1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng câu hỏi, bài tập dạy học chuyên đề sinh lý học động vật – sinh học 11, THPT chuyên

132 52 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với CH “làm thế nào để đạt hiệu quả cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học?” Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc phát triển nền giáo dục nước nhà, với k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN BÌNH

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CH, BT DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ

SINH LÍ HỌC ĐỘNG VẬT – SINH HỌC 11,

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN VĂN BÌNH

SINH LÍ HỌC ĐỘNG VẬT – SINH HỌC 11,

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: LL&PPDH SINH HỌC

Mã số: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS Mai Văn Hưng

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là một công trình nghiên cứu khoa học rất quan trọng đối với bản thân tôi Bởi vì trong quá trình thực hiện, tôi có điều kiện tổng hợp, củng cố kiến thức và tích lũy thêm các kinh nghiệm cần có trong chuyên môn

và nghiệp vụ

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy/cô giáo, các cán bộ của nhà trường, các bạn bè đồng nghiệp, các em học sinh và người thân

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô trong văn phòng khoa Sư phạm đã tạo điều kiện cho học viên hoàn thành quá trình học tập tại trường Tôi cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Hưng đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo

và các em học sinh trường THPT Chuyên Hưng Yên, trường THPT chuyên Lào Cai, trường THPT Hoàng Văn Thụ - Hòa Bình đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi điều tra, tiến hành thực nghiệm trong quá trình nghiên cứu luận văn Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các học viên lớp cao học Sinh QH-2018S, trường Đại học Giáo dục đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Bình

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả điều tra ý kiến của GV 20

Bảng 1.2 Kết quả điều tra đối với HS 26

Bảng 3.1 Điểm kiểm tra các lớp 45

Bảng 3.2 Tần số tích lũy điểm kiểm tra lần 1 45

Bảng 3.3 Các tham số đặc trƣng kiểm tra lần 1 47

Bảng 3.4.Bảng tần số tích lũy điểm kiểm tra lần 2 47

Bảng 3.5 Các tham số đặc trƣng kiểm tra lần 2 49

Bảng 3.6 Bảng tần số tích lũy điểm kiểm tra lần 3 49

Bảng 3.7 Các tham số đặc trƣng kiểm tra lần 3 51

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Biểu đồ 3.1 Phân bố tần số điểm của HS lần 1 46

Biểu đồ 3.2 Phân bố tần số điểm của HS lần 2 48

Biểu đồ 3.3 Phân bố tần số điểm của HS lần 3 50

Đồ thị 3.1 Tần số tích lũy điểm kiểm tra lần 1 46

Đồ thị 3.2 Tần số tích lũy điểm kiểm tra lần 2 48

Đồ thị 3.3 Tần số tích lũy điểm kiểm tra lần 3 50

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Dự kiến đóng góp của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1 2 Cơ sở lý luận của đề tài 9

1.2.1 Khái niệm câu hỏi, bài tập 9

1.2.2 Vai trò của CH, BT trong dạy học Sinh học 12

1.2.3 Vai trò của tổ chức dạy học Sinh học thông qua câu hỏi, bài tập 13

1.2.4 Phân loại câu hỏi, bài tập 14

1.2.5 Cấu trúc của câu hỏi, bài tập 18

1.2.6 Các yêu cầu sư phạm của câu hỏi, bài tập 18

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19

1.3.1 Thực trạng sử dụng CH, BT trong dạy học Sinh học 19

Trang 8

1.3.2 Yêu cầu của việc sử dụng câu hỏi, bài tập trong công tác bồi

dưỡng học sinh giỏi 30

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP PHẦN SINH LÝ HỌC ĐỘNG VẬT SỬ DỤNG TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI SINH HỌC, THPT 32

2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung các chuyên đề thuộc phần Sinh lý học động vật 32

2.2 Thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập sử dụng bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh lý học động vật 36

2.2.1 Các nguyên tắc xây dựng CH, BT trong dạy học Sinh học 36

2.2.2 Quy trình xây dựng bộ CH, BT để dạy học 37

2.3 Quy trình sử dụng CH, BT phần Sinh lý học động vật dùng cho bồi dưỡng học sinh giỏi 39

2.3.1 Quy trình sử dụng CH, BT giúp học sinh tự học kiến thức mới phần Sinh lý học động vật 39

2.3.2 Quy trình sử dụng câu hỏi, bài tập giúp học sinh củng cố và nâng cao kiến thức phần Sinh lý học động vật 41

2.3.3 Thiết kế một số giáo án sử dụng trong dạy học phần sinh lý học động vật lớp 11 trung học phổ thông chuyên 41

Tiểu kết chương 2 42

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.1 Mục đích thực nghiệm 43

3.2 Nội dung tiến hành thực nghiệm 43

3.3.1 Chọn trường và học sinh thực nghiệm 43

3.3.2 Bố trí thực nghiệm 43

3.4 Kết quả và biện luận 44

3.4.1 Kết quả định tính 44

Trang 9

3.4.2 Kết quả định lượng 45

Tiểu kết chương 3 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đã và đang trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ và

sự bùng nổ của cách mạng 4.0 Nền giáo dục nước nhà đang trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện, giáo dục phổ thông cần giải quyết được những mâu thuẫn sau: Lượng tri thức do con người tạo ra ngày càng tăng, tuổi thọ của tri thức ngày càng ngắn (các tri thức con người phát hiện ra nhanh chóng trở lên lạc hậu và bị thay thế bởi các nguồn tri thức mới), trong khi đó thời gian để học sinh lĩnh hội các tri thức khi ngồi trên ghế nhà trường là có hạn Giáo dục tạo cần đáp ứng được nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, đào tạo ra những con người có tri thức khoa học, có năng lực để thực hiện nghề nghiệp cho bản thân, có khả năng hội nhập cạnh tranh với quốc tế, có tính năng động, sáng tạo giúp giải quyết tốt những khó khăn gặp phải trong thực tiễn

