1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp tài chính phát triển bền vững các khu công nghiệp tỉnh vĩnh phúc

201 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đề tài chọn đốitượng nghiên cứu là chính sách thu hút đầu tư vào các KCN và một số công trình đềcập đến việc phát triển bền vững các KCN như: xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đá

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu 13

7 Kết cấu của luận án 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU CÔNG NGHIỆP 17

1.1 KHU CÔNG NGHIỆP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 17

1.1.1 Bản chất và vai trò của các khu công nghiệp 17

1.1.2 Phát triển bền vững khu công nghiệp 20

1.2 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 34

1.2.1 Khái niệm giải pháp tài chính phát triển bền vững các khu công nghiệp 34

1.2.2 Vai trò của các giải pháp tài chính đến sự phát triển bền vững các khu công nghiệp 35

1.2.3 Nội dung các giải pháp tài chính phát triển bền vững các khu công nghiệp 36

1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới các giải pháp tài chính phát triển bền vững các khu công nghiệp 50

1.3 KINH NGHIỆM VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở VIỆT NAM.55 1.3.1 Kinh nghiệm ở Hưng Yên 55

1.3.2 Kinh nghiệm ở Bắc Giang 57

1.3.3 Kinh nghiệm ở Hải Phòng 58

1.3.4 Kinh nghiệm ở Bình Dương 60

1.3.5 Một số bài học về giải pháp tài chính phát triển bền vững khu công nghiệp rút ra cho tỉnh Vĩnh Phúc 61

Trang 3

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 63 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 64 2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 64

2.1.1 Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 642.1.2 Tính bền vững trong sự phát triển các khu công nghiệp Vĩnh Phúc 692.1.3 Đánh giá chung về sự phát triển bền vững các khu công nghiệp tỉnh VĩnhPhúc 78

2.2 THỰC TRẠNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 80

2.2.1 Giải pháp tài chính của Nhà nước 822.2.2 Giải pháp tài chính của các doanh nghiệp để phát triển bền vững các khu côngnghiệp Vĩnh Phúc 103

2.3 ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 115

2.3.1 Một số kết quả tích cực từ việc sử dụng các giải pháp tài chính 1152.3.2 Một số hạn chế trong việc xây dựng và triển khai các giải pháp tài chính đểphát triển các khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc 1172.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện các giải pháp tài chínhphát triển các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 118

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 123 CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 124

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN CÁCKHU CÔNG NGHIỆP CỦA VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2021-2025 1243.1.1 Định hướng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2021-2025 1243.1.2 Quan điểm, định hướng phát triển bền vững các khu công nghiệp ở VĩnhPhúc giai đoạn 2021- 2025 1273.1.3 Mục tiêu xây dựng và sử dụng các giải pháp tài chính phát triển các KCNtheo hướng bền vững 130

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2021-2025, TẦM NHÌN ĐẾN 2030 131

Trang 4

3.2.1 Đề xuất với Nhà nước để điều chỉnh một số chính sách ưu đãi thuế và áp

dụng chúng một cách phù hợp với điều kiện của địa phương 131

3.2.2 Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư để phát triển các khu công nghiệp 138

3.2.3 Đa dạng hóa và tập trung các nguồn thu để tăng cường khả năng cho ngân sách địa phương nhằm đảm bảo nhu cầu chi ngân sách 143

3.2.4 Hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách và sử dụng ngân sách 147

3.2.5 Nhanh chóng thực hiện chính sách ưu đãi tín dụng đối với các chủ thể có liên quan đến quá trình phát triển các khu công nghiệp 155

3.3 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VĨNH PHÚC 159

3.3.1 Tăng vốn chủ sở hữu, lựa chọn nguồn vốn tín dụng tối ưu nhằm đảm bảo đúng tiến độ, đầy đủ hạng mục và quy mô đầu tư của dự án 159

3.3.2 Chia sẻ nguồn lực tài chính với các đối tác trong chuỗi kinh doanh 161

3.3.3 Trích lập quỹ phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp 163

3.3.4 Tạo lập và sử dụng có hiệu quả quỹ bảo vệ môi trường 164

KẾT LUẬN 166

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 167 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ KH & ĐT : Bộ Kế hoạch & Đầu tư

GTSX : Giá trị sản xuất

PTBV : Phát triển bền vững

Thuế XNK : Thuế xuất nhập khẩu

Thuế TNCN : Thuế thu nhập cá nhân

Thuế GTGT : Thuế giá trị gia tăng

Ngân hàng VDB : Ngân hàng phát triển Việt NamNHTM : Ngân hàng thương mại

NSNN : Ngân sách nhà nước

NSĐP : Ngân sách địa phương

SXCN : Sản xuất công nghiệp

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thực trạng các khu công nghiệp ở Hưng Yên tới 31/12/2016 56

Bảng 1.2: Số dự án và vốn đăng ký tại các KCN đang hoạt động ở Hưng Yên (Tính đến hết 6/ 2020) 57

Bảng 1.3: Sự phát triển các KCN Bắc Giang tới hết năm015 58

Bảng 1.4: Các khu công nghiệp ở Bắc Giang (tới giữa năm 2020) 59

Bảng 1.5: Số doanh nghiệp và vốn đầu tư vào các KCN đang hoạt động tại Hải Phòng tới 31/ 12/ 2016 60

Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế của Vĩnh Phúc giai đoạn 1997-2018 65

Bảng 2.2: Sự phát triển của các KCN tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010- 2019 66

Bảng 2.2b Quy mô các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 68

Bảng 2.3 Chủ đầu tư các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 69

Bảng 2.4 Diện tích và tỷ lệ lấp đầy các KCNđã thành lập tỉnh Vĩnh Phúc 73

Bảng 2.5 Tổng số dự án và số vốn đăng ký, vốn thực hiện 2015-2019 74

Bảng 2.6 Hiệu quả hoạt động của các DN trong KCN tỉnh Vĩnh Phúc 75

Bảng 2.7 Giá trị sản xuất CN từ các KCN Vĩnh Phúc 2014-2019 76

Bảng 2.8 Số thu từ các KCN Vĩnh Phúc 2010-2018 85

Bảng 2.9 Miễn giảm thuế TNDN đối với các doanh nghiệp 86

Bảng 2.10 Đánh giá của các doanh nghiệp & tổ chức về chính sách thuế 88

Bảng 2.11 Mức độ ưu tiên sửa đổi chính sách thuế xuất nhập khẩu 89

Bảng 2.12 Quan điểm về việc chính quyền đầu tư ngân sách xây dựng nhà ở cho công nhân các KCN ở Vĩnh Phúc 96

Bảng 2.13 Quan điểm về việc tỉnh đầu tư NSNN để xây dựng KCN và phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 97

Bảng 2.14a: Kinh phí bù lỗ cho các tuyến xe buýt ở Vĩnh Phúc 100

Bảng 2.14b Khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của công nhân các KCN 100

Bảng 2.15 Mức độ cần thiết nhà nước hỗ trợ đầu tư các phương tiện 101

công cộng phục vụ miễn phí cho công nhân các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 101

Bảng 2.16 Quan điểm về việc tách hoạt động xây dựng trung tâm xử lý nước thải tập trung thành các tiểu dự án để kêu gọi đầu tư độc lập 104

Bảng 2.17 Mức độ quan trọng và cần thiết của việc tham gia mua bảo hiểm các loại của doanh nghiệp trong KCN 108

Bảng 2.18 Mức độ cần thiết của công ty về việc trích lập quỹ bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp 109

Trang 7

Bảng 2.19 Đề xuất về cách thức xử lý nước thải và chất thải rắn của doanh nghiệp

trong KCN 109

Bảng 2.20 Tỷ lệ diện tích trồng cây xanh tạo cảnh quan môi trường trong công ty trên tổng diện tích đất thuê 110

Bảng 2.21 Sự hỗ trợ của công ty dành cho người lao động thất nghiệp 112

Bảng 2.22 Giá cho thuê mặt bằng công nghiệp và phí dịch vụ 114

Bảng 2.23 Giá cho thuê mặt bằng ở các KCN tỉnh Bắc Giang 114

Bảng 2.24 Phí bảo trì ở các KCN tỉnh Bắc Giang 115

Bảng 3.1 Số liệu lao động tại các nơi tập trung nhiều công nhân 154

Bảng 3.2.Doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân 154

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Quan hệ giữa thuế suất với GDP và thu ngân sách nhà nước 38

Hình 1.2: Biến động vốn của doanh nghiệp trong chu kỳ kinh doanh 44

Hình 1.3: Tác động của giải pháp áp dụng giá cho thuê mặt bằng hợp lý tới sự phát triển bền vững của các KCN 46

Hình 2.1 Bản đồ quy hoạch các KCN tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2015 72

Hình 2.1b: Sự cải thiện tính bền vững trong phát triển các KCN ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2015- 2019 81

Hình 2.2 Đánh giá về khung chính sách đối với các KCN tỉnh Vĩnh Phúc 83

Hình 2.3 Chính sách tài chính nhà nước cần tập trung sửa đổi 84

Hình 2.4 Mức độ ưu tiên sửa đổi chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp 88

Hình 2.5 So sánh mức độ ưu tiên sửa đổi, bổ sung các chính sách thuế tỉnh Vĩnh Phúc đang áp dụng 90

Hình 2.6 Quan điểm về sử dụng NSNN để hỗ trợ GPMB 93

Hình 2.7 Hình thức phổ biến đáp ứng nhu cầu về nhà ở của công nhân các KCN Vĩnh Phúc 95

Hình 2.8 Đánh giá về chính sách, chủ trương của chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc trong vấn đề nhà ở cho công nhân ở các KCN 96

Hình 2.9 Khả năng cung cấp thông tin & cung ứng lao động cho các KCN tại Vĩnh Phúc 98

Hình 2.10 Phương thức di chuyển, đi lại của công nhân các KCN Vĩnh Phúc 99

Hình 2.11 Mức độ cần thiết sử dụng ngân sách để hỗ trợ cho nông dân trong việc đào tạo, chuyển đổi ngành nghề 102

Hình 2.12 Đánh giá về chính sách tín dụng tại Vĩnh Phúc 103

Hình 2.13 Mức độ cần thiết sửa đổi chính sách tín dụng tại Vĩnh Phúc 103

Hình 2.14 Chính sách tín dụng tại địa phương có nên ưu tiên, khuyến khích hiện nay đối với trong quá trình đầu tư phát triển các KCN 104

Hình 3.1 Quan điểm về việc chính quyền đầu tư ngân sách xây dựng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc 175

Hình 3.2 Mức độ cần thiết sửa đổi chính sách tín dụng 180

Hình 3.3 Nguồn vốn công ty huy động để ổn định và mở rộng sản xuất 162

Hình 3.4 Thực trạng trích lập các quỹ dự phòng rủi ro của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp 166

Hình 3.5 Mức độ cần thiết của các doanh nghiệp về việc trích lập quỹ bảo vệ môi trường 167

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Vĩnh Phúc đang chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế Phát triển các KCN là một chủtrương lớn và quan trọng của tỉnh trong những năm qua Từ khi tái thành lập tỉnhnăm 1997, sựphát triển các KCN ở Vĩnh Phúc đã luôn biến động cùng chiều với giátrị sản xuất công nghiệp, cơ cấu kinh tế, số thu ngân sách, năng lực cạnh tranh…của Tỉnh Tuy nhiên, sự phát triển bền vững của các KCN Vĩnh Phúc đang đòi hỏiphải giải quyết nhiều vấn đề, đặc biệt là:

Thứ nhất, các KCN hiện đang tập trung quá mức ở các trung tâm kinh tế (các

đô thị), nằm cạnh hoặc rất gần các trục đường quốc lộ thuận tiện cho việc cung cấpvật tư phục vụ sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chưa vươn tới được những địa phương

có tiềm năng nhưng cơ sở hạ tầng chưa phát triển khác

Thứ hai, trong chiến lược trước đây về thu hút đầu tư vào các KCN, địa

phương chưa có nhiều kinh nghiệm khiến quá trình thu hút đầu tư chưa đạt hiệu quảnhư kỳ vọng và tính bền vững chưa được đảm bảo vững chắc

Thứ ba, doanh nghiệp trong các KCN Vĩnh Phúc đã phát triển mạnh nhưng

hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, việc mở rộng quy mô còn chậm, chưa đápứng kỳ vọng của địa phương cũng như của chính các nhà đầu tư

Thứ tư, chất thải từ quá trình sản xuất trong các KCN của tỉnh chưa được xử

lý triệt để khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường tại đây có xu hướng gia tăng.Vấn đề này đã được nói tới từ nhiều năm nay ở nhiều cấp độ nhưng vẫn chưa cócác giải pháp khắc phục một cách có hiệu quả và lâu dài

