Quản trị rủi ro là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong các công tác quản trị và xuất hiện hàng loạt các rủi ro về các lĩnh vực như: Ngân hàng, Doanh nghiệp, Dự án đầu tư xây dựng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
LÊ VĂN THU
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA DỰ ÁN TUYẾN ĐƯỜNG
SẮT ĐÔ THỊ THÍ ĐIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(ĐOẠN NHỔN - GA HÀ NỘI) GIAI ĐOẠN 2010 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
LÊ VĂN THU
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA DỰ ÁN TUYẾN ĐƯỜNG
SẮT ĐÔ THỊ THÍ ĐIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(ĐOẠN NHỔN - GA HÀ NỘI) GIAI ĐOẠN 2010 - 2020
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: 8900201.05QTD
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Hoàng Đình Phi
HÀ NỘI - 2020
Trang 3CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác
Những kết quản nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã
được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Văn Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học cũng như luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến Khoa Quản trị và Kinh doanh – Đại học Quốc gia Hà Nội và các phòng, ban liên quan cùng tập thể cán bộ, giảng viên của Khoa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu
Tác giả xin trân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Hoàng Đình Phi, người đã tận tình giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và bảo ban tác giả trong quá trình hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn cơ quan đơn vị, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tốt nhất để tác giả hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp Xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Văn Thu
Trang 61.3 Một số rủi ro điển hình trong các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô
1.4.1 Rủi ro liên quan đến chi phí của dự án……….35
1.4.2 Rủi ro liên quan đến an toàn lao động……….…….39
1.4.3 Rủi ro liên quan đến môi trường xây dựng……… 42
1.4.4 Rủi ro liên quan đến tiến độ của dự án……….43
1.5 Các phương pháp cơ bản vận dựng trong xử lý rủi ro……….….44
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA
DỰ ÁN TUYẾN ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ THÍ ĐIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 7(ĐOẠN NHỔN - GA HÀ NÔI) GIAI ĐOẠN 2010 - 2020……….…….49
2.1 Giới thiệu chung về quản trị rủi ro của dự án đầu tư xây dự hạ tầng đô thị…… 49
2.1.1 Giới thiệu chung về công tác quản trị rủi ro……….….49
2.1.2 Một số vấn đề tồn tại của công tác quản trị rủi ro
……….53
2.2 Thực trạng công tác quản t r ị rủi ro c ủ a Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội) giai đoạn 2010 – 2020……… 55
2.2.1 Giới thiệu chung về Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà
Nội)……… ………… 55
2.2.2 Một số rủi ro (C1) đã xảy ra thành các khủng hoảng nhỏ (C2) của Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)………… 59
2.2.3 Thực trạng công tác quản trị rủi ro của Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)………61
2.2.4 Đánh giá chung về công tác quản trị rủi ro của dự án Tuyển đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội (đoạn Nhổn – ga hà Nội) giai đoạn 2010 – 2020……… 65
2.2.5 Đánh giá kết quả thực hiện dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố
Hà Nội (đoạn Nhổn - ga Hà Nội) giai đoạn 2010 – 2020………67
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG
T Á C QUẢN T R Ị RỦI RO CỦ A DỰ ÁN TUYẾN ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ THÍ ĐIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI (ĐOẠN NHỔN – GA HÀ NỘI)
……… …….71
Trang 83.1 Định hướng đầu tư các dự án phát triển hệ thống đường sắt đô thị của thành phố
Hà Nội……… …….71 3.1.1 Hệ thống tuyến đường sắt đô thị Hà Nội theo quy hoạch……….…….71
3.1.2 Mục tiêu tổng quát đến năm 2050……… …….72
3.1.3 Mục tiêu cụ thể đến năm 2030……….….72
3.2 Một số nhóm giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro đối với Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)… 73
3.2.1 Những giải pháp cơ bản đối với các dự án đầu tư công trình………… …… 73
3.2.2 Những giải pháp cấp bách trong ngắn hạn và trung hạn đối với dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)………74
3.2.3 Những giải pháp lâu dài đối với dự án tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)……… ………75
3.3 Biện pháp đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)……….……….77
3.3.1 Mục tiêu chung của dự án……… ……… 77
3.3.2 Các biện pháp cơ bản để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án Tuyến đường sắt
đô thị thí điểm thành phố Hà Nội (đoạn Nhổm – ga Hà Nội)………….……….78
KẾT LUẬN, HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN VÀ KIẾN NGHỊ……… ……80
luận……… …….80
Trang 92 Hạn chế của luận văn……… ………….80
3 Kiến nghị……… 80
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ….81
PHỤ LỤC 01………… ……….….83
PHỤ LỤC 02………… ……….….85
Trang 11Bảng 1.2 Danh sách các tác động của rủi ro
Bảng 1.3 Các nguồn nguyên nhân tạo nên rủi ro
Bảng 2.1 Tổng hợp một số nhân tố rủi ro của dự án
Bảng 2.2 Tổng hợp đánh giá các nhân tố rủi ro của dự án tuyến đường sắt Bảng 2.3 Bảng đánh giá mức độ nghiêm trọng của nhân tố rủi ro
Bảng 2.4 Đánh giá quản trị rủi ro trong Dự án Tuyến đường sắt đô thị theo
phương trình an ninh phi truyền thống
Trang 12DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu
hình
Tên hình
Hình 1.1 Quá trình quản lý rủi ro trong xây dựng
Hình 1.2 Các rủi ro điển hình của dự án bắt nguồn từ giai đoạn chuẩn bị
đầu tƣ Hình 1.3 Các rủi ro điển hình của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tƣ
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Nước ta đang trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển biến mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường, các dự án đầu tư chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh
và ngay trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng Do đó đánh giá các rủi ro và quản lý ảnh hưởng của các tác động sẽ có vai trò quan trọng trong sự thành công của dự án đầu tư xây dựng Các dự án đầu tư xây dựng được triển khai nhằm mục tiêu thực hiện đầu tư, phát triển, tạo cơ sở vật chất cho xã hội
Quản trị rủi ro là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong các công tác quản trị và xuất hiện hàng loạt các rủi ro về các lĩnh vực như: Ngân hàng, Doanh nghiệp, Dự án đầu tư xây dựng Rủi ro trong các hoạt động quản trị con người, năng lực kỹ thuật, khủng hoảng, cơ chế chính sách thay đổi…Nhiều người nghĩ rằng quản trị rủi ro chỉ áp dụng cho các hoạn động của ngân hàng khi họ đảm bảo quản trị rủi ro tín dụng Nhưng với đề tài này tôi có cơ hội nghiên cứu về quản trị rủi ro đến dự án đầu tư xây dựng là lĩnh vực mà tôi đang thực hiện hàng ngày trong công việc với mong muốn đặt ra 02 vấn đề: Một là, Nghiên cứu sâu lý thuyết
về quản trị rủi ro; hai là, áp dụng vào quản trị rủi ro các dự án đầu tư xây dựng Việc nghiên cứu quản trị rủi ro đối với dự án đầu tư là một bước đi trước để tăng cường công tác quản trị tìm ra các rủi ro tiềm ẩn để giải quết đảm bảo sự thành công của dự án về mọi mặt