Đất nước ta là một nước đang phát triển với sự lạc hậu, thua kém cả về kinh tế, khoa học kĩ thuật so với nhiều nước phát triển trên thế giới Đặc biệt trong xu thế bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật 4.0 chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn cho sự hòa nhập, phát triển để theo kịp các nước phát triển Tuy nhiên, đó cũng là thách thức không nhỏ đòi hỏi chúng ta phải bắt kịp xu thế, đi tắt đón đầu, nếu không nguy cơ tụt hậu sẽ càng xa hơn nữa, giáo dục không nằm ngoài xu thế đó Thực tế, trong nhiều năm qua, giáo dục nước

ta liên tục đổi mới về chương trình, phương thức tiếp cận, phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra – đánh giá Dù vậy, nhiều người cho rằng việc đổi mới của chúng ta chưa thực sự hiệu quả, càng đổi mới càng hỏng, dư luận phàn nàn về chương trình học nặng nề về kiến thức, nhiều mô hình giáo dục mới còn cồng kềnh kém hiệu quả, Hiện nay, việc đổi mới căn bản toàn diện trong giáo dục hi vọng mang lại những bước tiến vượt bậc, hướng tới phát triển tối đa năng lực người học, định hướng phân luồng nghề nghiệp sớm đáp ứng nguồn nhân lực phù hợp với kỉ nguyên 4.0 Việc đổi mới này chỉ thực sự

Trang 11

hiệu quả khi ta thực hiện tốt việc xây dựng chương trình, có được phương pháp giảng dạy và học tập hiệu quả nhằm phát huy được những năng lực tiềm

ẩn của người học

Theo luật giáo dục 2005: “ Phương pháp giáo dục phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học có khả năng tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Chương trình giáo dục phổ thông cũng khẳng định: “Đối với học sinh có năng khiếu cần vận dụng hình thức tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục phù hớp nhằm phát triển năng khiếu, bổi dưỡng tài năng THPT” Riêng hệ thống trường chuyên có nhiệm vụ đặc biệt là bồi dưỡng nguồn nhân tài, nhân lực chất lượng cao, tạo ra các nhà khoa học tương lai cho đất nước nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – giáo dục cho đất nước Chúng

ta đã xây dựng chương trình chuyên sâu 2009 và gần đây là chương trình

2019 nhằm đáp ứng mục tiêu nói trên Tuy nhiên, cần có những sự thay đổi mạnh mẽ về phương pháp dạy và phương pháp học để học sinh chuyên có khả năng phát triển tốt nhất, đặc biệt là phát triển việc đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp

Đối với hệ thống các trường Chuyên, sự bổ sung của các nguồn học liệu bổ trợ là vô cùng cần thiết ví trên thực tế yêu cầu của các kì thi học sinh giỏi khu vực, quốc gia, quốc tế còn cao hơn nhiều so với chương trình chuyên sâu đã xây dựng Những nội dung này biến đổi cả về mức độ và phạm vi theo từng năm Do vây, khi giảng dạy cho học sinh chuyên Sinh, đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học cần lựa chọn các nội dung phù hợp từ các tài liệu khoa học khác nhau, xây dựng hệ thống CH và BT giúp giảng dạy và học tập có hiệu quả

Bên cạnh đó, khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh hiện đang còn rất hạn chế Đứng trước nguồn học liệu vô cùng đa dạng và phong phú,

Trang 12

cũng chưa chắc đã sử dụng chúng một cách hiệu quả Điều này sẽ là một trở ngại lớn cho hành trình trở thành các học sinh giỏi của các em Do đó cần phải có một nguồn tài liệu cụ thể, có định hướng cho việc tự rèn luyện và học tập của học sinh khi tham gia bồi dưỡng HSG

Xuất phát từ yêu cầu tham gia các kì thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh, khu vực và cấp quốc gia với yêu cầu ngày càng cao Với CH “làm thế nào để đạt hiệu quả cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học?” Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc phát triển nền giáo dục

nước nhà, với kinh nghiệm dạy học của bản thân, tôi đã lựa chọn đề tài “Thiết

kế và sử dụng CH, BT dạy học chuyên đề Sinh lý học động vật – Sinh học

11, THPT Chuyên”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống CH, BT phần chuyên đề sinh lý học động vật, Sinh học 11, THPT chuyên nhằm cung cấp nguồn tài liệu cho học sinh tự học và giúp giáo viên vận dụng vào dạy học, bồi dưỡng nâng cao chất lượng học tập của học sinh chuyên sinh học, đáp ứng yêu cầu sinh giỏi Quốc gia

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng hệ thống CH, BT phần chuyên đề sinh lý động vật, Sinh học 11, THPT chuyên

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học, bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THPT Chuyên Hưng Yên

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống CH, BT phần Sinh lý học động vật sẽ giúp học sinh có khả năng tự học, ôn tập tốt hơn và nâng cao hiệu quả công tác bồi bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THPT

Trang 13

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

Nghiên cứu các khái niệm về CH và BT, ý nghĩa của việc sử dụng hệ thống hệ thống CH BT trong dạy học sinh học

Cấu trúc của CH BT, các yêu cầu sư phạm của CH, BT

Phân loại CH, BT và các nguyên tắc xây dựng CH BT,…

Quy trình xây dựng hệ thống CH, BT

Sử dụng hệ thống CH, BT trong dạy học, bồi dưỡng học sinh giỏi

5.2 Phân tích thực trạng việc học tập nội dung Sinh lí học động vật trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THPT Chuyên Hưng Yên

Thực tế giảng dạy tại trường THPT Chuyên Hưng yên cho thấy một số năm học sinh thực hiện khá tốt phần thi nhưng cũng nhiều năm học sinh thực hiện chưa tốt nhiệm vụ của mình Việc học tập của học sinh đôi khi còn chưa đạt hiệu quả cao do phương pháp học tập chưa phù hợp, thiếu các CH định hướng, ôn tập chuyên sâu và kiểm tra lại kiến thức của học sinh hoặc CH chưa được thiết kế phù hợp và chưa sử dụng hiệu quả Từ thực tế đó đòi hỏi cần phải nghiên cứa để thiết kế và sử dụng hệ thống CH phần sinh lý học động vật hiệu quả hơn góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng HSG quốc gia

5.3 Nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và chuyên sâu phần Sinh lý học động vật

Sinh lý học động vật thuộc phần sinh học cơ thể sinh vật của sinh học

11 Trong chương trình chuyên, tài liệu được viết sâu hơn theo các chuyên đề,

có tính hệ thống, logic, có tính thực tiễn cao, nhiều kiến thức vận dụng đòi hỏi

tư duy sâu sắc của học sinh Vì vậy, cần có hệ thống CH phù hợp giúp giảng dạy và học tập tốt các nội dung kiến thức này

Trang 14

5.4 Phân tích quy trình xây dựng CH, BT Sinh học

Để có được hệ thống CH, BT phù hợp, sử dụng hiệu quả trong giảng dạy, cần nghiên cứu kĩ càng qui trình để biết được yêu cầu, cách thức xây dựng một CH, đánh giá xem CH có phù hợp không