Trong bối cảnh trên, Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều biện pháp để đảm bảo

và nâng cao tính bền vững trong phát triển các KCN, từ tăng cường kiểm tra,giám sát, xử lý triệt để các trường hợp vi phạm, đồng thời khuyến khích cácdoanh nghiệp trong KCN thực thi tốt hơn chủ trương của tỉnh cũng như của Nhànước Về mặt tài chính, Tỉnh đã vận dụng các chính sách của Nhà nước, đặc biệt

là các chính sách thuế và phí, đồng thời sử dụng những khoản chi khả dĩ đề đầu

tư hỗ trợ các KCN hoặc hỗ trợ trực tiếp cho các nhà đầu tư vào KCN Vấn đềđặt ra là mặc dù những biện pháp này đã được quan tâm nhưng chưa đem lại tácđộng như mong muốn Từ kinh nghiệm của các địa phương khác ở trong vàngoài nước, từ phân tích các trường hợp cụ thể và đánh giá tác động của cácbiện pháp đã tiến hành, có thể rút ra kết luận rằng cần có một hệ thống đồng bộcác chính sách & giải pháp phù hợp hơn, trong đó hệ thống các giải pháp và

Trang 11

chính sách về tài chính được coi là nhân tố quan trọng để đạt mục tiêu

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết nói trên, “Giải pháp tài chính phát triển bền vững các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc” đã được chọn làm đề tài cho luận

án tiến sỹ này

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài

2.1 Những kết quả nghiên cứu ở trong nước

Xây dựng và phát triển các KCN được nhiều quốc gia cũng như nhiều nhànghiên cứu coi là một trong những biện pháp quan trọng để phát triển công nghiệp,thực hiện công nghiệp hóa Bên cạnh việc phát triển nhanh, khai thác có hiệu quảcác KCN, vấn đề phát triển bền vững và phát triển bền vững các KCN đã được cácquốc gia phát triển quan tâm nghiên cứu từ khá sớm Hầu hết các quốc gia pháttriển, thực hiện công nghiệp hóa sớm hiện đều có chiến lược phát triển các KCN,trong đó sự phát triển bền vững của chúng được coi là một yêu cầu mang tính bắtbuộc thậm chí được thể chế hóa dưới các văn bản luật Ở Việt Nam, vấn đề pháttriển và phát triển bền vững các KCN đã được quan tâm trong một khoảng thời giandài và đã được đề cập trong nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu về các KCN ởViệt Nam, một số đã được xuất bản thành các ấn phẩm, được lưu hành rộng rãi

Về KCN và các vấn đề trực tiếp liên quan tới các KCN, trong đó có việc pháttriển bền vững các KCN, đã có khá nhiều ấn phẩm được công bố ở Việt Nam, đặcbiệt là:

- Phát triển các KCN, KCX trong quá trình CNH, HĐH [78].

- Ảnh hưởng của chính sách phát triển các KCN tới phát triển bền vững ở Việt Nam [56].

- Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp trong các KCN vùng

đồng bằng sông Hồng [38].

- Một số giải pháp giải quyết việc làm, nhà ở, đảm bảo đời sống cho người

lao động và đảm bảo an ninh nhằm phát triển các KCN của tỉnh Hưng Yên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá [44].

- Các vùng, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tiềm năng và triển vọng

đến năm 2020 [89].

- Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam [54].

- Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam- Học

hỏi và sáng tạo [92].

- Công nghiệp Việt Nam- Thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn

tới [66].

Trang 12

- Một số mô hình công nghiệp hóa trên thế giới và Việt Nam [94]

Các tài liệu, ấn phẩm trên được xuất bản đều tập trung vào vấn đề phát triểnngành công nghiệp, các KCN ở nhiều góc độ khác nhau như vai trò của KCN đốivới quá trình CNH, HĐH đất nước, tác động của chúng tới quá trình phát triển kinhtế xã hội, Bên cạnh đó, các công trình khoa học này cũng đã đề xuất những giảipháp, kiến nghị để phát triển các KCN như nghiên cứu kinh nghiệm, tổ chức quyhoạch, chiến lược phát triển, tổ chức và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ Tuy nhiên,trong các công trình này chưa có công trình nào là chuyên khảo đề cập sâu đến cácvấn đề tài chính và nhìn nhận chúng như những giải pháp mang tính động lực pháttriển bền vững các KCN

Bên cạnh những công trình nghiên cứu có hệ thống được xuất bản thànhnhững ấn phẩm trên, nhiều kết quả nghiên cứu khác được trình bày tóm tắt dướidạng các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành hoặc báo cáo tại các hội thảo quốcgia và quốc tế Một số công trình như vậy gồm:

1 Nghiên cứu của Nguyễn Hải Bắc được công bố dưới tiêu đề “Các tiêu chí

đánh giá phát triển bền vững công nghiệp địa phương”, tập trung phân tích một số

chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững của công nghiệp địa phương nói chung,không đề cập đến KCN hay phát triển bền vững KCN [2]

2 “Mô hình kết hợp KCN- khu đô thị, những ưu điểm và giải pháp phát triển”

của Nguyễn Xuân Điền phân tích những ưu điểm nổi bật của mô hình kết hợp nàyqua các dẫn chứng cụ thể nhằm nêu hàm ý là thiết kế xây dựng theo mô hình này

để đảm bảo cho phát triển bền vững của các KCN Tuy vậy, khi đề xuất các giảipháp phát triển tác giả tập trung vào các giải pháp kinh tế- kỹ thuật nói chung,chưa phân tích sâu những tác động của các giải pháp hay các công cụ tài chínhcủa các chủ thể liên quan đã được sử dụng như thế nào để phát triển các KCNtheo hướng bền vững [35]

3 Trong “Đáp ứng dịch vụ tài chính đối với các doanh nghiệp tại các KCN ở

đồng bằng sông Hồng”, Nguyễn Xuân Điền đã đánh giá nhu cầu và thực trạng cung

cấp các dịch vụ tài chính ở các KCN dưới góc độ các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chocác doanh nghiệp trong KCN Mức độ đầy đủ và khả năng cung cấp các dịch vụ làmấu chốt của bài viết; các cơ chế và chính sách, giải pháp tài chính không được đềcập và phân tích trong bài viết này [36]

4 “Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho các KCN ở một số

quốc gia” là một nghiên cứu khác của Nguyễn Xuân Điền xoay quanh chủ đề phát

triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đảm bảo sự phát triển bền vững các KCN Tác giảđã phân tích chính sách đầu tư, phát triển hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cho các KCN

Trang 13

ở một số quốc gia nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Trong cácnội dung được phân tích, đánh giá, các giải pháp tài chính từ phía Nhà nước cũng đãđược chỉ ra nhưng không phải trọng tâm của vấn đề được tác giả đề cập [34].

Những bài viết đăng tải trên các tạp chí đều tập trung vào các vấn đề xungquanh việc phát triển và phát triển bền vững các KCN Những ý kiến đề xuất khá sátthực, giải pháp tương đối toàn diện nhưng chỉ dừng ở góc độ tổng quát, mặc dù vậy,chưa có bài viết nào phân tích, đánh giá về việc sử dụng các công cụ và giải pháp tàichính để phát triển bền vững các KCN

Các cơ quan quản lý nhà nước cũng đã tổ chức nghiên cứu về các vấn đề liênquan tới các KCN Gần đây, một số đề tài đã được triển khai là:

1 Đề tài “Nghiên cứu những giải pháp phát triển các KCN ở Việt Nam trong

điều kiện hiện nay” do Võ Thanh Thu được thực hiện khá sớm (2005), đã đánh giá

thực trạng phát triển các KCN từ khi chính sách này mới ra đời và những giải phápđã thực hiện để triển khai chủ trương này [74] Nhóm nghiên cứu đã phân tíchnhững bất cập trong việc phát huy tiềm năng và tác động tích cực của các KCN,những bất cập trong thực hiện chính sách phát triển KCN của Nhà nước và đề xuấtnhiều giải pháp về tổ chức và pháp lý để khắc phục

2 Đề tài “Hệ thống đánh giá phát triển bền vững các KCN Việt Nam” do Lê

Thế Giới chủ trì [39] Nghiên cứu này không được thực hiện riêng cho một vùnghoặc một địa phương cụ thể nào, mà tập trung vào việc xây dựng một hệ thống cáctiêu chí và chỉ tiêu cho phép phân tích và đánh giá tính bền vững trong phát triểncác KCN Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một bộ tiêu chí có thể được áp dụng để đánhgiá sự phát triển bền vững của các KCN ở Việt Nam trong thời kỳ thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

3 Đề tài “Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế vào

lĩnh vực xây dựng nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX” do Lê Xuân Bá chủ trì

[1] Nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách thu hút các thànhphần kinh tế đầu tư vào các KCN, KCX, từ đó đề xuất khung chính sách và các cơchế có liên quan để thúc đẩy đầu tư vào các KCN, KCX Trong đó, cơ chế sử dụngđòn bẩy tài chính đã được đề cập một cách tổng quát và tập trung vào một ví dụ cụthể là nhà ở cho công nhân KCN Các đề xuất của nghiên cứu là xã hội hóa đầu tưnhà ở cho công nhân theo xu hướng giảm phần đầu tư của nhà nước, tăng tỷ trọngđầu tư từ các nguồn khác

4.Trần Ngọc Hưng và cộng sự đã “Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách và

một số giải pháp nhằm hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các KCN, KCX trong thời gian tới” [49] Đề tài này nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ việc

Trang 14

xây dựng trung tâm xử lý nước thải tại các KCN, KCX Đối tượng nghiên cứu làmột hạng mục bắt buộc phải có trong các KCN, một hạng mục có tác động trực tiếp

và rõ nét đối với sự bền vững của các KCN Trong các hỗ trợ được nhóm nghiêncứu đề xuất, có những giải pháp tài chính Những giải pháp tài chính đối với cáchạng mục đầu tư khác của KCN chưa được đề cập đến trong đề tài này

5 “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây

dựng các KCN, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” do Lê Du Phong chủ trì đã nghiên cứu sự phát triển KCN

như một biện pháp nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơcấu kinh tế ở nông thôn Việt Nam [65] Nhóm nghiên cứu đã phân tích khá sâu thựctrạng thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN và tác động của quá trình nàyđối với sự phát triển kinh tế- xã hội nông thôn, từ đó, đưa ra nhiều biện pháp pháttriển KCN với những tác động bất lợi tối thiểu từ việc thu hồi đất tới sự phát triểnkinh tế- xã hội nông thôn cũng như với đời sống và sinh kế của nông dân

6 “Giải pháp tài chính của Nhà nước để phát triển bền vững các khu công

nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc” do Nguyễn Trọng Cơ, Nguyễn Xuân Điền chủ trì được triển

khai để tìm kiếm những giải pháp tài chính tức thời phục vụ mục tiêu phát triển bềnvững các KCN ở Vĩnh Phúc [23] Nhóm nghiên cứu đã phân tích sự phát triển củacác KCN ở Vĩnh Phúc, đánh giá một số giải pháp tài chính mà các cơ quan quản lýnhà nước địa phương đã triển khai để thúc đẩy sự phát triển các KCN ở địa phương

và tính bền vững của các KCN này Những giải pháp tài chính của các chủ thể khác(doanh nghiệp đầu tư sơ và thứ cấp, các nhà đầu tư ngoài KCN, …) không phải làđối tượng nghiên cứu của đề tài, không được đề cập tới

Do tính thời sự của vấn đề, trong khoảng hơn một thập kỷ qua, đã có khánhiều những nghiên cứu học thuật dưới dạng các luận án tiến sĩ về phát triển bềnvững các KCN ở Việt Nam được tiến hành Một số nghiên cứu khá điển hình về đềtài này là:

1 “Những biện pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối

với KCN ở Việt Nam” là một nghiên cứu được thực hiện khá sớm (2003), nghiên

cứu sâu công tác quản lý nhà nước đối với KCN [18] Đây là vấn đề cấp bách vàothời điểm đó bới các KCN lúc đó đều do Nhà nước đầu tư xây dựng Luận án nàyđã phân tích khá toàn diện thực trạng và tập trung đề xuất giải pháp nhằm hoànthiện công tác quản lý của Nhà nước đối với các KCN, đặc biệt là khung pháp lýcho việc đầu tư và hoạt động của chúng

2 “Hoàn thiện chính sách và mô hình tổ chức quản lý nhà nước đối với việc

phát triển KCN Việt Nam- thông qua thực tiễn các KCN miền Bắc” [95] Nghiên

Trang 15

cứu này chủ yếu phân tích đánh giá về chính sách và mô hình quản lý Nhà nướctrong đó lấy thực tiễn phát triển các KCN ở miền Bắc làm điển hình nghiên cứu.Mục tiêu của các giải pháp được đề xuất là hướng tới sự phát triển bền vững cácKCN nhưng luận án tiếp cận dưới góc độ chính sách và mô hình quản lý Nhà nước,không dựa trên các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển bền vững cũng như các giảipháp để đạt mục tiêu

3 “Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội các KCN Việt Nam” [67] Luận án đã