Những năm vừa qua, nước ta không ngừng tăng nhanh cả về quy mô trên nhiều lĩnh vực và có sự tham gia của toàn xã hội Tuy nhiên, việc nhận dạng, đánh giá, kiểm soát nhằm hạn chế rủi ro tác động xấu từ các ảnh hưởng khách quan hoặc chủ quan tới dự án chưa được chúng ta chú trọng, còn đối phó bị động Đặc biệt Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga
Hà Nội) có ý nghĩa quan trọng của Thành phố Hà Nội nói riêng và của quốc gia nói chung đang trong giai đoạn thi công và hiện dự án đang nhận được rất nhiều
sự quan tâm của xã hội Luận văn thạc sĩ này mang tính chất thực tiễn cao, nhằm mục đích tăng cường hoạt động quản trị rủi ro cho các dự án đầu tư xây dựng Vì vậy, tôi chọn vấn đề: “Công tác quản trị rủi ro của Dự án Tuyến đường sắt đô thị
Trang 14thí điểm thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị an ninh phi truyền thống
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Thu thập và nghiên cứu tài liệu, thông tin liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản tri rủi ro lĩnh vực đầu tư xây dựng
- Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội) giai đoạn 2010 –
2020
- Đề xuất định hướng và giải pháp quản trị nhằm hạn chế rủi ro khi thực hiện
dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội) thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro cho dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội) giai đoạn 2010 – 2020
- Đề xuất một số giải pháp quản trị rủi ro cho dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội)
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu công tác quản trị rủi ro của Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm thành phố Hà Nội (Đoạn Nhổn – Ga Hà Nội) giai đoạn 2010 – 2020 mà chủ thể chính là chủ đầu tư dự án – Ban quản lý đường sắt đô thị Hà Nội
điểm của tác giả
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 15- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các nghiên cứu đã có về quản trị rủi
ro cho dự án đầu tư xây dựng, Pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, các Luật, Nghị định về xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng,
và các văn bản pháp quy phạm pháp luật hiện hành
- Phương pháp thực hiện bao gồm: Thu thập số liệu hiện có, tổng hợp dữ liệu, phân tích, so sánh
7 Cấu trúc luận văn
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA DỰ ÁN TUYẾN ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ THÍ ĐIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI (ĐOẠN NHỔN – GA HÀ NỘI)
KẾT LUẬN, HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 16CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA DỰ ÁN
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
1.1 Rủi ro và rủi ro của dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Khái niệm “rủi ro” được nói đến lần đầu tiên ở Anh quốc vào thế kỷ 17 với nghĩa được hiểu là sự không chắc chắn có thể xuất hiện trong các kế hoạch hay dự định ban đầu, dẫn đến khả năng xuất hiện một số điều gì đó có tác động (tích cực hoặc tiêu cực) tới các khía cạnh của quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Những điều xảy ra tiếp theo của sự bất định và gây ảnh hưởng tới dự án xây dựng được coi là những rủi ro trong xây dựng Khi đó rủi ro có thể là những lợi ích thu được thêm hay những tác hại gây mất mát cho công trình xây dựng Tuy nhiên mọi người khi nói tới rủi ro là có liên tưởng ngay tới những khó khăn, bất định và nguy hiểm, tức là những yếu tố có tác động tiêu cực nếu chúng xảy ra
Thế giới đã chứng kiến rất nhiều rủi ro xuất hiện trong ngành xây dựng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung với những trường hợp xác xuất chỉ xảy ra một lần hoặc với những trường hợp xảy ra nhiều lần, lặp đi lặp lại Một số rủi ro đã xảy ra sau đó và có gây tác động tiêu cực, những có những rủi ro đã không xảy ra
và đã không gây tổn thất nào sau đó Một số ví dụ về rủi ro đã xuất hiện trong lịch
và bất định với sự cố máy tính Y2K vào ngày 01 tháng 01 năm 2000
- Sự kiện ngày 11 tháng 09 năm 2001 khi hai tòa tháp của trung tâm thương
Trang 17mại thế giới sụp đổ do tấn công khủng bố cùng với việc thị trường chứng khoán sụp
đổ với giá cổ phiếu rơi tự do vào năm 1997-1998, tất cả mọi người lại hoảng hốt về rủi ro và bất định của thế giới, dẫu đó là nơi hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật hay Đức hay nới còn nghèo khổ như châu Phi, châu Á
- Để thám hiểm thế giới và tìm kiếm những tài nguyên thiên nhiên quý hiếm thì trong quá khứ các nước châu Âu đã cử rất nhiều các đoàn thám hiểm đến các châu lục khác thông qua đường biển Khi đó việc đầu tư tiền để đóng mới các con tàu thám hiểm và chi trả công cho các thủy thủ được coi là chứa đựng rất nhiều rủi
ro do trên con đường thám hiểm thế giới thì các con tàu này gặp vô vàn mối nguy hiểm như bão tố, cướp biển, bệnh tật, lạc đường
- Tại Việt Nam thì nhiều rủi ro cũng được ghi nhận, đặc biệt là đối với ngành xây dựng nơi có tần xuất rủi ro xuất hiện cao hơn mức thông thường Rủi ro và tác động của chúng chưa được các cơ quan tổ chức quản lý đầu tư xây dựng trong nước quan tâm và nghiên cứu nhiều Một số dự án đầu tư xây dựng với quy mô lớn mới
có nghiên cứu và đề cập tới vấn đề rủi ro và đưa ra các biện pháp hạn chế hay loại
bỏ rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện
- Hiên nay các dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam có vốn nước ngoài đều phải có mua bảo hiểm cho con người và máy móc thiết bị thi công Mục tiêu các chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng không muốn chịu rủi ro về kinh tế nếu có tai nạn hoặc sự cố xảy ra trên công trường thi công Các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm
sẽ chịu và chi trả cho chủ đầu tư và nhà thầu các tổ thất vật chất liên quan đến rủi ro của họ Tuy nhiên, các chủ đầu tư và nhà thầu trong nước lại không quan tâm nhiều đến rủi ro và ít khi họ mua bảo hiểm rủi ro
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu và ứng dụng được thực hiện trong lĩnh vực quản trị rủi ro ngành xây dựng Đây có thể là một trong những vấn đề quan trọng và phức tạp nhất của chủ đề quản lý dự án, do những thay đổi nhanh chóng và khó lường của ngành xây dựng công trình Trong bất kỳ công trình xây dựng nào thì luôn tồn tại một số rủi ro nào đó và chúng làm phức tạp thêm quá trình thi công cũng như gây khó khăn trong việc quản lý tiến độ thời gian, chất lượng và chi phí Thêm vào đó với đặc điểm cơ bản của ngành xây dựng là có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều đơn vị với các chuyên môn
Trang 18khác nhau làm phức tạp thêm mỗi công trường với các mối quan hệ chính thức
và không chính thức của các cá nhân và các bên tham gia Đồng thời có nhiều yếu
tố mới phát sinh và không thể dự đoán trước được, đặc biệt đối với những dự án xây dựng phức tạp và kéo dài thời gian thi công Tất cả những điều này đều gây ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình xây dựng và kết quả cuối cùng của dự án Bằng việc quan tâm tới rủi ro thì một số hạn chế hiện tại sẽ được phát hiện ra, giúp tạo ra cơ hội củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc cũng như rút ngắn thời gian thi công xây dựng
Hai từ “nguy hiểm” và “rủi ro” thường được sử dụng hoán đổi, thay thế nhau Nếu xem xét một cách nghiêm túc thì một nguy hiểm thường được coi là một điều