5.5 Xây dựng hệ thống CH và BT phần Sinh lí học động vật

Hệ thống CH,BT phần sinh lý học động vật được xây dựng theo bài và theo chuyên đề giúp giảng dạy, học tập và ôn luyện nâng cao nhằm đạt hiệu quả cao trong học tập và thi cử

5.6 Thực nghiệm sư phạm để khẳng định giả thuyết khoa học của đề tài

Sau khi xây dựng hệ thống CH,BT cần tiến hành thực nghiệm tại các lớp chuyên và có tiến hành so sánh đối chứng để xem xét mức độ phù hợp và hiệu quả của đề tài, đánh giá mức độ hoàn thành giả thuyết đã đặt ra

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

Tìm hiểu, thu thập, đọc các tài liệu có liên quan làm cơ sở lí luận cho

đề tài

6.2 Phương pháp điều tra

Sử dụng hệ thống các phiếu hỏi để điều tra ý kiến của giáo viên về thực trạng xây dựng và sử dụng CH trong dạy học sinh học phần sinh lý học động vật

Sử dụng phiếu hỏi để điều tra ý kiến của học sinh về thực trạng học tập, vai trò của CH đối với hoạt động nhận thức

6.3 Phương pháp chuyên gia

Hỏi ý kiến chuyên gia về phương pháp nghiên cứu, thực hiện đề tài, xin

ý kiến về các nội dung kiến thức liên quan đến đề tài, cách thức xử lí số liệu

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

- Xây dựng hệ thống CH, BT từ cơ bản đến nâng cao thuộc nội dung chuyên đề Sinh lí người và động vật

Trang 15

- Thực nghiệm:

Đối tượng: Học sinh lớp 11 chuyên sinh, đội dự tuyển lớp 11 Sinh, học sinh đội tuyển HSG QG của một số trường THPT Chuyên

6.5 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng toán thống kê để phân tích, xử lí số liệu thu thập được

7 Dự kiến đóng góp của luận văn

Xây dựng được hệ thống CH BT có tính logic phù hợp cho bồi dưỡng

và tự bồi dưỡng học sinh giỏi phần Sinh lí người và động vật

8 Cấu trúc của luận văn

- Phần I: Mở đầu

- Phần II: Nội dung

- Phần III: Kết luận và kiến nghị

Ngoài ra còn có tài liệu tham khảo và phụ lục

Phần nội dung chính có 3 phần: Bao gồm:

+ Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

+ Chương 2: Xây dựng hệ thống CH, BT phần Sinh lý học động vật dùng cho bồi dưỡng học sinh giỏi

+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, các nội dung về dạy – học đã được nghiên cứu từ rất sớm John Dewey (1859-1952) đã phát biểu: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Và một loạt các PPDH theo quan điểm này đã được sử dụng: Phương pháp dạy học hợp tác; phương pháp dạy học nêu vấn đề; phương pháp dạy học dự án; phương pháp công não; các phương pháp dạy học tích cực khác Đây là các phương pháp mà GV tổ chức các hoạt động hoặc sử dụng hệ thống CH để để kích thích hoạt động học tập của HS và lĩnh hội tri thức

Những năm đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng lí luận cho PPDH dự án Để thực hiện phương pháp này, người học cần phải thực hiện một chuỗi các nhiệm vụ học tập gồm: xác định mục đích, lập kế hoạch sau đó thực hiện dự án Học sinh cũng phải kiểm tra lại, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án đã đề ra

Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy được Tony Buzan đã đề xuất giúp người học phát triển tư duy Người học có thể hệ thống hóa các kiến thức, mở rộng và nhấn mạnh các ý tưởng, kết nối chúng với nhau từ đó có thể bao quát được kiến thức trên một phạm vi sâu rộng [31]

Năm 1984, dựa trên kết quả về việc "Khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc ĐH" Spickler và một số nhà giáo dục Bắc Mỹ đã chỉ ra rằng: Cần thiết phải đưa HS tham gia vào quá trình học tập tích cực; nâng cao trách nhiệm của học sinh, HS lựa chọn và thực hiện các thí nghiệm một cách hứng thú; đồng thời HS phải sử dụng nhiều kỹ năng xử lý thí nghiệm, đáp ứng được yêu cầu tự nghiên cứu, tự học, phát triển năng lực tư duy và phát huy tính sáng tạo khi thực hiện nhiệm vụ học tập

Trang 17

Năm 1930, Alex Born đã đưa ra kĩ thuật công não - một kĩ thuật đề cập đến việc tìm ra lời giải cho vấn đề nào đó bằng cách tập hợp tất cả các ý kiến của mọi người phát sinh trong cùng một khoảng thời gian theo một quy tắc được đề ra từ trước

Năm 2008, tác giả Adam Khoo xuất bản Cuốn sách Tôi tài giỏi, bạn cũng thế! Nội dung cuốn sách đã phản ánh tiềm năng trí tuệ, sự thông minh, sang tạo của con người vượt xa khỏi những gì chúng ta đã biết tới và đang suy nghĩ

1.1.2 Ở Việt Nam

Việc xây dựng và sử dụng CH của giáo viên trong quá trình dạy học là một yếu tố vô cùng quan trọng Những giáo viên giảng dạy nhiều năm cho rằng, thiết kế và sử dụng CH trong quá trình giảng dạy là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp CH không chỉ là kiến thức mà còn là kinh nghiệm sống, là nghệ thuật trong tình huống cụ thể Vì vậy, nhiều người cho rằng, thông qua

CH ta có thể biết ngay trí tuệ của một người nào đó Bên cạnh đó, lượng kiến thức Sinh học rất đa dạng, thể hiện ở nhiều lĩnh vực, điều đó dễ khiến học sinh quá tải và dần lãng quên Do đó, cần thiết xây dựng một hệ thống CH giúp học sinh có thể dễ dàng hệ thống hóa các nội dung bài học, khắc sâu kiến thức Khi nghiên cứu về việc sử dụng hệ thống CH, BT, chúng tôi đã tìm được một số nguồn tài liệu như sau:

Tác giả Trần Bá Hoành, với “Dạy học lấy người học làm trung tâm” đã

đề cập đến các kĩ thuật đặt CH sử dụng trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh [20]

Trong “Kĩ thuật dạy học sinh học” tác giả Trần Bá Hoành đã đề cập đến việc cần phải chú ý rèn luyện phương pháp tự học cho HS.[23]

Các luận văn, luận án và tài liệu khác tôi có tham khảo:

Luận án: “Sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học” của tác giả Đinh Quang Báo (1991) đã cung cấp những cơ sở lí thuyết quan trọng về việc sử

Trang 18

Luận án tiến sỹ: “Sử dụng CH, BT để tích cực hoá hoạt động của HS trong dạy học sinh thái học 11- THPT” của Lê Thanh Oai (2003) cũng là một tài liệu giúp định hướng cho GV về các phương pháp và kĩ năng thiết kế CH,

BT trong các bước của quá trình lên lớp

Chuyên đề: “CH, BT trong dạy học sinh học” (dùng cho cao học) [9] của PGS TS Lê Đình Trung cũng rất hữu ích

+ Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc “Sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK sinh học THPT cho học sinh qua dạy học phần sinh học vi sinh vật” (2008)

Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Giao Thủy: “Xây dựng và sử dụng hệ thống CH, BT rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS qua dạy học phần Sinh học

tế bào - chương trình Trung học phổ thông” (2016)

Trong kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả đều chỉ ra rằng việc sử dụng hệ thống CH, BT trong dạy học là phương pháp, phương tiện hiệu quả để người dạy tổ chức hoạt động học tập cho HS Đồng thời các tác giả cũng đưa ra các nguyên tắc, qui trình xây dựng cũng như biện pháp sử dụng CH, BT trong DHSH nói chung và trong DH từng phần khác nhau của chương trình sinh học THPT nói riêng Tuy nhiên, các đề tài cũng chưa đưa ra được qui trình cụ thể

về thiết kế, sử dụng CH/BT theo các bước để giáo viên có thể vận dụng Đặc biệt, cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về cơ

sở lí luận, thiết kế và sử dụng CH, BT trong dạy học chuyên đề sinh lí học động vật – sinh học 11, THPT chuyên Vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu để xây dựng các qui trình thiết kế, sử dụng CH, BT đồng thời tiến hành xây dựng

hệ thống CH, BT để đưa vào sử dụng trong học tập và giảng dạy

1 2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Khái niệm câu hỏi, bài tập

1.2.1.1 Câu hỏi

Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội – 1992, (trang 455) thì “Hỏi” có nghĩa là:

Trang 19

- Bày tỏ những điều mình mong muốn thông qua việc trả lời

- Nói ra những điều mình cần người ta đáp ứng

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “CH là câu biểu thị sự cần biết hoặc không rõ với những đặc trưng của ngữ điệu và từ hỏi”

Trên thế giới, Socrate ngày trước được biết đến là người thuyết phục giỏi nhất thế giới Ông đã rất thành công trong việc bán những ý kiến của mình đến nỗi ngày nay người ta vẫn còn học hỏi ông Yếu tố quyết định lớn nhất đến sự thành công của ông chính là đưa ra những CH

Aristotle cho rằng, đặc trưng cơ bản của CH chính là người hỏi cần phải lựa chọn các cách thức có tính trái ngược nhau, từ đó giúp con người phải có cách hiểu khác nhau Theo Aristotle, CH là một mệnh đề trong đó phải chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết

Đềcac lại cho rằng, nếu không có CH thì sẽ không thể xuất hiện tư duy

cá nhân và cũng không có tư duy nhân loại Ông đã chỉ ra dấu hiệu bản chất của CH, đó là CH phải có mối quan hệ giữa những cái đã biết và cái cần biết Chủ thể nhận thức chỉ xác định được phương hướng cần làm để trả lời được

CH khi có tỉ lệ phù hợp giữa hai yếu tố này Khi chủ thể nhận thức xác định được cái mình đã biết và cái mình cần biết thì lúc đó mới được đặt CH và khi

đó CH mới thực sự trở thành sản phẩm của quá trình nhận thức

Theo GS Trần Bá Hoành, khi sử dụng CH kích thích tư duy tích cực của HS là phải đặt ra cho HS một nhiệm vụ chinh phục tri thức, vừa khích lệ vừa đòi hỏi HS phải nỗ lực với trí tuệ cao nhất, tự mình tìm ra câu trả lời thông qua việc sử dụng các kĩ năng tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để chiếm lĩnh kiến thức mới và được làm quen với các phương pháp nghiên cứu[22]

Thuật ngữ CH có nghĩa là: Một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh đòi hỏi phải trả lời, phải thực hiện Về cách thức biểu diễn đạt thì ngôn ngữ sử dụng

Trang 20

Ngoài ra, còn có những cách hiểu khác nhau về CH Tuy nhiên, dù hiểu như thế nào thì CH cần thể hiện được một số yêu cầu sau:

+ Thể hiện được sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết, từ những điều đã biết xuất hiện điều cần biết, cần tìm Nội dung cái đã biết phải phù hợp với cái chưa biết, đủ để kích thích và tìm ra cái chưa biết

+ Về hình thức biểu đạt ngôn ngữ, CH là một mệnh đề nghi vấn hay được diễn đạt bằng một ngữ điệu đặc trưng

+ CH là một phạm trù khái niệm rộng rãi, với mỗi CH cần một lượng thông tin thích hợp Đồng thời, thái độ, trạng thái tâm lí của người được hỏi trước những thông tin cũng khác nhau

Các CH vô cùng quan trọng trong cuộc sống nói chung và trong quá trình dạy học nói riêng Trong quá trình dạy học, sử dụng CH chỉ là một yếu

tố vô cùng quan trọng Khi giáo viên sử dụng CH phù hợp, hiệu quả sẽ giúp học sinh hiểu bài nhanh chóng và hình thành các kĩ năng tư duy ở mức độ cao, hình thành năng lực cho học sinh từ đó sẽ nâng cao chất lượng dạy học

1.2.1.2 Bài tập

BT là nhiệm vụ, yêu cầu mà giáo viên đưa ra cho HS, yêu cầu HS phải biết sử dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinh nghiệm thực tiễn, sử dụng các thao tác tư duy hay hành kinh nghiệm để giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức BT có thể là một CH, một thí nghiệm, một bài toán hay một bài toán nhận thức.BT chỉ ra một định hướng nhận thức cho người học để người học hướng tới việc tìm hiểu, sử dụng vốn hiểu biết tri thức, định hướng bổ sung thêm những kiến thức mới từ tài liệu sách giáo khoa Từ đó

HS thu được một lượng kiến thức mới từ BT

Về cấu trúc của CH và BT: Mỗi CH, BT đều chứa đựng những điều đã biết và điều chưa biết, nó kích thích sự tìm tòi, khám phá, vận dụng các kiến thức, các kĩ năng đã biết để giải quyết vấn đề đặt ra trong CH, BT Trong CH, nội dung CH và động từ nghi vấn xác định mức độ cần hỏi Cấu trúc BT thường dưới dạng bài toán, có giả thiết và kết luận

