Các hiệu ứng của chu trình này là kết quả không chỉ buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt trong bản án đã tuyên mà còn kéo theo sự tồn tại trong chính nó với hậu quả pháp l cụ th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUANG LONG
NH÷NG VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN VÒ CHÕ §ÞNH ¸N TÝCH THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUANG LONG
NH÷NG VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN VÒ CHÕ §ÞNH ¸N TÝCH THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 9380101.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẢM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chƣa đƣợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Quang Long
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 10
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên phương diện khoa học luật hình sự về chế định án tích 11
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng chế định án tích 15
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên phương diện khoa học luật hình sự về chế định án tích 26
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng chế định án tích 29
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 33
1.3.1 Hướng nghiên cứu chính đã được triển khai 33
1.3.2 Cơ sở l luận chính của những công trình đã thực hiện 33
1.3.3 Kết quả nghiên cứu chính đã đạt được 33
1.3.4 Phương pháp nghiên cứu chính đã được thực hiện 34
1.4 Những vấn đề chưa được nghiên cứu và các vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu 34
1.4.1 Những vấn đề chưa được nghiên cứu 34
1.4.2 Các vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu 35
Trang 51.5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 37
1.5.1 Câu hỏi nghiên cứu 37
1.5.2 Giả thuyết nghiên cứu 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH THEO LUẬT HÌNH SỰ 40
2.1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm và hậu quả pháp lý của chế định án tích theo luật hình sự 40
2.1.1 Khái niệm chế định án tích 40
2.1.2 Nội dung của chế định án tích 63
2.1.3 Đặc điểm của chế định án tích 65
2.1.4 Hậu quả pháp l của chế định án tích 66
2.2 Cơ sở của việc quy định chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam 70
2.2.1 Đáp ứng nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, giáo dục, cải tạo người phạm tội và yêu cầu tôn trọng, bảo vệ quyền con người 71
2.2.2 Thực hiện chính sách phân hóa trong luật hình sự 72
2.2.3 Đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo, công bằng 74
2.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 76
2.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 76
2.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 78
2.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86
CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ NƯỚC VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 88
3.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về chế định án tích 88
Trang 63.1.1 Xóa án tích 88
3.1.2 Đương nhiên được xóa án tích 90
3.1.3 Xóa án tích theo quyết định của Tòa án 94
3.1.4 Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt 98
3.1.5 Thủ tục xóa án tích tại Tòa án 100
3.1.6 Cách tính thời hạn xóa án tích 101
3.2 Quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên giới về án tích 107
3.2.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 107
3.2.2 Bộ luật hình sự Nhật Bản 109
3.2.3 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 109
3.2.4 Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp 111
3.2.5 Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển 114
3.3 Thực tiễn thi hành quy định về chế định án tích 120
3.3.1 Đánh giá chung 120
3.2.2 Những hạn chế, thiết sót trong thực tiễn áp dụng 127
3.2.3 Các nguyên nhân cơ bản 131
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 133
CHƯƠNG 4: TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG 134
4.1 Các yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về chế định án tích 134
4.1.1 Về phương diện thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước 135
4.1.2 Về phương diện thực tiễn áp dụng 136
4.1.3 Về phương diện l luận và lập pháp hình sự 137
4.2 Nội dung tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về chế định án tích 137
4.2.1 Nhận xét, đánh giá chung 137
4.2.2 Những kiến nghị cụ thể 147
4.3 Các giải pháp bảo đảm áp dụng quy định của Bộ luật hình
Trang 74.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật 152 4.3.2 Tăng cường hướng dẫn, giải thích áp dụng thống nhất pháp luật 153 4.3.3 Tăng cường kiểm tra, kiểm sát việc áp dụng quy định của pháp luật 155 4.3.4 Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm lập
pháp hình sự 156 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 158
KẾT LUẬN CHUNG 159 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 161 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162 PHỤ LỤC 1PL
Trang 84 NCS Nghiên cứu sinh
5 TAND Tòa án nhân dân
6 TNHS Trách nhiệm hình sự
7 TTHS Tố tụng hình sự
8 VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê xét xử hình sự sơ thẩm trong giai đoạn 12
Bảng 3.2
Thống kê tổng số vụ và tổng số bị cáo đã bị xét xử, quyết định hình phạt về tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong giai đoạn 12 năm (từ năm 2008 đến năm 2019) 122
Bảng 3.3 Số liệu thống kê người được xóa án tích tại một số tỉnh,
thành phố từ năm 2008 đến năm 2019 124
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1
Thống kê tổng số vụ và tổng số bị cáo đã bị xét xử, quyết định hình phạt về tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong giai đoạn 12 năm (từ năm 2008 đến năm 2019) 123
Biểu đồ 3.2 Số liệu thống kê người được xóa án tích tại một số tỉnh,
thành phố và cả nước từ năm 2008 đến năm 2019 125
Biểu đồ 3.3 Số liệu thống kê người được Tòa án cấp huyện và tỉnh
xóa án tích từ năm 2008 đến năm 2019 126
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc kết án người phạm tội xuất phát từ tác động tiêu cực do chính họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mang lại, trong đó Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền tự do và lợi ích hợp pháp bằng pháp luật Nói theo cách của John Locke (1632-1704), triết gia người Anh, thì pháp luật “không là gì khác hơn chính là các giới hạn đối với
cá nhân thông minh và tự do trong việc theo đuổi lợi ích hợp l của mình và đặt ra yêu cầu không vượt quá yêu cầu đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng người chịu sự điều chỉnh của luật đó” [84, tr.232] Đây chính là “một mệnh lệnh của l trí vì mục tiêu tốt đẹp của cộng đồng” [78, tr.6], là sự hiện thân của công l [81, tr.5] mà nhân loại kiếm tìm, đeo đuổi Các hiệu ứng của chu trình này là kết quả không chỉ buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt trong bản án đã tuyên mà còn kéo theo sự tồn tại trong chính nó với hậu quả pháp l cụ thể, giới hạn đó được xác định từ điểm khởi đầu - một án tích hay gọi là tiền án và kết thúc bởi việc xóa án tích, chấm dứt hoàn toàn trách nhiệm hình sự (TNHS)
Án tích là một hiện tượng pháp l - xã hội mà bản chất của nó có liên quan chặt chẽ với các chế định khác của pháp luật hình sự, trong nhiều trường hợp để xác định tình trạng pháp l của cá nhân, vị trí và vai trò của người có tiền án trong xã hội hoặc của tổ chức kiểm soát xã hội Ở một bình diện khác, khi xem xét án tích trong sự so sánh với tình hình tội phạm do tái phạm của một quốc gia, khu vực thì đây chính là chỉ số về thước đo tình trạng đạo đức của xã hội đó, trong mối tương quan với kiểm soát, điều chỉnh hành vi con người Người phạm tội tái phạm được đánh giá là một trong các yếu tố gây bất ổn cho xã hội và thực tế đó, cần thiết phải có phương pháp tiếp cận mới để nghiên cứu vấn đề án tích, vai trò của nó trong cuộc chiến chống tội
