Bên cạnh đó, quá trình thực hiện các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự nói chung và trong các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng cũng gặp p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lường Văn Minh
Trang 4: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 8
1.1 Lý luận về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 8
1.1.1 Khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 8
1.1.2 Đặc điểm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 9
1.1.3 Ý nghĩa của quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 11 1.2 Khái quát về tranh chấp hợp đồng tín dụng và đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 14
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng 14
1.2.2 Đặc điểm của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 17
1.3 Khái niệm và đặc điểm người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 22
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 23
2.1 Những quy định chung về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 23 2.1.1 Điều kiện trở thành người đại diện trong tố tụng dân sự 23
2.1.2 Người đại diện theo pháp luật 24
2.1.3 Người đại diện theo ủy quyền 31
2.2 Những quy định cụ thể về người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 51
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 52
Trang 63.1 Những vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về
người đại diện của đương sự trong các vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng 52
3.1.1 Người đại diện theo pháp luật của bị đơn bỏ trốn hoặc vì lý do khác không thể làm người đại diện theo pháp luật của bị đơn trong quá trình tố tụng 52
3.1.2 Xác định đương sự và người đại diện của đương sự trong trường hợp tổ chức tín dụng bán nợ 57
3.1.3 Thay đổi người đại diện theo ủy quyền 66
3.1.4 Việc đương sự ủy quyền cho nhiều người đại diện tham gia tố tụng gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án 69
3.1.5 Xác định sai tư cách tham gia tố tụng của chi nhánh ngân hàng dẫn đến xác định sai tư cách người đại diện trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 72
3.1.6 Viện kiểm sát kháng nghị không đúng do hiểu sai quy định pháp luật về trường hợp không được làm người đại diện 74
3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, sai sót khi áp dụng các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong thực tiễn giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 79
3.3 Một số kiến nghị nhằm khắc phục những vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng các quy định về người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 84
3.3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự 84
3.3.2 Kiến nghị khác 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là một trong những quyền
cơ bản của công dân và đã được ghi nhận như là một trong những nguyên tắc hiến
định “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng,
cạnh đó, Điều 16 của Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Đó cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng của tố tụng
dân sự, theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Đương sự khi tham gia tố tụng dân sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, được ủy quyền hoặc nhờ người khác có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình Tòa án phải đảm bảo cho các đương sự thực hiện được quyền bảo vệ của họ
Trong TTDS, đương sự thường tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng, vì vậy, để bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, họ phải tham gia tố tụng thông qua người đại diện
Có thể nói, chế định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và tạo thuận lợi cho tòa án trong giải quyết các vụ việc dân sự
Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự chủ động
và tích cực trong hội nhập quốc tế, các quan hệ kinh tế diễn ra ngày càng phong phú đa dạng, trong đó sự phát triển của các quan hệ tín dụng có ý nghĩa to lớn đối với các hoạt động kinh tế Các hoạt động tín dụng mà điển hình là hoạt động vay
Trang 8vốn đã thúc đẩy quá trình sản xuất, lưu thông và phát triển kinh tế Cùng với sự tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ, trong những năm gần đây, số lượng các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng được giải quyết tại Tòa án có chiều hướng gia tăng, phức tạp, một số quy định pháp luật chưa rõ ràng gây khó khăn trong quá trình áp dụng thống nhất pháp luật để giải quyết tại Tòa án, trong đó có vấn đề người đại diện của đương sự Trên thực tế, khi có tranh chấp xảy ra, các chủ thể trong quan hệ hợp đồng tín dụng thường sử dụng người đại diện của mình để tham gia giải quyết tranh chấp, đặc biệt là bên tổ chức tín dụng thường thông qua người đại diện để tham gia
tố tụng trước Tòa án
Sự tham gia của người đại diện có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp nêu trên Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) đã có các quy định tương đối đầy đủ về người đại diện của đương sự trong TTDS, từ đó tạo cơ sở pháp lý tốt cho việc tham gia tố tụng của người đại diện Qua thực tiễn thực hiện, người đại diện đã và đang khẳng định được vị thế và vai trò của mình trong TTDS Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật TTDS về người đại diện của đương sự còn chưa rõ ràng, chưa phù hợp
… Bên cạnh đó, quá trình thực hiện các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự nói chung và trong các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng cũng gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự
về tranh chấp hợp đồng tín dụng có ý nghĩa làm sáng tỏ những vướng mắc từ các quy định pháp luật và trong quá trình thực hiện, qua đó đề xuất những kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Trang 9Ví dụ, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Thị Quỳnh Châu (2019)
Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, Học viện khoa học xã hội; Luận văn thạc sĩ luật học “Đại diện theo pháp luật của đượng sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thu Hoài, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016; Luận văn thạc sĩ luật học Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam của tác giả Tưởng Duy
Tiến, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018; Luận văn thạc sĩ luật học
“Người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Cao Thị
Bích Ngọc, năm 2019, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Về sách tham khảo, chuyên khảo đã xuất bản có đề cập tới vấn đề người đại diện của đương sự trong
TTDS, có thể kể ra các công trình như “Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật TTDS và thực tiễn áp dụng” của TS Lê Thu Hà (2006); sách “Pháp luật TTDS và thực tiễn xét xử” của tác giả Tưởng Duy Lượng (2009), Sách “Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ biên) năm 2017…
Trên báo và tạp chí đã có một số bài viết như: “Một vài suy nghĩ về đại diện trong TTDS” của tác giả Tưởng Duy Lượng trên tạp chí khoa học pháp lý (số 1/ 2007); bài viết “Đại diện theo ủy quyền, từ pháp luật nội dung đến TTDS” của tác
giả Nguyễn Minh Hằng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 05/2005; bài viết
“Một số vấn đề về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong TTDS” của
tác giả Nguyễn Thị Hạnh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2011, bài viết
“Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - nhìn từ góc độ Luật so sánh” của tác giả Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 04/2009; bài viết “Người đại diện của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số
9/2016…
Các công trình nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân
sự ở các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, bài viết khoa học ở các tạp chí trên
Trang 10đây đã tìm hiểu các vấn đề cơ bản về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân
sự như khái niệm, đặc điểm, địa vị pháp lý của người đại diện của đương sự trong
tố tụng dân sự; thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự; kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Có thể nói, các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của các công trình trên đây đã cơ bản bao quát được hầu hết vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự theo BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và BLTTDS 2015 Trên cơ sở các nội dung đã được nghiên cứu trong các công trình trên, luận văn này sẽ tiếp tục kế thừa những kết quả đã được nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu, tìm hiểu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự theo quy định hiện hành đó là BLTTDS 2015 và nghiên cứu chuyên sâu về người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng – một trong những loại tranh chấp phổ biến được Tòa án giải quyết hiện nay và có nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh liên quan đến người đại diện của đương sự
Về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn Có thể kể đến như: Luận văn thạc
sĩ luật học “Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản qua thực tiễn xét xử tại Vĩnh Phúc” của tác giả Hoàng Văn Bích, năm 2014, Khoa Luật, Đại Học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học “Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” của tác giả Hồ Thị
Khuyên, năm 2016, Khoa Luật, Đại Học Quốc gia Hà Nội ; Luận văn thạc sĩ luật
học “Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ” của tác giả Trần Tuấn Anh, năm 2016, Học viện khoa học
xã hội….Các công trình này đã nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung về hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực trạng pháp luật về hợp đồng tín
Trang 11dụng, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án một địa phương cụ thể, từ đó các công trình này đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Luận văn này sẽ tiếp tục kế thừa những kết quả nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ở các công trình trên đây Tuy nhiên, luận văn tập trung nghiên cứu, tìm hiểu chuyên sâu về một nội dung cụ thể trong các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, hiện nay trong thực tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều vướng mắc, hạn chế đó là vấn đề người đại diện của đương sự trong các vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là nhằm làm rõ những vướng mắc, bất cập, hạn chế khi áp dụng các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự vào thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án
Để có thể đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ
sau đây:
Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, về hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng tín dụng, làm rõ những đặc điểm của đương sự trong vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng, từ
đó phân tích làm rõ những đặc điểm của người đại diện của đương sự trong vụ án
dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng
Thứ hai, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về
người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Thứ ba, phân tích thực tiễn thực hiện quy định về người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng, qua đó, nêu ra được một số
Trang 12hạn chế, bất cập, nguyên nhân của chúng và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật về vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự nói chung và người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng, các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về người đại diện của đương sự trong
vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và
thực tiễn pháp luật về người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt
Nam về người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, cũng như thực tiễn thực hiện các quy định này tại các Tòa án nhân dân ở Việt Nam
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về người đại diện của đương sự
trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật hiện hành khác có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm, phân tích vụ việc thực tiễn, thống kê, so sánh…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm rõ những hạn chế, bất cập khi áp dụng các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự vào thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng –
Trang 13một trong những loại tranh chấp phổ biến nhất hiện nay được Tòa án giải quyết Từ
đó, luận văn nêu kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập nói trên, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án
Những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa tham khảo để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự và áp dụng đúng đắn các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án Bên cạnh đó, luận văn là tài liệu tham khảo đối với cán bộ, sinh viên và những người làm công tác pháp luật trong thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Chương 2: Các quy định pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng và một số kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1.1 Lý luận về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Về mặt ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt người đại diện là người được
cử thay mặt cho cá nhân, tập thể làm việc gì [52, tr.279] Trong cuốn Từ điển Từ
Hán Việt năm 2001 đại diện được hiểu là “thay mặt”[5, tr.134] Có thể thấy, dưới
góc độ chung nhất thì người đại diện là người thay mặt cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện một công việc nhất định
Nhìn từ góc độ pháp lí, theo cuốn Từ điển Luật học năm 2006, người đại
diện được hiểu là “Người nhân danh và vì lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [51, tr.575] Như vậy,
người đại diện là người thay mặt cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng dân sự
và có các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo quy định
Các đương sự trong tố tụng dân sự thường tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người khác có thể thay mặt đương sự tham gia tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, những người tham gia
tố tụng này được gọi là người đại diện của đương sự Khi tham gia tố tụng tại Tòa
án, các đương sự có thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS được pháp luật quy định, hoặc có thể thông qua người khác thay mặt mình tham gia tố tụng là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền Ngoài ra, có những trường hợp trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, các đương sự bị rơi vào tình trạng không thể tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án như người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự mà không có ai thay mặt họ để tiếp tục tham gia tố tụng, hoặc có người đại diện nhưng người đó lại thuộc trường hợp pháp luật quy định không được làm người đại diện Khi đó, Tòa án có quyền chỉ định người thay mặt đương sự tham gia tố tụng Việc chỉ định này để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 15pháp chính đáng của đương sự Người thay mặt cho đương sự trước Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự là người đại diện của đương sự trong TTDS
Như vậy, qua phân tích trên đây, có thể hiểu người đại diện của đương sự trong TTDS là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng trước Tòa án và thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự
Căn cứ vào cơ sở pháp lí để những người đại diện tham gia TTDS, người đại diện của đương sự được chia thành ba loại: người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền và người đại diện do Tòa án chỉ định
Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự là người theo quy định của pháp luật được thay mặt đương sự tham gia tố tụng trước Tòa án
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự
Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự là người được đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền để thay mặt đương sự tham gia tố tụng trước Tòa án và thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự
Người đại diện do Tòa án chỉ định là người tham gia tố tụng thay mặt đương
sự thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự theo sự chỉ định của Tòa án trong trường hợp đương sự là người không thể tự mình tham gia tố tụng mà không
có người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện thuộc trường hợp pháp luật
quy định không được làm người đại diện cho đương sự
1.1.2 Đặc điểm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, người đại diện của đương sự nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự
Bản chất của quan hệ đại diện là việc người đại diện thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của người đại diện cũng phụ thuộc vào nội dung quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự
Trang 16Người đại diện của đương sự có thể có một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự
Người đại diện không đương nhiên có tư cách tố tụng để tham gia vào quá trình giải quyết một vụ việc dân sự cụ thể Tư cách đó do pháp luật quy định trong một số trường hợp cụ thể hoặc do đương sự trao cho họ thông qua cơ chế ủy quyền Người đại diện của đương sự đồng thời tham gia hai quan hệ pháp luật, một là quan
hệ đại diện, hai là quan hệ tố tụng Quan hệ đại diện là tiền đề để người đại diện tham gia tố tụng, nếu không có quan hệ đại diện thì một người không thể có tư cách
tố tụng của đương sự thay đương sự tham gia tố tụng
Như vậy, người đại diện thay mặt đương sự (người được đại diện) thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự Người đại diện thực hiện các quyền
và nghĩa vụ tố tụng đó dưới danh nghĩa của đương sự, vì quyền lợi của đương sự Điều này phân biệt người đại diện với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, không bị ràng buộc bởi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự như người đại diện
mà chủ yếu tham gia tố tụng bằng việc hỗ trợ, giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý và bằng việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự
Người đại diện của đương sự thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa
vụ tố tụng của đương sự, vì vậy, quyền và nghĩa vụ của người đại diện phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự Quyền, nghĩa vụ tố tụng của những đương sự ở vị trí tố tụng khác nhau thì khác nhau, do đó người đại diện của từng loại đương sự khác nhau thì thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau Ngoài ra, quan hệ đại diện có nhiều dạng khác nhau, trong mỗi dạng quan hệ đại diện, người đại diện có phạm vi đại diện khác nhau cho người đại diện, theo đó,
Trang 17người đại diện sẽ được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự ở mức độ khác nhau
Thứ ba, mục đích tham gia tố tụng dân sự của người đại diện của đương sự
là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vì lợi ích của đương sự
Trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, người đại diện có thể được hưởng tiền thù lao nếu có thỏa thuận, còn trong quan hệ đại diện theo pháp luật, việc thay mặt đương sự tham gia tố tụng là nghĩa vụ của người đại diện và người đại diện không
được hưởng các lợi ích vật chất từ quan hệ này
Thứ tư, người đại diện của đương sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có đủ năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS và không thuộc những trường hợp pháp luật cấm không được làm người đại diện trong TTDS
Người đại diện của đương sự trong TTDS có chức năng thay mặt cho đương
sự tham gia quan hệ pháp luật TTDS, trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, vì vậy người đại diện của đương sự trong TTDS cần thỏa mãn các điều kiện nhất định:
+ Cá nhân, pháp nhân có năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi TTDS) Theo đó, cá nhân phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự Còn đối với pháp nhân, pháp nhân đó phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi TTDS phù hợp với công việc đại diện
+ Cá nhân, pháp nhân không thuộc các trường hợp không được làm người đại diện hợp pháp
Đây là các trường hợp mà những người đại diện hợp pháp của đương sự có thể có xung đột lợi ích với người được đại diện hoặc sự tham gia tố tụng của các chủ thể này có thể tác động đến những người tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết khách quan vụ án nên họ không được tham gia với tư cách người đại diện trong TTDS
1.1.3 Ý nghĩa của quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, người đại diện của đương sự trong TTDS góp phần bảo vệ quyền
Trang 18và lợi ích hợp pháp của đương sự Mục đích của TTDS là bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước Muốn bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự phải tham gia tố tụng trước Tòa án, hay nói cách khác là phải thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng vì
họ là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc trường hợp không được làm người đại diện đây là những trường hợp đương sự không đáp ứng điều kiện có đầy đủ năng lực hành vi TTDS theo quy định pháp luật nên không thể tham gia tố tụng Nếu không thể tham gia tố tụng thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ không được đảm bảo Vì vậy, cần phải có người đại diện của đương sự để thông qua đó đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngoài ra, trong một số trường hợp, mặc dù đương sự là người có năng lực hành vi TTDS đầy đủ, có thể tự mình tham gia tố tụng trước Tòa
án, nhưng do trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế hoặc vì một lý do khách quan nào đó mà không tham gia tố tụng được, đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích cho mình một cách tốt hơn, thuận tiện hơn Vì vậy, chế định người đại diện của đương sự giúp cho việc tham gia TTDS của đương sự được thuận tiện hơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
họ
Thứ hai, người đại diện của đương sự còn góp phần làm cho việc giải quyết
vụ việc dân sự của Tòa án được thuận lợi vì họ giúp cơ quan tiến hành tố tụng kết
nối được với đương sự một cách hiệu quả, nhất là trong những trường hợp đương
sự không thể tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng Người đại diện theo pháp luật của đương sự thay mặt đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện nên Tòa án phải chỉ định người đại diện, nếu không thông qua người đại diện thì đương sự trong những trường hợp này sẽ không thể tự bảo vệ quyền, lợi
Trang 19ích hợp pháp của mình trước Tòa án, bên cạnh đó cũng gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Sự tham gia tố tụng của người đại diện sẽ giúp cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, thuận lợi Vì khi tham gia quá trình tố tụng người đại diện sẽ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng của đương sự mà mình đại diện Trong những quyền, nghĩa vụ tố tụng
đó, có những quyền có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự như quyền chứng minh cho yêu cầu của mình, quyền cung cấp chứng cứ , nhờ vậy Tòa án có cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, thuận lợi hơn Bên cạnh đó, sự tham gia của người đại diện, nhất là người đại diện là luật sư được đương sự ủy quyền tham gia tố tụng hoặc là người hiểu biết pháp luật cũng giúp cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được thuận lợi hơn
Sự tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự trong TTDS làm cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, thuận lợi, giúp ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Chế định người đại diện của đương sự trong pháp luật TTDS chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tham gia tố tụng của người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án Chế định người đại diện của đương sự trong TTDS cũng là một trong những phương thức giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân được tốt hơn Nội dung cơ bản của chế định này bao gồm: quy định
về điều kiện trở thành người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, quy định
về căn cứ xác lập đại diện, quy định về thời hạn đại diện và phạm vi đại diện, quy định về chấm dứt đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Hiện nay, ở Việt Nam, tranh chấp hợp đồng tín dụng là loại tranh chấp rất phổ biến tại tòa án Số lượng vụ án dân sự, kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng được các tòa án Việt Nam thụ lý, giải quyết ngày càng gia tăng theo các năm Tòa án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các tranh chấp này, trong đó có vướng mắc về xác định tư cách đương sự và người đại diện của đương sự Do đó, ở những phần tiếp theo, luận văn sẽ nghiên cứu sâu về
Trang 20người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2 Khái quát về tranh chấp hợp đồng tín dụng và đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với bên kia là cá nhân, tổ chức thỏa mãn điều kiện luật định (bên đi vay), theo đó, bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn theo thỏa thuận, hết thời hạn đó bên đi vay phải trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng phản ánh thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và bên vay trong việc xác lập quan hệ cho vay, trong đó có các quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể làm cơ sở cho các bên cùng thực hiện Hợp đồng tín dụng mang bản chất của quan hệ dân sự, do vậy khi ký kết, các bên tham gia hợp đồng tín dụng cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự như tự
do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, bình đẳng, thiện chí, trung thực, tự chịu trách nhiệm nhưng không được vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội Với cách hiểu như trên thì hợp đồng tín dụng bao gồm hai yếu tố: Về phương diện hình thức, sự thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) phải được thể hiện bằng văn bản Về phương diện nội dung, bên cho vay thỏa thuận để bên vay được sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả, dựa trên sự tín nhiệm
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng phổ biến nhất là tranh chấp về việc thực hiện nghĩa
vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho tổ chức tín dụng; tranh chấp về các loại lãi suất, phí, tiền phạt; tranh chấp về xử lý tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng Đây là những vấn đề cơ bản nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên
Tranh chấp hợp đồng tín dụng có những đặc điểm sau đây:
Trang 21Thứ nhất: Tranh chấp hợp đồng tín dụng thường có giá trị lớn hoặc rất lớn
Khi kí kết hợp đồng tín dụng, bên đi vay thường có nhu cầu lớn về vốn mà không thể tự mình xoay xở được Nhu cầu đó có thể là để bổ sung vốn kinh doanh đối với
tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình Do đó, số tiền này không phải là nhỏ và không dễ dàng vay được từ các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội mà không phải là tổ chức tín dụng
Thứ hai: Tranh chấp hợp đồng tín dụng luôn có sự tham gia của một bên là
tổ chức tín dụng và trong phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụng, tổ chức tín
dụng tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn Trong mối quan hệ hợp đồng tín
dụng, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì tổ chức tín dụng về cơ bản đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Do đó, nếu có tranh chấp xảy
ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện tổ chức tín dụng
Thứ ba: Đa phần các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng là các tranh
chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho tổ chức tín dụng, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong
hợp đồng tín dụng Bởi vì những nghĩa vụ này chính là những nghĩa vụ chủ yếu
nhất trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên và việc thực hiện này
có tác động trực tiếp đến quyền lợi của tổ chức tín dụng
Thứ tư: Tranh chấp hợp đồng tín dụng thường gắn liền với hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các tổ chức tín dụng khi tham gia vào hợp đồng tín dụng đều có mục đích lợi nhuận Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường tổ chức tín dụng chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương án dự phòng của tổ chức tín dụng khi rủi ro xảy ra Khi đó,
Trang 22để đảm bảo cho nghĩa vụ được thanh toán trong hợp đồng tín dụng thì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay
Phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụng đều liên quan đến hợp đồng bảo đảm và tài sản bảo đảm, khiến cho tranh chấp hợp đồng tín dụng trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với tranh chấp hợp đồng thông thường, vì nó liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều tài sản bảo đảm khác nhau Tranh chấp hợp đồng tín dụng luôn luôn gắn liền với tranh chấp hợp đồng bảo đảm, là cơ sở phát sinh tranh chấp về hợp đồng bảo đảm Thậm chí, trong hầu hết các tranh chấp hợp đồng tín dụng hiện nay, các bên thường tranh cãi về các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo đảm chứ không tranh cãi về các điều khoản cho vay trong hợp đồng tín dụng
Tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể được phân loại theo nội dung tranh chấp như tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi của bên vay, tranh chấp về các loại lãi suất, phí, tiền phạt, tranh chấp về xử lý tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng Tranh chấp về xử lý tài sản bảo đảm
là dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng rất phổ biến và phức tạp nhất hiện nay Đây
là trường hợp bên vay đã vi phạm nghĩa vụ hoàn trả nợ, và tổ chức tín dụng khởi kiện đòi nợ đồng thời yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay
Theo tính chất của tranh chấp, tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể được chia làm hai loại: tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp hợp đồng tín dụng thường là tranh chấp kinh doanh thương mại vì
nó phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các bên (tổ chức tín dụng
và khách hàng vay) đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận Tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc loại tranh chấp kinh doanh thương mại thường
có giá trị rất lớn, liên quan đến nhiều tài sản bảo đảm, nhiều chủ thể và phức tạp hơn so với tranh chấp dân sự
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp dân sự trong trường hợp hợp đồng tín dụng được ký kết giữa tổ chức tín dụng với các hộ gia đình, cá nhân nhằm mục đích cho vay tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt, sản xuất của cá nhân
Trang 23hoặc hộ gia đình, không nhằm mục đích sinh lợi Trong trường hợp đó, chỉ một bên
tổ chức tín dụng có mục tiêu lợi nhuận
1.2.2 Đặc điểm của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
Đương sự có vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong TTDS nói chung và trong vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng
Đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng đang được xem xét, giải quyết Các đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức
Trước hết, đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng cũng mang những đặc điểm chung của đương sự trong TTDS Họ tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình Họ có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc thông qua người đại diện trong TTDS Họ bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ tố tụng Mặc dù các đương sự với tư cách tố tụng khác nhau có một số quyền và nghĩa vụ khác nhau nhưng với những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ đó, họ có điều kiện thuận lợi như nhau khi tham gia tố tụng để bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Họ đều có quyền tự định đoạt trong TTDS Điều đó nghĩa là việc các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ
là cơ sở làm phát sịnh, thay đổi hay chấm dứt quá trình giải quyết các vụ việc dân
sự Chỉ đương sự mới có quyền tự định đoạt này, trong khi các chủ thể khác có nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự
Từ những đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng đã phân tích ở trên, có thể rút ra những đặc điểm sau đây của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
Thứ nhất, đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là chủ thể của quan hệ hợp đồng tín dụng, và trong quan hệ đó, họ có quyền, lợi ích bị tranh chấp,
bị xâm phạm Quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thực chất là giải quyết các quan hệ pháp luật về hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm
Trang 24(nếu có) phát sinh giữa các chủ thể Đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng chủ yếu tham gia tố tụng để giải quyết việc xung đột quyền, lợi ích trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay và bên vay
Thứ hai, một bên đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng luôn luôn là tổ chức tín dụng và đương sự này có kinh nghiệm thường xuyên tham gia tố tụng tại Tòa án Thực tế đương sự là tổ chức tín dụng trong vụ án tranh chấp hợp
đồng tín dụng thường tham gia với tư cách là nguyên đơn trong vụ án Do tổ chức tín dụng phải tham gia tố tụng trong nhiều vụ án dân sự (không hiếm khi các vụ án này diễn ra đồng thời), nên nhu cầu có người đại diện hợp pháp thay mặt tổ chức tín dụng tham gia tố tụng là rất lớn, và hầu hết là người đại diện theo ủy quyền
Thứ ba, hầu hết các đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ Theo quy định của pháp luật,
hợp đồng tín dụng phải tuân thủ chặt chẽ về nội dung, hình thức, năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay, lãi suất vay, bảo đảm tiền vay, phương thức giải quyết tranh chấp… và phải được giao kết dưới hình thức văn bản Do đó, trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, các đương sự là cá nhân nhìn chung có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy
và có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng
Thứ tư, vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thường có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – tức là những người tuy không khởi kiện, không bị kiện,
nhưng việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, nên họ được tự mình đề nghị, hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường gặp nhất trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là các bên thứ
ba đã dùng tài sản của mình như quyền sử dụng đất, nhà ở, tài sản gắn liền với đất… làm tài sản bảo đảm cho khoản vay tại tổ chức tín dụng Ngoài ra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn là những người đang giữ tài sản bảo đảm, người đang sinh sống tại nơi có đất, tài sản gắn liền với đất mà quyền sử dụng đất và/hoặc
Trang 25tài sản đó đã được thế chấp cho khoản vay tại tổ chức tín dụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn có thể là các chủ nợ khác cùng nhận bảo đảm bằng tài sản bảo đảm cho khoản vay tại tổ chức tín dụng là nguyên đơn trong vụ án, bên mua, bên nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm, người không ký kết hợp đồng bảo đảm nhưng là đồng chủ sở hữu đối với tài sản bảo đảm hoặc có quyền, lợi ích nào đó trên tài sản bảo đảm v.v… Sự có mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khiến cho vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng trở nên rất phức tạp, rắc rối, thời gian giải quyết vụ án kéo dài
Những đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng và đặc điểm của đương
sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.3 Khái niệm và đặc điểm người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.3.1 Khái niệm người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Trong tố tụng dân sự, đương sự thường tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự Tuy nhiên, đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, đương sự thường xuyên sử dụng người đại diện để tham gia tố tụng trước Tòa án, đặc biệt là bên đương sự là tổ chức tín dụng Điều này, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như tính chất phức tạp trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, thời gian tố tụng có thể kéo dài, các bên đương sự muốn người am hiểu quy định pháp luật, am hiểu quy trình tố tụng tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất hoặc đơn giản là bên đương sự là tổ chức tín dụng cùng một lúc phải giải quyết tranh chấp nhiều hợp đồng tín dụng….Vì vậy, việc sử dụng người đại diện thay mặt cho đương sự tham gia tố tụng để giải quyết các vụ
án tranh chấp hợp đồng tín dụng có nhiều ưu điểm và thuận lợi cho đương sự và cả
cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 26Trên cơ sở khái niệm về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự và
khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng, có thể hiểu người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng là người thay mặt nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trước Tòa án để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng đã kí kết
1.3.2 Đặc điểm người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng mang những đặc điểm chung của người đại diện trong tố tụng dân sự như họ
là người nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự; quyền và nghĩa vụ của người đại diện của đương sự phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự; mục đích tham gia tố tụng dân sự của người đại diện của đương sự là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, vì lợi ích của đương sự; người đại diện của đương sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có đủ năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS và không thuộc những trường hợp pháp luật cấm không được làm người đại diện trong TTDS Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất và đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng, đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, người đại diện của đương sự trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng có những đặc điểm riêng như sau:
1.3.2.1 Người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thường là người đại diện theo ủy quyền
Cơ sở để người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia tố tụng trong
vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là theo sự ủy quyền của đương sự
Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng
Trang 27tín dụng tham gia tố tụng và có các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung ủy quyền của đương sự, đó có thể là toàn bộ hoặc một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự mà họ đại diện
Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thường là người được tổ chức tín dụng ủy quyền tham gia tố tụng Bởi vì, trên thực tế các tổ chức tín dụng chỉ có một hoặc một vài người đại diện theo pháp luật mà các tranh chấp hợp đồng tín dụng xảy ra rất nhiều trên thực tế, các tổ chức tín dụng không thể và không đủ khả năng cùng một lúc cử người đại diện theo pháp luật để tham gia tố tụng trong nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng đang được giải quyết tại Tòa án Cũng không ít trường hợp đương sự là bên vay vốn (bị đơn) hoặc bên thế chấp tài sản (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng
1.3.2.2 Trong một số trường hợp khi tổ chức tín dụng bán nợ, tổ chức tín dụng chuyển vai trò từ đương sự thành người đại diện theo ủy quyền của đương sự
Qua thực tiễn hiện nay, trong các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, một số trường hợp khi tổ chức tín dụng bán nợ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (gọi tắt là VAMC) và VAMC thường ủy quyền lại cho chính tổ chức tín dụng đó tham gia tố tụng, trong trường hợp này, tổ chức tín dụng sẽ tham gia tố tụng với vai trò người đại diện theo
ủy quyền, mặc dù trước đó, chính tổ chức tín dụng này là chủ thể của hợp đồng tín dụng được ký kết có xảy ra tranh chấp Năm 2013, VAMC được thành lập và đi vào hoạt động, từ đó đến nay đã thực hiện việc mua lại các khoản nợ xấu hàng chục nghìn tỷ đồng từ các tổ chức tín dụng Khi tổ chức tín dụng bán khoản nợ từ hoạt động tín dụng của mình cho VAMC, đồng nghĩa với việc chuyển giao đầy đủ quyền và nghĩa vụ cho VAMC, trong đó có cả quyền, nghĩa vụ tố tụng, tức là khi tham gia tố tụng thì VAMC mới là đương sự, thường là nguyên đơn của vụ án dân
sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, trên thực tế, VAMC chỉ có một hoặc một số người đại diện theo pháp luật mà các vụ việc VAMC phải tham gia tố
Trang 28tụng, thường tham gia với tư cách nguyên đơn khởi kiện để thu hồi khoản nợ đã mua từ tổ chức tín dụng là rất lớn, vì vậy người đại diện theo pháp luật của VAMC không thể tự mình tham gia được hết tất cả các vụ án theo quy trình tố tụng, họ thường ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác thay mặt mình tham gia tố tụng và thường là ủy quyền cho chính tổ chức tín dụng đã bán khoản nợ cho mình trước đó
để tham gia tố tụng, thay mặt mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bởi vì, chính tổ chức tín dụng đã bán khoản nợ là bên hiểu hơn ai hết nội dung và diễn biến quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng mà trước đó họ là bên cho vay Sau khi đã bán khoản nợ cho VAMC thì các tổ chức tín dụng này sẽ được chính VAMC ủy quyền bằng hợp đồng ủy quyền để là người đại diện cho VAMC
tham gia tố tụng để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Người đại diện của đương sự là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Hiện nay, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng diễn ra ngày càng phổ biến và thường xuyên, tìm hiểu được khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng tín dụng là cơ sở quan trọng để tìm hiểu về nội dung của đề tài Thông qua việc tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện của đương sự trong TTDS và hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tác giả đã tìm hiểu về đặc điểm đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng và đặc điểm người đại diện của đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng Từ sự tham gia tố tụng của người đại diện góp phần nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thuận lợi hơn cho hoạt động tố tụng, đặc biệt đối với các vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng như hiện nay
Trang 29CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN TRANH
tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật” và “Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự”
2.1.1 Điều kiện trở thành người đại diện trong tố tụng dân sự
BLTTDS năm 2015 đã có một sự thay đổi lớn trong quy định về người đại diện của đương sự so với BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, đó là quy định người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự
Một cá nhân hoặc pháp nhân muốn làm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự thì phải có năng lực chủ thể, nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà họ đại diện BLTTDS năm 2015 không quy định rõ điều kiện về năng lực chủ thể của người đại diện mà dẫn chiếu sang Bộ luật dân sự năm
2015 Khoản 3 Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau: “Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện”
Đối với người đại diện theo pháp luật của đương sự, họ phải được pháp luật quy định hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (Tòa án chỉ định người đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự) Còn
Trang 30đối với người đại diện theo ủy quyền của đương sự, họ phải được đương sự ủy quyền hợp pháp Ngoài ra, người đại diện không thuộc các trường hợp không được làm người đại diện của đương sự được quy định tại Điều 87 BLTTDS 2015 Đó là các trường hợp:
+ Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại diện
mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;
+ Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc
+ Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Kiểm sát, Công an không
được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện
theo pháp luật
2.1.2 Người đại diện theo pháp luật
Người đại diện theo pháp luật là người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo quy định pháp luật Cơ sở tham gia tố tụng dân sự của người đại diện xuất phát từ quy định của pháp luật Khoản 2 Điều
85 BLTTDS 2015 quy định như sau: “Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật ”
Đối với người đại diện theo pháp luật, ngoài các điều kiện về nội dung, người đại diện phải đáp ứng một số điều kiện về hình thức như: có giấy tờ tùy thân nhằm chứng minh cá nhân làm đại diện đã đủ tuổi để có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, giấy tờ chứng minh quan hệ đại diện theo pháp luật cho đương sự như sổ
hộ khẩu, giấy khai sinh trong trường hợp là đại diện của pháp nhân thì phải có Điều lệ thành lập hoặc quyết định thành lập trong đó chứng minh tư cách người đại diện
Trang 31a) Căn cứ phát sinh đại diện theo pháp luật
Quan hệ đại diện theo pháp luật phát sinh dựa trên cơ sở quy định của pháp luật Bộ luật dân sự quy định khá cụ thể về diện những người đại diện theo pháp luật dựa trên cơ sở người đại diện có quan hệ mang tính bền vững, ổn định với người được đại diện như quan hệ huyết thống, hôn nhân, hoặc quan hệ pháp lí khác được pháp luật ghi nhận
Trong những trường hợp cá nhân không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình để tham gia giao dịch dân sự nói chung hoặc tham gia TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nói riêng, họ phải thông qua người đại diện do pháp luật quy định Còn đối với pháp nhân, chủ thể này không thể trực tiếp thực hiện hành vi TTDS cụ thể mà nhất thiết phải thông qua chủ thể có khả năng thực hiện hành vi đó là cá nhân Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2014 thì cơ sở làm phát sinh người đại diện theo pháp luật của pháp nhân dựa trên quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
* Đối với cá nhân
+ Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên (trừ người từ đủ
15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình): cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên Người giám hộ là đại diện theo pháp luật trong trường hợp người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha,mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ (Điều 47 Bộ luật dân sự 2015) Người giám hộ của người chưa thành niên bao gồm những người theo thứ tự sau đây: người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015; người giám hộ do Ủy ban nhân dân cấp
Trang 32xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ và người giám hộ do Tòa án chỉ định khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015 về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ (Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015)
+ Người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự: chính là người giám hộ đương nhiên của họ Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định theo Điều 53
Bộ luật dân sự 2015 như sau: trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ
là người giám hộ; trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ
là người giám hộ; trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa
có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ Người giám hộ trong tất cả các trường hợp trên đều là người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 53 của Bộ luật dân sự 2015, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ Trường hợp
có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 53 Bộ luật dân sự 2015
về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ
+ Người đại diện theo pháp luật của người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi:
Theo quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015 những trường hợp được xác định là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi “Người thành
Trang 33niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám
hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”
Như vậy người đại diện theo pháp luật của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người giám hộ và phải có sự đồng ý của người được giám
hộ nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu (quy định tại Điều 46 Bộ luật dân sự năm 2015) Theo quy định tại khoản 4 Điều 54 trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật dân sự năm 2015, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật dân sự năm
2015 Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ được thực hiện các quyền theo quyết định của Tòa án
+ Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự do Tòa án chỉ định trong quyết định tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự (Khoản 1 Ðiều 24 Bộ luật dân sự năm 2015) Thông thường, nếu người bị hạn chế năng lực hành vi có vợ (chồng), thì người đại diện là vợ chồng; trong trường hợp người này không có vợ (chồng) thì người đại diện là một người thân thuộc
* Đối với pháp nhân
Để thống nhất với Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 (quy định pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật), Điều 137 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141
Trang 34của Bộ luật này” Có thể nói, “quy định mới này nhằm bảo đảm quyền của thành viên pháp nhân trong việc họ thỏa thuận, lựa chọn nhiều người đại diện theo pháp luật cho pháp nhân của mình đồng thời tạo điều kiện cho pháp nhân nhanh chóng, thuận lợi trong xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý, các hợp đồng, giao dịch của pháp nhân, nhất là đối với pháp nhân hoạt động trên nhiều lĩnh vực hoặc ở nhiều địa bàn khác nhau”[12,tr.28-37] Tuy nhiên, để tránh việc giao kết, thực hiện các giao dịch với người không có thẩm quyền thì Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định mỗi người đại diện theo pháp luật
có quyền đại diện cho pháp nhân trong phạm vi đại diện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật Như vậy, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là cá nhân được quy định là người đại diện theo pháp luật cho pháp nhân trong điều lệ khi thành lập Điều lệ của pháp nhân được xây dựng và ban hành theo quy định của pháp luật chuyên ngành, nó có giá trị bắt buộc thực hiện trong phạm vi quy mô của pháp nhân đó Điều lệ và văn bản pháp lý xác định tư cách cho một cá nhân cụ thể là người đại diện theo pháp luật cho pháp nhân, nhân danh pháp nhân tham gia TTDS Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân sẽ thay mặt pháp nhân thực hiện việc tham gia TTDS tại Tòa án Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể
là do pháp luật quy định hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền
* Trong một số trường hợp, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân
sự được phát sinh theo sự chỉ định của Tòa án Theo quy định tại khoản 1, Điều 88 BLTTDS 2015 “ Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng” Đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận
Trang 35thức, làm chủ hành vi thường sẽ có người đại diện trước và trong quá trình tố tụng, Tuy nhiên, vì một lý do nào đó trong quá trình tố tụng mà những người đại diện này không được, không thể tiếp tục tham gia với tư cách làm người đại diện, khi đó
để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án tiến hành chỉ định người đại diện cho đương sự Có quan điểm coi người đại diện do Tòa án chỉ định trong
tố tụng dân sự thuộc trường hợp là người đại diện theo pháp luật Có quan điểm coi người đại diện do Tòa án chỉ định trong tố tụng dân sự là một trường hợp người đại diện riêng, bên cạnh người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền
b) Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Trong quan hệ đại diện trong TTDS, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự được hình thành trên cơ sở quyền và nghĩa vụ pháp lý của đương sự mà họ đại diện Do họ đều là đương sự nên pháp luật quy định cho những quyền và nghĩa vụ chung Ngoài những quyền và nghĩa vụ chung, xuất phát
từ tính chất, đặc điểm của quá trình tố tụng mà họ tham gia, địa vị của họ có thể khác nhau nên pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho từng loại đương sự Người đại diện theo pháp luật tham gia vào quá trình tố tụng sẽ có các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự cũng như quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng loại đương sự mà họ đại diện
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 86 BLTTDS 2015: “Người đại diện theo pháp luật trong TTDS thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện”
Về nguyên tắc, người đại diện theo pháp luật của đương sự tiếp nhận gần như toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trừ quyền hòa giải vụ án
ly hôn tại Tòa án Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2014, một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định Quyền đại diện được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ hoặc theo quy định của pháp luật (gọi chung là đại diện theo pháp luật) Ở trường
Trang 36hợp này, mỗi người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực cụ thể được chỉ định theo điều lệ của công ty và thẩm quyền của họ
c) Căn cứ chấm dứt người đại diện theo pháp luật
Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ đại diện không tồn tại mãi mãi và có thể chấm dứt khi xuất hiện những sự kiện pháp lý nhất định Theo quy định tại Điều 89 BLTTDS, người đại diện theo pháp luật trong TTDS chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự là cá nhân thì quan
hệ đại diện sẽ chấm dứt khi thuộc các trường hợp được quy định tại Khoản 4, Điều
140 Bộ luật dân sự 2015:
- Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự
đã được khôi phục Đây là trường hợp người được đại diện có năng lực hành vi dân
sự đã đầy đủ thì người được đại diện đã tự có thể bằng chính hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong TTDS Vì vậy, khi đạt điều kiện
về năng lực hành vi thì người được đại diện trước đây sẽ không cần người đại diện nữa
- Người được đại diện là cá nhân chết Khi cá nhân chết thì tư cách chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật của họ sẽ chấm dứt, trong đó có quan hệ đại diện
- Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan
Có một số căn cứ chấm dứt khác làm chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật cho đương sự như hoàn thành nhiệm vụ đại diện đối với những trường hợp người đại diện trong những vụ việc cụ thể như trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Trong những trường hợp này, người đại diện chỉ thay mặt đương sự tham gia tố tụng trong một vụ việc cụ thể, khi vụ việc được giải quyết xong, quá trình tố tụng chấm dứt thì tư cách đại diện cũng đồng thời chấm dứt
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự là pháp nhân thì theo
quy định tại điểm c, khoản 4, Điều 140 Bộ luật dân sự 2015 “Người được đại diện
Trang 37là pháp nhân chấm dứt tồn tại” Pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân hợp nhất, sáp
nhập, chia, giải thể pháp nhân và bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật
về phá sản Quan hệ đại diện theo pháp luật của pháp nhân đương nhiên sẽ chấm
dứt khi pháp nhân chấm dứt hoạt động
Ngoài ra, một số căn cứ khác làm chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật
cho đương sự như hoàn thành nhiệm vụ đại diện đối với những trường hợp người
đại diện trong những vụ việc cụ thể như cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Những trường hợp này, người đại
diện chỉ đứng ra làm người đại diện trong một vụ việc cụ thể khi vụ việc được giải
quyết xong, chấm dứt TTDS thì tư cách đại diện cũng đồng thời chấm dứt
Như vậy, đại diện theo pháp luật sẽ chấm dứt khi việc đại diện trở nên không
cần thiết hoặc không thể thực hiện được việc đại diện Việc chấm dứt đại diện theo
pháp luật trong TTDS sẽ dẫn tới hậu quả pháp lý được quy định tại Khoản 1 Điều
90 BLTTDS 2015 Theo đó, nếu người được đại diện đã đáp ứng được điều kiện
năng lực hành vi dân sự thì khi đó sẽ có thể tự mình tham gia TTDS hoặc ủy quyền
cho người khác tham gia TTDS
2.1.3 Người đại diện theo ủy quyền
Quan hệ đại diện ngoài được xác lập theo pháp luật còn được xác lập theo sự
ủy quyền Theo quy định tại Điều Khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015 “Người đại
diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy
quyền trong tố tụng dân sự” Khác với quan hệ đại diện theo pháp luật, trong quan
hệ đại diện theo ủy quyền, cả hai bên đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Hiện nay, quan hệ đại diện theo ủy quyền trong TTDS ngày càng đa dạng, phong
phú do nhu cầu của đương sự, không muốn tham gia hoặc muốn người am hiểu quy
định pháp luật và trình tự, thủ tục tố tụng để tham gia tố tụng trước Tòa án Quan
hệ đại diện theo ủy quyền là một giải pháp quan trọng để các bên có thể lựa chọn
khi tham gia tố tụng, đặc biệt là các pháp nhân hiện nay khi tham gia rất nhiều quan
hệ pháp luật về nội dung, nếu xảy ra tranh chấp thì họ có thể ủy quyền cho người
Trang 38khác thay mặt mình tham gia giải quyết tranh chấp
* Người ủy quyền trong tố tụng dân sự
Đương sự là cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác tham gia TTDS Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không
có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo
ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, tham gia các quan hệ pháp luật TTDS giải quyết các vụ việc dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
Người ủy quyền trong TTDS phải có năng lực hành vi dân sự Người ủy quyền trong TTDS là đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự Đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự vì một lý do nào đó không muốn tham gia TTDS hoặc muốn một người am hiểu pháp luật tham gia TTDS thay mình sẽ ủy quyền cho người đó thay mặt mình tham gia TTDS, thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS thay mình
- Đối với đương sự là cá nhân: cá nhân nếu có năng lực hành vi dân sự (từ đủ
18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự) có thể ủy quyền cho người khác tham gia TTDS thay mình Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc thực hiện một số giao dịch mà không cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật khi xảy ra mâu thuẫn phải giải quyết tại Tòa án thì họ có quyền tự tham gia TTDS, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ nhưng họ cũng có thể ủy quyền cho người khác thay mình tham gia TTDS trong các tranh chấp liên quan đến hợp đồng lao động, giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình
Trong trường hợp đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi thì do họ không thể tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS do pháp luật quy định nên cũng không thể làm văn bản ủy quyền cho người khác tham gia TTDS, vì thế, người đại diện theo pháp luật của đương sự
Trang 39nếu không thể hoặc không muốn tham gia TTDS thì cũng có thể ủy quyền cho người khác tham gia TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
- Đối với đương sự là các cá nhân là thành viên của tổ hợp tác, hộ gia đình,
tổ chức không có tư cách pháp nhân:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật dân sự 2015, khi hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện Điều này có nghĩa là tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự với
tư cách cá nhân hoặc người đại diện theo uỷ quyền Đây là điểm mới mà Bộ luật dân sự năm 2015 quy định so với Bộ luật dân sự năm 2005 Một mặt, vẫn thừa nhận hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là những thực thể pháp lý đang tồn tại trong đời sống xã hội, tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật dân sự như quan hệ sử dụng đất, điện, nước… phù hợp với các điều kiện đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình và lịch sử của Nhà nước ta
Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận của Bộ luật dân sự năm 2015 là đưa ra quy định việc tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân vào quan hệ dân sự là thông qua cá nhân đại diện Điểm mới này của Bộ luật dân
sự năm 2015 đã giải quyết được những vướng mắc, bất cập kéo dài trong nhiều năm qua liên quan đến việc tham gia các quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án và cơ quan nhà nước khác Do đó, nếu có tranh chấp phát sinh từ quan
hệ pháp luật dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có
tư cách pháp nhân có thể tự tham gia TTDS hoặc ủy quyền cho một người đại diện
Trang 40tham gia TTDS tại Tòa án Điều này sẽ mâu thuẫn với quy định tại khoản 7 Điều
69 BLTTDS năm 2015 khi vẫn quy định đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng Quy định này đúng đối với trường hợp đương sự là pháp nhân Khi đó việc tham gia tố tụng của pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền Còn đối với tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức không có tư cách pháp nhân thì việc tham gia tố tụng tại Toà án thông qua các cá nhân là thành viên của tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức không có tư cách pháp nhân hoặc người đại diện theo uỷ quyền Dó đó, để phù hợp giữa Bộ luật dân
sự năm 2015 và BLTTDS 2015 thì quy định tại khoản 7 Điều 69 cần sửa đổi lại
- Đối với đương sự là pháp nhân thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân sẽ ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS thay mặt pháp nhân
* Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự
* Đối với người đại diện theo ủy quyền là cá nhân: để thực hiện được công việc ủy quyền là tham gia TTDS tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền là cá nhân phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 69 BLTTDS 2015, người đại diện theo ủy quyền là người từ đủ mười tám tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự
- Họ không thuộc các trường hợp không được làm người đại diện theo ủy quyền quy định tại Điều 87 BLTTDS 2015
* Đối với người đại diện theo ủy quyền là pháp nhân: họ có nghĩa vụ tham gia TTDS tại Tòa án nhân danh người được đại diện trong phạm vi ủy quyền, được xác định như sau:
+ Đối với pháp nhân được ủy quyền là công ty trách nhiệm hữu hạn (ví dụ, công ty luật trách nhiệm hữu hạn): Theo quy định tại Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014, nếu công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật sẽ thay mặt pháp nhân thực hiện việc tham gia