Trang 21

1.2.2 Vai trò của CH, BT trong dạy học Sinh học

Đối với học sinh

CH, BT giúp HS chủ động tham gia vào bài học, trao đổi sôi nổi, tâm thế học tập tốt chứ không chỉ đơn thuần là tiếp thu kiến thức một chiều

Định hướng cho học sinh, giúp học sinh chinh phục tri thức

Thông qua CH, học sinh rèn khả năng ngôn ngữ, tập trung hiểu ý nghĩa các CH và tìm cách biểu đạt hiệu quả vấn đề cần trả lời, phát triển kic năng giao tiếp và cách thức làm việc chung với thầy cô và bạn bè…

Liên tục phát triển tư duy logic cho học sinh thông qua các CH từ thấp đến cao

Việc trả lời đúng các CH và nhận được những lời khen, phần thưởng khích lệ kịp thời sẽ giúp HS được thỏa mãn, ngày càng tích cực hơn trong việc tham gia vào các hoạt động học tập Thông qua hệ thống CH, BT cũng giúp đánh giá kịp thời mức độ tiến bộ của HS từ đó có thể thay đổi các mức

độ nhận thức

Đối với giáo viên

Trong quá trình dạy học, sử dụng các CH, BT giúp giáo viên có được những buổi dạy sôi nổi, hấp dẫn hơn

CH, BT giúp giáo viên kịp thời nắm bắt tình hình học sinh, đánh giá mức độ hiểu bài và tập trung của học sinh, giúp dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh các tri thức nhằm đạt mục tiêu dạy học đã đề ra

Thông qua việc sử dụng CH, BT giáo viên cố thể truyền đạt kiến thức Không chỉ thế, CH, BT giúp giáo viên lôi kéo học sinh tham gia vào tiết học một cách dễ dàng,, kịp thời điều chỉnh học sinh, điều chỉnh bài giảng cho phù hợp

CH cũng giúp GV phát hiện ra nhữn sai sót, những lỗ hổng kiến thức của HS Đồng thời nó cũng giúp giáo viên có những điều chỉnh phù hợp theo

Trang 22

Thông qua các CH, BT giáo viên có thể làm cho tiết học thêm hứng thú, sôi nổi, HS thêm tập trung và nâng cao dần mức độ chú ý, phát triển tư duy

Trong mỗi hoạt động, các CH giúp khởi động tâm thế học sinh, định hướng HS trong suôt chủ đề hoặc tiết học

Cuối cùng, thông qua CH, BT thì GV thườn xuyên có sự tương tác với học sinh từ đó nắm bắt được tâm lí, sinh lí và nhận thức của học sinh, tăng tương tác và giúp đỡ học sinh

1.2.3 Vai trò của tổ chức dạy học Sinh học thông qua câu hỏi, bài tập

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một mực tiêu quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay, mà quan trọng nhất là đổi mới PPDH Có

thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động, sáng tạo, hướng tới phát triển tối ưu năng lực người học

Sinh học là môn học chứa đựng phần lớn các kiến thức lí thuyết và một

số BT vận dụng Để thực hiện tốt việc dạy học Sinh học, GV cần lựa chọn PPDH, phương tiện và hình thức tổ chức DH phù hợp Trong DH Sinh học có thể sử dụng đa dạng các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học khác nhau trong đó có sử dụng CH, BT

CH, BT được sử dụng chủ yếu là CH định hướng, dẫn dắt, CH tìm tòi, củng cố, BT, bài toán có vấn đề…

Thiết kế hệ thống phiếu học tập, trong đó có chứa đựng đầy đủ những yêu cầu dưới dạng CH, bài toán nhận thức một hệ thống Các phiếu học tập phải

có mục đích rõ ràng, được diễn đạt ngắn gọn và chính xác, yêu cầu của công việc không quá dễ cũng không quá khó để tránh tình trạng nhàm chán cho HS

Nếu xây dựng được những CH, BT tốt sẽ giúp HS có được khả năng khai thác, sử dụng tốt SGK, tài liệu học tập và kiến thức thực tế bằng những phương pháp, biện pháp tích cực Đồng thời, cũng có thể giúp HS dần hình thành khả năng tự học, không những giúp HS chủ động để lĩnh hội kiến thức

mà còn rèn luyện được cho HS khả năng phản ứng, tốc độ tư duy, phân tích,

Trang 23

rèn tính độc lập, khả năng sáng tạo và phương pháp học tập Trong đổi mới PPDH bộ môn Sinh học, sử dụng CH, BT có giá trị thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, làm cho quá trình dạy học có sự tương tác thường xuyên giữa GV và HS

Tổ chức dạy học SH thông qua CH và BT giúp thường xuyên kiểm tra được ghi nhớ kiến thức (Khái niệm, quá trình định luật, ), kiểm tra được sự nắm vững bản chất kiến thức, học sinh giải thích kiến thức kĩnh hội một cách logic, kiểm tra được khả năng vận dụng kiến thức giải quyết nhiệm vụ nhận thức mới, giúp kiểm tra mức độ nắm vững giá trị kiến thức về lí luận và thực tiễn, người học có thể chủ động đề xuất các phương án mới, kiểm tra được thái độ, hành vi người học khi học hoặc tiếp thu vấn đề nào đó

1.2.4 Phân loại câu hỏi, bài tập

Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã đưa ra nhiều cách khác nhau để phân loại hệ thống CH, BT trong dạy - học Mỗi cách phân loại lại dựa trên những tiêu chí cụ thể, hoặc là dựa vào yêu cầu năng lực nhận thức của học sinh, hoặc là dựa vào mục đích lí luận dạy học

1.2.4.1 Dựa vào mục đích sử dụng các câu hỏi có thể phân loại câu hỏi, bài tập thành các loại sau:

Loại CH BT xây dựng với mục đích hình thành và phát triển năng lực người học: Là những CH, BT rèn luyện khả năng quan sát, phân tích, so sánh,

tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa, quy nạp, diễn dịch

Loại CH, BT sử dụng trong quá trình dạy học: Là những CH, BT hình

thành kiến thức mới, củng cố hoàn thiện kiến thức nhằm đánh giá hiệu quả dạy học, từ đó điều chỉnh việc dạy và học nhàm đạt đến giá trị tối ưu