Trang 12phạm, trong đó có tính đến những thay đổi đáng kể về chính sách hình sự của Nhà nước, tương ứng với các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành một cách đúng đắn
Từ xa xưa, án tích không chỉ là một phương tiện để thiết lập, xác định một thực tế rằng, tội ác - không chỉ phản ánh hành động tiêu cực do người phạm tội thực hiện mà còn nhằm đạt được các mục đích khác nhau Ở nhiều quốc gia việc thực hiện cơ chế này rất tàn bạo với bản chất cuồng tín chống lại các tội phạm Khi một tuyên bố về việc kết án dành cho một người phạm tội, nhất định đi kèm theo nó là hình thức “thích dấu” lên thân thể người phạm
tội một mặt, thông báo cho cộng đồng biết và lưu đó là “kẻ ác” và mặt khác,
để trừng phạt những người phạm tội, làm cho họ xấu hổ nhằm ngăn chặn những người khác phạm tội ác tương tự trong tương lai Vì vậy, các dấu hiệu của án tích được đặt ra cho Tòa án là: a) Cung cấp thông tin về lịch sử tội phạm; b) làm cho tù nhân khó khăn để thoát khỏi nhà tù; c) tạo điều kiện giám sát tội phạm đã chấp hành án, góp phần nâng cao mức độ kiểm soát xã hội [106, tr.9-10] Trải qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã có những ước muốn nhằm loại bỏ việc cá nhân hóa hình ảnh kỳ thị tùy thuộc vào tính chất của hành vi phạm tội Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với những bước đầu tiên trong nỗ lực thiết lập một hồ sơ tội phạm bằng văn bản đã được thực hiện tại Pháp, sau đó phổ quát trên toàn thế giới cho mục đích chính là xác định số lượng tiền án, tình trạng pháp l của người đã bị kết án [106, tr.9]
Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê hàng năm của TAND tối cao, trên phạm vi cả nước từ năm 2008 đến 2019, trung bình hàng năm các cấp Tòa án xét xử sơ thẩm hình sự 61.398.33 vụ, với 105.833.08 bị cáo trong số đó (2008 đến 2019) có 36.367 người tái phạm, tái phạm nguy hiểm và cũng thời gian đó,
có 9.790 trường hợp được xóa án tích, bình quân mỗi năm là 815,83 trường hợp Để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, việc xác định án tích và
Trang 13xóa án tích nói riêng cần tiến hành những biện pháp đồng bộ trong cơ chế kiểm soát người bị kết án Tuy nhiên, nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến lược cải cách
tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) còn có những hạn chế, bất cập nhất định về chế định án tích bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, hậu quả pháp l của án tích luôn gắn liền với việc hạn chế
quyền tự do của người bị kết án Tuy một số quy định về án tích và xóa án tích theo BLHS năm 2015 có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn thiếu sót như chưa xây dựng định nghĩa pháp l của khái niệm án tích; đương nhiên được xóa án tích chỉ áp dụng cho hình phạt chính đã ảnh hưởng đến hình phạt
bổ sung là phạt tiền; cách tính thời hạn xóa án tích không thống nhất nhau giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung…
Thứ hai, thực tiễn xét xử và áp dụng luật hình sự theo quy định của
BLHS năm 2015 có một số nội dung liên quan đến xóa án tích chưa đáp ứng với yêu cầu đặt ra, đó là tính thống nhất giữa các quy phạm trong chế định này chưa chặt chẽ, rõ ràng, cụ thể đã tạo ra xung đột với các chế định khác có liên quan trong BLHS năm 2015 như đặc xá, đại xá, án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện Việc hướng dẫn, giải thích áp dụng thống nhất pháp luật
về án tích cũng chưa được các cơ quan có trách nhiệm thực hiện do đó việc nhận thức và áp dụng chế định án tích của những người tiến hành tố tụng ở một số địa phương trong thực tiễn không thống nhất Những quy định về án tích theo BLHS năm 2015 nếu chậm được khắc phục, hoàn thiện một cách đầy đủ, thống nhất sẽ tác động không nhỏ việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013
Thứ ba, án tích không chỉ được điều chỉnh bởi luật hình sự mà còn tồn
tại ở các khía cạnh khác của xã hội, phản ánh về trạng thái đạo đức với một chỉ số quan trọng thông qua số liệu thống kê hình sự Thống kê không thể là
Trang 14thước đo duy nhất để đánh giá sự phát triển của một hiện tượng xã hội, nhưng
ở khía cạnh nghiên cứu khoa học luật hình sự, thì án tích phản ánh trạng thái tội phạm bị cáo buộc để xác định xu hướng diễn ra trong xã hội ở các trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có chất chuyên nghiệp Nội dung của án tích bao gồm các tác động của luật hình sự và quy phạm có tính chất hình sự Hậu quả pháp l chung của án tích cấu thành nội dung các biện pháp tác động sau chấp hành hình phạt, do đó cần được quy định rõ trong BLHS những vấn đề cơ bản nhất, bảo đảm có tính chi phối, dẫn dắt các quy định khác có liên quan về án tích Cùng với đó, nhiều vấn đề l luận và thực tiễn
về án tích còn có các kiến khác nhau dẫn tới cách thức thực hiện không thống nhất, thấy rõ qua thống kê số lượng tái phạm, tái phạm nguy hiểm và xóa án tích Do đó, cần làm sáng tỏ về mặt l luận và lập pháp hình sự của chế định này
Thứ tư, Nghị quyết số 48/NQ ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã xác
định “cần xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân” [20] Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua các thiết chế cơ bản được xây dựng, hoàn thiện; quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng việc ghi nhận ở Hiến pháp năm 2013 Do
đó, việc nghiên cứu so sánh, đối chiếu quy định pháp luật nói chung với kinh nghiệp lập pháp hình sự tiến bộ của các quốc gia trên thế giới để tham khảo, chọn lọc tìm giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam khi tiếp nhận, đáp ứng mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Mặc dù BLHS năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua và được sửa đổi, bổ sung ngay sau khi chưa đưa vào thi hành, tuy nhiên việc sửa đổi,
bổ sung về án tích còn chưa triệt để Mặt khác, án tích và một số vấn đề liên
Trang 15quan đến giai đoạn chấp hành hình phạt tuy được nghiên cứu, đề cập nhưng chưa phản ánh đầy đủ, toàn diện trong các tài liệu khoa học và trong pháp luật hình sự nước ta, đòi hỏi phải nghiên cứu thêm
Với những l do như trên, NCS chọn đề tài: “Những vấn đề lý luận và
thực tiễn về chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam” làm luận án tiến sĩ
luật học rõ ràng có tính thời sự cấp thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm sâu sắc những vấn đề l luận về chế định án tích trong luật hình sự, phân tích, đánh giá thực tiễn pháp luật hình sự Việt Nam, cũng như thực tiễn áp dụng chế định án tích ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự quy định về án tích và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định án tích trong thực tiễn xét xử
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, NCS đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
1) Nghiên cứu các quan điểm về án tích để xây dựng khái niệm và nội dung, đặc điểm và quả pháp lý của chế định án tích, chỉ ra cơ sở của việc quy định chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam
2) Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về án tích qua các giai đoạn lịch sử để rút ra nhận xét
3) Nghiên cứu, so sánh BLHS một số nước (Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp và Vương quốc Thụy Điển) quy định về án tích trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm về lập pháp hình sự trong quá trình hoàn thiện BLHS năm 2015 về án tích
Trang 164) Phân tích, làm rõ thực trạng áp dụng chế định án tích ở Việt Nam trong những năm qua (2008 - 2019) để đánh giá thành công và hạn chế, từ đó chỉ ra các nguyên nhân cơ bản
5) Đưa ra yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện quy định BLHS năm 2015 về chế định án tích, cũng như đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng chế định này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là những vấn đề l luận về chế định án tích, quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 và BLHS một