gì đấy có thể đang lệch hướng so với dự định và gây ra tác động tiêu cực, có hại Các nguy hiểm có thể xuất hiện tại bất kỳ công trình xây dựng nào và gây tác động tiêu cực tới nhóm quản lý dự án cũng như đơn vị chủ quản liên quan Nguy hiểm có thể ở dạng vật chất, như tai nạn lao động làm chết người, mất mát vật tư do trộm cắp hay mưa to gây lún sụt nền đất; hoặc có thể ở dạng khác như chậm tiến độ, phạt tiền hay suy giảm uy tín công ty
Trong khi đó thì một rủi ro là bội số của chi phí phải bỏ ra do tác động tiếp theo của mối nguy hiểm và khả năng xuất hiện của chúng Nói cách khác khi một nguy hiểm trong công trường xây dựng nhiều khả năng sẽ gây ra mức thiệt hại tối
đa là 100 triệu đồng, nhưng với 10% xuất hiện thì có một mức rủi ro là 10 triệu đồng Ngoài ra thì còn có một sự so sánh khác nữa giữa “bất định” (không chắc chắn) và “rủi ro” Khi đưa ra quyết định trong điều kiện rủi ro, chúng ta đã biết khả năng xuất hiện của sự kiện rủi ro đang xem xét tới Trong khi đó thì nếu đưa quyết định trong điều kiện không chắc chắn, chúng ta không tính đến mức độ không chắc chắn này Ví dụ thực tế về công tác đổ bê tông toàn khối ngoài trời Chúng ta thấy rằng trời có vẻ sẽ mưa với các đám mây đen, khi đó chúng ta đưa ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn khi thực thi các biện pháp phòng ngừa trời mưa khi đổ bê tông Ngược lại nếu chúng ta dựa vào dự báo thời tiết và biết rằng có 80% khả năng trời sẽ mưa khi đổ bê tông Khi đó chúng ta thực thi các biện pháp phòng ngừa trời mưa khi đổ bê tông trong điều kiện rủi ro
Vậy cần định nghĩa rủi ro như thế nào để có thể phân biệt rõ ràng với các khái
Trang 19niệm khác như nguy hiểm hay bất định Một cách định nghĩa được xem là hợp lý khi chúng ta kết hợp hai khía cạnh của “nguy hiểm” và “không chắc chắn” lại với nhau Rủi ro được coi là “mối nguy hiểm, có khả năng (nhưng không chắc chắn) gây ra tác động tiêu cực tới kết quả dự định ban đầu như mất mát, thương tật, suy giảm chất lượng hay tăng thêm chi phí không cần thiết” Từ định nghĩa này có thể thấy rằng rủi ro đã được phân ra thành hai thành phần có liên hệ với nhau, đó là: khả năng xuất hiện và tác động của rủi ro Ví dụ như xem xét khả năng động đất xuất hiện tại Việt Nam, mọi người đều cho rằng tần xuất xẩy ra động đất là vài trăm năm mới có một lần, chính vì vậy rủi ro xuất hiện sự kiện động đất sẽ có tác động thấp đối với công trình xây dựng Một ví dụ khác là khả năng xuất hiện nhiệt độ lạnh vào mùa đông là cao, tuy nhiên nhiệt độ lạnh có ít tác động tiêu cực tới công tác thi công trên công trường Chính vì vậy sự xuất hiện của nhiệt độ lạnh vào mùa đông khó có thể coi là những rủi ro lớn trong xây dựng
1.1.2 Phân loại rủi ro
Như định nghĩa trên thì rủi ro là sự kết hợp của hai khía cạnh “nguy hiểm” và
“không chắc chắn” lại với nhau Chính vì vậy với các mức độ kết hợp khác nhau thì
có các loại rủi ro khác nhau Các nhóm rủi ro có thể xen kẽ qua lại lẫn nhau Do vậy một rủi ro kỹ thuật cũng có thể là một rủi ro đơn thuần Tương tự thì một rủi ro vận hành có thể làm tăng thêm nhiều cho các rủi ro dự án Về tổng thể, có thể phân rủi
ro thành các loại sau:
- Rủi ro đơn thuần: Rủi ro đơn thuần là các khả năng xuất hiện hư hỏng, thương tật hoặc thiệt hại cho công trình xây dựng Loại rủi ro này tập trung hoàn toàn vào sự xuất hiện của những điều tiêu cực, không tốt Đây là loại rủi ro có thể được bảo hiểm do khi mua bảo hiểm cho loại rủi ro này thì công ty bảo hiểm sẽ chi trả cho toàn bộ các thiệt hại nếu rủi ro loại này xuất hiện Một điều cần lưu ý là người ta không mua bảo hiểm để chi trả cho các tác động tích cực, có lợi do rủi ro tạo ra
- Rủi ro kinh doanh: Với rủi ro kinh doanh, sẽ có các cơ hội cho cả thiệt hại và lợi ích đối với công trường xây dựng Với những rủi ro tạo cơ hội có lợi, đối lập với những rủi ro gây thiệt hại, sẽ là động lực trong việc thúc đẩy và khuyến khích các cá nhân và nhiều tổ chức Có thể coi đặc tính của tổ chức công ty là nơi chấp nhận rủi
Trang 20ro, có nghĩa là nếu họ chấp nhận các rủi ro bất lợi cao thì bù lại họ cũng sẽ có cơ hội nhận được các cơ hội có lợi nhiều tương ứng
- Rủi ro dự án: Dự án xây dựng chứa đựng đầy rẫy những rủi ro do chúng là những công trình đơn chiếc và những kinh nghiệm trong quá khứ không giúp được nhiều cho các dự định tương lai Có nhiều thay đổi lớn ở mức độ rủi ro mà dự án phải đối mặt, trong đó một phần lớn đáng kể trong quản trị rủi ro của dự án là do các rủi ro xuất phát từ việc dự toán và lập kế hoạch ban đầu Nếu thời gian cho từng công việc không được dự toán phù hợp, hoặc chi phí dự toán sai, hoặc các tài nguyên yêu cầu không được chỉ ra rõ ràng, lúc đó mục tiêu ban đầu của dự án sẽ không đạt được và dự án gặp trục trặc
- Rủi ro khi thực hiện: Rủi ro khi thực hiện được xác định là những rủi ro gắn liền với quá trình triển khai và thi công xây dựng dự án, bao gồm cả giai đoạn chạy thử và vận hành công trình sau khi xây dựng xong Các rủi ro này phát triển lên khi
mà có những sự kiện xuất hiện đe dọa tới quá trình thực hiện dự án xây dựng Ví dụ như việc mất điện đột ngột làm cho một so máy móc thi công không thể vận hành được, gây khó khăn cho cả nhà thầu lẫn chủ đầu tư Hoặc như các lỗi sai xuất hiện trong đơn đặt hàng nhập vật tư từ nước ngoài, làm cho chậm quá trình chuyển hang
từ nhà sản xuất nước ngoài tới công trình xây dựng, sẽ làm chậm tiến độ và giảm uy tín của nhà thầu
- Rủi ro kỹ thuật: Khi những công trình thuộc loại mới và thi công khó khăn thì rủi ro xuất hiện đầu tiên và nhiều khả năng xảy ra sẽ là chậm tiến độ, tăng chi phí và chất lượng kém Tình trạng này thường xuyên xảy ra với các công ty xây dựng và các kỹ sư công trường khi họ phải thi công các công trình đòi hỏi công nghệ thi công cao, tiên tiến Nguyên nhân là do với những công nghệ thi công xây dựng hiện đại và mới áp dụng lần đầu bao giời cũng chứa đựng mức độ không chắc chắn cao hơn thong thường Ví dụ như khi mới áp dụng công nghệ thi công đường ngầm trong lòng núi thì có một số trục trặc không lường trước đã xảy ra và do vậy tiến độ thi công bị chậm lại một cách đáng kể để tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục các vấn đề kỹ thuật này
- Rủi ro chính trị: Rủi ro chính trị thường được xem như những trường hợp khi các quyết định được đưa ra có liên quan hay phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố chính trị,
Trang 21cá nhân Ví dụ như khi nhà đầu tư muốn xây dựng một nhà máy sản xuất hàng tiêu dung nào đó thì họ có thể phải quan tâm tới rủi ro là chính phủ sẽ không khuyến khích hay hạn chế sử dụng loại hàng tiêu dùng đó tại thị trường nội địa Trong phạm
vi nhỏ ở mức công ty hay công trường thì rủi ro chính trị có thể hiểu như những ảnh hưởng và tác động của cá nhân hay gia đình vào các hoạt động chung Ví dụ như một đề xuất sử dụng công nghệ thi công mới cho công trường đang thi công có thể không được trưởng phòng kỹ thuật của công ty ủng hộ, dẫn đến việc có rủi ro khó
áp dụng tại công trường đang thi công do ban giám đốc của công ty có thể đề cao ý kiến phản đối của trưởng phòng kỹ thuật
Môt cách khác trong phân loại rủi ro có thể áp dụng vào ngành xây dựng là phân theo cách sau:
* Các vấn đề kinh tế xã hội:
- Bảo vệ môi trường: các quy định bảo vệ môi trường có tác động vào mức độ không chắc chắn của ngành xây dựng bởi vì chúng ta không biết được sự thay đổi của các yêu cầu về môi trường và bao giờ thì đạt được chấp thuận của các cơ quan
có thẩm quyền Các yêu cầu về môi trường thì liên tục bị xem xét lại và thay đổi nếu cần thiết, dẫn đến các phát sinh về chi phí và thời gian trong xây dựng