Loại CH, BT theo nội dung phản ánh từ học sinh: Là những CH, BT

yêu cầu học sinh nêu được các sự kiện, xác định dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng, xác định mối quan hệ trong cấu trúc, trong cơ chế, trong qui luật,

Trang 24

định ý nghĩa lí luận và thực tiễn của kiến thức tiếp thu được để ứng dụng vào thực tiễn

Loại CH, BT trình bày theo câu trả lời của học sinh: Là những CH, BT

mở là các CH tự luận, BT mà học sinh có thể diễn đạt theo các cách khác nhau,

CH trắc nghiệm khách quan mà học sinh chỉ có thể lựa chọn đáp án có sẵn

Loại CH, BT xây dựng theo quan hệ của các CH, BT cần xác định: Là

những CH, BT định tính, định lượng vừa định tính vừa định lượng

1.2.4.2 Dựa vào các khâu của quá trình dạy học

Loại CH, BT dùng để dạy bài mới

Đây là CH, BT dùng để tổ chức và hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới Khi HS đưa ra được đáp án của CH, BT thì sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới Do vậy, mỗi CH, BT được dùng để dạy bài mới phải mã hóa được một nội dung kiến thức Trong những trường hợp cần thiết, GV có thể nêu thêm các CH, BT phụ để gợi ý, các CH, BT phụ có tác dụng cung cấp thêm dữ kiện, giúp HS giải quyết vấn đề học tập dễ dàng hơn Do đó, tùy từng đối tượng HS mà tính chất của CH, BT phụ là khác nhau

Loại CH, BT dùng để ôn tập, củng cố, hoàn thiện và nâng cao kiến thức

Đây là loại CH, BT được thiết kế dựa trên những tri thức HS đã có, nhưng các kiến thức đó còn rời rạc và tản mạn, chưa thành hệ thống Do đó, loại CH, BT này không những có tác dụng củng cố kiến thức đã học mà còn

có tác dụng khái quát hóa và hệ thống hóa các kiến thức đó, đồng thời rèn luyện các thao tác tư duy logic phát triển cao hơn

Loại CH, BT dùng để ôn tập, KT – ĐG

Loại CH, BT dùng để ôn tập và để KT - ĐG khả năng lĩnh hội tri thức của HS có thể được dùng sau một bài học, sau một chương hay sau một phần của chương trình GV cần lưu ý CH, BT phải vừa sức với HS, đồng thời phải phù hợp với thời gian quy định để ôn tập và kiểm tra được những kiến thức trọng tâm cũng như những thành phần kiến thức khác nhau của chương trình

Trang 25

1.2.4.3 Dựa vào các hình thức diễn đạt

- CH, BT tự luận (trắc nghiệm chủ quan): Đây là dạng trắc nghiệm dùng

những CH, BT mở để yêu cầu HS xây dựng câu trả lời Dạng CH, BT này là dạng truyền thống quen thuộc, nó được gọi là trắc nghiệm chủ quan vì quá trình đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người hỏi và người chấm

- CH, BT trắc nghiệm khách quan: Đây là dạng trắc nghiệm mà trong

đó mỗi CH, BT đều có kèm theo những câu trả lời sẵn Loại CH, BT này sẽ cung cấp cho HS một phần hoặc tất cả thông tin cần thiết, HS chỉ phải chọn câu trả lời hoặc điền thêm một vài từ Loại CH, BT này được gọi là CH, BT đóng và được xem là khách quan, vì chúng đảm bảo tính khách quan khi đánh giá mà không phụ thuộc vào ý kiến đánh giá của người chấm

1.2.4.4 Dựa vào yêu cầu năng lực nhận thức

Cách 1: Dựa vào chất lượng CH, về yêu cầu năng lực nhận , CH và BT được chia thành hai loại chính[9]:

● Loại CH, BT có yêu cầu thấp: chỉ đòi hỏi tái hiện các kiến thức và sự kiện; nhớ lại và trình bày một cách có hệ thống, có chọn lọc

● Loại CH, BT có yêu cầu cao: đòi hỏi phải có sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa và vận dụng kiến thức

Khi dạy học theo hướng dạy học phát huy tính tự học của HS, GV cần chú trọng loại CH, BT thứ 2 tuy nhiên cũng không nên xem nhẹ loại CH,

BT thứ nhất, bởi nó là tiền đề để HS có thể trả lời loại CH, BT thứ hai

Trang 26

Loại CH phù hợp với nội dung chương trình SH chủ yếu mang tính lý thuyết, Các CH, BT này giúp HS biết chiếm lĩnh các tri thúc đơn lẻ và cả các tri thức quan trọng mang tính hệ thống

● Loại CH liên hệ với thực tế:

HS luôn có nhu cầu muốn áp dụng kiến thức mới học được vào thực

tế đời sống và sản xuất, cũng như để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên

CH đặt ra càng gần gũi với thực tế thì sẽ càng thu hút sự chú ý, động thời kích thích được sự suy nghĩ của HS

● CH kích thích tư duy sáng tạo, hướng dẫn HS nêu vấn đề, đề xuất giả thuyết:

Đây là loại CH gợi ý để HS xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ, giúp HS có thói quen suy nghĩ sâu sắc và có óc hoài nghi khoa học

Cách 3 Phân loại theo Bloom (1956) Thì hệ thống CH, được chia thành 6 mức độ nhận thức khác nhau

● Mức 1: Biết: Là CH yêu cầu HS nhắc lại kiến thức đã học

● Mức 2: Hiểu: Là CH đòi hỏi HS sắp xếp lại các kiến thức đã học để diễn đạt lại theo ý của mình

● Mức 3: Vận dụng: Là CH yêu cầu HS vận dụng kiến thức đã học vào một tình huống mới khác, giải một BT

● Mức 4: Phân tích: Loại CH này yêu cầu HS phải phân tích được nguyên nhân hay kết quả của một hiện tượng, tìm kiếm được những bằng chứng cho một luận điểm và những điều này HS chưa được cung cấp trước đó

● Mức 5: Tổng hợp: Là CH yêu cầu HS phải phối hợp các kiến thức khác nhau để giải quyết một vấn đề tổng quát hơn hoặc rút ra các kết luận chung cho một kiến thức nào đó