đề cập đến hệ thống dịch vụ dưới dạng các công trình phụ trợ đi kèm nhằm đảmbảo hiệu quả của việc đầu tư các KCN Tuy luận án tập trung phân tích, đánh giásâu hiệu quả kinh tế xã hội của các KCN, không đi sâu vào chủ đề phát triển bềnvững các KCN nhưng khá nhiều tiêu chí được phân tích cũng đã thể hiện đượcnhiều khía cạnh quan trọng của yêu cầu phát triển bền vững Trong hệ thống cácgiải pháp được đề xuất của công trình này không tập trung vào nhóm các giải pháptài chính mà tập trung nhiều hơn tới các giải pháp kinh tế và tổ chức

4 “Hoàn thiện hoạch định chính sách đầu tư phát triển các KCN ở Việt Nam

giai đoạn hiện nay” [25] Mục tiêu nghiên cứu của luận án này là tìm kiếm các giải

pháp nhằm hoàn thiện công tác hoạch định chính sách đầu tư phát triển các KCNở Việt Nam Tác giả luận án đã nêu rõ rằng phát triển bền vững các KCN là mộttrong những yêu cầu và nguyên tắc quan trọng cần quán triệt khi hoạch địnhchính sách đầu tư nói chung, đầu tư phát triển các KCN ở Việt Nam nói riêng.Những đề xuất mà luận án đưa ra không trực tiếp phục vụ việc nâng cao tính bềnvững của việc phát triển các KCN, nhưng tinh thần phát triển bền vững đã đượcquán triệt khá nhất quán

5 Phát triển các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ theo hướng

bền vững là một nghiên cứu khác phân tích, đánh giá thực trạng, những vấn đề phát

sinh từ việc thành lập và vận hành các KCN ở vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộtrong những năm đầu của hình thức tổ chức công nghiệp theo lãnh thổ này [50] Tácgiả luận án đã trình bày rõ từ khá sớm (2010) yêu cầu phát triển bền vững đối vớicác KCN và đề xuất những giải pháp cần thực hiện để phát triển các KCN ở khuvực này theo hướng đó

6 “Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội” [26] Luận

án này tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan tới việc phát triển các KCN trênđịa bàn Thành phố Hà Nội Luận án đã tiếp cận vấn đề từ nhận thức rằng phát triểncác khu công nghiệp sẽ đem lại tác động tích cực tới sự phát triển của công nghiệp

và sự phát triển kinh tế- xã hội của Thành phố, đặc biệt là khi Thủ đô phải dichuyển hàng loạt các doanh nghiệp công nghiệp ra ngoài nội đô Luận án chú trọng

Trang 16

tới yếu tố đồng bộ trong phát triển các KCN Đề xuất của luận án tập trung vào việclàm sao để phát triển nhanh các khu công nghiệp và bảo vệ được môi trường ở cáckhu vực lân cận; chưa đề cập rõ và toàn diện yếu tố bền vững của sự phát triển này.

7 “Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp trong các KCN ở đồng

bằng sông Hồng” [37] Luận án này đã đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp

phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho các doanh nghiệp trong các KCN ở khu vựcĐồng bằng Sông Hồng Nhóm các giải pháp mà tác giả nêu có lồng ghép một số giảipháp tài chính như giải pháp về thuế, các ưu đãi để phát triển dịch vụ, chưa đề cập mộtcách toàn diện đến toàn bộ lĩnh vực tài chính và cũng chưa đề cập tới việc khuyến khíchcác doanh nghiệp thứ cấp và các công ty đầu tư xây dựng hạ tầng KCN

8 "Các nhân tố hình thành cụm ngành công nghiệp điện tử - Nghiên cứu điển

hình tại Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ" [51] Nghiên cứu này đã tập trung làm rõ

và đánh giá tác động của những nhân tố chủ yếu tới sự hình thành và phát triển cáccụm ngành công nghiệp mà các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ cho sảnxuất điện tử đóng vai trò chủ yếu Về thực chất, đây là nghiên cứu các vấn đề liênquan tới tổ chức công nghiệp theo lãnh thổ và những kết luận rút ra cho các cụmngành công nghiệp (industrial clusters) hoàn toàn có thể được sử dụng cho cácnghiên cứu về các khu công nghiệp (industrial zones)

9 “Giải pháp tài chính phát triển bền vững các KCN tỉnh Bắc Giang” [52],

một luận án hướng tới những giải pháp tài chính để tác động tới 5 nhân tố ảnhhưởng nhằm phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Luận ánnày phân tích khá kỹ một số giải pháp tài chính so Nhà nước thực hiện để phát triểncác KCN ở tỉnh Bắc Giang như thuế, phí, các khoản hỗ trợ từ ngân sách, … Mộtloạt những giải pháp liên quan tới đầu tư trực tiếp để hoàn thiện cơ sở hạ tầng xãhội, xử lý một số vấn đề về môi trường để giảm thiểu sức ép cho doanh nghiệp, …chưa được phân tích sâu Luận án cũng chưa bàn đến những giải pháp tài chính docác doanh nghiệp đầu tư sơ cấp và thứ cấp vào các KCN trên địa bàn Những yêucầu về phát triển bền vững, đặc biệt là bền vững về môi trường và bền vững về xãhội chưa được luận án nghiên cứu sâu

`10 Một nghiên cứu khác với chủ đề “Phát triển các KCN của tỉnh Bình

Dương đến năm 2025 theo hướng bền vững” được hoàn thành năm 2017 phân tích

và đánh giá khá chi tiết về tình hình phát triển các KCN ở một tỉnh mà hình thức tổchức sản xuất theo lãnh thổ này được phát triển khá mạnh mẽ trong hơn một thập kỷqua Tác giả công trình này đã kế thừa những nghiên cứu trước đó về chủ đề pháttriển các KCN, từ đó nêu một cách khái quát 11 tiêu chí để đánh giá sự phát triểnbền vững các KCN và phân tích sự phát triển của các KCN ở Bình Dương trên cơ

Trang 17

sở những tiêu chí này Tuy nhiên, nghiên cứu này không trình bày rõ cách tính toán

và sử dụng các tiêu chí này để đánh giá sự biến động của tính bền vững trong pháttriển các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương

11 “Đầu tư phát triển các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ”

[48] cũng là một nghiên cứu về việc phát triển các khu công nghiệp trên địa bànđồng bằng sông Hồng, lấy trọng tâm là các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắcbộ Nghiên cứu này được tiến hành dưới cách tiếp cận của kinh tế đầu tư Tác giảlấy các tiêu chí kinh tế đầu tư để làm căn cứ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng,tìm kiếm và lựa chọn các giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn theohướng tăng số lượng, nâng cao tỷ lệ sử dụng đất trong các khu công nghiệp

12 Một nghiên cứu khác, mới được hoàn thành năm 2019 với chủ đề “Quản

lý phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên theo hướng bền vững” cũng đề cập

tới việc phát triển các KCN ở một địa phương vùng đồng bằng sông Hồng theohướng bền vững Nghiên cứu này đã có một tổng quan khá sâu về KCN, phát triểnKCN, phát triển bền vững và phát triển bền vững các KCN Tuy cũng chỉ tập hợpquan điểm từ các nghiên cứu trước đó về các tiêu chí đánh giá tính bền vững củacác KCN, tác giả công trình này cho rằng yếu tố quản lý cần được đưa thành mộttiêu chí đánh giá tính bền vững của sự phát triển Đáng tiếc là cũng như nhiềunghiên cứu trước đó, công trình này chưa đưa ra các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá theotừng tiêu chí và phương pháp tính toán, sử dụng những chỉ tiêu này Chính bởi vậy,khi đánh giá thực trạng phát triển các KCN Hưng Yên theo hướng bền vững, tác giảcủa công trình nghiên cứu này chủ yếu mới chỉ sử dụng các số liệu thống kê sẵn có,chưa triển khai được ý tưởng rất có giá trị về mặt lý luận

Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác dưới hình thức các luận án tiến sĩ cùng

về chủ đề phát triển các KCN theo hướng bền vững (xem 3ab, 3ac, 3ad) hoặc cácchủ đề liên quan khác (xem 3ba) Những nghiên cứu này ít nhiều cũng đề cập tớivấn đề phát triển các KCN và những giải pháp kinh tế- kỹ thuật và tổ chức để pháttriển các KCN một cách bền vững ở Việt Nam

Nội dung chính của các các luận án trên cho thấy, các tác giả đã nghiên cứunhiều vấn đề có liên quan đến KCN và phát triển KCN Một số đề tài chọn đốitượng nghiên cứu là chính sách thu hút đầu tư vào các KCN và một số công trình đềcập đến việc phát triển bền vững các KCN như: xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánhgiá sự phát triển bền vững của KCN, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự pháttriển bền vững của các KCN Các đề tài cơ bản đánh giá thực trạng phát triển cácKCN cũng như thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới chúng ở một số địa phương,vùng và trên phạm vi cả nước Một số công trình nghiên cứu tập trung vào cơ chế,

Trang 18

chính sách của Nhà nước và hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho KCN hướng đến sự pháttriển bền vững Tuy nhiên, cho đến nay, khi nghiên cứu về KCN chưa có một côngtrình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về các giải pháp tài chính nhằm pháttriển bền vững các KCN Vấn đề nguồn lực tài chính và chính sách tài chính cũngđược đề cập nhưng mang tính lồng ghép trong các vấn đề tổng thể của hệ thống giảipháp kinh tế- kỹ thuật Các công cụ và giải pháp tài chính chưa được xem xét vàđánh giá như những giải pháp giữ vai trò động lực thúc đẩy thu hút đầu tư, tạo cơ sởcho quá trình phát triển bền vững của các KCN.

Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiêncứu về KCN và phát triển bền vững các KCN dù ở quy mô và góc độ nào VĩnhPhúc là một địa phương đang phát triển, ngành công nghiệp còn non trẻ, quá trìnhxây dựng và phát triển các KCN đang gặp phải những khó khăn, cản trở nhất định.Thực tế đó cần phải có các công cụ và giải pháp cụ thể để vừa đạt mục mục tiêuphát triển nhưng phải đảm bảo tính bền vững của các KCN Trong điều kiện nhưhiện nay, việc triển khai nghiên cứu những vấn đề có liên quan để đề xuất một hệthống các giải pháp tài chính trong quá trình phát triển các KCN hướng đến sự pháttriển bền vững là rất cấp thiết

2.2 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Phát triển các KCN là một thực tế khách quan đã xuất hiện và tồn tại từ nhiềuthập kỷ, thậm chí là một vài thế kỷ trước ở các nước có nền công nghiệp phát triển.Thực trạng này từng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tổng kết Với tư cách

là một tổ chức quốc tế chuyên về công nghiệp, UNIDO đã đề xuất với các nướcchậm công nghiệp hóa thực hiện phát triển các KCN như một giải pháp thực hiệnmột xu hướng khách quan, vừa phòng tránh những tác động bất lợi do sự hình thànhcác KCN một cách tự phát gây ra Vấn đề phát triển bền vững các KCN như thế,những hình thức tổ chức các KCN gắn với phát triển bền vững, đặc biệt là KCNsinh thái (Eco- industrial parks, eco- industrial zones) cũng đã được tổ chức nàynghiên cứu Một số công trình nghiên cứu về KCN và phát triển bền vững đã đượccông bố gồm:

1 Chuỗi những nghiên cứu và công bố của UNIDO hoặc các tác giả đượcUNIDO tài trợ nghiên cứu theo yêu cầu của UNIDO [118, 119, 120, 121, 122,

123, 124] và UNTAD [125] Những công trình này nghiên cứu một cách tổnghợp và toàn diện về KCN, đặc khu kinh tế và các cụm công nghiệp, từ các vấn

đề bản chất, vai trò, yêu cầu, các vấn đề kinh tế- xã hội phát sinh gắn với sựphát triển các KCN cũng như những mô hình và kinh nghiệm thành công, thấtbại của các KCN ở nhiều nước trên thế giới

Trang 19

2 Những nghiên cứu về vai trò của các KCN đối với sự phát triển kinh tế xãhội và sự phát triển của công nghiệp [96, 97, 98, 99, 102, 103, 105, 109, 112] Cáctác giả của những công trình này khẳng định vai trò quan trọng và tác động tích cựccủa các KCN đối với việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển côngnghiệp nói riêng Một số tác giả đã chứng minh rõ vai trò động lực của các KCN đốivới quá trình công nghiệp hóa [96, 98, 105].