- Quy định an toàn đối với công chúng: vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với các ngành sản xuất nguy hiểm như xây dựng nhà máy điện, xây dựng hầm ngầm hay xây dựng trong khu vực đông dân cư Thực tế này làm thay đổi các hướng dẫn
và quy định trong xây dựng cho chủ đầu tư, nhà thầu và các kỹ sư tham gia qua các giai đoạn nghiên cứu khả thi, lập kế hoạch, thiết kế, đấu thầu, xây dựng và vận hành
sử dụng Mức độ không chắc chắn sẽ tăng lên và do vậy khó có thể hoàn thành dự
án trong dự định ngân sách và thời gian như ban đầu
- Bất ổn về kinh tế: tình hình kinh tế trong các năm đã qua chứng minh rằng khó có thể dự đoán chính xác về phát triển, lạm phát và tỷ giá trong tương lai Việc chỉnh sửa và thay đổi chính sách kinh tế cũng như những quy định liên quan cũng tạo nên mức độ không chắc chắn cao về tài chính và chi phí xây dựng
- Lạm phát và thay đổi tỷ giá: vấn đề này xảy ra thường xuyên do phạm trù tài chính và tiền đệ biến động không ngừng và không bao giờ chấm dứt
* Mối liên hệ giữa các tổ chức:
Trang 22- Mối quan hệ hợp đồng: mối quan hệ căng thẳng giữa các bên tham gia dự án xây dựng có thể xuất hiện trong giai đoạn thiết kế và xây dựng Nếu có rủi ro đó xuất hiện thì việc ngồi lại với nhau để tìm kiếm giải pháp phù hợp là cách làm tốt nhất cần được thực hiện
- Đặc điểm các bên tham gia: có nhiều bên tham gia vào công quá trình xây dựng ở các vị trí khác nhau, có đặc điểm khác nhau và hướng đến các mục tiêu khác nhau Do vậy, rủi ro xuất hiện xung đột giữa các bên là rất lớn trong mọi giai đoạn của dự án xây dựng
- Thông tin liên hệ: việc hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia là cách tốt nhất để giảm bớt căng thẳng và các xung đột
* Các vấn đề kỹ thuật:
- Giả thiết về thiết kế: một số giả thuyết dùng đưa ra trong quá trình thiết kế đã
có thể rất phù hợp với các dự án đã qua, nhưng trở nên không chính xác đối với các công trình kế tiếp cũng như những loại công trình mới do mức độ phức tạp cao
- Điều kiện công trường: điều kiện địa chất đất đai, đặc biệt là đối với lớp đất mặt, luôn có mức độ không chức chắn cao, do vậy tạo nên các rủi ro cao đối với các kết cấu bên trên
- Quy trình thi công: do các quy trình thi công không được xác định rõ ràng từ trước cho nên các bản thiết kế có thể sẽ phải chỉnh sửa hoặc thay đổi hoàn toàn trong giai đoạn xây dựng
- An toàn xây dựng: đây là vấn đề lớn của ngành xây dựng do các rủi ro về không chắc chắn và mất an toàn rất lớn và luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra
- Trong ngành xây dựng còn có một cách nữa để xác định và phân loại các rủi
ro có thể xẩy ra đối với quá trình thi công xây lắp, đó là Danh sách các rủi ro lớn (Bảng 1.1) và Danh sách các tác động của rủi ro (Bảng 1.2) Trong đó ba rủi ro quan trọng nhất của ngành xây dựng được đề ra là thời tiết, năng xuất của nhân công và máy móc thi công, và chất lượng vật liệu Nguyên nhân gây ra các rủi ro tiềm ẩn có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, với một số ví dụ điển hình thể hiện trong (Bảng 1.3)
- Có thể nói các rủi ro thường được quyết định và dự phòng trong các giai đoạn đầu tiên của dự án (giai đoạn nghiên cứu khả thi và lập kế hoạch) trong khi tác
Trang 23động thực sự của các rủi ro này chỉ có thể biết đƣợc trong các giai đoạn sau này (giai đoạn xây dựng và sử dụng công trình)
6 Có thể bảo đảm > < Không thể bảo đảm
Bảng 1.3 - Các nguồn nguyên nhân tạo nên rủi ro
1 Các thay đổi về phạm vi và yêu cầu dự án
2 Các sai số và thiếu sót trong thiết kế
Trang 243 Các vai trò và trách nhiệm được xác đinh không đúng
4 Nhân viêc có kỹ năng không đáp ứng yêu cầu
5 Thiên tai địch họa
6 Các công nghệ và kỹ thuật mới
1.1.3 Phân loại dự án đầu tư
Theo Luật Xây dựng năm 2014; Nghị định 59/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Xây dựng 2014 về quản lý dự án đầu tư xây dựng;
a Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
- Nhóm các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
- Nhóm các dự án đầu tư xây dựng cơ bản
- Nhóm các dự án đầu tư dịch vụ và kinh doanh
- Nhóm các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
+ Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép
+ Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển
+ Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật
+ Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp Nhà nước để đầu tư
- Các dự án đầu tư thuộc các nguồn vốn khác: Các dự án của các cá nhân, các
tổ chức kinh tế xã hội đầu tư dưới nhiều hình thức huy động vốn khác nhau được
Trang 25cấp có thẩm quyền cho phép
c Phân loại theo tính chất và quy mô của dự án
- Dự án quan trọng quốc gia với mức đầu tư theo Nghị quyết của Quốc hội
* Dự án nhóm A:
+ Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng, có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới không phụ thuộc quy mô vốn đầu tư
+ Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ khai thác chế biến khoáng sản quý hiếm; vàng, bạc, đá qúy, đất hiếm không phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư
+ Với mức vốn trên 600 tỷ đồng đối với các dự án: Công nghiệp điện, khai thác dầu khí, chế biến dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các dự án giao thông: Xây dựng cầu, cảng sông, cảng biển, sân bay, đường sắt, quốc lộ…
+ Với mức vốn trên 400 tỷ đồng đối với các dự án: thủy lợi, giao thông (không thuộc diện kể trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí thác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường giao thông nội thị thuộc các khu đô thị có quy hoạch chi tiết được duyệt
+ Các dự án hạ tầng kỹ thuật mới; các dự án công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thủy tinh, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông, lâm sản với mức vốn trên
300 tỷ đồng
+ Các dự án: y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác, với mức vốn trên 200 tỷ đồng
*Các dự án nhóm B:
+ Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở với mức vốn từ 30 đến 600 tỷ đồng
+ Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thủy lợi, giao thông (khác dự án
Trang 26nhóm A), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết
bị thông tin, điện học, tin học, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông với mức vốn từ 20 đến 400 tỷ đồng
+ Các dự án đầu tư xây dựng công trình: hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới, công nghệ nhẹ, sành sứ, thủy tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông, lâm sản với mức vốn từ 15 đến 300 tỷ đồng
+ Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác từ 7 đến 200 tỷ đồng
* Các dự án nhóm C:
+ Dưới 30 tỷ đồng với các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, hóa chất, phân bón, dầu khí, cơ khí, giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, quốc lộ, sản xuất xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản, các trường phổ thông nằm trong quy hoạch (không kể mức vốn)
+ Dưới 20 tỷ đồng đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình: thủy lợi, giao thông (không thuộc diện trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, điện tử, tin học, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, trường phổ thông…
+ Dưới 15 tỷ đồng với các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thủy tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông, lâm sản