● Mức 6: Đánh giá: Loại CH này yêu cầu HS phải nhận định, đánh giá

về một đơn vị kiến thức Thấy được mức độ đúng đắn của kiến thức

Trang 27

1.2.5 Cấu trúc của câu hỏi, bài tập

Một CH hay BT cần phải chứa đựng những điều đã biết (Cơ sở dữ liệu

để trả lời) và điều cần tìm (yêu cầu đặt ra), có khả năng kích thích sự tìm tòi,

sự vận dụng các trí thức, các kĩ năng đã biết để giải quyết tình huống của đề bài Trong CH, nội dung CH và động từ nghi vấn xác định mức độ cần

hỏi.Cấu trúc BT thường dưới dạng bài toán, có giả thiết và kết luận

1.2.6 Các yêu cầu sư phạm của câu hỏi, bài tập

Câu hỏi, bài tập (CH, BT) phải thực sự trở thành phương tiện tổ chức quá trình dạy học CH, BT phải mã hóa được lượng thông tin quan trọng cần cho người dạy định hướng việc dạy, cần cho người học định hướng việc học CH,

BT phải diễn đạt đúng cái cần hỏi, đúng mức độ cần hỏi CH, BT phải phù hợp với trình độ, tâm – sinh lí của học sinh để tăng cường hiệu quả nhận thức của người học: Học sinh bằng sự cố gắng của mình, vận động mạnh mẽ về trí tuệ trong việc phân tích CH, đấu tranh quyết liệt trong việc so sánh, đối chiếu vấn

đề, khái quát hóa, phát hiện vấn đề, quy luật… mới có thể tìm ra câu trả lời nhằm chiếm lĩnh kiến thức cho mình Hệ thống CH trong một bài phải có sự liên hệ và

kế thừa nhau nhằm phát triển nhận thức của học sinh một cách logic từ đó CH,

BT có tác dụng kích thích tư duy người học, tạo ra những ngưỡng kích thích phù hợp CH, BT phải đa dạng, phong phú về thể loại, nội dung, mức độ cần hỏi và

CH, BT phải dễ biến đổi để phù hợp với nội dung dạy học

Về mặt hình thức:

- CH phải có văn phong rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu diễn đạt đầy đủ ý tưởng của GV CH không nên dùng từ đa nghĩa,, gây hiểu nhầm, không nên hỏi quá nhiều nội dung trong một CH

- CH phải giúp HS xác định được ngay là cần trả lời cái gì? Không đánh đố, đánh lừa HS

- Trong quá trình dạy học nên sử dụng kết hợp nhiều loại CH khác nhau như: câu đúng – sai, câu ghép đôi, câu trả lời ngắn, CH dạng điền

Trang 28

Các CH, BT dành cho HS chuyên ngoài những yêu cầu như các CH,

BT dành cho các đối tượng khác còn cần có thêm các đặc điểm:

- Chứa đựng những nội dung kiến thức mới, có tính hệ thống cao, kích thích mạnh mẽ tư duy của học sinh

- Giúp HS định hướng học tập tốt, dẫn dắt và điều chỉnh học sinh kịp thời

- CH, BT có mức độ kiến thức chuyên sâu cao

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Để có được cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi với các đồng nghiệp, sử dụng phiếu điều tra đối với giao viên và học sinh ở

4 trường THPT Chuyên nhằm thu thập số liệu và phân tích thực trạng dạy học sinh học trong các trường hiện nay Nội dung tiến hành điều tra là thực trạng sử dụng CH, BT trong dạy học SH hiện nay, đánh giá về vai trò, mục đích và ý nghĩa của việc sử dụng CH, BT trong dạy học SH đồng thời tìm hiểu thực trạng học tập SH của HS và đánh giá của HS trong việc học với CH, BT

1.3.1 Thực trạng sử dụng CH, BT trong dạy học Sinh học

Để tìm hiểu thực trạng về sử dụng CH, BT trong dạy học, chúng tôi đã xây dựng hai phiếu điều tra: 01 phiếu điều tra đối với GV và 01 phiếu điều tra đối với HS (Phụ lục kèm theo)

Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra giáo viên để tham khảo ý kiến của

13 giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy các lớp chuyên Sinh thuộc 4

Trang 29

trường THPT chuyên: THPT chuyên Trần Phú (Hải Phòng), THPT chuyên Lào Cai (tỉnh lào Cai), THPT chuyên Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình) và THPT chuyên Hưng Yên Kết quả khảo sát thu được trong bảng số liệu sau:

Bảng 1.1 Kết quả điều tra ý kiến của GV

STT Nội dung đã điều tra

Mức độ Không

hoặc

ít sử dụng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

Thông hiểu

0 0 10 76,9 3 23,1

Vận dụng 1 7,7 8 61,5 4 30,8 Vận dụng

8 61,5

Cần thiết

5 38,5

Ít cần thiết

9 68,2

Quan tâm

4 30,8

Ít quan tâm

0 0

Trang 30

Kiểm tra viết 0 0 13 100 0 0

Sự hiểu bài của

8 61,5 4 30,9 1 7,6

Động viên, khuyến khích

HS có phản hồi tích cực về bài giảng

0 0 11 84,6 2 15,4

Không trả lời HS 12 92,4 1 7,6 0 0 Yêu cầu HS tự

Trang 31

Cho cả lớp thảo luận về câu hỏi của HS

án

9 69,2 4 30,8 0 0

5- Sử dụng SĐTD

3 23,1 8 61,5 2 15,4

6- Sử dụng KT khăn trải bàn

11 84,6 2 15,4 0 0

7- Sử dụng CNTT

2 15,4 7 53,8 4 30,8

12- Hướng dẫn các nội dung khó

4 30,8 7 53,8 2 15,4

13- Dạy học hợp tác nhóm

5 38,5 8 61,5 0 0

Trang 32

nhỏ, thảo luận nhóm

14- Tổng kết và đánh giá cuối cùng

kế và sử dụng

CH, BT

4 15.6

HS chưa tích cực tham gia trả lời

10 76,9

Chưa có câu hỏi hay, có vấn đề càn giải quyết

6 46,2

Đông HS nên chỉ hỏi được một số em

8 61,5

Học sinh chưa hiểu được trọng tâm câu hỏi hướng đến, làm mất nhiều thời gian của GV và