số nước về án tích, chế định án tích và thực tiễn áp dụng trong thời gian qua ở nước ta
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng xóa án tích trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp, tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp một số nước khi nghiên cứu về án tích làm sâu sắc thêm đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu luận án chỉ giải quyết những vấn đề nào mà theo quan điểm của NCS là cơ bản và quan trọng hơn cả nên trong phạm vi của một luận án tiến sĩ NCS không thể nào giải quyết hết được một cách toàn diện những vấn đề có liên quan trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam về chế định án tích đối với (i) Pháp nhân thương mại phạm tội và (ii) người dưới 18 tuổi phạm tội Vấn đề này cần được nghiên cứu, giải quyết bằng những công trình khoa học khác không bao hàm trong phạm vi luận án đang đề cập
Về thời gian nghiên cứu, luận án nghiên cứu thực tiễn thi hành (áp dụng) pháp luật hình sự về án tích của Tòa án các cấp trong phạm vi cả nước trong 12 năm (2008 - 2019)
Trang 174 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở l luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước
và pháp luật, về đấu tranh phòng và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật, các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp l như: Lịch
sử pháp luật, l luận về pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, xã hội học pháp luật, luật tố tụng hình sự và triết học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành của các một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài, các văn bản pháp luật của nhà nước
Cơ sở phương pháp luận của luận án là phép biện chứng duy vật, các luận điểm tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, củng
cố pháp chế, tính tối thượng của pháp luật, bảo vệ các quyền con người và quyền công dân Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu NCS sử dụng đồng bộ các phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt l luận từng vấn đề tương ứng các phương pháp như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, thống kê hình sự…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học của từng vấn đề tương ứng Các phương pháp nghiên cứu được NCS
sử dụng cụ thể sau:
Chương 1: Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh được NCS sử
dụng để phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Phương pháp phân tích, diễn giải, quy nạp, nghiên cứu lịch
sử được sử dụng để xây dựng khái niệm về án tích, chế định án tích Ngoài ra,
Trang 18phương pháp so sánh luật học cũng được sử dụng khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài về án tích và những giá trị của nó có thể tham khảo cho Việt Nam
Chương 3: Phương pháp lịch sử, tổng hợp, phân tích quy phạm,
thống kê được sử dụng để làm rõ thực trạng quy định của pháp luật hình
sự về án tích và thực tiễn áp dụng nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật của chế định này
Chương 4: Phương pháp phân tích, đánh giá, thống kê, đối chiếu và sử
dụng nguồn tài liệu thứ cấp được sử dụng để phân tích, đánh giá những hạn chế, thiết sót trong thực tiễn áp dụng pháp luật về án tích Ngoài ra, phương pháp tổng hợp và phân tích còn được sử dụng để nghiên cứu xây dựng các quan điểm, đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm bảo đảm hiệu quả áp dụng chế định án tích
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện những vấn đề l luận và thực tiễn về chế định án tích trong khoa học luật hình sự Việt Nam ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất (BLHS năm 1985) Đóng góp mới về khoa học của luận án thể hiện những nội dung chính sau đây:
Một là, luận án đã làm sáng tỏ những vấn đề l luận để xây dựng nên
khái niệm khoa học về chế định án tích (khái niệm án tích, chế định án tích, đặc điểm, cơ sở của việc quy định, hậu quả pháp l của án tích );
Hai là, nghiên cứu quy định về án tích theo BLHS Việt Nam trong sự
so sánh với BLHS một số nước trên thế giới (Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp và Vương quốc Thụy Điển) để rút ra bài học kinh nghiệm cho nước ta;
Ba là, phân tích lịch sử hình thành và phát triển chế định án tích từ sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
Trang 19Bốn là, trên cơ sở phân tích, đánh giá những hạn chế, thiết sót từ quy
định trong BLHS, thực tiễn thi hành (áp dụng) quy định về chế định án tích, luận án đưa ra các yêu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật và các giải pháp hoàn thiện, cũng như bảo đảm áp dụng quy định của BLHS về chế định này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận: Đây là công trình nghiên cứu đồng bộ, có hệ thống và toàn
diện những vấn đề l luận và thực tiễn về chế định án tích theo luật hình sự
Việt Nam với các đóng góp về mặt khoa học nêu trên
Về thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá đúng đắn của việc áp dụng chế định
án tích vào thực tiễn thi hành, đồng thời phân tích những hạn chế, thiết sót từ các quy định của chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam, nhằm đề xuất
và luận chứng sự cần thiết phải khắc phục, hoàn thiện pháp luật và đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng chế định án tích trong thực tiễn
Những đề xuất, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định BLHS năm 2015
về chế định án tích được nêu ra và phân tích trong luận án có giá trị tham khảo cho các nhà lập pháp trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định này
Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
áp dụng chế định án tích
7 Kết cấu luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham
khảo, luận án gồm 4 Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án; Chương 2: Những vấn đề l luận về chế định án tích theo luật hình sự;
Chương 3: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 và một số nước về
chế định án tích và thực tiễn thi hành;
Chương 4: Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015
về chế định án tích và các giải pháp bảo đảm áp dụng
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Hình phạt là hình thức pháp l chủ yếu của TNHS đối với tội phạm
Sự hiện diện của án tích, theo luật hình sự quy định đưa đến hậu quả pháp l nhất định cho người bị kết án về một tội phạm Án tích, một khái niệm liên quan đến luật hình sự, đến việc chịu TNHS, thể hiện sự lên án thông qua phán quyết có tội bởi một Tòa án về hình phạt hoặc xử phạt hình sự khác Nhìn tổng thể, án tích chủ yếu liên quan đến nhân cách con người, tình trạng pháp l của nó, trong nhiều trường hợp, xác định vị trí và vai trò của họ trong đời sống xã hội Điều này, đến lượt nó, đòi hỏi sự chú đặc biệt đến bản chất pháp l và bản chất xã hội của án tích, bởi những tác động tiêu cực đối với xã hội của một con người cụ thể luôn giữ vai trò quyết định Mặt khác, án tích còn có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện hình phạt, tái hòa nhập xã hội của cá nhân những người đã chấp hành sự trừng phạt Do đó, nghiên cứu về chế định án tích đã được quan tâm, nghiên cứu trong khoa học và thực tiễn Trên cơ sở này, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án cho thấy
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, chủ đề về án tích chưa được nghiên cứu chuyên sâu và công bố được nhiều do đó, chưa có một nghiên cứu xuyên suốt vấn đề này Trên thực tế, án tích mới chỉ được nghiên cứu cùng với những chế định khác trong Phần chung BLHS Trong phạm vi tư liệu hiện có dưới đây, NCS thống
kê các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề án tích trực tiếp hoặc gián tiếp đã được công bố theo phạm vi, mức độ khác nhau và đi sâu phân
tích theo hướng tiếp cận theo hai nhóm sau: 1) Các công trình nghiên cứu trên