+ Các dự án không thuộc diện trên với mức vốn dưới 7 tỷ đồng
1.1.4 Vai trò của công tác quản trị rủi ro đối với sự phát triển của đô thị Công tác quản trị rủi ro không thể thiếu với bất kỳ dự án đầu tư xây dựng nào
vì phải đối diện với những nguy cơ có khả năng tác động đến dự án Những nguy cơ này có thể được dự báo trước hoặc đôi khi không thể dự báo trước Khi được dự báo trước, các dự án sẽ có những biện pháp dự phòng chủ động, như vậy sẽ hạn chế được tác động của rủi ro có thể xảy ra Có những rủi ro có thể dễ dàng nhìn thấy trước khi triên khai dự án, nhưng cũng có những rủi ro chỉ được thấy khi đang thực
Trang 27hiện và đã xảy ra
Những dự án có nhiều sự cố xảy ra càng thể hiện nhóm dự án không thấy được các rủi ro có thể xảy ra của dự án, và nhóm dự án có thể thấy được rủi ro nhưng không có biện pháp ngăn chặn hợp lý Khi có sự cố xảy ra mà không có kế hoạch
dự phòng sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu của dự án Mức độ tác động nhỏ sẽ làm chậm tiến độ, vượt ngân sách, giảm chất lượng, làm thất bại toàn bộ dự án, ảnh hưởng đến
uy tín của tổ chức Vì vậy, nói đến quản trị rủi ro tức là nói đến việc quản lý chủ động, hiệu quả hơn là xử lý sự cố mang tính thụ động Quản trị rủi ro là khai thác những rủi ro tiềm ẩn chưa được thấy thành những rủi ro có thể nhận diện ra và có giải pháp hợp lý để đối phó với những rủi ro ảnh hưởng đó Dự án đầu tư luôn tồn tại các rủi ro tiềm ẩn chưa được thấy, và khi ấy, nếu rủi ro xảy ra sẽ là một bất ngờ đối với các dự án và có thể mang đến những hậu quả không lường trước được Quản trị rủi ro chính là xác định trước các rủi ro có thể xảy ra, phân tích, và có biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu thiệt hại cho quá trình triển khai thực hiện dự
án Đây là quy trình dành cho các dự án Việc quản trị rủi ro được thực hiện theo các trình tự phù hợp, và có giải pháp hiệu quả cao nhất
Quá trình quản trị rủi ro cụ thể như sau:
- Phát hiện các rủi ro có nguy cơ xảy ra, từ đó đưa giải pháp phù hợp tăng khả năng hiệu quả đầu tư dự án và giảm các nguy cơ ảnh hưởng Tiết kiệm chi phí, thời gian thực hiện dự án từ giai đoạn lập kế hoạch
- Xác định được rủi ro ngay từ đầu sẽ giúp phát hiện sớm các sự cố, có biện pháp làm giảm chi phí, và thời gian tiến độ cho dự án Loại bỏ các thông tin không
rõ và như vây ước tính sẽ chính xác hơn và chi phí dự phòng ít đi, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí của dự án
- Rủi ro sẽ được thực hiện cùng với các lĩnh vực như: Thời gian, chi phí, nhân
sự, chất lượng, đấu thầu Nếu áp dụng quá trình phân tích rủi ro vào yêu cầu sẽ làm yêu cầu đó rõ ràng hơn, đầy đủ hơn và chính xác hơn Áp dụng quản trị rủi ro và thời gian sẽ làm cho việc dự tính thời gian chính xác hơn Áp dụng quản trị rủi ro vào nhân sự sẽ lựa chọn được những nhân sự phù hợp tốt hơn cho dự án
- Hạn chế, loại bỏ những thay đổi không cần thiết xảy ra trong quá trình thực thi dự án giúp tránh các phát sinh một cách không kiểm soát được về các yêu cầu
Trang 28nguồn lực, thời gian, chi phí,
- Đánh giá cụ thể cơ hội, nguy cơ hay các hạng mục công việc trong dự án sẽ
có biện pháp và đối sách phù hợp Việc thành công của dự án là nỗ lực của từng chi tiết trong công việc cũng như việc phối hợp các lĩnh vực kiến thức khác với nhau Áp dụng quản trị rủi ro vào các hạng mục công việc chắc chắn sẽ đem lại sự thành công cho các hạng mục công việc cho toàn bộ dự án
- Đánh giá cụ thể cơ hội, nguy cơ như sau: Yêu cầu, thời gian, chi phí, chất lượng, nhân sự, truyền thông, mua sắm, đấu thầu và có đối sách phù hợp Việc hoàn thành xuất sắc một lĩnh vực nào đều mang lại sự thành công cho dự án Việc
áp dụng quản trị rủi ro vào tất cả các lĩnh vực kiến thức một cách toàn diện sẽ là một phương pháp tối ưu nhất nhằm loại bỏ những nguy cơ rủi ro và phát huy tối đa
từ những cơ hội và từ nhiều góc nhìn khác nhau
- Đánh giá chi tiết cơ hội, nguy cơ từ môi trường bên ngoài, môi trường nội
bộ, các ràng buộc, các giả định của dự án và có đối sách phù hợp với dự án sẽ tạo nên sự thành công của dự án
- Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển đô thị một cách mạnh mẽ, các đô thị mới xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt là đối với các thành phố lớn Số lượng ô
tô đang gia tăng một cách nhanh chóng Bởi vậy việc xây dựng hệ thống giao thông trên cao nhằm giảm thiểu số lượng phương tiện giao thông cá nhân là một giải pháp hiệu quả để cải thiện tình hình ùn tắc giao thông Tuy nhiên nhiều khó khăn đặt ra cho việc thực hiện các dự án này, bao gồm các vấn đề về lớn về việc quản lý dự án,
sự giới hạn các nguồn tài nguyên nhân lực, thiên tai, biến đổi khí hậu, năng lượng, nguồn nhân lực, môi trường…Đây là một dự án thí điểm cho các tuyến đường sắt
đô thị của Hà Nội , do vậy vai trò của dự án càng trở nên to lớn, khi nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Dự án có ý nghĩa quan trọng với tình hình giao thông đô thị của nước ta trong các năm tới đây Trong vòng đời dự án, thực hiện đầu tư xây dựng dự án cần nhận dạng đủ rủi ro tại dự án phù hợp để phù hợp với thực tế Mỗi giai đoạn triển khai dự án các rủi ro xảy ra cũng rất khác nhau Từng môi trường tiềm ẩn các rủi ro có ảnh hưởng lẫn nhau cả trong và ngoài dự án Do vậy việc nhận dạng rủi ro cần thực hiện, cập nhật thường xuyên và quản lý tốt các rủi ro có vai trò
vô cùng quan trong với dự án
Trang 291.2 Quản trị rủi ro của dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị và quản trị
an ninh phi truyền thống
1.2.1 Cá khái niệm và mối quan hệ
Từ đầu những năm 1990 thì ngành xây dựng bắt đầu chú ý nhiều hơn đến một phương pháp quản lý giúp giải quyết các mối nguy hiểm, đó là quản trị rủi ro mà nó
đã được áp dụng nhiều trong các ngành dịch vụ và công nghiệp khác Các bước cơ bản trong quản trị rủi ro tương đối rõ ràng và đơn giản, đó là: các mối nguy hiểm được xác định rõ; những điều xảy ra tiếp theo và khả năng xuất hiện của chúng được đánh giá và phân tích cụ thể; các ưu tiên được đưa ra; các rủi ro gây tác hại lớn và có khả năng xuất hiện cao được loại bỏ hay hạn chế trong khi vẫn áp dụng biện pháp dự phòng đối với các rủi ro tiềm ẩn Việc áp dụng quản trị rủi ro trong các công ty xây dựng nói chung và các công trường xây dựng nói riêng đã giúp tạo
ra được một số lợi thế cạch tranh, cụ thể như:
- Tăng mức độ cẩn trọng đối với những tác hại có thể có sau này của các rủi ro
- Tập trung nhiều hơn nguồn tài nguyên và sự chú trọng của công ty cũng như
dự án đến quá trình quản trị rủi ro
- Quá trình kiểm soát quản lý của ban giám đốc tốt và hiệu quả hơn
- Giảm chí phí dài hạn của công ty và dự án, do vậy giúp tăng lợi nhuận doanh nghiệp
- Có biện pháp loại bỏ hay hạn chế các nguy hiểm có thể có từ các rủi ro đã được chú ý đến từ trước
- Quản trị rủi ro là một quá trình xác định, đánh giá và xếp hạng các rủi ro có thể xảy ra mà qua đó thì các biện pháp hữu hiệu và nguồn tài nguyên cần thiết được lựa chọn và áp dụng vào thực tế để hạn chế, theo dõi và kiểm soát các khả năng xuất hiện và/hoặc các tác động của các sự kiện không dự báo trước Từ định nghĩa này
có thể thấy ngay rằng mục đích của quản trị rủi ro đối với ngành xây dựng là làm tăng tối đa kết quả có lợi do tác động của các sự kiện không dự báo trước và hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của chúng đối với dự án xây dựng nói riêng và công ty xây dựng nói chung Hay theo một cách khác thì có thể nói quản trị rủi ro là một phương pháp quan trọng để hướng dự án tới thành công Hiện nay nhiều người trong ngành xây dựng vẫn còn chưa hiểu hoặc coi thường các rủi ro cũng như các