3 Những nghiên cứu về kinh nghiệm xây dựng và phát triển các KCN ở một

số nước có những trình độ phát triển khác nhau như Trung Quốc [104, 106, 107,126], Hoa Kỳ [108], Hàn Quốc [110], Belarus [111], Ấn Độ [116], Ai Cập [117],hoặc một nhóm các nước đang phát triển nhanh (emerging countries) hoặc kinhnghiệm quốc tế nói chung [24, 114, 115, 128] Những công trình này phân tíchchính sách của một số quốc gia về xây dựng và phát triển KCN, những thành công

và thất bại và nguyên nhân của chúng Gibbs và Deutz [108] cho rằng mặc dù nhậnđược sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề PTBV trong các diễn đàn quốc tế nhưngtrên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win-win-win (cùng thắng) về các mặtphát triển kinh tế, môi trường và xã hội vẫn là một vấn đề nan giải

4 Những nghiên cứu về tính bền vững trong xây dựng, quản lý và phát triểncác KCN [113, 127, 129] Trong số những kết luận mà những nghiên cứu này đưa

ra, có một điểm được nhấn mạnh là yếu tố bền vững có vai trò cực kỳ quan trọng,nhưng cần được quán triệt ngay từ khâu quy hoạch các khu công nghiệp Bài học từTrung Quốc được phân tích khá nhiều và sâu sắc Các chuyên gia cho rằng mặc dù

có nhiều điểm khác biệt, nhưng về mặt chính sách, phát triển KCN các mô hình tươngtự (KCX, KCN, KKT mở hay cụm công nghiệp) đều có một điểm chung là chúngphải phát huy được tác dụng "thu hút đầu tư" trong dài hạn Sự chủ động của các địaphương về cơ chế, chính sách ngoài các quy định cứng mang tính thống nhất, hoàntoàn tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, cácđiều kiện tự nhiên Tuy nhiên, nếu không đảm bảo các tiêu chí dài hạn, việc thu hútđầu tư không thể thành công và đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan mà người chịurủi ro nhiều nhất chính là cộng đồng và chính quyền địa phương

5 Những nghiên cứu về những hình thức, mô hình cụ thể trong xây dựng vàphát triển các KCN [100] Một trong những hình thức được đề cập khá nhiều làcông viên công nghiệp sinh thái (eco- industrial parks), đặc biệt là nghiên cứu củaElsevier [101], Cohen-Rosenthal/McGalliard/ Bell [100] và các nhóm nghiên cứucủa UNIDO [121, 122, 123, 124] Những chuyên gia này đã phân tích những quanniệm về phát triển KCN sinh thái (EIPs) như một xu hướng mới trong phát triển bềnvững các KCN, đồng thời đưa ra các tiêu chí cụ thể cho loại hình KCN này, có

Trang 20

minh họa qua trường hợp của Australia Kết luận được đưa ra là mô hình KCN sinhthái cho phép các doanh nghiệp chia sẻ chung cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sản xuất vàgiảm thiểu chi phí, đảm bảo lợi ích cho tất cả các bên liên quan tới KCN Nhữngngười ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyển trongchuỗi sản xuất công nghiệp từ một đường thẳng đến hệ thống khép kín sẽ giúp đạtđược mục tiêu trên Những năm gần đây, các khái niệm vạch ra từ công nghiệp sinhthái sử dụng để xây dựng các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, giảm rác thải và ô nhiễm, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc Tóm lại, cho tới nay, có khá nhiều nghiên cứu liên quan tới cả các KCN, yêu cầuđảm bảo tính bền vững trong phát triển kinh tế- xã hội nói chung cũng như phát triển cácKCN và cả các giải pháp tài chính và sự vận dụng chúng trong việc phát triển các KCN.Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều khía cạnh trong mảng chủ đề này chưa được đề cập, chưađược đề cập sâu hoặc chưa được phân tích cụ thể với dữ liệu cập nhật, đặc biệt là:

- Bản chất và nội hàm của việc phát triển bền vững các KCN trong bối cảnhmới, khi tiến bộ khoa học- công nghệ diễn ra và được ứng dụng một cách nhanhchóng, khi quá trình hội nhập diễn ra ngày một sâu rộng, khi các chuỗi cung ứngtrên phạm vi toàn cầu đang được xem xét, đánh giá và tái cấu trúc

- Các tiêu chí phản ánh tính bền vững trong phát triển các KCN Nghiên cứucủa một số tác giả đã đề xuất một số tiêu chí, nhưng hầu hết chỉ dựa trên nghiên cứu

lý thuyết và phân tích lô gic, chưa có sự rà soát, kiểm định qua thực tế, đặc biệt làchưa được lượng hóa và kiểm định qua các mô hình định lượng

- Mức độ bền vững của việc phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.Một số nghiên cứu đã lấy đây làm đối tượng nghiên cứu nhưng cũng mới dừng lại ởviệc phân tích, đánh giá định tính, chưa tìm cách lượng hóa sự biến động này

- Bản thân các giải pháp tài chính và cơ chế áp dụng chúng để đảm bảo sự pháttriển bền vững các KCN Thực ra, những nghiên cứu đã được thực hiện cho tới nayđã đề cập tới những giải pháp tài chính cụ thể, nhưng chúng đã hợp thành một hệthống hay chưa, cơ chế tác động như thế nào, có thể đánh giá tác động và hiệu quảcủa các giải pháp như thế nào, có thể sử dụng tiêu chí và phương pháp, mô hình cóthể sử dụng để đánh giá việc áp dụng chúng, …thì chưa được làm rõ

- Việc áp dụng các giải pháp tài chính để phát triển bền vững các KCN ở VĩnhPhúc trong bối cảnh mới Nghiên cứu được triển khai gần nhất có liên quan tới chủ

đề này do nhóm nghiên cứu của Học viện Tài chính đã tiếp cận trực tiếp nhất và sâunhất về chủ đề này (xem [23]), nhưng cũng mới chỉ tập trung vào một số giải phápcủa Nhà nước mà chưa xem xét giải pháp tài chính của các chủ thể khác, chưa đánhgiá kết quả và hiệu quả của các giải pháp này cũng như tác động của nó tới sự pháttriển bền vững các KCN trên địa bàn

Trang 21

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án là đề xuất hệ thống các giải pháp tài chính của các chủthể có liên quan trực tiếp, gián tiếp để phát triển bền vững các KCN của tỉnh đến

2025, tầm nhìn đến năm 2030

Để đạt được mục đích trên, quá trình nghiên cứu luận án phải hoàn thành một

số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Tổng hợp và đánh giá những công trình, đề tài nghiên cứu trong và ngoàinước có liên quan đến phát triển, phát triển bền vững các KCN và giải pháp tàichính phát trển bền vững các KCN Chỉ ra những thành quả quan trọng, chủ yếu củacác đề tài và các công trình đã nghiên cứu Bên cạnh đó luận án cũng cần chỉ ranhững khoảng trống trong các nghiên cứu đó, đặc biệt các vấn đề về tài chính chưađược đề cập đến

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về KCN và phát triển các KCNtheo hướng bền vững

- Hệ thống, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải pháp tài chínhphát triển bền vững các KCN

- Phân tích thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính phát triển KCN ở VĩnhPhúc thông qua phân tích các giải pháp của các chủ thể liên quan: Nhà nước, doanhnghiệp sơ cấp, doanh nghiệp thứ cấp; từ đó chỉ rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhâncủa thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính phát triển KCN

Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án tập trung trảlời một số câu hỏi chủ yếu sau:

+ Bản chất của phát triển bền vững KCN được quán triệt trong việc triển khaithực tế như thế nào?

+ Nội hàm của giải pháp tài chính phát triển bền vững KCN là gì?

+ Có những nhân tố nào tác động tới việc sử dụng các giải pháp tài chính pháttriển bền vững các KCN?

+ Các giải pháp tài chính phát triển bền vững các KCN tỉnh Vĩnh Phúc đượcthực hiện như thế nào? Kết quả, hạn chế và nguyên nhân là gì?

+ Các giải pháp tài chính phát triển bền vững các KCN tỉnh Vĩnh Phúc trong thờigian tới cần được ưu tiên thứ tự và sắp xếp như thế nào để đạt dược các mục tiêu đã đề ra

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn vềgiải pháp tài chính phát triển bền vững KCN

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Luận án nghiên cứu các giải pháp tài chính của Nhà nước,doanh nghiệp sơ cấp và doanh nghiệp thứ cấp trong KCN

Trang 22

+ Về không gian, thời gian: Luận án nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn2010-2019 và các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2025 và tầm nhìn 2030 ở tỉnh VĩnhPhúc; kinh nghiệm các giải pháp tài chính phát triển bền vững KCN được nghiên cứuở một số địa phương trong nước trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận án có ý nghĩa cơ bản sau:

- Hệ thống hoá và cập nhật những phát triển mới về cơ sở lý luận cho việchình thành, phát triển các KCN, vai trò của chúng và các nhân tố ảnh hưởng tới sựphát triển của các KCN cũng như các giải pháp tài chính có tác động trực tiếp vàgián tiếp của các chủ thể có liên quan đối với việc phát triển bền vững các KCN;

- Làm rõ hơn nội dung của phát triển bền vững KCN, các tiêu chí phản ánhmức độ phát triển bền vững và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vữngKCN;

- Đánh giá, phân tích hệ thống các giải pháp tài chính được xây dựng và sửdụng trong giai đoạn vừa qua nhằm thúc đẩy sự phát triển theo hướng phát triển bềnvững của các KCN tại địa phương

Về mặt thực tiễn, ý nghĩa của luận án thể hiện ở chỗ:

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển theo các chỉ tiêu bền vững của cácKCN tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn từ 2010 trở lại đây;

- Phân tích, đánh giá rõ và có hệ thống thực trạng sử dụng các giải pháp tàichính để phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm

2010 đến nay;

- Xác định các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những tồn tại vàhạn chế của việc sử dụng các giải pháp tài chính đối với quá trình phát triển cácKCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010- 2019;

- Đề xuất một số giải pháp tài chính có liên quan đến các chủ thể để phát triểnbền vững các KCN của tỉnh trong giai đoạn đến năm 2030

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận chung

Là một nghiên cứu về một vấn đề khoa học xã hội, luận án sử dụng phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung, kết hợpgiữa suy luận lô gic, quan sát thực tế và phân tích số liệu thống kê, các nghiên cứuthực tế đã tiến hành về các nội dung có liên quan ở địa bàn nghiên cứu cũng như cácđịa bàn có điều kiện tương tự khác để đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các giảipháp cần triển khai để giải quyết vấn đề mà luận án nghiên cứu Tác giả luận văn sẽdựa vào những lý thuyết có liên quan tới phát triển bền vững các KCN, những kết

Trang 23

quả nghiên cứu về thực trạng phát triển bền vững (hoặc theo hướng bền vững) cácKCN ở Việt Nam để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, xác định các nội dungnghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, các mỗi quan hệ chủ yếu, sẽ kết hợp sử dụng cảphương pháp diễn giải và quy nạp để phân tích, đánh giá những mối quan hệ chủyếu được đề cập trong luận án.

6.2 Cách tiếp cận, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu cụ thể

Khung nghiên cứu và phân tích được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ nghiêncứu của luận án có thể được mô tả khái quát qua sơ đồ dưới đây

NCS tiếp cận việc sử dụng các giải pháp tài chính để phát triển các KCN trênđịa bàn Vĩnh Phúc theo hướng sau:

- Phát triển các KCN là một trong những giải pháp lớn để phát triển kinnh xã hội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, được triển khaiqua một hệ thống chính sách nhất quán của Nhà nước mà sự tham gia của các nhàđầu tư vào KCN (kể cả sơ cấp và thứ cấp) có ảnh hưởng quan trọng

tế Phát triển bền vững nói chung, phát triển bền vững các KCN nói riêng, đã trởthành một yêu cầu, đồng thời cũng là một xu hướng phát triển Bản thân việc pháttriển bền vững phải được lượng hóa và được phản ánh bằng những tiêu thức, chỉtiêu khác nhau để có thể đánh giá một cách cụ thể

- Việc phát triển bền vững các KCN đòi hỏi các chủ thể liên quan phải triểnkhai một cách đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó các giải pháp tài chính đóng vai tròquan trọng, không tách rời các giải pháp khác

Những phương pháp nghiên cứu cụ thể chủ yếu được sử dụng trong luận

án gồm:

- Nghiên cứu số liệu và tư liệu lịch sử NCS sẽ thu thập các thông tin về quátrình hình thành và phát triển của các KCN Vĩnh Phúc, về việc thực hiện các giảipháp tài chính có liên quan đến sự phát triển của các KCN trên địa bàn Tỉnh đượccông bố qua sách, báo, tạp chí, các báo cáo tổng kết, các công trình nghiên cứu, cácwebsite …

Trang 24

- Nghiên cứu tình huống Một số KCN và Ban quản lý chúng (nhà đầu tư sơcấp) và một số doanh đầu tư vào KCN (doanh nghiệp đầu tư thứ cấp) sẽ được tớithăm, khảo sát và nghiên cứu.