phương diện khoa học luật hình sự về án tích; 2) Các công trình nghiên cứu
Trang 211.1.1 Các công trình nghiên cứu trên phương diện khoa học luật hình sự về chế định án tích
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, các công trình chủ yếu đề cập đến khái niệm và bản chất pháp l của án tích
1.1.1.1 Về khái niệm án tích
Phần lớn các công trình nghiên cứu được đề cập trong Giáo trình, Sách chuyên khảo hoặc các bài báo đều xác định, án tích là “hậu quả pháp
l ” được nêu ở phần “xóa án” trong cuốn sách “Mô hình lý luận về Bộ luật
hình sự Việt Nam”, của tác giả Phạm Hồng Hải (Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 1993) [22, tr.276]; trong chuyên khảo “Nguyên tắc nhân đạo trong luật
hình sự Việt Nam” của tác giả Hồ Sỹ Sơn (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2009) [47, tr.229]; chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật
hình sự (Phần chung) của tác giả Lê Văn Cảm (Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2005) [14, tr.826]; chuyên khảo “Thuật ngữ pháp lý: Sách tham khảo,
Tập 1” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2003) [26, tr.10] Hậu quả pháp l đó gắn với hình phạt được tuyên trong bản
án đối với người phạm tội [14, tr.826; 24, tr.10] và án tích “là một tình tiết có nghĩa pháp l ” để đánh giá tính chất nguy hiểm nếu tái phạm [22, tr.276]
hay đó chỉ là một “vết tích đã từng bị kết án của người phạm tội”, bắt đầu khi
chấp hành xong hình phạt và được xóa [47, tr.229] hoặc đơn thuần chỉ là “hậu
quả pháp l của việc bị kết án” trong “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,
Phần chung” mà tác giả Trần Thị Quang Vinh (Nxb Hồng Đức, Hà Nội,
2012) chỉ ra [57, tr 415] Nói cách khác, án tích là “giai đoạn cuối cùng của
của việc thực hiện trách nhiệm hình sự” khi đã chấp hành xong bản án nhưng
vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích và chỉ thực sự “chấm dứt
TNHS” nếu đương nhiên hết (được xóa) án tích theo các quy định của pháp
luật đối với người bị kết án [14, tr.826]
Trang 22Dưới góc độ khác, án tích và hết án tích từ phương pháp tiếp cận theo
quy định của BLHS về “xóa án tích” thì “xóa án tích”, nghĩa là “người bị kết
án không còn mang án tích” và “chịu hậu quả nào do việc kết án mang lại”
trong cuốn sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam 1999, Tập I
Phần chung”của tác giả Trần Đình Nhã (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội,
2001) [35, tr.222] hay nói cách khác, là việc “xóa bỏ bản án hình sự đối với
một người đã bị Tòa án kết án” được nêu trong cuốn sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, Phần chung” của tác giả Đinh Văn Quế (Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 2000) [37, tr.387] sau khi đã chấp hành xong hình phạt trong một thời gian nhất định và có những điều kiện bắt buộc có thể
được coi là chưa can án và được cấp giấy chứng nhận trong “Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam, Phần chung” của tác giả Đỗ Đình Hòa (Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2011) [3, tr.265] làm “chấm dứt TNHS của người bị kết án” do được xóa án tích theo các quy định của luật hình sự trong bài viết “Chế định
án tích và mô hình lý luận của nó trong Luật hình sự Việt Nam”, của tác giả
Lê Văn Cảm (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2) [13, tr.60]
Trong bài viết, “Án tích theo Bộ luật hình sự Việt Nam 1999”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật (số 12)/2011 [47, tr.64-65], tác giả Hồ Sỹ Sơn dẫn quan điểm khác về nhận định “án tích là hậu quả pháp l của bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội” và cho rằng: 1) Bất kỳ ai đã bị Tòa án kết
án đều phải mang án tích, nhưng không phải ai trong số đó cũng phải chịu những hậu quả pháp l nhất định mà chi những người nào phạm tội mới trong thời gian còn mang án tích mới phải chịu những tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại Điều 40 và các điều luật khác Phần các tội phạm của BLHS năm 1985; 2) Án tích không phải là hậu quả pháp l mà là điều kiện được quy định trước nhằm thử thách những người bị kết án, đã chấp hành xong hình phạt có trở thành người lương thiện được hay không; 3) Nếu
Trang 23hiểu án tích là hậu quả pháp l của bán án kết tội của Тòa án đối với người phạm tội sẽ gây hiểu nhầm rằng, người bị kết án bị coi là có án tích trong cả thời gian chấp hành hình phạt Trong khi đó, người bị kết án bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhất định sau khi đã chấp hành xong hình phạt và tương tự, BLHS năm 1999 cũng không đưa ra khái niệm án tích nên
có những quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, “xóa án tích là xoá bỏ bán án hình sự đối với một người đã bị Tòa án kết án”, theo tác giả quan điểm này không chính xác Nếu hiểu “xóa án tích là xóa bỏ bản án ” thì cũng có thể hiểu án tích là bản án, trong khi đó, án tích không thể là bản án vì người bị kết án bị coi là có án tích sau khi đã chấp hành xong hình phạt trên thực tế Theo quy định pháp luật hình sự, việc một người mang án tích lại phạm tội mới thì án tích được coi là tình tiết đó định khung hình phạt (theo Điều 49 và nhiều điều luật thuộc Phần các tội phạm BLHS năm 1999) trong một số trường hợp việc một người mang án tích lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì án tích được coi là yếu tố điều kiện cấu thành tội phạm Tác giả cũng phân tích quy định của BLHS năm 1999 về xóa án tích và đề xuất hoàn thiện BLHS năm 1999 theo hướng, bổ sung vào chế định xóa án tích một khái niệm
mà nội dung của nó phản ánh được bản chất của án tích [47, tr.64-65]
Liên quan đến nhóm nghiên cứu này, NCS sẽ nêu và phân tích cụ thể ở Chương 2 của luận án nhằm minh chứng cho sự xuất hiện nổi bật của các khái niệm về án tích
1.1.1.2 Về bản chất pháp lý của án tích
Từ việc xây dựng khái niệm về án tích, tác giả Hồ Sỹ Sơn trong chuyên
khảo “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 2009) [48, tr.229] cho rằng, án tích không phải là biện pháp mang tính chất trừng trị, mà ngược lại là biện pháp nhằm khuyến khích người
đã bị kết án từ bỏ hẳn quá khứ tội lỗi của mình để được coi là người chưa
Trang 24từng bị kết án Tương đồng với quan điểm này, theo tác giả Lê Văn Cảm
trong sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
(Phần chung) (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005) thì bản chất pháp l
của chế định án tích mang tính “nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và
được thể hiện trong việc hủy bỏ hậu quả pháp lý hình sự đối với người bị kết
án, tức là chấm dứt hoàn toàn TNHS của người đó khi người đó đáp ứng đầy đủ những điều kiện để được đương nhiên hết án tích hoặc được Tòa án xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự” [14, tr.831] Trong
sách chuyên khảo này, (tại Mục VII, Chương VIII - Các biện pháp tha miễn trong luật hình sự) [14, tr.882-837] ngoài việc xây dựng các khái niệm có liên quan đến chế định án tích, phân tích các đặc điểm cơ bản, tác giả Lê Văn Cảm
đưa ra mô hình l luận và kiến giải lập pháp với tên gọi của Chương là: “Án
tích” thay thế cho tên gọi “Xóa án tích” theo BLHS năm 1999 và kiến giải 4
Điều luật của Chương theo hướng: (i) Khái niệm án tích; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của án tích; (ii) Không có án tích, là người được đương nhiên công nhận là chưa bị kết án trong các trường hợp (miễn hình phạt, hết
án tích, xóa án tích) Hết án tích, nếu người bị kết án không phải về một trong các tội được quy định tại Chương (tương ứng Chương XI và Chương XXIV BLHS năm 1999) nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án kết tội người đó không phạm tội mới trong thời hạn (có thể giữ nguyên quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d của khoản 2 Điều
64 BLHS năm 1999), người hết án tích được đương nhiên công nhận là chưa
bị kết án mà không cần phải xem xét và không cần phải có quyết định riêng của Tòa án về vấn đề này; (iii) Xóa án tích, Tòa án xem xét và quyết định xóa
án tích cho người bị kết án về một trong các tội… (tương ứng Chương XI và Chương XXIV BLHS năm 1999) nếu căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động
Trang 25của họ trong các trường hợp (có thể giữ nguyên quy định tại điểm a, điểm b
và điểm c khoản 1 của Điều 65 BLHS năm 1999), người được xóa án tích được công nhận là chưa bị kết án theo quyết định riêng của Tòa án về vấn đề này; (iv) Các thời hạn được tính khi hết án tích và khi xóa án tích: Căn cứ vào hình phạt chính đã được tuyên (có thể giữ nguyên quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của Điều 67 BLHS năm 1999) Tương tự, tác giả Lê Văn
Cảm trong chuyên khảo “Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt
Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” (Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2012) [15, tr.450-452] đã đưa ra các luận điểm về hoàn thiện chính sách hình sự và pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nhằm bảo vệ quyền con người, trong đó có chế định án tích Trên cơ sở đó, tác giả tiếp tục đưa ra mô hình l luận, kiến giải lập pháp về chế định án tích như đã trình bày
ở phần trên
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng chế định án tích
Trong bài viết, “Nhận diện các trường hợp xóa án tích trong công tác
quản lý lý lịch tư pháp”, Số 2/2011 [33, tr.33-36], tác giả Nguyễn Thanh Mai
đưa ra các nhận định sau:
Thứ nhất, về thời hiệu thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
được quy định tại Điều 55 BLHS năm 1999 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ngày 02/10/2007
về thời hiệu thi hành án và việc xóa án trong những trường hợp rơi vào thời hiệu thi hành án Theo đó, thời hiệu thi hành án hình sự là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn này thì người bị kết án sẽ không phải chấp hành bản án đã tuyên Tuy nhiên, nếu trong thời hạn tính thời hiệu thi hành án đó
mà người bị kết án lại phạm tội mới, thì thời hiệu thi hành án sẽ được tính lại
kể từ ngày phạm tội mới Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh, đã có
Trang 26quyết định truy nã theo quy định của pháp luật, thì thời gian trốn tránh không được tính Thời hiệu thi hành bản án đó được tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ Tuy nhiên, đối tượng được miễn thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà Tòa án tuyên thuộc trường hợp hết thời hiệu thi hành án nêu trên thì vấn đề án tích và việc xóa án đặt ra cho đối tượng trong trường hợp này như thế nào? Có được đương nhiên xóa án không? Thời hạn xóa án được tính như thế nào và từ khi nào? Trường hợp không phải thi hành án này là do các cơ quan có thẩm quyền có “lỗi” trong việc không ra quyết định thi hành án, dẫn đến bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật không được thi hành Song thời gian xóa án vẫn đặt ra và tính theo đúng quy định tại Điều 64, 67 BLHS năm 1999 và tính từ ngày bản án, quyết định đó được miễn thi hành (coi như đó là ngày người bị kết án đã chấp hành xong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật)
Thứ hai, xóa án tích trong các trường hợp đối tượng không có khả năng
chấp hành hình phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí Trong thực tế người bị kết án chỉ có khả năng chấp hành một phần hoặc không có khả năng chấp hành như nói ở trên nếu có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người
đó cư trú hoặc làm việc, Tòa án sẽ nghiên cứu và cân nhắc về việc xóa án tích đối với họ cụ thể như sau: (i) nếu người bị hại không còn yêu cầu đối tượng phải bồi thường thiệt hại, thì Tòa án sẽ ra quyết định xóa án tích cho người bị kết án và ngược lại (ii) nếu chỉ liên quan đến hình phạt chính hoặc hình phạt
bổ sung là hình phạt tiền, đối tượng bị kết án lại lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có khả năng chấp hành hình phạt tiền mà Tòa án đã tuyên thì căn cứ vào tình hình thực tế của họ, Tòa án sẽ quyết định miễn chấp hành một phần hình phạt hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt Tuy nhiên, nếu là phạt tiền, bồi thường thiệt hại cho Nhà nước hoặc việc nộp án phí thì trước khi quyết định xóa án tích, Tòa án phải xem xét và quyết định miễn chấp hành
Trang 27toàn bộ những vấn đề nêu trên cho người bị kết án nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật được 10 năm Sau đó mới xem xét và quyết định về việc xóa án tích đối với họ Nếu chưa hết thời hạn đó thì sẽ không được xem xét xóa án
Thứ ba, trong trường hợp một người đang trong thời gian xóa án mà
lại phạm tội mới và có bản án mới thì việc xóa án tích đối với người đó được thực hiện như sau: thứ nhất, việc xác định thời gian xóa án tích đối với bản
án cũ được tính lại kể từ ngày đối tượng chấp hành xong bản án mới (toàn
bộ hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác trong bản án mới); thứ hai, thời điểm xóa án đối với bản án mới cũng được tính từ thời điểm người bị kết án chấp hành xong toàn bộ nội dung trong quyết định của bản án mới đó
Thứ tư, một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội độc lập và bị đưa
ra xét xử cùng một lần trong cùng một bản án Khi tuyên án, có nhiều loại hình phạt chính, hình phạt bổ sung cũng như mức bồi thường thiệt hại được
áp dụng đối với mỗi hành vi khác nhau Trong trường hợp này việc xem xét xóa án cho đối tượng đặt ra như thế nào? Khi xét xử một lần về nhiều hành
vi phạm tội, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập Căn cứ Điều 50 BLHS, Tòa án phải tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội, sau đó khi bản
án có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất để xác định thời gian xóa án Tuy nhiên, bản án gồm nhiều tội đó cũng chỉ được xóa khi và chỉ khi các quyết định khác trong bản án đã được đối tượng chấp hành đầy đủ
Thứ năm, trường hợp xóa án tích đối với những bản án khác loại, cần
chú một số nội dung: một người đang chấp hành thời gian thử thách của bản
án cho hưởng án treo, thì phát hiện trước khi thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án cho hưởng án treo này, người phạm tội đã thực hiện một hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Hành vi mới phát hiện này đã bị khởi tố, điều tra,
Trang 28truy tố và xét xử với hình phạt 7 năm tù Trong trường hợp này người bị kết
án phải thi hành hai loại bản án khác nhau, một bản án cho hưởng án treo và một bản án phạt tù 7 năm Do bản án sau xét xử về tội mà người bị kết án không thực hiện trong thời gian thử thách của án treo, cũng như không phạm tội trong thời gian xóa án tích Vì vậy, việc tính thời gian xóa án đối với người này cũng được thực hiện độc lập đối với từng bản án
Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, trong mọi trường hợp Tòa án quyết định buộc họ phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 BLHS Trong trường hợp này, người phạm tội phải chấp hành mức hình phạt tù chung của cả hai bản án và thời điểm xóa án được tính khi người bị kết án ra tù cũng như họ đã chấp hành xong toàn bộ những quyết định khác trong bản án (quyết định bồi thường thiệt hại và án phí trong cả hai bản án)
Ngoài ra, bài viết “Một số vướng mắc, bất cập từ những quy định về
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và xóa án tích trong Bộ luật hình sự”,
Tạp chí Kiểm sát, số 8/2015 [60, tr.28-32], tác giả Phạm Minh Tuyên cho rằng, án tích là việc một người bị Tòa án kết án và chưa được xóa án Quy định chế định án tích và xóa án tích trong BLHS thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với người bị kết án và việc đặt ra chế định xóa án tích nhằm khuyến khích người bị kết án nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội [60, tr.31] Khi đã đủ điều kiện để được xóa án tích quy định tại Điều 64 BLHS thì người bị kết án đương nhiên được xóa án tích (tức là coi như chưa phạm tội) Tòa án không phải cấp giấy chứng nhận cho tất cả những người được đương nhiên xóa án tích mà chỉ cấp giấy chứng nhận khi những người được đương nhiên xóa án tích có đơn yêu cầu Tác giả cho rằng, việc quy định điều kiện để tính thời
Trang 29hạn xóa án tích là kể từ khi người phạm tội chấp hành xong toàn bộ các quyết định của bản án và không phạm tội mới trong thời hạn như đã nêu cũng nảy sinh những vướng mắc và đưa ví dụ minh họa một bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và buộc cấp dưỡng nuôi con người bị hại hàng tháng l.000.000 đồng xác định thời điểm tuyên án từ 1 tuổi đến khi
đủ 18 tuổi Tác giả Phạm Minh Tuyên đặt ra tình huống, khi người bị kết án chấp hành xong các quyết định của Bản án và thuộc đối tượng đương nhiên xóa án theo quy định tại Điều 64 BLHS Do bản án tuyên cấp dưỡng hàng tháng, đại diện hợp pháp của người bị hại không nhận cấp dưỡng một lần dẫn tới người bị kết án muốn tự nguyện chấp hành xong toàn bộ các quyết định của bản án cũng không được và như vậy để được tính thời hạn xóa án tích như trường hợp trên thì người bị kết án phải đợi 18 năm sau kể từ khi tuyên án mới được tính thời hạn đề xóa án tích Hoặc trường hợp buộc phải cấp dưỡng nuôi bố mẹ của người bị hại đã chết thì lại không có thời hạn cụ thể mà nhanh hay chậm là do tuổi thọ của người được cấp dưỡng, thì người phạm tội vẫn cứ phải mang án tích mà không thể xóa án tích được vì chấp hành xong bản án tức là phải chấp hành xong tất cả các quyết định của bản án Từ đây, tác giả
đề nghị, BLHS cần sửa đổi theo hướng, trường hợp mà bản án tuyên đối với người phạm tội phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hoặc bố, mẹ của người
bị hại đã chết, thì thời hạn để xóa án tích đối với họ được tính kể từ khi họ đã chấp hành xong các hình phạt chính, hình phạt bổ sung, bồi thường thiệt hại,
án phí Còn việc cấp dưỡng chỉ coi là nghĩa vụ của họ phải thực hiện theo Luật thi hành án dân sự, mà không nên quy định trong BLHS, tránh trường hợp người phạm tội cho tới lúc chết vẫn phải mang án tích [60, tr.31-32]
Trong bài viết “Xóa án tích theo Bộ luật hình sự 2015”, Tạp chí TAND
số 7 (kì 1 tháng 4/2017) [61, tr.28-32], tác giả Phạm Minh Tuyên cho rằng, có một số vướng mắc, nhiều nội dung của quy định đương nhiên xóa án tích còn
có những nhận thức khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng cụ thể:
Trang 30Một là, đương nhiên được xóa án tích (Điều 70 BLHS năm 2015) Quy
định này hiện có hai quan điểm về thời hạn để tính đương nhiên xóa án tích: (i) Thời hạn để được coi là đương nhiên xóa án tích được tính từ khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách của án treo như quy định tại khoản 1 Điều 70, còn việc họ chấp hành hình phạt bổ sung hoặc các quyết định khác của bản án không ảnh hưởng đến thời hạn để được đương nhiên xóa án tích (ii) Dù chấp hành xong hình phạt chính (hoặc từ khi hết thời gian thử thách của án treo), người phạm tội vẫn phải chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian quy định Thời gian được xóa án tích sẽ bắt đầu được tính từ khi họ chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, vấn đề có lợi chỉ là thời hạn mà họ không thực hiện hành vi phạm tội mới được rút ngắn hơn Tác giả đồng với cách tính thời hạn để được coi
là đương nhiên xóa án tích phải áp dụng như quan điểm thứ nhất nghĩa là, chỉ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án thì mới được áp dụng thời hạn theo quy định
để tính đương nhiên xóa án tích Còn việc hình phạt chính đã tuyên chỉ là căn
cứ áp dụng thời hạn để xóa án tích chứ không phải là tính thời hạn để đương nhiên xóa án tích là từ khi chấp hành xong hình phạt chính đã tuyên Quy định về cách tính thời hạn đương nhiên xóa án tích chưa thực sự bảo vệ quyền con người, quyền công dân đối với người phạm tội Từ đó, tác giả cho rằng,
có những người đến khi chết vẫn chưa được xóa án tích bởi quy định người được xóa án tích phải chấp hành xong tất cả các quyết định của bản án, kể cả hình phạt bổ sung, bồi thường thiệt hại trong đó, bản thân họ không có khả năng bồi thường nên không biết bao giờ họ mới được tính thời hạn để xóa án tích Tương tự, những trường hợp phải cấp dưỡng nuôi con hoặc bố, mẹ già của người bị hại, nếu không thỏa thuận được thì phải cấp dưỡng theo hàng
Trang 31tháng, nên có những trường hợp cấp dưỡng tới 18 năm, có trường hợp cấp dưỡng tới lúc chết thậm chí có trường hợp người phải cấp dưỡng lại chết trước người được cấp dưỡng Vì vậy, tác giả đề nghị sửa đổi quy định về thời hạn để tính đương nhiên được xóa án tích theo hướng “Đương nhiên được xóa
án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong các quyết định hình sự của bản án” Các quyết định hình sự của bản án, chính là hình phạt chính
Hai là, cách tính thời hạn để xóa án tích Qua nghiên cứu những vấn đề
liên quan đến xóa án tích theo quy định của BLHS năm 2015 thì thấy, tại khoản 2 Điều 69 và Điều 107 quy định rõ năm trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích, gồm: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm
ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ; người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; người đã thành niên bị kết án do lỗi vô về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; người được miễn hình phạt
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 73 về cách tính thời hạn để xóa án tích có nhiều điều chưa hợp l đó là: (i) Theo quy định tại khoản 2 Điều 73 thì một người đã bị kết án chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại, có phải bắt đầu được tính kể từ khi họ chấp hành xong hình phạt chính chứ không cần phải chấp hành xong tất cả các quyết định khác của bản án? Nếu vậy thì có mâu thuẫn với quy định tại Điều 70, 71 không - tác giả đặt câu hỏi? Trong khi đó, khoản 2 Điều 71 còn quy định thêm
cụm từ “hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới” Như vậy, người bị
kết án, chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị đưa ra
Trang 32xét xử, lần phạm tội này đối với họ đã bị coi là tái phạm (ii) Quy định tại khoản 2 Điều 107 về xóa án tích có sự mâu thuẫn với Điều 70 và gây bất lợi cho người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Vì quy định tại khoản 1 Điều 101 quy
định về tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi thì “1 Đối với
người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định” Tác giả đưa ra ví dụ để minh họa: Một người 17 tuổi phạm tội
“Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” bị xét xử theo khoản 2 Điều 134 BLHS năm 1999, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 5 năm đến 12 năm Nếu người bị kết án là người thành niên thì bị xử 6 năm tù, nhưng người bị kết án mới 17 tuổi nên mức hình phạt của họ bằng ba phần tư
là 4 năm 6 tháng Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích của họ sẽ là 2 năm, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều
107 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích của họ lại là 3 năm Đây chính
là sự mâu thuẫn giữa quy định tại khoản 2 Điều 107 với khoản 1 Điều 70 BLHS năm 2015 và gây bất lợi cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong trường hợp tính thời hạn để đương nhiên được xóa án tích
Trong bài viết “Chế định xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 2015”,
Tạp chí Luật học số 12/2016 [50, tr.107-114] tác giả Đào Phương Thanh phân tích bản chất, đặc điểm pháp l của chế định xóa án tích và những điểm quy định mới của chế định xóa án tích trong BLHS năm 2015 trên cơ sở so sánh với quy định tương ứng của BLHS năm 1999 Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi (phạm tội) bị kết án tại Điều 107 BLHS năm 2015 có một sổ điểm mới không những gây bất lợi hơn trong việc xóa án tích so với quy định của BLHS năm 1999 mà còn mâu thuẫn với quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015, cụ thể là: Khoản 1
Điều 77 BLHS năm 1999 quy định “Thời hạn để xóa án tích đối với người
Trang 33chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của Bộ luật này” (1 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm) Trong khi đó, tại khoản 2 Điều 107 BLHS
năm 2015 quy định, “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 3 năm tính từ khỉ chấp hành xong hình phạt chính ” Mặt khác, thời hạn để đương nhiên được xóa án tích được quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 chỉ có 4 mức thời hạn là: 1 năm, 2 năm (trường hợp bị phạt tù đến 5 năm), 3 năm, 5 năm Như vậy, theo khoản 2 Điều
107 BLHS năm 2015, trường hợp người 17 tuổi bị kết án 3 năm tù về tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS năm 2015 thì thời hạn để được xóa án tích với người này là “ 3 năm ” (trong khi đó nếu theo BLHS năm 1999, thời hạn để được xóa án tích với người này chỉ là 1 năm 6 tháng còn nếu áp dụng như đối với người đã thành niên theo khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 thì thời hạn để được xóa án tích với người này chỉ là 2 năm)
Trong bài viết “Lý lịch tư pháp và vấn đề xóa án tích”, Tạp chí Dân chủ
& Pháp luật, Số 12(297)/2016 [32, tr.7 -11] tác giả Đỗ Thị Thúy Lan nêu các quy định BLHS năm 2015 về chế định xóa án tích, quy định của pháp luật về
l lịch tư pháp (LLTP) liên quan đến vấn đề xóa án tích từ đó đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về LLTP, cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo quy định của BLHS năm 2015, đối tượng người bị kết
án phải mang án tích là hẹp hơn so với quy định của BLHS năm 1999 do đó, pháp luật về LLTP cần có sự điều chỉnh phù hợp về đối tượng quản l LLTP cũng như các quy định về nguồn thông tin LLTP, các loại văn bản do các cơ quan có thẩm quyền cung cấp, phạm vi lập hồ sơ LLTP…
Thứ hai, BLHS năm 2015 đã rút ngắn thời hạn xóa án tích và điều
chỉnh thời điểm để tính thời hạn được xóa án tích theo hướng sớm hơn như đã phân tích ở trên Vì vậy, pháp luật về LLTP cần được xem xét, điều chỉnh các
Trang 34quy định liên quan đến việc xác minh điều kiện xóa án tích, cập nhật thông tin
về xóa án tích trong LLTP của cá nhân …
Thứ ba, BLHS năm 2015 đã giao hẳn trách nhiệm cho cơ quan quản l
cơ sở dữ liệu LLTP trong việc theo dõi vấn đề xóa án tích đương nhiên của người bị kết án Do đó, cần thiết phải bổ sung quy định cụ thể về cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa cơ quan quản l cơ sở dữ liệu LLTP và các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, Ủy ban nhân dân cấp xã để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ xác minh, cập nhật thông tin về điều kiện đương nhiên xóa án tích của người bị kết án và thời hạn cấp Phiếu LLTP cho cá nhân
Thứ tư, Điều 89 BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định về xóa án tích
đương nhiên cho các pháp nhân thương mại bị kết án nhưng không giao cho
cơ quan nào có trách nhiệm quản l , theo dõi Tuy nhiên, Điều 446 Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định về thủ tục đương nhiên xóa án tích đối với pháp
nhân, theo đó “Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng
nhận pháp nhân đã được xóa án tích” Như vậy, quy định Bộ luật TTHS năm
2015 thì việc theo dõi và cấp giấy chứng nhận pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích do Tòa án thực hiện Từ đây, đặt ra một vấn đề
là cơ quan quản l cơ sở dữ liệu LLTP có cần thiết lập hồ sơ án tích của pháp nhân để theo dõi và cung cấp thông tin cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hay không? Từ đó, tác giả nghiên cứu sửa đổi Luật LLTP
Ngoài ra, khảo sát các công trình nghiên cứu còn lại trong nước chỉ đề cập đơn thuần mang tính liệt kê quy định của BLHS năm 1999 về xóa án tích
tại các Điều 64, 65, 77 như: 1) Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình luật
hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tái
bản năm 2014 [70, tr.499-502] hoặc nghiên cứu một phần về xóa án tích
Trang 35nhưng dưới góc độ của tội phạm học trong công trình của 2) Vũ Văn Hòa về
“Tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù theo
chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ luật học bảo vệ tại Học viện Cảnh sát nhân dân,
năm 2013 [24, tr.4-155]
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu án tích ở Việt Nam bước đầu đã có những kết quả đáng trân trọng, nhưng hầu hết đều chưa xác định án tích làm đối tượng nghiên cứu chính Các nghiên cứu tuy tiếp cận từ nhiều góc độ, nhưng cũng chỉ đề cập sơ lược về một vài phương diện của xóa án tích; NCS
đã tiếp thu ở nguồn tài liệu này những gợi mở qu báu trong quá trình triển khai luận án của mình
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Với cách tiếp cận rộng, “vết tích” là dấu ấn sâu đậm và rõ nét nhất
trong nền văn minh cổ xưa kéo dài trong những giai đoạn lịch sử khác nhau
của nhân loại, mục đích chỉ dẫn cho cộng đồng việc “lưu giữ” sự trừng phạt
đối với người phạm tội bằng loại hình phạt tương ứng đã thực hiện hoặc cho biết rằng nếu người phạm tội bị cáo buộc là người phạm tội lần đầu hay vi phạm nhiều lần [103, tr.5] Kiểm soát xã hội, ngăn chặn tái phạm làm nảy sinh những tưởng, học thuyết mới về việc thiết lập, quản l hồ sơ tội phạm - người đã bị kết án được các học giả nước ngoài nghiên cứu từ khá sớm và áp dụng chúng vào hệ thống tư pháp hình sự lần lượt xuất hiện ở mỗi quốc gia, khu vực trên thế giới Các nghiên cứu về vấn đề này dẫn nguồn từ các tài liệu thứ cấp là những công trình đã công bố tiêu biểu, NCS phân tích theo hướng tiếp cận của từng nhóm sau: 1) Các công trình nghiên cứu trên phương diện khoa học luật hình sự về án tích; 2) Các công trình nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng xóa án tích
Trang 361.2.1 Các công trình nghiên cứu trên phương diện khoa học luật hình sự về chế định án tích
Trong các công trình nghiên cứu, vấn đề này được phản ánh chủ yếu về mối quan hệ giữa án tích với l lịch tư pháp, gián tiếp đề cập đến nghĩa của việc quy định án tích và hiệu quả trong việc sử dụng để đấu tranh phòng, chống tội phạm, hoàn thiện hệ thống tư pháp, l lịch, trong đó có vấn đề tiền
án, cụ thể như sau:
1) Cuốn sách “Criminal Records in Sweden: Regulation of Access to
Criminal Records and the Use of Criminal Background Checks by Employers” (Lý lịch tư pháp ở Thụy Điển: Quy định về tiếp cận Lý lịch tư pháp và việc sử dụng kiểm tra lý lịch tư pháp của nhà tuyển dụng) (Nxb Department of
Sociology, University of Gothenburg, 2012) [73, tr.13-75] mà tác giả Backman
đề cập khi xem xét quy định về quyền truy cập hồ sơ hình sự đối với người bị kết án - có án tích ở Thụy Điển như là việc sử dụng trong thực tế để kiểm tra l lịch của người sử dụng lao động trong quá trình tuyển dụng của người xin việc
Tác giả phân tích và giải thích theo hai xu hướng dựa trên phỏng vấn các chủ sử dụng lao động và các đại diện tổ chức công đoàn với mục đích để hợp pháp hóa các hạn chế truy cập hoặc sử dụng thường xuyên các dữ liệu
hồ sơ tội phạm trong các quyết định tuyển dụng Dựa vào những phân tích này, tác giả cho rằng những thay đổi trong việc tiếp cận hồ sơ hình sự của các cá nhân, phản ánh cách quản l của Nhà nước đối với việc sử dụng dữ liệu lịch sử hình sự ở Thụy Điển có thể dễ bị tổn thương đến sự riêng tư của một nhóm người
2) Cuốn sách “Towards a european criminal record” (Hướng tới Lý
lịch tư pháp Châu Âu) (Nxb Cambridge University Press, 2008) của tác giả
Constantin Stefanou và Helen Xanthaki (Ed) [75, tr.27-354] với nội dung sau:
Phần thứ I, các tác giả đề cập đến tổng quan của việc ghi nhận người bị
Trang 37kết án có án tích - tiền án trong hệ thống chính trị Châu Âu với giá trị quyền con người trong khi thiết lập nó [75, tr.25-29] Thứ nhất, để đánh giá mức độ hiện tại của tiêu chuẩn hóa trong việc sử dụng các hồ sơ tội phạm như một phương tiện quốc gia về chống tội phạm có tổ chức Thứ hai, để đánh giá trong các điều kiện mức độ so sánh pháp luật quốc gia trong luật pháp Châu
Âu (EU) về việc xóa án tích của người nước ngoài ở nước sở tại và xóa án tích của người bị kết án là công dân trong các nước thành viên Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hiện tại của hồ sơ tội phạm quốc gia, đặc biệt nhấn mạnh vào việc sử dụng hiệu quả trong trường hợp tội phạm xuyên biên giới; sau đó nó sẽ khám phá việc tiếp nhận thông tin trong cấu trúc của các cơ quan trong lĩnh vực tư pháp hình sự, ngoại giao và cuối cùng, đánh giá các công cụ lập pháp EU có thể được sử dụng [75, tr.27-79]
Trong Phần thứ II của cuốn sách, các tác giả nêu ra các quy định về án tích và xóa án tích của người bị kết án trong BLHS và pháp luật có liên quan của 10 quốc gia cụ thể gồm: Áo, Séc, Đức, Hy Lạp, Ireland, Hà Lan, Slovenia, Slovakia, Tây Ban Nha, Anh và xứ Wales [75, tr.105-291] trong đó cho thấy, một án tích có thể được coi là một tình tiết tăng nặng trong vụ án hình sự và là một trong những tiêu chí để xác định loại và mức độ gia tăng của hình phạt (Séc) [75, tr.140], (Tây Ban Nha) [75, tr.281] hoặc (Slovenia) quy định về việc xóa án tích từng loại hình phạt cụ thể [75, tr.226] trong BLHS của mình Ngoài ra, các quy định trực tiếp trong BLHS hoặc pháp luật khác coi án tích mang tính chất bí mật, là quyền riêng tư và truy cập vào các dữ liệu bị hạn chế, chỉ được công bố bởi các cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp nhất định vì mục đích công hoặc cá nhân người bị kết án
3) Cuốn sách “Criminal Records A Database for the Criminal Justice
System and Beyond” (Hồ sơ cơ sở dữ liệu cho hệ thống Tư pháp Hình sự và hơn thế), (Nxb Publisher: Palgrave Macmillan, 2007) [103, tr.5-191] tác giả
Trang 38Terry Thomas cho rằng, việc Tòa án áp đặt bản án bằng hình phạt cho người
bị kết án về tội phạm hình sự đã tạo nên án tích là đối tượng nghiên cứu - chủ
đề của cuốn sách này [103, tr.1] Với mục đích đó, trong Chương 2 của cuốn sách đã cung cấp về nguồn gốc, lịch sử người bị kết án từ năm 1869 (Habitual Criminals Act 1869) của Vương quốc Anh đến đương đại Trong Chương 3, xác định vị trí các hệ thống hiện tại lưu giữ hồ sơ hình sự theo Đạo luật bảo
vệ dữ liệu Chương 4 Theo truyền thống, mục đích lưu giữ phục vụ cho việc điều tra tội phạm mới và hỗ trợ trong tư pháp với các quyết định tuyên án Ban đầu việc lưu giữ này trách nhiệm thuộc về hệ thống các cơ quan tư pháp hình sự (Quản chế, Nhà tù, Tòa án) nhưng sau đó, nó được bổ sung thêm các
tổ chức bên ngoài hệ thống tư pháp hình sự đối với mục đích và các l do khác Chương 5, khái niệm tiền án - có thể được "xóa bỏ" nếu đối tượng không bị tái kết án trong một thời gian nhất định Ý tưởng này nhằm mục đích
hỗ trợ, phục hồi chức năng của người phạm tội, đặc biệt là trong việc giúp họ
có được việc làm Chương 6, người sử dụng lao động có nhu cầu sàng lọc dựa trên tiền án người phạm tội đã thực hiện đảm bảo phù hợp cho công việc tuyển dụng của họ Sàng lọc trước khi tuyển dụng là quan trọng, đặc biệt trong trường hợp đối với những người làm những công việc có sự tiếp cận với trẻ em và kiểm tra hồ sơ tội phạm là sự cần thiết để thiết lập việc bảo vệ phúc lợi của trẻ em trong các nhà trẻ, trường học Chương 7, chỉ ra nguồn gốc trong Đạo luật Cảnh sát năm 1997 được triển khai thực hiện từ năm 2002 và xem xét các hiện tượng mới của hồ sơ hình sự như là một “hàng hóa có thể bán được” [103, tr.151] Trong Chương 8, triển vọng quốc tế trong việc sử dụng các tiền án hình sự xuyên biên giới thông qua hệ thống Europol và Interpol Chương cuối cùng, đề xuất những tưởng trong việc sử dụng các hồ sơ hình
sự với định hướng phát triển của chúng trong tương lai
Trang 394) Cuốn sách “Criminal Records: State, Citizen and the Politics of
Protection” (Lý lịch tư pháp: Nhà nước, công dân và chính sách bảo vệ) (Nxb
Publisher: Avebury, 2007) [72, tr.5-103] của tác giả Bill Hebenton, Terry Thomas Nội dung cuốn sách này, các tác giả đề cập và phản ánh tương đối rõ ràng về lịch sử sự phát triển của hệ thống hồ sơ hình sự tại Anh, Mỹ và Châu
Âu Trình bày các hệ thống tổ chức lưu trữ, duy trì và phổ biến thông tin được
lưu trữ tại các Trung tâm lưu trữ hồ sơ hình sự; chức năng, mục đích sử dụng chúng cho việc xóa án tích cả bên trong và bên ngoài hệ thống tư pháp hình sự
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng chế định án tích
Tương tự, các công trình trên phương diện thực tiễn cũng đề cập đến vấn đề xóa án tích gắn với tư pháp phục hồi, hệ thống pháp l về cơ sở dữ liệu trung tâm đối với người phạm tội bị kết án nguồn thông tin không chỉ sử dụng
để đánh giá tư cách đạo đức của cá nhân nào đó (có tiền án hay không) mà còn phục vụ cho mục đích kiểm soát xã hội, hạn chế quyền tự do đi lại, lao động di trú, hành nghề được pháp luật nhiều nước trên thế giới quy định
Đặc biệt, khi đề cập đến vấn đề này ở một số nước Châu Âu, Tạp chí European
Journal of Probation, số 3(1)/2011 với một loạt nghiên cứu cụ thể như:
1) Tác giả Martine Herzog-Evans với nghiên cứu “Judicial rehabilitation
in France: Helping with the desisting process and acknowledging achieved desistance” (Tư pháp phục hồi ở Pháp: Hỗ trợ quá trình chấm dứt và nhận thức sự chấm dứt đạt được), đã ủng hộ quan điểm đã được cụ thể hóa bằng
các quy định, trong đó tạo ra nghi lễ để bào chữa có tính chất cứu chuộc, điều
đó sẽ củng cố sự chắc chắn của chính người phạm tội đã thực sự chối bỏ - khước từ - chấm dứt thành công hành vi phạm tội trong quá khứ, thuyết phục cộng đồng và xã hội chấp nhận rằng họ đã trở thành một công dân tốt Một nghi lễ như vậy tồn tại trong hệ thống pháp luật của Pháp, dưới tên gọi “Tư
Trang 40pháp phục hồi” Tuy nhiên, trước khi người phạm tội hoàn toàn thừa nhận đạt được sự “khước từ” đó, hệ thống pháp luật của Pháp sẽ tiến hành thực hiện
quá trình “chấm dứt” thông qua một loạt các thủ tục để xóa hẳn tất cả hoặc
một phần của án tích Nghiên cứu này giải thích l do của việc nghiên cứu chế
độ lao tù và cuối cùng là các kỹ thuật để xóa bỏ án tích trong chức năng tư pháp phục hồi [90, tr.4]
2) Tác giả Miranda Boone trong nghiên cứu: “Judicial Rehabilitation in
the Netherlands: Balancing between safety and privacy” (Tư pháp phục hồi ở
Hà Lan: Cân bằng giữa an toàn và sự riêng tư), đã xác định sau khi người bị
kết án đã chấp hành hình phạt, coi như một bản án kết thúc và án tích không nên tồn tại Tác giả cho rằng, với thời gian loại bỏ một án tích là 30 năm trở lên, người bị kết án không có cơ hội thứ hai trong cuộc đời mình để tái hòa nhập cộng đồng Điều này chỉ đúng trong hệ thống tư pháp hình sự, nhưng đối với cơ hội phục hồi chức năng của người phạm tội thì những lợi ích đó đối với họ nằm bên ngoài hệ thống tư pháp hình sự Hệ thống tư pháp Hà Lan hiện đang thiếu các nghi lễ chính thức phục hồi chức năng để thông qua đó người phạm tội có thể yêu cầu Tòa án hoặc Sở Tư pháp xóa bỏ (một phần) hồ
sơ tội phạm của họ sau một thời gian không phạm tội mới [91, tr.70-78]
3) Tác giả Christine Morgenstern trong nghiên cứu: “Judicial Rehabilitation
in Germany - The Use of Criminal Records and the Removal of Recorded Convictions” (Tư pháp phục hồi ở Đức - Việc sử dụng các lý lịch tư pháp và xóa
bỏ sự kết án được ghi lại), chỉ ra hai mục đích: Thứ nhất, tìm hiểu hệ thống
pháp l về cơ sở dữ liệu trung tâm đối với người phạm tội bị kết án của Đức, những tiếp cận hạn chế vào dữ liệu được lưu trữ và các chế độ khác nhau về việc xóa dữ liệu đó Nghiên cứu này chỉ ra sự liên quan đến vấn đề tái hòa nhập xã hội như một quyền của người phạm tội và đối với cơ hội của họ trong việc tìm kiếm nơi làm việc, một yếu tố quyết định của quá trình tái hội nhập