Trang 30biện pháp quản trị rủi ro Do vậy họ cũng không biết được tác động tiểm ẩn của rủi
ro tới dự án xây dựng hay quá trình kinh doanh của họ và công ty họ Khi đó nếu các mối nguy hiểm xảy ra thực sự tại công trường thì tác động tiêu cực của chúng sẽ rất lớn tới con người, máy móc thiết bị và vật liệu trên công trường thi công Chính
vì vậy cần phải coi trọng và sử dụng các biện pháp lý luận về quản trị rủi ro để xác định rủi ro cũng như phòng ngừa và loại bỏ các rủi ro có tác động lớn hay có nguy
cơ xảy ra cao
- Một rủi ro là một số điều có thể xảy ra, mà nếu xảy ra thì sẽ có các tác động hoặc tiêu cực hoặc tích cực hoặc cả tiêu cực và tích cực tới dự án xây dựng Điều này đã xác nhận một khả năng có giá trị dưới 100% Còn nếu khả năng là 100% thì khi đó không phải là rủi ro nữa mà là một vấn đề cụ thể sẽ diễn ra trong tương lai Thêm vào đó là việc một rủi ro phải có khả năng xảy ra lớn hơn 0%, nghĩa là nó phải có cơ hội xảy ra chứ nếu không thì không được gọi là rủi ro nữa Luôn có một
số các rủi ro khác nhau và chúng ta cần phải quyết định theo từng công trình cụ thể cần phải xử lý chúng như thế nào cho hợp lý nhất Ngoài ra cũng cần phải liên tục theo dõi và kiểm tra các rủi ro, dẫu rằng dự án hay công ty đã đưa ra các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực và loại bỏ chúng hoàn toàn Đó là các công việc cụ thể như tiến hành xem xét thường xuyên và định kỳ các rủi ro đã được xác định từ trước, đánh giá thực trạng các rủi ro này, kiểm tra khả năng xảy ra trong tương lại
và tác động của chúng và phát hiện ra các rủi ro mới, nếu có đối với dự án xây dựng Bằng các cách tiến hành như trên, chúng ta đã thiết lập được một kế hoạch quản trị rủi ro cho dự án xây dựng trong một thời gian ngắn nhất có thể
1.2.2 Các cơ sở pháp lý của quản trị rủi ro trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
hạ tầng đô thị
Các cơ sở của quản trị rủi ro được trình bày dưới đây có thể giúp các công ty xây dựng và các công trường thi công tránh được hoặc giảm thiểu được rủi ro tiêu cực Trong số này thì năm cơ sở đầu tiên có liên quan tới khía cạnh kinh doanh của công ty xây dựng và năm cơ sở sau có liên quan tới mức độ quản lý dự án xây dựng
Cơ sở 1: Văn hóa – Thiết lập văn hóa về quản lý và loại trừ rủi ro
Thiết lập văn hóa doanh nghiệp và văn hóa công trường trong việc quản trị rủi
ro và loại trừ những tác hại tiêu cực của chúng sẽ giúp cho công ty và công trường
Trang 31có một tầm nhìn tổng quan để tập trung nhấn mạnh vào khâu đảm kiểm soát và quản trị rủi ro, những phần quan trọng nhất trong thực tế kinh doanh và hoạt động xây dựng Cần phải coi tầm nhìn tổng quan này như một giá trị cốt lõi của doanh nghiệp và được nhất quán ủng hộ từ trên xuống dưới Có thể toàn bộ các bộ phận và
cá nhân trong công ty xây dựng thấy được tầm quan trọng của quản trị rủi ro, những cũng có thể không ai chú ý đến và bị coi nhe Chính vì vậy để xây dựng được văn hóa này trong doanh nghiệp thì cần có các kế hoạch chiến lược và chi tiết nhằm xây dựng, duy trì và phát huy văn hóa này cũng như có sự tham gia của mọi nhân viên trong công ty và trong công trường xây dựng, từ ban giám đốc cho tới các công nhân phổ thông Khi đó thì chất lương xây dựng phải được coi trọng cao hơn lợi nhuận doanh nghiệp và khi có chất lượng tốt thì sẽ có lợi nhuận kèm theo
Cơ sở 2: Ngăn chặn và hạn chế từ trước – Hãy áp dụng các biện pháp phòng ngừa từ trước, cùng với các biện pháp xử lý khi có rủi ro
Cần thiết lập các quá trình và hệ thống trong nội bộ công ty xây dựng và các
dự án xây dựng hướng tới việc quản trị rủi ro Thông thường trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu đã có thể xác định được các nguồn gây rủi ro tiềm ẩn, do việc những biện pháp can thiệp sớm sẽ giúp giảm bớt mức độ nghiêm trọng và thiệt hại khi rủi
ro xảy ra Khi rủi ro đã được xác định rõ thì một kế hoạch thực hiện có thể được phát triển để thay đổi các điều kiện sẽ xảy ra, giúp tránh hoặc hạn chế được rủi ro Tất nhiên rằng có một số sự kiện và thực tế xảy ra mà ta không biết trước, khi đó thì cần có hành động để xử lý chúng Dẫu cho chúng ta không thể lập kế hoạch chi tiết cho mọi trường hợp, việc xác định trước các rủi ro sẽ xuất hiện ở những khu vực nào và đề xuất các ưu tiên trong hành động từ trước chính là những biện pháp khung hợp lý nhất để xử lý các hiện tượng và sự kiện không lường trước được
Cơ sở 3: Lập kế hoạch – Hãy lập kế hoạch để không làm phát sinh tác động tiêu cực của rủi ro
Liên quan mật thiết tới biện pháp ngăn chặn và hạn chế rủi ro từ trước đó chính là việc lập kế hoạch Dự án xây dựng tốt không thể đạt được khi công trường
có sự bất ổn và lộn xộn, do vậy có yêu cầu phải lập kế hoạch hợp lý Lập kế hoạch chiến lược là quá trình quan tâm tới việc các yếu tố của công trường; như thuê mướn và duy trì nhân công, lựa chọn dự án và chủ đầu tư để đấu thầu, kế hoạch đào
Trang 32tạo và chương trình đảm bảo chất lương; có thể được quan tâm cùng nhau để góp phần làm giảm các thiệt hại do rủi ro gây ra Lập kế hoạch dự án cũng là một khía cạnh quan trọng đối với quá trình quản trị rủi ro Một bản kế hoạch hành động cho
dự án sẽ giúp tập trung nguồn tài nguyên vào các khu vực có thể giảm được rủi ro như thông tin và hệ thống liên hệ, thương lượng hợp đồng, xác định phạm vi công việc, chia xẻ trách nhiệm và các cuộc họp công trường Để cho bản kế hoạch này có hiệu quả thì chúng cần phải đơn giản, có tính khả thi và được thong báo đến các bên liên quan
Cơ sở 4: Thông tin liên lạc – Hãy thông tin để giúp mọi người cùng hiểu rõ về yêu cầu cuối cùng và nhận biết ban đầu
Mọi người đều đồng ý rằng các vấn đề thông tin liên lạc chiếm tỷ lệ lớn trong các xung đột và yêu cầu phát sinh tại các dự án xây dựng Khi tất cả các bên tham gia trong công trường xây dựng thể hiện rõ mục tiêu cũng như những nhận biết của
họ thường xuyên và liên tục từ ban đầu, khi đó hệ thống liên kết giữa các bên đã được thiết lập nhằm giảm thiểu sự đối lập trong công việc của họ Để đạt được hiệu quả các thì các thông tin liên lạc cần phải theo cả hướng thông báo lên cấp trên cũng như yêu cầu xuống cấp dưới cho tất cả các đơn vị tham gia trong công trường xây dựng Với một cách tổ chức và lập kế hoạch tốt sẽ tạo ra được hệ thống thông tin liên lạc tốt và có hiệu quả, với việc tất cả các bên tham gia cần phải đồng ý chấp nhận nội dung thông tin và luồng truyền tin trong dự án xây dựng cũng như trong công ty xây dựng Các công cụ phục vụ hệ thống thông tin hiệu quả là điện thoại, fax, email, thư tín, chuyển phát nhanh… Ngoài ra các thông tin cần phải được quản
lý một cách chuyên nghiệp và đúng cách Khi nhận được thông tin hay thông báo gì
đó thì việc đầu tiên cần đọc qua để hiểu nội dung và sau đó mới chuyển đền cho những cá nhân và tổ chức liên quan
Cơ sở 5: Đào tạo – Hãy đào tạo mọi người có liên quan
Đào tạo hợp lý sẽ là cơ sở cho bất kỳ thành công nào trong mọi lĩnh vực Các
kỹ sư nhiều kinh nghiệm tại công trường và văn phòng công ty có thêm môt nhiệm
vụ nữa là truyền dạy các hiểu biết và kinh nghiệm của họ cho cả nhân viên nội bộ
và cả khách hàng Như một đặc điểm nghề nghiệp, các kỹ sư xây dựng có những hiểu biết sâu sắc về ngành xây dựng mà khách hàng rất cần và thường nghe theo
