kèm theo Quyết định số 3842/QĐ-HVQG, ngày 17-9-2015 của Giám đốc Học viên Chính trị quốc gia Hồ ChíMinh, theo đó hình thức đào tạo học tập trung liên tục 8 tháng, học không liên

Trang 34

tục 18 tháng, hoàn chỉnh kiến thức: Học không liên tục tối đa 05 tháng (hìnhthức này không áp dụng đối với các Học viện trực thuộc).

Theo quy định của Quyết định số 163/QĐ-TTg, ngày 25-01-2016 củaThủ tướng Chính phủ về đề án đào tạo cán bộ, công chức giai đoạn 2016-2025: “Đào đạo trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho cán bộ,công chức lãnh đạo, quản lý các cấp, các chức danh công chức và cán bộ,công chức cấp xã; đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học cho cán bộ,công chức cấp xã phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của các vùngmiền; đào tạo sau đại học cho cán bộ, công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấphuyện trong trường hợp cơ quan, đơn vị được tổ chức, sắp xếp lại mà khôngthể bố trí được công việc phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo trước đó;đào tạo trình độ sau đại học phù hợp với vị trí việc làm cho cán bộ, công chức

ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đảm bảo theo quy hoạch và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị” [27]

Như vậy, theo quy định trên cho thấy đào đạo trình độ trung cấp, caocấp LLCT cho cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ, côngchức cấp xã với hình thức đào tạo tập trung và không tập trung; đào tạo trình

độ trung cấp, cao đẳng, đại học cho cán bộ, công chức cấp xã; đào tạo trình độchuyên môn nghiệp vụ sau đại học cho cán bộ, công chức ở Trung ương, cấptỉnh, cấp huyện

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

1.4.1 Chính sách đào tạo

Chính sách đào tạo đối với cán bộ, công chức DTTS là định hướng, làyếu tố quan trọng đối với công tác xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiệncông tác đào tạo Mặt khác, chính sách là phương tiện để cụ thể hóa chủtrương, chính sách của Đảng và của Nhà nước về công tác đào tạo cán bộ,công chức DTTS Dựa vào các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật

Trang 35

của Nhà nước quy định về công tác đào tạo để xác định rõ chức năng, nhiệm

vụ, thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị để xây dựng kế hoạch đàotạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng đơn vị về số lượng và

cơ cấu Đồng thời, giám sát, kiểm tra, thanh tra công tác đào tạo, chất lượng

và nội dung chương trình cũng như kết quả của đào tạo đối với cán bộ, côngchức

1.4.2.Nguồn tuyển dụng đầu vào của cán bộ, công chức

Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng của đội ngũ cán bộ, công chức DTTS Cơ quan, đơn vị tuyển dụngđược những người học đúng chuyên môn đã được đào tạo, giúp cho việc bốtrí, sử dụng cán bộ, công chức DTTS được dễ dàng và hiệu quả hơn; việcđánh giá năng lực của cán bộ, công chức cũng đúng, sát với thực tế hơn

Đội ngũ cán bộ, công chức DTTS được tuyển dụng hoặc được luânchuyển có chuyên môn không phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm sẽ là mộtkhó khăn, bất lợi cho tổ chức, vì phải tiến hành đào tạo lại gây lãng phí nguồnlực Nhà nước Đồng thời, nguồn tuyển dụng đầu vào còn phụ thuộc quy địnhcủa Đảng, Nhà nước như theo Hướng dẫn số 37-HD/BTCTW, ngày 04-8-

2015 của Ban Tổ chức Trung ương quy định về điều kiện đăng ký dự tuyển:Đối với vị trí việc làm là công chức làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưutrong các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng từ Trung ương đến cấphuyện, người đăng ký dự tuyển phải là đảng viên và không vi phạm các tiêuchuẩn chính trị về bảo vệ chính trị nội bộ Trên thực tế, với điều kiện trên thìrất khó tuyển dụng được công chức vào làm việc tại các cơ quan của Đảng từTrung ương đến cấp huyện

Như vậy, nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ, công chứcDTTS sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, côngchức Làm ảnh hưởng lớn đến nội dung chương trình đào tạo, thời gian đàotạo, số lượng cần phải đào tạo và nguồn kinh phí đào tạo

Trang 36

1.4.3 Các cơ sở đào tạo

Các cơ sở đào tạo cán bộ, công chức là nơi tổ chức thực hiện các khóađào tạo trang bị, bổ sung kiến thức, kỹ năng hoạt động công vụ cho cán bộ,công chức DTTS Các cơ sở đào tạo phải bảo đảm các tiêu chuẩn của mộttrường đào tạo cán bộ, công chức hiện đại, có khuôn viên rộng rãi, hội trường,các phòng học, ký túc xá, khu thể thao; trang thiết bị giảng dạy hiện đại; kếtcấu hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiệnđại và đảm bảo chất lượng; đội ngũ giảng viên đảm bảo về tiêu chuẩn, sốlượng và có năng lực giảng dạy; đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo chuyênnghiệp

1.4.4.Nội dung và chương trình đào tạo

Nội dung đào tạo cán bộ, công chức DTTS được xác định dựa trên cơ

sở của mục tiêu đào tạo cán bộ, công chức DTTS là yếu tố quan trọng củacông tác đào tạo Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản định hướngnội dung đào tạo cán bộ, công chức bao gồm: Khung chương trình đào tạo caocấp, trung cấp LLCT; các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban Chấphành Trung ương, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các văn bản quyphạm pháp luật của Nhà nước Những văn bản của Đảng, Nhà nước quy định

về hệ thống chính trị, tiêu chuẩn chức danh cán bộ, những nội dung kiến thứccán bộ, công chức phải biết Hệ thống văn bản quy định tiêu chuẩn ngạchcông chức, quy định về văn bằng, chứng chỉ mà mỗi ngạch công chức phải có

và mỗi công chức phải được đào tạo Hiện nay, nội dung đào tạo đối với cán

bộ, công chức bao gồm: Đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đào tạo vềLLCT; đào tạo về ngoại ngữ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có lậptrường tư tưởng vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất và năng lựccông tác để làm việc trong môn trường quốc tế

Trang 37

1.4.5.Hội nhập và toàn cầu hóa

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên quy mô toàn cầu vàngày càng sâu rộng, điều đó đặt ra cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung

và cán bộ, công chức người DTTS phải không ngừng nâng cao trình độchuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức về hội nhập quốc tế để đáp ứngyêu cầu của cơ quan, đơn vị và yêu cầu của từng vị trí việc làm Do đó côngtác đào tạo cán bộ, công chức đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với hệ thốngchính trị nói chung và cán bộ, công chức DTTS nói riêng phải thường xuyêncập nhật và tiếp cận kế hoạch đào tạo phát triển cán bộ, công chức của cácnước phát triển, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức là rất cần thiết Đội ngũ cán bộ, công chức DTTStrưởng thành, nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới, nâng cao chấtlượng công tác tham mưu hoạch định và xây dựng chính sách phù hợp vớiquan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về định hướng pháttriển nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân [44]

Trang 38

Tiểu kết Chương 1

Các nội dung nêu tại Chương 1 đã luận giải một số khái niệm cơ bản vềcán bộ, công chức; cán bộ, công chức là người DTTS; khái niệm, đặc điểm,vai trò của cán bộ, công chức là người DTTS; khái niệm và sự cần thiết củađào tạo cán bộ, công chức là người DTTS; nguyên tắc, đối tượng, điều kiện,nội dung, hình thức đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS; các yếu tố ảnhhưởng đến đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS

Công tác đào tạo cán bộ, công chức là người DTTS với nhiều nội dung,đặc điểm cần tập trung phân tích, đặc biệt trong điều kiện xây dựng nền hànhchính hiện đại và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay công tác đào tạocán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức là người DTTS nói riêngluôn được thường xuyên quan tâm Mặt khác, kịp thời hoàn chính, bổ sungnhững nội dung còn hạn chế giúp công tác đào tạo đạt hiệu quả Để làm rõhơn các vấn đề lý luận, pháp lý này cần phải xuất phát từ thực trạng công tácđào tạo cán bộ, công chức là người DTTS tại tỉnh Đắk Lắk

Trang 39

CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk có liên quan đến việc đào tạo cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

2.1.1.Đặc điểm tự nhiên

Đắk Lắk là tỉnh miền núi, nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có vị tríđặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh, kinh tế - chính trị Phía Bắc giáptỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh ĐắkNông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnhMondulkiri, Vương quốc Campuchia Đắk Lắk có nhiều tuyến đường giaothông quan trọng nối liền với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên và Duyên hảimiền Trung, gồm: Quốc lộ 14, quốc lộ 14C, quốc lộ 19C, quốc lộ 26, quốc lộ

27, quốc lộ 29, đường Hồ Chí Minh và đường Đông Trường Sơn Mạng lướigiao thông nói trên là điều kiện thuận lợi để Đắk Lắk mở rộng giao thươngvới các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và cả nước nhằmtăng cường khả năng liên kết, hợp tác giữa Đắk Lắk với các tỉnh để mở rộngthị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản

Tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125 km2, chiếm 3,9% diện tích

tự nhiên của cả nước và chiếm 24% diện tích vùng Tây Nguyên Toàn tỉnh có

15 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm: Thành phố Buôn Ma Thuột, thị xãBuôn Hồ và các huyện: Ea H’Leo, Ea Súp, Krông Năng, Krông Bông, Krông Búk,Krông Pắc, Krông Ana, Buôn Đôn, Cư M’Gar, M’Đrắk, Ea Kar và Lắk Với 184

xã, phường, thị trấn, gồm: 152 xã, 20 phường, 12 thị trấn; có 2.481 thôn, buôn, tổdân phố, trong đó có 613 buôn đồng bào DTTS tại chỗ

Dân số trung bình của Tỉnh năm 2019 là 1.872.574 người; dân tộc thiểu

số chiếm 33% dân số toàn tỉnh, trong đó DTTS tại chỗ chiếm 19,5% Cộngđồng dân cư của Tỉnh gồm 47 dân tộc đang chung sống; có 4 tôn giáo chính,

Trang 40

gồm: Thiên chúa giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài; các tín đồ theo tôn giáochiếm 24,4% dân số toàn tỉnh.

Hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư; diện mạo nông thôn, đôthị thay đổi nhanh chóng, tương đối hiện đại Xây dựng nông thôn mới cónhiều chuyển biến tích cực, năm 2020 hoàn thành chỉ tiêu số xã được côngnhận là nông thôn mới (61/152 xã); 01 đơn vị cấp huyện đã được công nhậnhoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới

Công tác quản lý và phát triển đô thị đạt được kết quả tích cực Côngtác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đượctăng cường Văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ cóchuyển biến tích cực; chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân được cải thiện;các chính sách an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả thiết thực Tỷ lệ hộnghèo đến năm 2020 giảm còn 4,99%, đạt kế hoạch đề ra

Tình hình chính trị, xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự,

an toàn xã hội được đảm bảo Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệthống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được củng cố Phương thức hoạtđộng của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục được đổimới hiệu quả, phù hợp với sự phát triển của xã hội Công tác xây dựng chínhquyền và cải cách hành chính đạt được nhiều kết quả quan trọng, bộ máychính quyền địa phương các cấp được củng cố, kiện toàn Quy chế dân chủ cơ

sở được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế đó là: Đời sống của một bộ phậnNhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫncòn nhiều khó khăn An ninh chính trị, trật tự xã hội còn tiềm ẩn những yếu tốgây mất ổn định Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng

và công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền còn bất cập; có lúc, cónơi chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk

Ngày đăng: 25/12/2020, 05:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w