HS

6 46,2

8 Những lợi Tạo sự hứng 13 100

Trang 33

Học sinh chủ động tham gia bài học

10 76,9

Khắc sâu, củng

cố đƣợc kiến thức cho học sinh

9 69,2

Rèn luyện khả năng giao tiếp, diễn đạt bằng lời cho học sinh

6 46,2

Giúp học sinh trong lớp tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

8 61,5

Giúp cho giáo viên kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh

6 46,2

Giúp động viên học sinh tích cực, trầm tính

và nhắc nhở học sinh cá biệt, quậy phá

10 76,9

Trang 34

Giúp điều chỉnh

kế hoạch, phương pháp giảng dạy cho giáo viên

thức mới

1 7,6 53,8 5 38,5

Vận dụng 0 0 10 76,9 3 23,1 Tìm tòi, mở

tập: BT

tự nghiên cứu, bài nhóm

7 53,9 6 46,1 0 0

Qua phiếu hỏi 8 61,5 5 38,5 0 0

Từ các số liệu thu được ta thấy đa số GV nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng CH, BT trong dạy học SH, Quan tâm đến việc sử dụng

CH, BT trong dạy học Đồng thời cũng đánh giá được ý nghĩa của việc sử dụng CH, BT khi dạy học Tuy nhiên, việc thiết kế và sử dụng CH, BT trong dạy học một cách thường xuyên còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn Trong dạy học GV còn hạn chế sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, sử dụng

CH, BT trong dạy học SH còn chưa thường xuyên và chưa đạt hiệu quả cao

Trang 35

Chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra 140 HS thuộc 4 lớp 11 Sinh và thu được kết quả như sau:

Bảng 1.2 Kết quả điều tra đối với HS

STT Nội dung đã điều tra

Mức độ Không

hoặc

ít sử dụng

Thường xuyên

Rất thường xuyên

120 85,7

Thầy/cô ít khi đặt câu hỏi mà thường giải thích kĩ các kiến thức

45 32,1

Thầy/cô thường vừa đặt câu hỏi, vừa gợi

ý hướng dẫn trả lời

110 78,6

Thầy/cô thường xuyên đặt câu hỏi trong giờ học

82 58,6

Thầy/cô đặt nhiều câu hỏi mang tính kiểm tra, vào cuối tiết học

65 46,4

Thầy/cô đặt nhiều câu hỏi hay, có tính vấn đề

48 34,3

Trang 36

Thầy/cô đặt nhiều câu hỏi khó, vượt quá sức của em

85 60,7

Thầy/cô đặt câu hỏi chưa rõ ràng nên khó trả lời

55 39,3

Em trả lời được nhưng không muốn giơ tay trả lời

36 25,7

Em cố gắng trả lời vì được cho điểm và khen thưởng

62 44,3

Em cố gắng trả lời vì muốn kiểm tra kiến thức của bản thân

58 40,3

Em không trả lời vì không rõ ý câu hỏi của Thầy/cô

35 24,3

Em không trả lời vì trả lời xong, cũng không được gì cả

70 50

Thầy/cô thường nhận xét câu trả lời, phân tích ưu – nhược

45 32,1

Trang 37

thế

nào?

điểm

Thầy/cô thường chỉ nhận xét đúng hoặc sai

96 68,6

Thầy/cô thường hay khen ngợi và động viên các bạn trả lời câu hỏi

43 30,7

Thầy/cô hay chỉ trích

và mắng khi các bạn phát biểu sai

21 15

Thầy/cô hướng dẫn giúp các em tự hoàn thiện câu TL

internet về nội dung bài học trước khi đến lớp

35 25 65 46,4 40 28,6

Em chỉ học theo vở ghi trên lớp ít tham khảo tài liệu

85 17,9 46 32,8 9 6,4

Em tham gia làm việc nhóm trong giờ học có thảo luận

35 25 77 55 28 20

Em đề xuất ý tưởng mới khi thực hiện 1 nhiệm vụ/ bài tập

101 72,1 24 17,1 15 10,7

Trang 38

Em lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và đánh giá cho công việc của mình và của nhóm

105 75 35 25 0 0

Em đề xuất nhiều cách làm khác nhau khi thực hiện 1 nhiệm vụ/bài tập

20 14,3 88 62,9 32 22,8

Bàn bài với bạn để tìm câu

TL hoàn chỉnh nhất

khảo

12 8,6 88 62,8 40 28,6

Tìm hiểu trên mạng

50 35,7 55 39,3 35 25

Trang 39

Từ kết quả điều tra học sinh cho thấy khi sử dụng CH, BT trong dạy học các thầy/cô thường sợ tốn thời gian nên ít để HS suy nghĩ trả lời mà thường đưa ra gợi ý ngay hoặc hướng dẫn chi tiết; các CH cũng chủ yếu được đưa ra trong giờ học; nhiều học sinh cho rằng CH còn khó hoặc không rõ ràng; còn nhiều HS chưa tích cực tham gia suy nghĩ, tìm tòi, thảo luận để trả lời CH

1.3.2 Yêu cầu của việc sử dụng câu hỏi, bài tập trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

Ở các trường THPT chuyên, ngoài nhiệm vụ giáo dục và bồi dưỡng giống như các trường THPT khác thì còn mang một nhiệm vụ quan trọng khác dó là đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp Hàng năm HS các trương THPT chuyên tham gia các kì thi HSG cấp trường, HSG khu vực, HSG cấp tỉnh, HSG quốc gia thậm chí có thể tham gia kì thi HSG quốc tế Vì vậy việc dạy học và bồi dưỡng HSG cần đáp ứng cung cấp đầy đủ kiến thức

cơ bản, kiến thức nâng cao cho HS đủ sức bước vào các kì thi Trên thực tế lượng kiến thức cần trang bị cho HS vô cùng lớn và ngày càng có xu hướng nhiều và khó hơn Việc dạy học thông thường khó có thể đáp ứng yêu cầu của các kì thi Trên thực tế, GV cần linh hoạt sử dụng nhiều PPDH tích cực, đặc biệt là biết cách thiết kế và sử dụng hiệu quả hệ thống CH trong dạy học giúp

HS lĩnh hội kiến thức và phát triển năng lực học tập tốt Đồng thời cũng cần cung cấp hệ thống CH, BT cho học sinh tự nghiên cứu, ôn tập và rèn luyện nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu các kì thi HSG

Từ thực tiễn trên cho thấy cần thiết phải nghiên cứu để thiết kế và sử dụng hiệu quả hệ thống CH/BT trong dạy học SH nói chung, dạy học phần sinh lí học động vật nói riêng

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 này, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Thực tế điều tra cho thấy, tuy giáo viên đã nhận thức được vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng CH, BT trong dạy học, đã có nhiều

cố gắng sử dụng CH, BT nhưng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao, chưa thực sự tạo hứng thú và lôi cuốn HS tham gia Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu

để đưa ra qui trình thiết kế và sử dụng CH, BT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần sinh lí học động vật ở trường THPT chuyên

Ngày đăng: 24/12/2020, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w