Trang 33trong quá trình thi công xây dựng công trình Nếu công trường xây dựng và văn phòng công ty thiết lập được một hệ thống kèm việc chính thức thì nó sẽ giúp cho những nhân viên mới có ít kinh nghiệm làm việc hiệu quả hơn và giảm bớt các sai sót hay gặp phải Những kinh nghiệm có được trong quá trình làm việc thực tế như
kỹ năng đàm phán hợp đồng, thông tin liên lạc và lập kế hoạch có thể được sử dụng
để quản trị rủi ro Qua đó những kinh nghiệm này nên được truyền dạy cho mọi người trong công ty và công trường, giúp cho họ có khả năng quản trị rủi ro hiệu quả hơn Chủ đầu tư là những người ít có kinh nghiệm và hiểu biết về ngành xây dựng, do vậy họ cũng cần được đào tạo và thông báo cho biết về các vấn đề cơ bản của ngành xây dựng cũng như những rủi ro có thể xảy ra và tác động của các rủi ro
đó Từ đó mà các biện pháp phòng ngừa và loại bỏ rủi ro có thể được đưa ra và áp dụng hiệu quả, với nguồn tài nguyên và kinh phí có sẵn từ ngân sách của chủ đầu
Do tầm quan trọng như vậy nên cần phải thông báo cho các thành viên cũng như các bên tham gia trong dự án để mọi người hiểu rõ về phạm vi công việc một cách tổng thể cũng như của từng cá nhân, từng tổ chức Nếu ai đó tiến hành công việc nằm ngoài phạm vi công việc được phổ biên ban đầu thì điều đó có nghĩa họ đã thực hiện các phần việc phát sinh, do vậy họ cần có sự đồng thuận của các bên liên quan Với việc mở rộng phạm vi công việc đồng nghĩa với việc tăng thêm các rủi ro
Trang 34luôn quan niệm rằng một khoản chi phí hợp lý cần được trả cho các phát sinh cùng với một khoảng thời gian hợp lý để hoàn thành các phát sinh ở mức chất lượng được chấp nhận Cần phải thương lượng về phát sinh dựa vào phạm vi công việc đã được thỏa thuận ban đầu Điều quan trọng là phải trình nộp các yêu cầu về chi phí phát sinh một cách rõ ràng, với các giải thích chi tiết nếu có nhằm hạn chế các hiểu lầm và xung đột quyền lợi giữa các bên tham gia Trong quá trinh thương lượng và đàm phám hợp đồng, cần tránh các nhà thầu có lịch sử kiện tụng và đang làm ăn thua lỗ Đồng thời có thể hủy bỏ không thực hiện dự án nếu số tiền bỏ ra có khả năng cao hơn lợi nhuận thu được khi dự án đưa vào sử dụng
Cơ sở 8: Hợp đồng – Hãy thương lượng để có được một thỏa thuận rõ ràng và hợp lý
Một hợp đồng tốt là một hợp đồng hợp lý cho tất cả các bên tham gia, qua đó hạn chế được các rủi ro có thể có trong quá trình thi công xây dựng Ngược lai với một hợp đồng không rõ ràng về âu chữ và các điều khoản sẽ tiềm ẩn các rủi ro khó lường trước được Nên xem xét kỹ toàn bộ hợp đồng và có thể tư vấn thêm những đơn vị có hiểu biết sâu về từng vấn đề để phát hiện ra và loại bỏ hoặc chỉnh sửa các chữ, câu và khu vực có rủi ro xung đột cao Một cách hợp lý là nên sử dụng những hợp đồng chuẩn, đã được áp dụng ở nhiều công trình khác và được soạn thảo bởi các tổ chức chuyên về hợp đồng xây dựng nhưng có chỉnh sửa một số nơi cho phù hợp với tình hình thực tế Cần phải có thêm một chú ý nữa là rủi ro cần phải được chia đều cho các bên tham gia trong hợp đồng, với tỷ lệ phụ thuộc vào lợi nhuận các bên có được sau khi kết thúc hợp đồng
Cơ sở 9: Tài liệu hợp đồng – Hãy chuẩn bị một bộ tài liệu hợp đồng có chất lượng
Với hầu như mọi công việc xây dựng, sản phẩm cuối cùng của bộ tài liệu hợp đồng là các tài liệu phục vụ thi công xây dựng công trường Do vậy việc đầu tiên là phải chuẩn bị kế hoạch làm sao tạo ra được chúng cũng như việc kết hợp giữa các bản vẽ thiết kế và bộ hồ sơ thuyết minh tính toán Khâu thiết kế được coi là phức tạp nhất và chứa đựng nhiều rủi ro Do vậy cần phải có sự chấp thuận của chủ đầu
tư đối với các yêu cầu thiết kế, cũng như việc phải phổ biến đầy đủ các yêu cầu đó tới các cá nhân và tổ chức liên quan Ngoài ra giai đoạn xây dựng cũng có nhiều rủi
Trang 35ro tiềm ẩn với các thay đổi và phát sinh khó lường trước Để thực hiện tốt công việc thiết kế và xây dựng thì cần có sự tham gia của chủ đầu tư cũng như những quyết định quan trong của họ về các vấn đề lớn, nhạy cảm
Cơ sở 10: Giai đoạn xây dựng – Hãy thiết lập hệ thống để hoàn thành quá trình quản trị rủi ro
Giai đoạn xây dựng, hay giai đoạn cuối cùng của dự án là thời điểm sẽ có nhiều rủi ro xuất hiện và tác động tới dự án Đây chắc chắn không phải là lúc có thể bỏ qua các biện pháp bảo vệ chống lại các rủi ro tiềm ẩn Rất nhiều công việc cần thực hiện trong giai đoạn này Về mặt thi công xây dựng thì đó là các công việc đào đất, đổ bê tong, xây trát, sơn bả, hoàn thiện… Về mặt giấy tờ thì đó là các quá trình chuẩn bị hồ sơ, giải thích các thắc mắc, đánh giá các phát sinh, kiểm tra công trường và nhiều công việc khác Tất cả các công việc vật chất và công việc giấy tờ này cần phải được thực hiện đúng thời gian dự định và có hiệu quả để tránh rủi ro chậm tiến độ hay phải thực hiện lại Một biện pháp hạn chế sự chậm tiến độ là chuyển tải các thông tin hiệu quả và lưu giữ thong tin chính xác giữa chủ đầu tư, tư vấn, các nhà thầu, đơn vị cung cấp máy móc vật tư và các đơn vị khác Nên thiết lập mối quan hệ đối tác, tránh mối quan hệ đối thủ, để các bên tham gia có thể làm việc cùng nhau và hướng tới mục tiêu chung của dự án xây dựng
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị
Quản trị rủi ro là một quá trình để xác định rủi ro, đánh giá mức độ tác hại và khả năng xuất hiện, và khả năng ứng phó với rủi ro trong hoạt động thi công Mục đích của quá trình quản trị rủi ro là tối đa hóa các cơ hội và thuận lợi khi có rủi ro xuất hiện đồng thời với việc hạn chế các tác động tiêu cực và bất lợi đối với quá
trình triển khai thi công tại công trường
Hình 1.1 - Quá trình quản trị rủi ro trong xây dựng
Trang 36* Xác định rủi ro: Xác định rủi ro là bước đầu tiên trong bất kỳ quá trình quản trị rủi ro nào với mục đích là quyết định rõ ràng các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong các giai đoạn tiếp theo và có tác động tới dự án xây dựng Trong giai đoạn này nên thu hút nhiều nhất có thể các đối tác tham gia và liên quan tới dự án Một số công cụ và biện pháp dùng để xác định các rủi ro của dự án phương dùng phương pháp động não, tham khảo ý kiến chuyên gia, phỏng vấn các thành viên dự án, câu hỏi điều tra, những kinh nghiệm đã trải qua, dùng mô phỏng, phân tích và đánh giá các dự án tương tự khác Có một thực tế rằng các việc xác định các rủi ro có thể có thường dựa vào nhận định cá nhân của các thành viên và các đối tác tham gia vào
dự án xây dựng Điều này có nghĩa rằng kinh nghiệm đã có sẽ không có vai trò quan trọng nhiều như những giả định thông thường được đưa ra trong quá trình xác định rủi ro của các dự án xây dựng Trong quá trình xác định rủi ro thì các rủi ro tiềm ẩn
có thể được chia ra thành các nhóm khác nhau, như các nhóm ví dụ như sau:
- Nhóm rủi ro nội bộ hay rủi ro có thể kiểm soát được: thiết kế, xây dựng, quản lý công trường và các mối quan hệ qua lại
- Nhóm rủi ro bên ngoài hay rủi ro không kiểm soát được: tài chính, kinh tế, chính trị, luật phát và xã hội
- Những rủi ro không thể lường trước được: chiến tranh, thiên tai địch họa