- Phỏng vấn chuyên gia Những chuyên gia được phỏng vấn bao gồm cả cáccán bộ quản lý nhà nước có liên quan tới các KCN và sử dụng các giải pháp tàichính đối với các KCN, chủ đầu tư vào các KCN và chủ đầu tư thứ cấp (hoặc đạidiện cho họ) Mục đích của việc phỏng vấn chuyên gia là tìm hiểu, làm rõ thêmnhững số liệu và thông tin đã thu thập được, hiểu sâu thêm một số nội dung cụ thểliên quan tới những nhận định, giả thuyết được phát hiện trong quá trình nghiên cứu

Nghiên cứu lý

luận về phát

triển bền vững

Nghiên cứu lý luận về các giải pháp tài chính

về thực hiện giải pháp tài chính phát triển bền vững KCN

số liệu

Phỏng vấn chuyên gia

Nghiên cứu thực tế, rút ra bài học

về áp dụng các giải pháp tài chính

để phát triển bền vững các KCN tại các địa phương ở Việt Nam

Đề xuất giải pháp hoàn thiện các giải pháp tài chính phát triển bền vững các

KCN ở Vĩnh Phúc Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các giải

pháp phát triển bền vững các KCN ở Vĩnh Phúc

Trang 25

(điều tra/ khảo sát và phỏng vấn) Nó cũng được áp dụng để kiểm định, đánh giá tínhchính xác của các thông tin được thu thập từ điều tra, khảo sát và phỏng vấn đại trà,đồng thời giúp làm rõ hơn những vấn đề liên quan tới những thông tin này.

- Điều tra xã hội học theo phương pháp chọn mẫu Mẫu điều tra có quy mô >

200, được chọn theo nguyên tắc thuận tiện, bao gồm:

+ Chủ doanh nghiệp sơ cấp và thứ cấp, một số cán bộ quản lý chủ chốt và cánbộ nghiệp vụ/ quản lý chức năng của các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp và sơ cấptrong các KCN;

+ Các cán bộ quản lý các KCN và đại diện chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng(chủ đầu tư sơ cấp) vào các KCN;

+ Các cán bộ quản lý nhà nước đối với các KCN và có liên quan tới việc pháttriển các KCN;

+ Các cán bộ nghiên cứu am hiểu về sự hình thành và phát triển các KCN, vềviệc áp dụng các giải pháp tài chính để thúc đẩy các KCN

6.3 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sơ cấp và thứ cấp, sau khi được tập hợp và làm sạch, sẽ được phân tíchtheo phương pháp thống kê mô tả Kết quả phân tích sẽ được trinnhf bày dưới dạng sốliệu đơn lẻ hoặc số liệu so sánh dưới hình thức các bảng thống kê, các sơ đồ dạngcột, biểu đồ dạng hình tròn, … để thể hiện hiện trạng cũng như cơ cấu để so sánh,phân tích sự tăng trưởng và thực trạng, xu hướng biến động của các nội dung thuộcphạm vi nghiên cứu

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận án được chia thành ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về giải pháp tài chính phát triển bềnvững khu công nghiệp;

- Chương 2: Thực trạng giải pháp tài chính phát triển các KCN tỉnh Vĩnh Phúc;

- Chương 3: Hoàn thiện các giải pháp tài chính phát triển bền vững các KCNtỉnh Vĩnh Phúc

Trang 26

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 KHU CÔNG NGHIỆP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

1.1.1 Bản chất và vai trò của các khu công nghiệp

Về bản chất, các KCN là những vùng lãnh thổ được dành riêng cho sản xuấtcông nghiệp Chúng xuất hiện và phát triển trong quá trình phát triển công nghiệp,khi năng lực sản xuất công nghiệp được tập trung hóa một cách cao độ vào nhữngvùng lãnh thổ nhất định một cách có ý thức hoặc ngẫu nhiên, phụ thuộc nhiều yếu

tố chủ quan và khách quan như nhu cầu và năng lực phát triển công nghiệp của mỗivùng cùng như của toàn bộ quốc gia, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, vào vị thế

và lợi thế của vùng hoặc địa phương đối với toàn quốc và khu vực, vào trình độ pháttriển kinh tế và điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ ở địa bàn, Quy

mô, tốc độ phát triển, khả năng lan tỏa và sự lan tỏa thực tế của khu công nghiệpcũng phụ thuộc những yếu tố này

Những nghiên cứu thực tế ở các nước công nghiệp phát triển điển hình nhưAnh, Pháp, Đức cũng như thực tế phát triển các làng nghề, cụm làng nghề ở ViệtNam cho thấy rằng ban đầu, các KCN thường hình thành một cách tự phát, bắt đầutừ các hộ thủ công ban đầu, lan tỏa bằng cách những hộ thủ công phát triển, truyềnnghề cho các hộ lân cận (trên cơ sở quan hệ gia đình hoặc thân hữu), sau đó thu hútcác hộ khác cùng sản xuất hoặc cung cấp các bán thành phẩm và các dịch vụ khác

để mở rộng quy mô sản xuất, từ đó hình thành những công xưởng và phát triển dầnthành những vùng có tiểu thủ công nghiệp phát triển Đây là trường hợp diễn ra ởnhiều nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, nơi mà các làng nghề thủcông đã hình thành và phát triển khá ổn định trong nhiều thế kỷ Trường hợp thứ 2gắn với quá trình công nghiệp hóa ở các nước Tây Âu: Ở những vùng có lợi thế vềđất đai, về nguyên vật liệu, về tài nguyên thiên nhiên, những công xưởng đượcthành lập để sản xuất những sản phẩm mà thị trường có nhu cầu lớn Sự phát triểncủa một số công xưởng được thành lập sớm thúc đẩy sự hình thành hàng loạt nhữngcông xưởng mới biến những vùng nông thôn truyền thống thành những khu côngnghiệp1 Những KCN này thường dựa vào những hạt nhân ở trung tâm, lan tỏa dần

ra xung quanh tùy thuộc nhu cầu của thị trường, không có ranh giới nhất định

1 Nguyễn Văn Phúc (2004), Công nghiệp nông thôn Việt Nam- Thực trạng và giải pháp phát triển NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

Trang 27

Ở Việt Nam, việc xây dựng và phát triển các KCN đã chính thức được đặt ra

và triển khai từ khoảng 25 năm nay, là một nội dung trong chủ trương chung củaĐảng và Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa LuậtĐầu tư của Việt Nam năm 2014 định nghĩa ‘‘KCN là khu vực có ranh giới địa

lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.” Chúng có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, KCN là khu vực sản xuất khép kín, tách biệt với khu dân cư và có

diện tích xác định được tính bằng đơn vị ha Diện tích của KCN được xác định vàđược thể hiện trong quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền Độ lớn của diệntích KCN được quyết định bởi giới hạn diện tích mặt bằng đất hiện có và năng lựcđầu tư của các chủ đầu tư KCN

Thứ hai, KCN ra đời và đi vào hoạt động trước khi các doanh nghiệp công

nghiệp đầu tư xây dựng nhà xưởng để sản xuất Hầu hết các KCN ở Việt Nam đượcthành lập dưới dạng dự án đầu tư, sau khi giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng sau

đó kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh

Thứ ba, việc thành lập KCN do Nhà nước quyết định (tức là có thể do chính

quyền cấp trung ương hoặc chính quyền cấp tỉnh/ thành phố ra quyết định thành lập);việc quản lý các KCN có sự phân cấp theo các tiêu chí nhất định được quy định rõtrong các văn bản pháp lý Tổ chức đứng ra xây dựng cơ sở hạ tầng KCN (chủ đầu tư

sơ cấp) có thể là một tổ chức Nhà nước hay tư nhân

Thứ tư, mỗi KCN luôn có một số cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các doanh

nghiệp công nghiệp, có thể được bố trí thành khu vực sản xuất công nghiệp và khu vựcdịch vụ riêng biệt Các dịch vụ hỗ trợ có thể bao gồm nhà ở cho người lao động, các dịch

vụ hỗ trợ phục vụ cho các doanh nghiệp công nghiệp trong KCN, các công trình hạ tầngxã hội và dịch vụ phục vụ cho người lao động làm việc trong KCN

Đối với từng địa phương cũng như toàn bộ nền kinh tế, việc xây dựng và pháttriển các KCN có vai trò rất to lớn, điều này được thể hiện ở ba góc độ:

Thứ nhất, xây dựng và phát triển các KCN có ảnh hưởng nhiều mặt đối với sự

phát triển của nền kinh tế

Các KCN có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoàinước Trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn về cơ sở hạ tầng, môi trường kinhdoanh còn nhiều bất cập thì việc xây dựng các KCN sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi, giảmchi phí đầu tư cho các nhà đầu tư Vốn đầu tư kinh doanh vào các KCN tăng sẽ làmcho tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng lên, góp phần tạo ra tăng trưởng và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, kéo theo các ngành kinh tế khác phát triểntheo để phục vụ SXCN

Trang 28

Các KCN đi vào hoạt động đã tạo ra nhiều việc làm mới với thu nhập ngàycàng tăng, giúp nâng cao mức sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người laođộng Ngoài ra, việc phát triển các KCN cũng là tạo ra một môi trường tốt để đàotạo và rèn luyện người lao động địa phương, chuyển từ tác phong tự do nông nghiệpđến tác phong công nghiệp, chú trọng và đề cao tính kỷ luật và mức độ chuyênnghiệp trong lao động [20, tr.25].

Các KCN thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ tạo ra điều kiện để doanh nghiệptrong nước tiếp cận các phương pháp quản lý, phương pháp kinh doanh tiên tiến từ cácquốc gia và tiếp nhận công nghệ sản xuất hiện đại Khi các KCN hoạt động, các doanhnghiệp tại đây có thể thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và các mối quan hệ hợp tác kinh tếquốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường khu vực và thếgiới, góp phần tác động tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia

Đối với các doanh nghiệp trong nước, khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tưvào các KCN đã tạo ra áp lực cạnh tranh rất cao về hàng hóa và dịch vụ Để tồn tại

và phát triển buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới hoạt động sản xuấtkinh doanh trên mọi mặt, nâng cao năng lực cạnh tranh Tạo điều kiện tốt cho cácdoanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn lớntrên thế giới Khi các doanh nghiệp cùng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh sẽtạo thành năng lực cạnh tranh của ngành và năng lực cạnh tranh quốc gia

Việc phát triển các KCN góp phần tăng cường năng lực kinh tế, thúc đẩy mở rộngsản xuất, làm gia tăng số lượng doanh nghiệp và kết quả kinh doanh của họ, làm tăngmức đóng góp của họ cho ngân sách nhà nước, đồn thời giúp nhà nước tăng đượcnguồn thư từ các khoản như tiền sử dụng đất, thuế và phí các loại (cả từ các doanhnghiệp đầu tư sơ cấp và các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong các KCN)

Thứ hai, xây dựng và phát triển các KCN có tác dụng tích cực đối với việc

phát triển chính các ngành công nghiệp.

Đầu tư phát triển các KCN chính là động lực tốt nhất và mạnh nhất để pháttriển ngành công nghiệp Từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nông nghiệp giữ vaitrò chủ đạo, các KCN đi vào hoạt động sẽ làm chuyển dịch cơ cấu ngành trong nềnkinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng của ngành công nghiệp tăngdần và vượt ngành nông nghiệp, khẳng định vị trí của ngành công nghiệp trong cơcấu địa phương, vùng kinh tế và nền kinh tế Khi các nhà đầu tư lựa chọn vào cácKCN sẽ đem theo vốn, công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến, lúc đó cácKCN sẽ thực hiện quá trình sản xuất với năng suất và chất lượng cao hơn, tạo lợithế cao hơn trong ngành công nghiệp Khi có lợi thế, một bộ phận lao động sẽ đổdồn sang các nhà máy công nghiệp để làm việc vì năng suất và thu nhập

Trang 29

Thứ ba, đối với các địa phương, việc xây dựng và phát triển công nghiệp góp

phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, thúc đẩy xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết bền vữngviệc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sáchđịa phương một cách trực tiếp (tăng thu từ các doanh nghiệp hoạt động trong KCNcũng như từ các dịch vụ phục vụ KCN) và gián tiếp (do kinh tế địa phương phát triển,tài nguyên và lợi thế của địa phương được khai thác tốt hơn, có hiệu quả hơn, …) Vaitrò của KCN đối với từng địa phương và đối với nền kinh tế cơ bản tương đồngnhau, chỉ khác về tính cụ thể và mức độ cụ thể của các chỉ tiêu có liên quan

1.1.2 Phát triển bền vững khu công nghiệp

1.1.2.1 Bản chất của việc phát triển bền vững

Phát triển bền vững là khái niệm được bàn luận từ những năm 1970, đặc biệt

là từ đầu thập kỷ 1980 Vào giai đoạn này, công nghiệp hóa chất và luyện kim có sựphát triển vượt bậc, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế rất lớn, nhưng đồng thời cũnggây ra những ảnh hưởng tiêu cực cực kỳ tai hại cho môi trường sống Nước củanhiều hệ thống sông lớn trên thế giới bị ô nhiễm tới mức các loài thủy sinh bị tiêudiệt hàng loạt trên quy mô rộng Nước mặt dành cho sinh hoạt cũng bị ô nhiễmkhiến dân cư nhiều vùng phải sử dụng nước ngầm (cũng có dấu hiệu bị ô nhiễmngày càng nặng) Môi trường không khí ở các trung tâm công nghiệp không chỉ bị ônhiễm bởi khói bụi, mà còn bị tác động của các loại bụi từ kim loại nặng có hại chosức khỏe con người Việc sử dụng các sản phẩm hóa học khiến các loại chất thải rắntừ sản xuất và tiêu dùng gia tăng trong khi thời gian phân hủy tự nhiên của chúng lạirất dài, khiến môi trường đất bị ảnh hưởng xấu

Lần đầu tiên, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển chính thức đề cập tới

vấn đề này là vào năm 1987 và cho rằng “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp

ứng yêu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu đó của các thế hệ tương lai” [86] Quan điểm này của Ủy ban được giải thích rằng phát

triển bền vững là một trạng thái phát triển mà ở thời hiện tại, xã hội nói chung, nềnkinh tế của một quốc gia nói riêng đạt được một tốc độ cao, nhưng sự phát triển nàykhông được tạo ra ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của các thế hệ sau Nói cáchkhác, phát triển bền vững là phương thức tăng trưởng cao về số lượng và chất lượngở giai đoạn hiện tại nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích cho các thế hệ tương lai; cácthế hệ sau không phải “trả giá” cho sự phát triển nhanh chóng của thế hệ trước nó.Quan niệm của các nhà nghiên cứu và các cán bộ quản lý của các nước về pháttriển bền vững còn có những khác biệt do họ tiếp cận vấn đề từ những giác độ khácnhau, phục vụ những mục tiêu, những lợi ích khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung,

Trang 30

hầu hết các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững đều thống nhất cho rằngphát triển bền vững bao gồm 2 yếu tố cơ bản: Một là đảm bảo có được sự phát triểnnhanh chóng và mạnh mẽ ở hiện tại; hai là không ảnh hưởng bất lợi tới sự phát triểntrong tương lai Ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau

về phát triển bền vững, nhưng cũng xoay quanh quan niệm này

Nhằm cụ thể hóa và chuyển hóa khái niệm có tính bản chất về phát triển bềnvững như trên, các nhà khoa học và giới quản lý đưa ra 3 trụ cột của phát triển kinhtế- xã bền vững, bao gồm 1) tăng trưởng kinh tế; 2) ổn định xã hội và 3) môi trườngtự nhiên bền vững Những trụ cột này đều gắn với những quan niệm và nội hàm củacác phạm trù truyền thống, có thể (và cần phải) được cụ thể hóa thành các tiêu chí(định tính và định lượng) và chỉ tiêu cụ thể

Ở Việt Nam, phát triển bền vững là một yêu cầu đã được khẳng định trong cácchủ trương, đường lối chính thức của Đảng và Nhà nước Năm 2017, Chính phủViệt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững”, tạo ra khungpháp lý chung để xây dựng và thực hiện các chính sách cụ thể quán triệt tinh thần pháttriển bền vững trên các lĩnh vực cụ thể (Quyết định 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 củaThủ tướng Chính phủ) [71b] Định hướng này cũng là cơ sở để phối hợp nỗ lực của cácchủ thể có liên quan và tổ chức sự hợp tác của họ trong hành động thực tế nhằm đảmbảo cho sự phát triển của Việt Nam thực sự đáp ứng được các yêu cầu bền vững

Từ khái niệm chung về phát triển bền vững như trên, có thể định nghĩa phát

triển bền vững các KCN là một quá trình kinh tế- xã hội và kỹ thuật- công nghệ mà trong đó các khu công nghiệp nói chung cũng như từng khu công nghiệp cụ thể có thể tạo ra và duy trì sự phát triển của mình một cách nhanh chóng, đồng thời đảm bảo sự phát triển ổn định về các mặt chính tri- xã hội và môi trường tự nhiên bên trong cũng như xung quanh nó Khái niệm phát triển bền vững được sử dụng cho

các KCN trong một vùng, một quốc gia, hoặc với mỗi KCN cụ thể Cũng như đốivới nền kinh tế, sự phát triển bền vững các KCN nói chung cũng như từng KCN cụthể bao gồm 3 trụ cột:

Một là, các KCN cũng như mỗi KCN có được sự phát triển ổn định Về mặt

không gian, mỗi KCN có diện tích giới hạn, có thể được mở rộng sau khi hoạt độngổn định và đã tận dụng hết diện tích đó Đối với mỗi địa phương và với một quốcgia, số lượng các KCN có thể tăng thêm theo thời gian, khiến tổng diện tích dànhcho các KCN tăng theo Tuy nhiên, sự mở rộng không gian của mỗi KCN cũng như

số lượng các KCN không phải là vô hạn Do đó, về mặt này, sự phát triển bền vữngcủa KCN có nghĩa là sau một thời kỳ tăng lên, số lượng và diện tích các KCN sẽ ổnđịnh, không bị giảm sút (các KCN riêng lẻ không bị thu hẹp và số lượng các KCN

Trang 31

trên một địa bàn cũng như trên cả nước không bị giảm sút) Tuy nhiên, trong mỗiKCN cũng như trong toàn bộ các KCN trên một địa bàn, sự phát triển bền vững thểhiện ở chỗ kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ không ngừng tăng, thậm chítăng với tốc độ cao và ổn định Ở một giác độ khác, tính bền vững trong phát triểncủa các KCN còn thể hiện ở chỗ năng lực cạnh tranh của bản thân các KCN cũngnhư các doanh nghiệp hoạt động trong KCN và sản phẩm do nó tạo ra có sự cảithiện nhanh khiến dần dần chúng có sự vượt trội so với các doanh nghiệp, các sảnphẩm được sản xuất ở ngoài KCN Sự vượt trội này sẽ khiến các KCN tạo ra đượcmột số tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế của địa phương và khu vực,đặc biệt là:

- Hoạt động và sự phát triển của KCN thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các khuvực lân cận Đây được gọi là tác động “lan tỏa” cùa các KCN, được tạo ra bởi cácdoanh nghiệp và người lao động làm việc trong các KCN tạo ra những nhu cầu đểdân cư và các doanh nghiệp vùng lân cận sản xuất (vật tư, nguyên liệu, bán sảnphẩm, các sản phẩm phụ trợ, …) hoặc cung ứng dịch vụ (cho thuê chỗ ở, dịch vụvận chuyển, dịch vụ văn hóa- giải trí, …) để đáp ứng Sự phát triển công nghiệptrong các KCN kéo theo các ngành kinh tế khác phát triển cụ thể, dịch vụ hỗ trợ ởkhu vực xung quanh KCN sẽ là ngành buộc phải phát triển để phục vụ công nghiệp

- Các KCN góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thịhóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương Bản thân sự hình thành và hoạt độngcủa các KCN đã đòi hỏi và thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng vật chất- kỹ thuật vàvăn hóa- xã hội trong và xung quanh KCN cũng như thúc đẩy sự kết nối chung với hệthống kết cấu hạ tầng khu vực và quốc gia Hoạt động sản xuất công nghiệp đòi hỏingười lao động hình thành tính kỷ luật cao, hỗ trợ việc hình thành nhiều thói quen gắnvới phong cách sống hiện đại, thay thế những tập quán sinh hoạt tùy tiện của nền sảnxuất nhỏ, từ đó góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần ở địa phương

- Việc ứng dụng công nghệ mới và tiên tiến trong các KCN vừa thúc đẩy, vừatạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao trình độ kỹ thuật- công nghệ trên địa bànxung quanh các KCN, đặc biệt là ở những ngành, những lĩnh vực trực tiếp sản xuấtsản phẩm và cung cấp dịch vụ phục vụ KCN Quá trình này giúp nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh, đồng thời cũng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của hệthống sản xuất xung quanh các KCN

- Các KCN trực tiếp góp phần nâng cao thu nhập cho dân cư trên địa bàn xungquanh nhờ thu nhập từ tiền công (đối với những người trực tiếp làm việc trong cácKCN) và thu nhập tăng thêm do cung cấp dịch vụ cho người lao động làm việctrong các KCN và sản xuất sản phẩm phục vụ các KCN (kể cả sản phẩm cho các

Trang 32

doanh nghiệp lẫn sản phẩm cung cấp cho người lao động làm việc trong KCN) Nhờsự gia tăng thu nhập này mà tổng cầu trên địa bàn xung quanh KCN tăng lên, tíchlũy và đầu tư cũng tăng lên (làm gia tăng năng lực sản xuất), tạo ra môi trường kinhdoanh “sống động” xung quanh KCN và thúc đẩy nền kinh tế trên địa bàn phát triểnnhanh hơn.

Hai là, các KCN góp phần cải thiện môi trường xã hội và duy trì môi trường

xã hội thuận lợi cho sự phát triển xã hội một cách toàn diện Những tác động quan

trọng nhất của các KCN theo hướng này bao gồm: Một là, các KCN góp phần trực

tiếp và mạnh mẽ vào việc xóa đói giảm nghèo cho dân cư ở vùng lân cận nhờ việctạo cho họ những điều kiện để chuyển đổi sinh kế (chuyển sang làm việc trongKCN hoặc tự kinh doanh/ phục vụ các cơ sở kinh doanh cung cấp sản phẩm/ dịch

vụ cho các doanh nghiệp trong KCN), tiếp cận công nghệ mới và tiến bộ, học hỏinhững kỹ năng mới để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hoặc có thêm cơ hội

tích lũy, đầu tư mở rộng sản xuất để nâng cao thu nhập Hai là, các KCN góp phần

phát triển các dịch vụ đời sống và nâng cao thu nhập cho dân cư các vùng lân cận,cho phép người lao động trong các KCN và dân cư xung quanh có điều kiện thuậnlợi để thụ hưởng các dịch vụ văn hóa- tinh thần hiện đại, từ đó góp phần làm giảm sựphân hóa xã hội, tạo điều kiện để làm giảm thiểu sự chênh lệch giàu/ nghèo, giảm bớt sựbất bình đẳng về mặt xã hội Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi các KCN hầuhết được xây dựng ở những vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống, thường có thu nhập

thấp, khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội hiện đại Ba là, sự hình thành và phát triển của

các KCN góp phần quan trọng vào việc đảm bảo việc làm cho người lao động ở các khuvực lân cận Đương nhiên, nó cũng đặt ra những rủi ro và thách thức khi nền kinh tế rơi

vào khủng hoảng Bốn là, các KCN góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh, trật

tự cho các địa bàn trong và xung quanh nó Về mặt này, cũng có tác động ở chiều ngượclại: Các KCN thường đòi hỏi nhiều lao động, khiến mật độ dân cư ở vùng xung quanhKCN tăng nhanh và đạt mức cao hơn hẳn so với trước đó Tuy nhiên, bên cạnh những tácđộng tích cực, điều này cũng tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn cho các hiện tượng xã hội tiêucực, tạo ra những thách thức lớn cho việc đảm bảo an ninh trật tự cho chính KCN

và địa bàn lân cận

Ba là, các KCN góp phần đảm bảo duy trì và cải thiện môi trường tự nhiên.

Trụ cột này thường được giải thích theo nghĩa là các KCN phải đảm bảo duy trìđược môi trường tự nhiên gần nhất với trạng thái vốn có của nó trong nội bộ KCN,đồng thời góp phần duy trì và bảo vệ tốt môi trường xung quanh nó, trước hết làkhông phát thải những chất gây ô nhiễm môi trường trong phạm vi nội bộ và khuvực xung quanh Tuy nhiên, nội hàm của việc duy trì và cải thiện môi trường tự

Trang 33

nhiên còn rộng hơn thế, ít nhất cũng phải bao gồm 3 nội dung sau:

- KCN tăng cường sử dụng các nguyên vật liệu và năng lượng “sạch”, có khảnăng tái sinh, thay thế cho các loại nguyên vật liệu và năng lượng khoáng vật, ảnhhưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau

- Các KCN phải góp phần khắc phục những tác động bất lợi, khắc phục nhữngtổn hại môi trường, kể cả những tổn hại do hoặc không do các doanh nghiệp trongKCN gây ra ở cả trong và ngoài KCN

- Ngay từ khi xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch từng KCN riêng rẽ, các

cơ quan hữu quan đã phải tính toán tỷ lệ đất xây dựng nhà xưởng, hệ thống đườnggiao thông, không gian cây xanh, hệ thống xử lý nước thải và chất thải đảm bảo đápứng được những yêu cầu giảm thiểu tác động bất lợi tới môi trường tự nhiên ở cấpđộ vi mô và vĩ mô

1.1.2.2 Các tiêu thức đánh giá sự phát triển bền vững của khu công nghiệp

Như đã mô tả ở trên, hiện có những quan điểm khác nhau về các tiêu thức vàchỉ tiêu mô tả và đánh giá mức độ phát triển bền vững của các KCN Do đây khôngphải là trọng tâm chính, nghiên cứu này sử dụng một hệ thống tiêu chí dưới đây màcác tác giả đã sử dụng một cách phổ biến ở Việt Nam để đánh giá sự phát triển bềnvững của các KCN

1.1.2.2.1 Vị trí địa lý của khu công nghiệp

Tiêu chí này được xem xét cho từng KCN Theo đó, vị trí của một KCN được thểhiện qua kinh độ và vĩ độ của các điểm định vị KCN đó tại địa phương mà KCN đượcxây dựng, được thể hiện trên bản đồ địa lý của địa phương Về mặt kinh tế, địa lý củaKCN được xác định qua các thông số thể hiện khoảng cách giữa những mốc địa lýgiữa KCN với các công trình cơ sở hạ tầng chủ yếu có liên quan tới hoạt động của cácdoanh nghiệp trong KCN (khoảng cách giữa KCN tới các trục hoặc tuyến đường giaothông chủ yếu, tới các cảng biển, càng hàng không, các điểm tập kết hàng hóa chủ yếuhoặc tới thị trường chính của các doanh nghiệp trong KCN) Vị trí thuận lợi cho phépKCN có nhiều lợi thế, giúp các nhà đầu tư sơ cấp và thứ cấp dễ đạt được các mụctiêu kinh doanh, đó là cơ sở đầu tiên cho sự bền vững của các KCN Bởi vậy, bảnthân các chỉ số phản ánh vị trí của KCN (tọa độ của nó trên bản đồ, khoảng cáchgiữa nó với các công trình công cộng, …) không phản ánh và đo lường mức độ bềnvững trong sự phát triển của một KCN mà là các chỉ số so sánh phản ánh lợi thế củamột KCN so với các KCN khác Nó cũng có thể được phản ánh một cách gián tiếpthông qua sự so sánh chi phí về không gian địa lý hoặc tỷ lệ chi phí liên quan tớikhông gian địa lý so với tổng chi phí (hoặc giá thành) cho một đơn vị sản phẩm Trong trường hợp những chỉ số định lượng phản ánh lợi thế về chi phí liênquan tới không gian địa lý của sản phẩm do doanh nghiệp trong một KCN không

Trang 34

thể đo lường được, người ta có thể đánh giá tiêu chí này một cách cảm tính bằngcách khảo sát/ phỏng vấn một số cán bộ, chuyên gia am hiểu tình hình kinh doanhnhững sản phẩm, dịch vụ chủ yếu mà các doanh nghiệp trong KCN cung cấp cho thịtrường Phương pháp cho điểm thường được áp dụng trong trường hợp này Lúc đó,một KCN được đánh giá là có tính bền vững về mặt vị trí khi điểm đánh giá cho tiêuchí này đạt mức cao và được duy trì một cách liên tục, ổn định.

Ở cấp độ địa phương, tính bền vững trong phát triển các KCN thể hiện ở chỗchúng có được phân bổ một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên (đất đai, thổnhưỡng, sinh thái) của địa phương, phù hợp với bối cảnh kinh tế- xã hội và với địnhhướng phát triển kinh tế- xã hội của địa phương hay không Nó thường được đánh giámột cách cảm tính bởi các chuyên gia bằng cách cho điểm từng yếu tố (phân bố hợp

lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện của địa phương) hoặc đánh giá chungcác yếu tố ở mọi KCN trên địa bàn

1.1.2.2.2 Chất lượng qui hoạch khu công nghiệp

Tiêu chí chất lượng quy hoạch được áp dụng riêng để đánh giá sự phát triểnbền vững của từng KCN hoặc của toàn bộ các KCN ở một địa phương Nó được sửdụng để đánh giá tính bền vững trong sự phát triển của KCN bởi mỗi KCN cũngnhư các KCN trên một địa bàn không thể xây dựng và khai thác trong một sớm mộtchiều mà sẽ diễn ra trong một thời gian khá dài Bởi vậy, một khi chúng được quyhoạch tốt, thiết kế của chúng đỡ bị xáo trộn, các dự án đầu tư cho chúng có thể đượctriển khai thực hiện một cách thuận lợi, đem lại hiệu quả cao cho nhà đầu tư và cácchủ thể liên quan khác, nhờ đó mà KCN phát triển một cách bền vững, ổn định.Chất lượng của mỗi KCN được thể hiện qua số lượng, chủng loại, chất lượngmức độ đảm nhận của các công trình kết cấu hạ tầng cũng như môi trường hoạtđộng nội bộ trong khu công nghiệp, sự kết nối KCN với thị trường và môi trườngkinh tế- xã hội ngoài khu công nghiệp, qua cách thức sắp xếp các công trình nóitrên, tiến độ, trình tự xây dựng và khai thác, sử dụng chúng (kể cả việc đảm bảo cácnguồn lực để chúng hoạt động) Những KCN đạt các chỉ tiêu chất lượng quy hoạchtừ đầu sẽ có điều kiện phát triển nhanh và bền vững hơn các KCN có yếu kém côngtác này Một KCN có chất lượng quy hoạch cao còn thể hiện ở chỗ việc xây dựng,phê duyệt quy hoạch có tuân thủ đầy đủ, đúng đắn các quy định về phương phápxây dựng quy hoạch, trình tự, thủ tục phê duyệt quy hoạch hay không và bản thâncác quy hoạch có tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các tiêu chuẩn, chuẩn mực về các mặtkinh tế, kỹ thuật- công nghệ và văn hóa- xã hội hay không Khi các KCN được quyhoạch KCN tốt, các bản quy hoạch có chất lượng cao, chúng sẽ ít bị thay đổi vàđiều chỉnh, quy mô và mức độ điều chỉnh mỗi lần sẽ ở mức thấp

Trang 35

Việc lượng hóa chất lượng quy hoạch KCN được thể hiện qua một số chỉ tiêunhư: Số lần điều chỉnh quy hoạch tính từ khi nó được phê duyệt lần đầu cho tới khiđược đánh giá; tỷ lệ vốn đầu tư bị điều chỉnh so với tổng số vốn đầu tư theo quyhoạch được duyệt ban đầu; tỷ lệ diện tích bị điều chỉnh quy hoạch so với tổng diệntích KCN theo quy hoạch được duyệt ban đầu; tỷ lệ doanh nghiệp có liên quan tớisự điều chỉnh quy hoạch so với tổng số các doanh nghiệp trong KCN; tỷ lệ giữa sốKCN có quy hoạch bị điều chỉnh so với tổng số KCN trên địa bàn địa phương.Chất lượng quy hoạch KCN cũng có thể được đánh giá một cách cảm tính theophương pháp tương tự như đánh giá tiêu chí vị trí địa lý khi xem xét sự phát triểnbền vững của KCN như đã mô tả trong mục 1.1.2.2.1 trên đây.

1.1.2.2.3 Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy khu công nghiệp

Diện tích đất của một KCN là tổng số ha đất tự nhiên được dành cho KCN đó,giới hạn bởi ranh giới được xác định trên bản đồ KCN này Diện tích các KCN ởmột địa phương là tổng diện tích của các KCN trên địa bàn đó Tỷ lệ lấp đầy củamột KCN là tỷ số giữa diện tích của KCN đã được các nhà đầu tư thứ cấp thuê lại

để xây dựng văn phòng phục vụ quản lý điều hành, nhà xưởng, các công trình kiếntrúc phục vụ sản xuất kinh doanh và các công trình công cộng của doanh nghiệpcũng như các công trình phục vụ sinh hoạt và đời sống của người lao động làm việccho doanh nghiệp2

Trong khi tổng diện tích một KCN và diện tích các KCN ở một địa phươngđược giữ ổn định trong một thời gian tương đối dài (cho tới khi nó được mở rộnghoặc bị thu hẹp do những lý do khác nhau) thì tỷ lệ lấp đầy của mỗi KCN cũng nhưcủa toàn bộ các KCN ở một địa phương lại dễ thay đổi hơn Tỷ lệ này thường tăngchậm trong giai đoạn đầu, sau khi doanh nghiệp đầu tư sơ cấp hoàn thành việc xâydựng cơ sở hạ tầng, sau đó tăng nhanh trong khoảng thời gian 2- 5 năm sau khiKCN bắt đầu đi vào hoạt động (do các nỗ lực quảng bá, thu hút đầu tư và các chínhsách của nhà nước, do nỗ lực của các nhà đầu tư sơ cấp và sự hỗ trợ của các DN đầu

tư thứ cấp) Sự gia tăng tỷ lệ lấp đầy thường ổn định sau khoảng 5- 7 năm tính từkhi KCN đi vào hoạt động và khi tỷ lệ lấp đầy này đạt khoảng từ 75- 80% trở lên

2Trên thực tế, khi xây dựng KCN, diện tích đất và không gian phục vụ sản xuất trong cácKCN không chỉ bao gồm diện tích đất được giới hạn trong ranh giới các KCN, mà nó cònbao gồm một diện tích/ không gian đáng kể ngoài các KCN, ví dụ như diện tích và khônggian xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ các khu này, ví dụ hệ thống đường dẫn,đường gom, đường điện, hệ thống tiêu nước hoặc cấp nước, hệ thống kho tàng, bến bãiphục vụ lưu thông hàng hóa và hành khách tới và đi khỏi KCN Cho tới nay, các công trìnhnày thường được tính là cơ sở hạ tầng của địa phương, nhưng thực ra, trong nhiều trườnghợp, chúng chỉ hoặc chủ yếu chỉ phục vụ cho một hoặc một vài KCN Trong những trườnghợp như vậy, chúng nên được xem như một bộ phận cấu thành KCN hoặc các KCN đó

Trang 36

Về lý thuyết, tỷ lệ lấp đầy của KCN có thể đạt tới 100%, nhưng thường cácchủ đầu tư sơ cấp ít khi nỗ lực đạt tới con số này mà họ có xu hướng giữ lại mộtdiện tích nhất định làm dự phòng để đáp ứng những nhu cầu không lường trướcđược Tỷ lệ lấp đầy KCN thường có xu hướng tăng đến khi nó đạt mức ổn định cao,nhưng tỷ lệ này cũng có thể giảm đi, khi có những doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trảlại diện tích đã thuê do họ ngừng hoạt động (tự giác hoặc bắt buộc), chuyển sang địađiểm khác, hoặc thu hẹp diện tích kinh doanh Một KCN hoặc các KCN ở một địaphương có được sự phát triển bền vững khi tỷ lệ lấp đầy của chúng liên tục tăng vàgiữ được mức cao một cách ổn định, ít có biến động theo chiều hướng trái ngược.Khi sử dụng tiêu chí diện tích và tỷ lệ lấp đầy để đánh giá tính bền vững trongsự phát triển KCN hoặc các KCN ở một địa phương, ngoài cách sử dụng các chỉtiêu định lượng như trên, người ta còn có thể sử dụng phương pháp đánh giá địnhtính bằng phương pháp chuyên gia, sử dụng cách cho điểm đối với tiêu chí này (như

mô tả ở tiểu mục 1.1.2.2.1)

1.1.2.2.4 Tổng số vốn đăng ký và vốn đầu tư thực hiện vào khu công nghiệp

Vốn đầu tư vào KCN bao gồm cả vốn của chủ đầu tư sơ cấp dành cho việc xâydựng cơ sở hạ tầng của KCN và vốn của các chủ đầu tư thứ cấp dành cho việc xâydựng nhà máy, công xưởng và các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh trongKCN Chúng lại bao gồm vốn đăng ký (là lượng vốn mà nhà đầu tư đăng ký với cơquan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức khác) và vốn đầu tư thực tế (là sốtiền thực tế mà nhà đầu tư đã bỏ ra tính từ khi bắt đầu thực hiện dự án cho tới thờiđiểm thống kê để thực hiện dự án mà mình đã đăng ký) Trong khi tổng số vốn đăng

ký thể hiện mức độ quan tâm của các nhà đầu tư thì tổng số vốn đầu tư thực tế thểhiện mức độ cam kết và nỗ lực của nhà đầu tư trong việc khai thác các lợi thế củaKCN, cho phép hình dung ra tác động và đóng góp của họ đối với sự phát triển kinhtế của địa phương)

Tiêu chí và chỉ tiêu này có tác dụng phản ánh sự phát triển của KCN: Số lượngvốn được thu hút vào KCN ngày càng nhiều, tốc độ gia tăng vốn đầu tư vào KCNcàng cao càng chứng tỏ KCN có sự phát triển mạnh mẽ Số lượng vốn đầu tư thựctế càng lớn và tăng nhanh càng chứng tỏ nỗ lực mà các doanh nghiệp bỏ ra cho cáchoạt động trong KCN càng lớn Tốc độ tăng của các loại vốn càng ổn định càngchứng tỏ sự phát triển của KCN bền vững Đồng thời, tỷ lệ vốn đầu tư thực tế so vớivốn đăng ký càng cao càng cho thấy sự cam kết của các chủ đầu tư đối với chươngtrình, kế hoạch kinh doanh của họ càng cao Đó là một dấu hiệu tích cực khẳng địnhtính bền vững trong sự phát triển của KCN

Tuy nhiên, vốn đầu tư thường chỉ tăng mạnh trong giai đoạn đầu tư và trongnhững giai đoạn có sự đổi mới mạnh mẽ nền tảng công nghệ của sản xuất hoặc khi

Trang 37

doanh nghiệp đổi mới hệ thống sản xuất kinh doanh của mình Sự gia tăng lượngvốn này thường không đáng kể khi hệ thống sản xuất kinh doanh đi vào hoạt độngổn định Vì vậy, những chỉ tiêu trên cũng có những hạn chế nhất định khi đánh giátình trạng phát triển của KCN trong điều kiện ổn định Bởi vậy, một tiêu chí/ chỉtiêu bổ sung khác được sử dụng để đánh giá sự phát triển trong giai đoạn này là vốnkinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN Vốn này bao gồm cả vốn cố định và vốnlưu động (hoặc vốn dài hạn và vốn ngắn hạn), phản ánh tương đối toàn diện quy mô sảnxuất kinh doanh và sự gia tăng quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trongKCN Tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN tăng nhanh và ổn định

là dấu hiệu chỉ báo rằng KCN phát triển nhanh và bền vững

Trong một số trường hợp, các chỉ số về vốn của các doanh nghiệp trong mộtKCN hoặc các KCN ở một địa phương khó, thậm chí không thể tổng hợp được,người ta có thể đánh giá sự biến động của tiêu chí này bằng phương pháp cảm tính,dựa trên điểm số của các chuyên gia (xem mục 1.1.2.2.1)

1.1.2.2.5 Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

Mục đích của việc phát triển các KCN, mục đích của việc thu hút đầu tư vàcủa việc đầu tư vào KCN là để phát triển sản xuất kinh doanh Bời vậy, các tiêu chí

và chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trongKCN là tiêu chí/ chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong việc phản ánh tínhchất phát triển bền vững một KCN cũng như các KCN ở một địa phương Nhữngchỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN bao gồm:

- Tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN và tốc độ tăng của nó;

- Tổng giá trị gia tăng của các KCN và tốc độ tăng của nó;

- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KCN và tốc độ tăng của nó;

- Lợi nhuận cùa các doanh nghiệp trong KCN và tốc độ tăng của nó

Hiệu quả hoạt động của KCN được thể hiện qua 1) các chỉ tiêu phản ánh hiệuquả kinh doanh tương tự như hiệu quả của các doanh nghiệp và 2) những chỉ tiêuđặc thù phản ánh hiệu quả hoạt động của KCN Đó là:

- Tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp trong KCN (tỷ số giữa lợi nhuận củacác doanh nghiệp trong KCN so với vốn kinh doanh bình quân hoặc so với doanhthu của chúng) và tốc độ tăng của chỉ tiêu này;

- Tổng doanh thu bình quân tính trên một đơn vị diện tích (1 ha) của KCN vàtốc độ tăng của chỉ số này;

- Tổng giá trị gia tăng của KCN tính trên một đơn vị diện tích (1 ha) của KCN

và tốc độ tăng của chỉ số này;

Trang 38

- Lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp tính trên một đơn vị diện tíchKCN và tốc độ tăng của chỉ số này;

- Số lao động bình quân làm việc trong KCN tính trên một đơn vị diện tích (1ha) KCN và tốc độ tăng của chỉ số này;

- Kim ngạch xuất khẩu tính trên một đơn vị diện tích (1ha) KCN và tốc độtăng của chỉ số này

Trị số và tốc độ gia tăng các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanhtrong các KCN là những tiêu thức và chỉ tiêu phản ánh hết sức rõ nét sự phát triểncủa các KCN và các tiêu thức, chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh trong cácKCN cho phép khẳng định tính bền vững của sự phát triển này Người ta còn sosánh chúng với các chỉ tiêu tương ứng của các KCN lân cận, các KCN trong vùnghoặc các KCN có tính chất và chức năng tương tự Nếu các chỉ số của một KCN caohơn so với chỉ số tương ứng ở các KCN khác và có xu hướng được cải thiện thì sựphát triển của KCN đang được xem xét sẽ có tính bền vững cao hơn Trên thực tế,khó có KCN nào lại có được sự vượt trội so với các KCN khác ở tất cả các tiêu chí/chỉ tiêu, mà thường chỉ vượt trội trên một số chỉ tiêu Trong trường hợp đó, người tathường xét xem KCN nào có nhiều chỉ số vượt trội hơn và mức độ vượt trội củachúng ra sao (phương pháp lập bảng so sánh), hoặc đánh giá sự vượt trội tổng hợpnhờ một chỉ số tổng hợp (ví dụ chấm điểm cho mức độ vượt trội/ thua kém của từngtiêu thức/ chỉ tiêu và tính tổng số điểm vượt trội của tất cả các tiêu thức/ chỉ tiêu).Trong một số trường hợp, đặc biệt là khi việc thu thập số liệu một cách có hệ thốngtừ các doanh nghiệp gặp khó khăn, phương pháp đánh giá định tính cũng có thểđược áp dụng (xem mục 1.1.2.2.1)

1.1.2.2.6 Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp của khu công nghiệp

Về thực chất, trình độ công nghệ và ứng dụng tiến bộ công nghệ phản ánhnăng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tiêu chí này cũng có thể được áp dụngcho một KCN hoặc các KCN ở một địa phương Ý nghĩa của tiêu thức này có thểđược nhận biết một cách rất rõ ràng và thực tế qua sự phát triển hay suy thoái củamột làng nghề- một không gian mà bản chất thì có nhiều khác biệt nhưng có nhiềuđặc điểm và tính chất giống như KCN: Những làng nghề nào có công nghệ tiên tiến,được đổi mới kịp thời để duy trì được lợi thế về công nghệ so với các làng nghềcùng loại khác thì phát triển nhanh và ngược lại Tương tự nếu một KCN thu hútđược nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ cao, tạo ra được lợi thế cạnh tranhlớn, tạo ra lợi nhuận siêu ngạch lớn và kéo dài thì sẽ tạo ra được một sự phát triểnnhanh và bền vững Nếu không cập nhật được tiến bộ khoa học- công nghệ, những

Trang 39

lợi thế này sẽ mất đi và sự phát triển của nó không thể được duy trì bền vững.

Tuy nhiên, việc đánh giá tiêu thức này thường gặp khó khăn khi xem xét “mứcđộ tiên tiến” hay “mức độ lạc hậu” của các công nghệ được sử dụng trong KCN.Cho tới nay, người ta vẫn chỉ dùng phương pháp phân chia các “thế hệ công nghệ”

để đánh giá trình độ công nghệ nhưng sự phân chia công nghệ trên một lĩnh vực thànhcác “thế hệ” vẫn còn có những khác biệt khá lớn và chịu tác động của yếu tố chủ quan

Để tránh hoặc hạn chế bớt những tác động bất lợi của những khác biệt do yếu tố chủquan này, người ta tiến hành so sánh những thông số kinh tế- xã hội và môi trường chủyếu của mỗi loại công nghệ để xếp loại và đánh giá trình độ công nghệ của cácdoanh nghiệp trong KCN cũng như của một KCN so với các KCN khác

Một số chỉ tiêu cụ thể có thể dùng để đánh giá trình độ công nghệ của mộtKCN và mức độ cải thiện trình độ công nghệ của nó là:

- Tỷ lệ giữa số dây chuyền công nghệ tiên tiến so với tổng số dây chuyền côngnghệ được sử dụng trong KCN và mức độ cải thiện của nó (tính theo tốc độ gia tăng

- Số lượng, tốc độ tăng số người máy công nghiệp được sử dụng trong KCN;

- Tỷ lệ chi phí dành cho việc ứng dụng tiến bộ công nghệ ở những hướng mũinhọn (công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, tin học, vật liệu mới, công nghệ thânthiện với môi trường, …) so với tổng doanh thu của KCN và tốc độ tăng của tỷ lệnày, …

Ngoài ra, một số chỉ tiêu có liên quan cũng được nhiều chuyên gia xem xét, ví

dụ tỷ lệ doanh thu từ các sản phẩm mới, tỷ lệ doanh thu từ những sản phẩm đượcsản xuất bằng công nghệ tiên tiến, … Việc sử dụng các chỉ tiêu về trình độ côngnghệ trong KCN để phân tích, đánh giá sự phát triển bền vững của một KCN hoặccác KCN ở một địa phương cũng được thực hiện tương tự như khi đánh giá tiêuthức về kết quả, hiệu quả của KCN (xem mục 1.1.2.2.5)

1.1.2.2.7 Trình độ chuyên môn hoá và liên kết kinh tế của khu công nghiệp và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

Bản chất của công nghiệp là sản xuất có phân công lao động; các KCN là nơi côngnghiệp tập trung với mật độ cao Bởi vậy, nói chung, sản xuất trong KCN là những hệ

Trang 40

thống sản xuất có sự phân công chuyên mô hóa ở mức cao hơn so với những địa bànkhác Đương nhiên, do công nghiệp vốn dĩ là hệ thống sản xuất hoàn chỉnh nên khichuyên môn hóa đạt tới trình độ càng sâu thì sự hợp tác hóa, phối hợp sản xuất lại càngphải chặt chẽ Trình độ phát triển của sản xuất công nghiệp càng cao thì trình độ chuyênmôn hóa và hợp tác sản xuất càng cao Như vậy, tiêu chí về trình độ chuyên môn hóa vàliên kết kinh tế của KCN phản ánh mặt chất lượng của sự phát triển các KCN.

Để đẩy mạnh quan hệ và nâng cao trình độ chuyên môn hóa và liên kết kinh tếcủa KCN, một số KCN đã sử dụng mô hình chọn một hoặc vài doanh nghiệp lớnđóng vai trò trung tâm, từ đó thu hút nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn phục vụ cho nó(sản xuất phụ tùng, bao bì, vật liệu phụ, …) Mô hình liên kết này tương đối hiệuquả và bền vững nên hiện các địa phương thường tìm và kêu gọi những doanh nghiệplớn đầu tư, sau đó các doanh nghiệp vệ tinh sẽ tự tìm đến hoặc sẽ do những doanhnghiệp lớn này tìm kiếm, lôi kéo về hoạt động để khép kín chuỗi liên kết của họ.Trong nhiều trường hợp, khi không thể hình thành chuỗi liên kết trong nội bộKCN, các DN trong đó buộc phải tìm kiếm và xây dựng quan hệ liên kết với các

DN bên ngoài, từ đó hình thành quan hệ liên kết giữa các KCN và giữa các địaphương với nhau Mức độ liên kết giữa các DN trong và ngoài KCN càng cao thìkhả năng đảm bảo phát triển bền vững càng lớn

Mối quan hệ chuyên môn hóa và liên kết kinh tế như mô tả trên đây đòi hỏicác DN trong KCN và các cơ quan quản lý có liên quan, đặc biệt là chủ đầu tư sơcấp, phải dành nhiều nỗ lực để thiết lập hoặc giúp DN thiết lập những mối quan hệliên kết, hợp tác chặt chẽ theo nhu cầu của các DN trong KCN Những mối quan hệnày không chỉ diễn ra trong nội bộ KCN, giữa các KCN ở một địa phương, mà baogồm cả những quan hệ liên kết, hợp tác giữa các DN thuộc các KCN ở những địaphương khác, không chỉ trong nước mà cả quốc tế Hiện nay, các chuỗi cung ứng,chuỗi giá trị đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu Do vậy, các DN trong KCNcần tham gia sâu vào những chuỗi này, đảm nhận những giai đoạn, những khâu tạo

ra giá trị gia tăng cao, đem lại hiệu quả cao Các chủ đầu tư sơ cấp và các cơ quanquản lý nhà nước cần tích cực hỗ trợ để DN trong KCN đạt được mục tiêu này.Hiện việc đánh giá tiêu chí về trình độ chuyên môn hóa và liên kết kinh tế của KCNđang được thực hiện rất khác nhau, trong đó nhiều tác giả thiên về hướng đánh giá mộtcách định tính (xem mục 1.2.2.1) Tuy nhiên, cũng có những nỗ lực tìm cách đánh giátiêu thức này bằng một số chỉ tiêu định lượng, trong đó có những chỉ tiêu như:

- Tỷ lệ giữa giá trị vật tư, hàng hóa, nguyên liệu mua từ ngoài KCN so với giátrị hàng hóa (hoặc doanh thu) của các DN trong KCN và tốc độ biến thiên (tăng/giảm) của chỉ tiêu này;

Ngày đăng: 25/12/2020, 05:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w