Trang 37* Đánh giá rủi ro: Trong quá trình đánh giá rủi ro thì các rủi ro được xác định trước sẽ được đánh giá và xếp loại để chọn ra những ưu tiên trong quản lý và xử lý chúng Có nhiều cách để đánh giá rủi ro như dùng các mô hình toán học và ma trận hay các phương pháp tính toán định tính và định lượng khác nhau Khi áp dụng phương pháp định tính thì cá nhân và kính nghiệm công ty có vai trò quan trọng nhất quyết định tới kết quả cuối cùng Trong khi đó thì phương pháp định lượng yêu cầu phân tích chính xác các sự kiện, các yếu tố và các giá trị cụ thể và chính xác
* Ứng phó với rủi ro: Quá trình này có liên quan trực tiếp tới việc chỉ ra các biện pháp hay công cụ để xử lý các rủi ro đã được xác định và đánh giá từ trước Thông thường để ứng phó với rủi ro sẽ có bốn chiến lược chính là:
- Tránh rủi ro là thay đối kế hoạch xây dựng hay áp dụng các biện pháp cần thiết để loại bỏ rủi ro
- Giảm thiểu rủi ro là giảm khả năng xuất hiện của rủi ro hoặc giảm tác động tiêu cực sau này của rủi ro
- Chuyển hướng rủi ro là chuyển những rủi ro không thể tránh khỏi hay giảm bớt cho các đối tác khác trong và ngoài dự án xây dựng
- Duy trì rủi ro là chấp nhận có các rủi ro này trong dự án xây dựng Nếu chấp nhận sẽ có rủi ro tiềm ẩn thì sẽ có hai khả năng đối với các rủi ro này: hoặc là sẽ phát triển kế hoạch dự phòng cho trường hợp rủi ro xuất hiện hoặc là không có chuẩn bị nào cho đến khi rủi ro xuất hiện
Trong thực tế ngành xây dựng thì có rất nhiều rủi ro không thể tránh khỏi và lặp lại nhiều lần cho nên thông thường thì các công ty xây dựng áp dụng chiến lược giảm thiểu rủi ro cho chính họ và chuyển hướng rủi ro cho các đối tác khác
1.3 Một số rủi ro điển hình trong các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị
1.3.1 Một số rủi ro điển hình của dự án ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Theo quy chế quản lý đầu tư và XD hiện hành (quy chế quản lý đầu tư và XD ban hành kèm theo nghị định số 52/1999/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi, bổ sung
số 12/2000/NĐ-CP; số 07/2003/NĐ-CP đến nay đã qua các Nghị định 16- 2005; nghị định 112-2006 và mới đây là nghị định 12-2009-NĐ-CP) giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm 5 nội dung công việc cụ thể: Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và
Trang 38qui mô đầu tư; tiến hành tiếp xúc, thăm dò thi trong và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn VĐT và lựa chọn hình thức đầu tư; tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm XD; lập dự án; gửi hồ sơ dự án và trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay VĐT và các cơ quan thẩm định dự án đầu tư Các nội dung này được thể hiện trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi hoá hoặc báo cáo đầu tư Một cách tổng quát, giai đoạn này có thể có một số rủi ro điển hình sau:
- Chất lượng của dự án chưa cao do độ tin cậy của dự báo và các thông tin ban đầu chưa chính xác:
+ Khi nghiên cứu sơ bộ để lập dư án, không phải bao giờ cũng thu được thông tin đầy đủ, chính xác về nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, khả năng cung ứng thiết bị vật
tư cho dự án, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, khả năng huy động VĐT, thời hạn thực hiện dự án, Trong khi đó, hiệu quả đầu tư của dự án được tính toán trên cơ
sở các thông tin đó Số liệu thăm dò khảo sát thiếu độ tin cậy cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro
+ Nếu rủi ro xảy ra sẽ làm giảm tính khả thi của dự án khi thực hiện Chính vì vậy ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, việc nghiên cứu tìm hiểu các thông tin để lập dự án yêu cầu phải có độ chính xác cao Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là mọi nội dung được lập ở giai đoạn này phải hoàn toàn chính xác vì điều đó gần như là không thể thực hiện và sẽ làm kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư
- Sự không phù hợp giữa mục tiêu của dự án và tình hình thực tế: Khi lập dư
án, chủ đầu tư trong một số trường hợp sử dụng các số liệu lạc quan về thời hạn hoàn thành dự án, chi phí thực hiện dư án và các nguồn nhân lực cần thiết huy động cho dự án Khi đó các nghiên cứu sơ bộ chủ yếu sử dụng các số liệu tính toán với kỳ vọng trung bình tức là không tính đến các bất trắc có thể xảy ra hoặc tính đến với một thái độ lạc quan
- Chọn địa điểm XD không phù hợp: Việc khảo sát, chọn địa điểm phụ thuộc rất nhiều vào vực khai thác các nguồn lực phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm của dự án sau này, đồng thời phụ thuộc vào khả năng vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm khi dự án hoàn thành đưa vào sử dung Đối với các dư án XD công trình công
Trang 39cộng như nhà ở: trường học, khu đô thị…địa điểm XD cần được chọn sao cho thuận triện nhất với nhu cầu ở, đi lại, học tập và sinh hoạt của những người sử dụng khi
dự án hoàn thành đồng thời đảm bảo về điều kiện môi trường
- Rủi ro do lựa chọn kỹ thuật và công nghệ không phù hợp: Đối với các dự án
XD, việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ thi công có vai trò quyết định đến thành công hay thất bại của dự án Việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ của dự án XD phải được tính toán ngay ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư vì nó liên quan đến tổng mức đầu tư cho toàn bộ dự án Rủi ro do lựa chọn phương án kỹ thuật và công nghệ không phù hợp là một trong những rủi ro lớn nhất đối với dự án Có thể có ba hình thức rủi ro về kỹ thuật và công nghệ không phù hợp như: Sử dụng công nghệ lạc hậu dẫn đến hậu quả là năng suất lao động thấp, giá thành công trình cao, chất lượng công trình không đảm bảo; dự kiến trang bị những máy móc thiết bị hiện đại với chi phí mua sắm cao nhưng tần suất sử dụng thấp dẫn đến hao mòn vô hình quá lớn, không kịp thu hồi VĐT; trang bị các máy móc thiết bị không đảm bảo chất lượng, không thể chuyển từ lần xuất thử sang sản xuất hàng loại mà không có những thay đổi lớn ngoài dự kiến về nguồn lực huy động
- Lựa chọn phương án nguồn vốn gặp nhiều khó khăn, rủi ro: Thực tế đầu tư ở Việt nam cho thấy một trong những vấn đề khó khăn lớn nhất của dự án đầu tư là nguồn vốn Các hiện tượng sau đây làm tăng nhân tố rủi ro của dư án đầu tư như:
Tỷ lệ giữa vốn vay và vốn tự có là không hợp lý và không an toàn (tỷ lệ vốn tự có trong các dự án thường <50% tổng số VĐT); nguồn vốn vay cho các dự án lớn chủ yếu là của nước ngoài nên thường bị các điều kiện ràng buộc, chèn ép bất lợi cho phía trong nước; thời hạn trả nợ thường quy định rất ngắn (trừ nguồn vốn vay ODA) nên thường gặp khó khăn cho việc tính toán hiệu quả tài chính của dự án Nếu quy định thời hạn khấu hao ngắn để lấy liền trả nợ sẽ đẩy giá thành sản phẩm lên cao, khó tiêu thụ sản phẩm
- Chất lượng phân tích hiệu quả tài chính và an toàn tài chính của dự án chưa cao: Việc phân tích hiệu quả tài chính và an toàn tài chính là một khâu quyết định đối với hiệu quả của dự án và là cơ sở quan trọng để xem xét quyết định đầu tư Tuy nhiên, nhìn chung khâu này còn mang nhiều tính chất hình thức gây nên nguy cơ rủi
ro là kết quả thực tế của dự án đầu tư không trùng khớp với dự kiến ban đầu khi lập
Trang 40+ Cơ quan cho vay vốn không đáp ứng đƣợc yêu cầu của dự án
+ Thời gian hiệu lực của một văn bản pháp chế nào đó (về cấm xuất nhập khẩu một số mặt hàng, nguyên vật liêu, quy định về chế độ lao động, thay đổi mức thuế…) liên quan đến dự án bị thay đổi Có sự thay đổi chính sách đầu tƣ ở cấp vĩ
mô của Chính phủ Nhìn chung, các rủi ro ở đây là rủi ro của quyết định đầu tƣ
Hình 1.2 Các rủi ro điển hình của dự án bắt nguồn từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư