1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, từ thực tiễn tỉnh hải dương

108 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 806,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống cơ quan hành pháp, cơ quan thanh tra có nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan hành pháp nhưng không phải tất cả các cán bộ, côn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu và trích dẫn trong

luận văn này được lấy từ nguồn hợp lệ, chính xác và có độ tin cậy

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học cũng như đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật

Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để

tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Văn Hưởng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 7

1.1 Khái niệm, vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 7

1.1.1 Khái niệm kiểm soát thu nhập của cán bộ, công chức 7

1.1.2 Vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 11

1.2 Nội dung pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 15

1.2.1 Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 15

1.2.2 Mô hình cơ quan kiểm soát kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 18

1.2.3 Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức 20

1.2.4 Kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 22

1.2.5 Xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 26

1.2.6 Công bố thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 28

1.2.7 Kiểm soát hành vi rửa tiền và các hành vi khác nhằm che giấu hoặc hợp pháp hoá tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 29

1.2.8 Xử lý vi phạm trong kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 30

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 31

1.3.1 Yếu tố chủ quan 31

1.3.2 Yếu tố khách quan 33

Trang 6

1.4 Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức của một số

quốc gia trên thế giới, giá trị tham khảo 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KIỂM

SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 38 2.1 Thực trạng pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức 38

2.1.1 Khái quát chung về các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm

soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 38 2.1.2 Các quy định của pháp luật về cơ quan kiểm soát tài sản, thu

nhập của cán bộ, công chức 40 2.1.3 Các quy định của pháp luật về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức 42 2.1.4 Các quy định của pháp luật về kê khai tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức 48 2.1.5 Các quy định về xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 54 2.1.6 Các quy định về công bố thông tin về tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức 56 2.1.7 Các quy định về kiểm soát hành vi rửa tiền và các hành vi khác

nhằm che giấu hoặc hợp pháp hoá tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 57 2.1.8 Các quy định về xử lý vi phạm trong kiểm soát tài sản, thu nhập của

cán bộ, công chức 58

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát

tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 60

2.2.1 Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật

về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 60

Trang 7

2.2.2 Nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các

quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 64 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO

HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 71 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về

kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 71

3.1.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về quy tắc ứng xử của cán

bộ, công chức 71 3.1.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kê khai tài sản, thu

nhập của cán bộ, công chức 73 3.1.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về xác minh tài sản, thu

nhập của cán bộ, công chức 75 3.1.4 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về công bố thông tin tài

sản, thu nhập của cán bộ, công chức 76 3.1.5 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát hành vi rửa

tiền và các hành vi khác nhằm che giấu hoặc hợp pháp hoá tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 77 3.1.6 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong

kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức 78

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của

pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 85

3.2.1 Nâng cao năng lực, hiệu quả làm việc của cơ quan kiểm soát tài

sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 85

Trang 8

3.2.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, kênh thông tin trong

công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên

địa bàn tỉnh Hải Dương 86

3.2.3 Nâng cao ý thức pháp luật, tính tự giác của các cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 87

3.2.4 Tạo điều kiện tối đa để quần chúng nhân dân tham gia kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương 88

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là một trong những biện pháp hiệu quả nhằm phòng ngừa tham nhũng Hệ thống các quy định pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức của Việt Nam ngày càng hoàn thiện Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác xây dựng pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức của Việt Nam, từ thực tiễn áp dụng cho thấy pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức vẫn còn bộc lộ những hạn chế sau đây:

Cho đến nay Việt Nam chưa có một cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thống nhất Hiện nay, mỗi hệ thống cơ quan (cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, toà án, viện kiểm sát, kiểm soát nhà nước) đều

tự kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan mình Trong hệ thống cơ quan hành pháp, cơ quan thanh tra có nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan hành pháp nhưng không phải tất cả các cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan hành pháp đều thuộc thẩm quyền kiểm soát về tài sản, thu nhập của cơ quan thanh tra

Tiếp đến, các quy định trực tiếp về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức cũng còn nhiều vướng mắc, chung chung, còn nhiều điểm thiếu thống nhất Ví dụ, các quy định về xử lý quà biếu, quà tặng vẫn còn chung chung Các quy định về xử lý hành vi vi phạm trong kiểm soát tài sản, thu nhập của các bộ, công chức chưa cụ thể nên khó áp dụng trên thực tiễn Hiện nay, pháp luật vẫn còn khoảng trống khi chưa quy định cán bộ, công chức phải kê khai tài sản, thu nhập khi nghỉ hưu hoặc thôi giữ chức vụ, quyền hạn

Thực trạng này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức ở các

Trang 10

địa phương, trong đó có Hải Dương Thực tiễn ở các địa phương trong đó có địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy bên cạnh những vướng mắc, hạn chế của quy định của pháp luật thì năng lực của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, cơ sở vật chất kỹ thuật, ý thức của cán bộ, công chức

và quần chúng nhân dân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức ở địa phương

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức ở địa phương, pháp luật cần phải tiếp tục hoàn thiện Đồng thời, cần tiếp tục nâng cao năng lực của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, cơ sở vật chất kỹ thuật, ý thức của cán bộ, công chức

và quần chúng nhân dân

Những vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ Vì vậy,

học viên lựa chọn đề tài: “Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công

chức, từ thực tiễn tỉnh Hải Dương”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về kê khai tài sản của cán bộ, công chức dưới góc độ pháp lý:

Đề tài khoa học cấp bộ “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ,

quyền hạn” do Cục Phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ thực

hiện [37]; tài liệu Hội thảo khoa học “Những định hướng lớn sửa đổi, bổ sung

toàn diện Luật Phòng chống tham nhũng” do Uỷ ban Tư pháp tổ chức năm

2016 [44]; Luận án tiến sĩ luật học “Các tội phạm tham nhũng theo Luật hình

sự Việt Nam” được Trần Văn Đạt bảo vệ thành công năm 2012 tại Viện khoa

học Xã hội Việt Nam [11]; Sách “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và

định hướng hoàn thiện ở Việt Nam” của Lê Văn Ái [1]; … Theo đó, các định

nghĩa, khái niệm về thu nhập, về tài sản, về người có chức vụ, quyền hạn đã được các tác giả đưa ra và phân tích khá sâu sắc trên cơ sở nội dung, đặc điểm

Trang 11

của từng vấn đề Qua định nghĩa kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn đã được các tác giả phân tích và qua tổng hợp cho thấy, chúng có một số đặc điểm như (1) là tập hợp các biện pháp mà nhà nước sử dụng (các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập); (2) nhằm theo dõi về biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; (3) nhằm ngăn chặn việc sử dụng quyền lực công để tư lợi [37, tr.106]; mục đích, vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập là nhằm phòng chống tham nhũng, phòng ngừa xung đột lợi ích, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, thể hiện quyết tâm chính trị của đảng cầm quyền [37, tr.104] Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến định nghĩa, đặc điểm, tính chất, nội dung của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật

về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam

Bên cạnh đó, có một số công trình khoa học đã nghiên cứu những khía cạnh nhất định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Một số công trình tiêu biểu như:

Bài viết: “Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức

vụ, quyền hạn kiến nghị sửa đổi luật phòng, chống tham nhũng” của Hoàng

Nam Hải đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19 năm 2017 [18]

Bài viết: “Về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức

vụ, quyền hạn trong luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)” của Hoàng

Nam Hải đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số (19) năm 2018 [19]

Bài viết: “Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công

chức trong luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi: Các quan điểm khác nhau

và giải pháp lựa chọn” của Đỗ Thu Huyền đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập

pháp số (11) năm 2018 [24]

Trang 12

Bài viết: “Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức

vụ, quyền hạn trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay” của Vũ Công Giao & Đỗ

Thu Huyền đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số (12) năm 2016 [15]

Các nghiên cứu đã công bố này đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức từ thực tiễn tỉnh Hải Dương Vì vậy, đề tài:

“Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, từ thực tiễn tỉnh Hải

Dương” vẫn có tính mới và thời sự

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Luận văn có mục đích là nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật

về kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức; phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương; đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức; nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát tài sản thu nhập của cán bộ, công chức

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, về lý luận: luận văn sẽ làm sáng tỏ vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; nội dung của pháp luật về kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức; và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức

Thứ hai, về thực tiễn: luận văn chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật

về kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Thứ ba, luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: trên địa bàn tỉnh Hải Dương Về thời gian: từ năm 2015 cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng chống tham nhũng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Để thực hiện các nội dung của luận văn, học viên sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp nghiên cứu thực tế; phương pháp so sánh và các phương pháp khác

6 Tính mới và những đóng góp của luận văn

Luận văn có những điểm mới và đóng góp sau đây:

Thứ nhất, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước, học viên đã xây được một cách có hệ thống nội dung pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức: (1) Mô hình cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; (2) Quy tắc ứng xử của cán bô, công chức (ứng xử với quà biếu, quà tặng; xung đột lợi ích); (3) Kê khai, xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; (4) Phòng, chống rửa tiền; (5) Xử lý

vi phạm pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Thứ hai, luận văn chỉ ra được những kết quả đạt được cũng như những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trang 14

Thứ ba, luận văn đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội

dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát tài sản, thu nhập

của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện

các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP

CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

1.1 Khái niệm, vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

1.1.1 Khái niệm kiểm soát thu nhập của cán bộ, công chức

Tài sản, thu nhập những thuật ngữ được sử dụng phổ biến, nhưng tùy theo cách tiếp cận khác nhau,mà có những quan điểm khác nhau Tài sản là

“Các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác Tài sản bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản” [8, tr 834]; tài sản

“Thuật ngữ chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc nhà nước, có thể dùng được để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó” [21, tr 32]; tài sản được hiểu là “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” (Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015) Từ những quan điểm nêu trên có thể thấy, có hai yếu tố tạo nên tài sản:i) những giá trị vật chất tính được, quyền tài sản hoặc lợi ích được hình thành trong tương lai ii) được kiểm soát bởi cá nhân, tổ chức hợp pháp, trong đó quyền chủ thể đối với tài sản là yếu tố quan trọng nhất tạo nên khái niệm về tài sản Như vậy, có thể hiểu: tài sản là những giá trị vật chất – các lợi ích do một thực thể chiếm hữu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, kinh doanh

Về thu nhập cũng có nhiều quan niệm khác nhau Thu nhập là “ nhận được tiền nong, của cải từ một hoạt động nào đó để chi dùng cho cuộc sống”

Trang 16

[29, tr 234]; thu nhập là: “khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó” [54, tr 725, 726] Như vậy, có thể hiểu thu nhập là tất cả các giá trị vật chất mà một chủ thể nhận được, thu được trong một một khoảng thời gian nhất định, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập

Giữa tài sản và thu nhập của một chủ thể có mối liên hệ mật thiết, nhưng không đồng nhất Thu nhập là giá trị, lợi ích nhận được do lao động chính đáng mang lại, hoặc được tặng cho, thừa kế trong một khoảng thời gian nhất định, là nguồn vật chất tạo nên tài sản, ngoài ra tài sản có được còn có thể do được tặng cho, được thừa kế v.v Đối với cán bộ, công chức, những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước là nguồn thu căn bản, ngoài ra có thể có những nguồn thu hợp pháp khác Do đó tài sản mà họ có được về nguyên tắc phải tương xứng với thu nhập hợp pháp của họ Như vậy, có thể

so sánh giữa tài sản đang có với thu nhập hợp pháp mà một cán bộ, công chức

có thể nhận được trong khoảng thời gian nhất định để tìm ra mối tương đồng giữa tài sản và thu nhập, qua đó thấy được những tài sản có nguồn gốc từ thu nhập bất hợp pháp (có thể là do tham nhũng mà có) và áp dụng các biên pháp

xử lý phù hợp, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng

Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung

là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 17

Theo Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008:

Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội

Theo khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -

xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp

vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Theo chủ đề của luận văn, tất cả các đối tượng này đều chịu sự kiểm soát tài sản, thu nhập

Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát” là “xem xét để phát hiện, ngăn

chặn những gì trái với quy định” [53, tr 674] Điều đó có nghĩa việc kiểm

soát được tiến hành dựa trên co sở những chuẩn mực đã được định trước Đồng thời căn cứ vào các quy định để xác định các đối tượng thuộc phạm vi kiểm soát và chủ động tiến hành theo dõi các hành vi của chủ thể nhằm phát hiện những dấu hiệu vi phạm các quy tắc chung đã thừa nhận Nếu chủ thể có

Trang 18

hành vi vi phạm, gây ảnh hưởng đến các nguyên tắc kiểm soát đã đặt ra thì tùy từng trường hợp sẽ bị áp dụng các chế tài hình sự, hành chính, kỷ luật, hoặc dân sự để xử lý Thuật ngữ “kiểm soát” rất gần gũi với “giám sát” Giám sát được hiểu là:

Sự theo dõi, kiểm tra việc thực hiện những điều đã quy định [53, tr 507], hay là: sự theo dõi mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan,

tổ chức hoặc nhân dân với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các biện pháp tích cực để hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước [52, tr 292]

Những không đồng nhất giữa “kiểm soát” và “giám sát”, đây là những hiện tượng có những khác biệt Khi giám sát, chủ thể giám sát thường hướng các đối tượng chịu sự giám sát thực hiện đúng các quy định để đạt được kết quả Trong khi đó, kiểm soát không chỉ dừng lại ở việc yêu cầu thực hiện các hệ quả được mô tả mà còn xem xét hành động dựa trên lẽ phải, sự công bằng và trong trường hợp nhất định sẽ thực hiện mục đích ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động sai trái, vi phạm Mặt khác, giám sát thường chỉ dừng lại ở việc phát hiện các hành vi và khuyến nghị đối tượng chịu sự giám sát thực hiện đúng pháp luật, trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thì kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý; còn trong kiểm soát, chủ thể thực hiện chức năng kiểm soát sẽ trực tiếp xem xét, áp dụng một số biện pháp ngăn chặn và đưa ra hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật

Khái niệm kiểm soát rộng hơn giám sát, bao hàm giám sát Ngoài giám sát, kiểm soát còn bao hàm cả kiểm tra, thanh tra [34, tr 290 - 291] Giám sát, kiểm tra, thanh tra là những phương thức được sử dụng để kiểm soát

Trang 19

Trên cơ sở những vấn đề nêu trên về tài sản, thu nhập, cán bộ, công chức, về kiểm soát có thể hiểu: Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công

chức là tổng thể những biện pháp, cách thức mà cơ quan, tổ chức, người có

thẩm quyền sử dụng để theo dõi, nhận biết, đánh giá sự biến động, nguồn gốc tài sản, thu nhập của một cán bộ, công chức trong một khoảng thời gian nhát định, qua đó áp dụng hoặc đề nghị áp dụng biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý vi phạm

1.1.2 Vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Khi hoạt động công vụ, cán bộ, công chức được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ, hay nói cách khác khi thực thi công vụ, công chức có những phương tiện nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao Phương tiện đó chính

là các quyền năng mà cán bộ, công chức có được Ví dụ, công chức phòng đăng ký kinh doanh có quyền trả lại hồ sơ của người nộp nếu xét thấy hồ sơ không phù hợp với quy định của pháp luật Thanh tra văn hoá có quyền lập biên bản đối với cơ sở kinh doanh lắp đặt biển quảng cáo lấn chiếm vỉa hè… Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện các quyền đó được thể hiện bởi các quyết định, hành vi hành chính có tính mệnh lệnh, bắt buộc và cưỡng chế Đối tượng chịu tác động của quyết định, hành vi hành chính phải phục tùng mệnh lệnh Với những cán bộ, công chức chí công vô tư, thực hiện quyền lực vì kỷ cương, phép nước, tuân thủ và thượng tôn pháp luật thì rõ ràng các quyết định hành vi, hành chính nghiêm minh, đúng đắn sẽ góp phần tạo lập và duy trì một nền hành chính công minh bạch, lành mạnh Một nền hành chính công minh bạch, lành mạnh sẽ góp phần tạo niềm tin cho công chúng, thúc đẩy phát triển kinh tế, lành mạnh hoá và nâng cao đời sống xã hội Ngược lại, nếu cán bộ, công chức lợi dụng hoặc lạm dụng quyền lực để trục lợi sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của nhà nước, làm xói mòn nền hành chính công, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân Cán bộ, công chức tha hoá sẽ lợi dụng

Trang 20

hoặc lạm dụng quyền lực để trục lợi, thu vén cho bản thân và gia đình mà gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội về vật chất và tinh thần Vì lẽ đó, kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là một trong những công cụ cần thiết để: kiểm soát xung đột lợi ích của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ; bảo đảm tính minh bạch khi thi hành công vụ; tạo niềm tin của nhân dân đối với người thi hành công vụ; và ngăn ngừa và kiểm soát tham nhũng Vai trò của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức được thể hiện ở những điểm căn bản sau đây:

Một là: Kiểm soát xung đột lợi ích khi thi hành công vụ

Xung đột lợi ích phát sinh khi lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức xung đột với nhiệm vụ thực hiện công vụ [60, tr xviii] Về mặt nguyên tắc, cán bộ, công chức không được có xung đột lợi ích khi thực hiện công vụ Trong thực thi công vụ, lợi ích của nhà nước (lợi ích công cộng) phải là lợi ích cao nhất mà công chức phải phục vụ Ví dụ, cán bộ, công chức Lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức có thể là lợi ích vật chất như một khoản tiền, một tài sản mà cán bộ, công chức nhận được hoặc sẽ nhận được Lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức cũng có thể là lợi ích phi vật chất, như việc sắp xếp cho người thân thích của cán bộ, công chức vào học một trường víp hoặc vào một vị trí công việc “màu mỡ” Có thể nói rằng những khoản lợi ích vật chất

có sức hấp dẫn khó thể cưỡng lại được bởi không ít người Trong sự so sánh tương quan với mức thu nhập chính của công chức (lương + phụ cấp + thưởng (nếu có)) với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, không ít người không tránh khỏi những cám dỗ của vật chất Trong nhiều trường hợp, do không thắng nổi sức hấp dẫn của vật chất, một số cán bộ, công chức đã đánh đổi uy tín, danh dự của cá nhân cũng như uy tín của cơ quan, Nhà nước để đạt được lợi ích vật chất Trong trường hợp này, thay vì thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức đã vi phạm để làm

Trang 21

lợi cho mình hoặc người khác Ví dụ: một công chức thuế nhận hối lộ để bỏ qua cho hành vi gian lận thuế của doanh nghiệp.Ví dụ khác, công chức quản

lý văn hoá hợp tác với cá nhân khác mở quán karaoke ở trên địa bàn thuộc thẩm quyền mình quản lý Về mặt logic, với mức thu nhập chính thức do ngân sách nhà nước chi trả (trừ khi cán bộ, công chức được người thân để lại tài sản thừa kế hoặc tặng cho tài sản), cán bộ, công chức khó mà có một khối tài sản có giá trị lớn hơn so với thu nhập chính thức của mình Vì vậy, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của công chức nhằm ngăn chặn phát hiện ra hiện tượng xung đột lợi ích để từ đó chấn chỉnh lề lối, tác phong và trách nhiệm của cán

bộ, công chức

Hai là: Bảo đảm tính minh bạch khi thi hành công vụ

Minh bạch là một trong những nguyên tắc căn bản trong thực hành công vụ Minh bạch có nghĩa là khi đưa ra các quyết định và thực hành các quyết định, nhà nước phải tuân thủ các luật lệ và quy tắc [14, tr 16] Sự minh bạch được thể hiện ở chỗ các thông tin về quá trình ra cũng như thực hiện quyết định phải được công khai, đặc biệt là công khai cho đối tượng chịu tác động trực tiếp của quyết định Sự minh bạch cũng đòi hỏi, mọi căn

cứ bao gồm cơ sở pháp lý, chứng cứ để ra và thực hiện quyết định phải đầy

đủ, rõ ràng và công khai Như vậy, mọi hành vi quyết định hành chính của cán bộ, công chức khi thực hành công vụ phải tường minh, rõ ràng và công khai Sự minh bạch góp phần ngăn chặn các hành vi sai trái khi thi hành công vụ của công chức Như vậy, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của công chức góp phần làm minh bạch hoá các khoản lợi ích, tài sản của cán bộ, công chức Sự minh bạch tài sản và các khoản thu nhập của công chức cũng góp phần làm cho cán bộ, công chức phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật thi hành công vụ, tường minh và công khai các quyết định, hành vi của mình theo đúng quy định của pháp luật

Trang 22

Ba là: Tạo niềm tin của nhân dân đối với người thi hành công vụ

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói cán bộ là “công bộc của nhân dân” Câu nói này vẫn hoàn toàn đúng cho đến ngày nay Trong xã hội, Nhà nước là một thiết chế có chức năng quản lý xã hội nhằm bảo đảm xã hội vận hành theo một trật tự nhất định Bộ máy nhà nước được vận hành bởi những người chuyên nghiệp, đó chính là cán bộ, công chức Họ thực hiện những nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước giao để quản lý xã hội Những cán bộ, công chức chuyên nghiệp này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Trong khi nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là từ thuế do nhân dân đóng góp theo quy định của pháp luật Như vậy, cuối cùng, chính nhân dân là người

“nuôi” cán bộ, công chức Vì vậy, nhân dân phải có quyền giám sát cán bộ, công chức Nhân dân cần phải biết rằng cán bộ, công chức có tận tâm, mẫn cán, có trách nhiệm khi thi hành công vụ vì lợi ích của công cộng hay không? Như vậy, ngoài việc minh bạch hoạt động công vụ thì việc minh bạch hoá tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức cũng giúp cho nhân dân hiểu được sự liêm khiết, cần kiệm của cán bộ, công chức Từ đó, nhân dân thêm tin tưởng

và ủng hộ người thi hành công vụ

Bốn là: Ngăn ngừa và kiểm soát tham nhũng

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018,“Tham

nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền

hạn đó vì vụ lợi”, có những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội:

Thứ nhất, tham nhũng tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng, không bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế Trong nền kinh tế, có một hoặc nhóm chủ thể kinh doanh được bảo trợ bởi cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất sẽ có lợi thế cạnh tranh không công bằng so với các chủ thể khác

Thứ hai, tham nhũng có nguy cơ gây ra những khiếm khuyết trong trật

tự quản lý hành chính, cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất vì vụ lợi có thể

Trang 23

thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc lợi dụng sơ hở của pháp luật gây thực hiện các quyết định, hành vi làm lợi bất chính cho một chủ thể cụ thể nhưng gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích chung Ví dụ, cán bộ, công chức địa phương làm ngơ cho quán karaoke chứa chấp mại dâm gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương

Thứ ba, tham nhũng làm mất niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước

và chế độ

Vì vậy, phòng và chống tham nhũng có liên quan đến sự tồn vong của chế độ Do đó, phòng và chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của Đảng và Nhà nước ta Liên quan đến phòng và chống tham nhũng, kiểm soát tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức có mục tiêu: Minh bạch hoá thu nhập và tài sản của cán bộ, công chức, bắt buộc cán bộ, công chức phải kê khai đầy đủ tài sản và nguồn thu nhập của mình; trên cơ sở thông tin tài sản của cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và nhân dân nắm phát hiện được tham nhũng; Chính sách bắt buộc kê khai tài sản và thu nhập cũng góp phần ngăn ngừa tham nhũng Bởi lẽ, việc tham nhũng có thể sẽ bị bại lộ khi toàn bộ các nguồn thu nhập và tài sản của cán bộ, công chức phải được công khai chính xác và đầy đủ

1.2 Nội dung pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

1.2.1 Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức không thể chỉ

là những nội dung chung chung mang tính định hướng mà phải được thể chế hoá bằng hệ thống các quy định của pháp luật Như vậy, tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trang 24

1.2.1.1 Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền với cán bộ, công chức trong kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Vì vậy, nguồn luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức bao gồm:

Thứ nhất, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước Hiến pháp đưa

ra các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân Trong đó, Hiến pháp đưa ra nguyên tắc về chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức làm kim chỉ nam cho mọi hành động của cán bộ, công chức Nguyên tắc này là cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật về kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức

Thứ hai, trên cơ sở Hiến pháp, Quốc hội sẽ ban hành các đạo luật quy định về chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức Thông thường các quy định này được quy định trong luật cán bộ, công chức Vấn đề đặt ra là các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức nên nằm trong đạo luật về cán bộ, công chức hay cần thiết đưa vào trong một đạo luật độc lập

Về vấn đề này, không có một công thức chung Tuỳ từng quốc gia mà sẽ lựa chọn giải pháp các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là một bộ phận nằm trong luật cán bộ, công chức hay là nằm trong một đạo luật độc lập Tuy nhiên, việc đưa quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức vào luật chung về cán bộ, công chức hay tách riêng thành một đạo luật không phải là vấn đề quá quan trọng, vấn đề quan trọng là chất lượng của các quy định đó như thế nào

Thứ ba, trên cơ sở các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức ở cấp độ văn bản luật, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định và

Bộ quản lý chuyên ngành sẽ ban hành Thông tư hoặc phối hợp với các Bộ có liên quan ban hành Thông tư liên tịch về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức

Trang 25

Thứ tư, bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật được nêu ở trên, còn

có các án lệ của Toà án Các án lệ này được hình thành trong quá trình toà án xét xử các vụ án hành chính liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức

1.2.1.2 Nội dung pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Nội dung đầu tiên của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức là mô hình kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Có nghĩa là pháp luật phải trả lời được câu hỏi cơ quan nào chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức? Việc kiểm soát, tài sản thu nhập của cán bộ, công chức nên tập trung vào một cơ quan hay là phân

bổ cho nhiều cơ quan? Cơ quan kiểm soát thu nhập, tài sản của cán bộ, công chức nên thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước hay cần là một cơ quan độc lập? cơ quan quan kiểm soát thu nhập, tài sản của cán bộ, công chức nên là cơ quan thuộc chính phủ hay là một cơ quan nằm trong một cơ quan bộ hoặc ngang bộ?

Tiếp theo, pháp luật cần quy định rõ cán bộ, công chức nào có nghĩa vụ

kê khai tài sản, thu nhập Về vấn đề này, pháp luật có nên quy định tất cả các cán bộ, công chức đều phải kê khai tài sản, thu nhập hay một số chức danh cán bộ, công chức được miễn nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập? Ngoài ra, người thân thích, những người có mối quan hệ gắn bó với cán bộ, công chức

có phải kê khai tài sản, thu nhập không?

Pháp luật cần quy định chế tài đối với hành vi không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, không đúng các thông tin về tài sản của cán bộ, công chức

Tiếp đến, pháp luật cần giải đáp câu hỏi, cán bộ, công chức phải kê khai những nội dung gì? Tất cả các tài sản và thu nhập, nguồn gốc của tài sản, thu nhập, nội dung giao dịch? Người giao dịch?

Trang 26

Thủ tục kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức: Pháp luật cần xây dựng quy trình bao gồm thủ tục, mẫu văn bản, giấy tờ kê tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Việc kê khai được thực hiện định kỳ hay bất thường, các bước tiến hành kê khai Ngoài ra, pháp luật cũng cần thiết kế cơ chế xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Vấn đề tiếp theo, liệu rằng thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức có được công bố ra công chúng không? Theo thủ tục nào? Những thông tin nào được công bố cho công chúng và những thông tin nào không được công bố cho công chúng

Cuối cùng là thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp hành chính liên quan đến việc kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

1.2.2 Mô hình cơ quan kiểm soát kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức

Về mô hình kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, hiện nay trên thế giới có 2 mô hình phổ biến: Mô hình kiểm soát bên trong (internal arrangement) và mô hình kiểm soát bên ngoài (outside arrangement)

Mô hình kiểm soát bên trong: Theo mô hình này thì người đứng đầu

cơ quan, đơn vị sẽ là chủ thể có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thuộc biên chế của đơn vị Mô hình này có thuận tiện là cán bộ, công chức sẽ kê khai tài sản, thu nhập trực tiếp với người quản lý của mình Người quản lý trực tiếp cán bộ, công chức là người gần gũi cán

bộ, công chức nên hiểu được hoàn cảnh thực tế của cán bộ, công chức và từ

đó có thể đánh giá được tính trung thực của thông tin được kê khai Tuy nhiên, điểm hạn chế của mô hình này là sẽ không tránh được những trường hợp người quản lý bao che cho cấp dưới của mình vì vậy mục đích của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức không đạt được Mô hình kiểm

Trang 27

soát bên trong phù hợp việc kiểm soát tài sản, thu nhập của đại biểu quốc hội, nghị viên, thành viên nội các,…

Mô hình kiểm soát bên ngoài: Mô hình kiểm soát bên ngoài là mô hình

mà tồn tại một cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức độc lập với cơ quan, đơn vị nơi cán bộ, công chức có biên chế và làm việc Vấn đề đặt ra là cơ quan này là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan hành pháp hay là một

cơ quan độc lập với cơ quan hành pháp Rõ ràng, nếu tồn tại một cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thì để bảo đảm khách quan, cơ quan này phải là cơ quan độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan tƣ pháp Nhƣ vậy, cơ quan này phải là cơ quan do Quốc hội hoặc Nghị viện thành lập

Ngoài ra có mô hình hỗn hợp, theo đó ở mỗi nhánh quyền lực sẽ có có

bộ máy kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức riêng [15, tr 28]

Một vấn đề lý luận cần đặt ra là liệu rằng cơ quan thuế có tham gia vào hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức không? Nói cách khác, cơ quan quản lý thuế có tham gia, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là đối tƣợng nộp thuế hay không? Theo nguyên tắc, tài sản hoặc thu nhập phát sinh của cán bộ, công chức có thể là đối tƣợng chịu thuế Vì vậy, cơ quan quản lý thuế cũng tham gia quản lý tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức với tƣ cách là đối tƣợng chịu thuế Vì vậy, cơ quan thuế cũng nắm rất rõ thông tin về tài sản, thu nhập chịu thuế: Giá trị của tài sản, thu nhập, nguồn gốc của tài sản, thu nhập, … Vì vậy, sự phối hợp của cơ quan thuế là rất cần thiết Vấn đề đặt ra

là cơ quan thuế sẽ tham gia chủ động hay thụ động Nếu cơ quan thuế tham gia chủ động thì sẽ tạo một kênh thông tin tích cực giữa cơ quan thuế và cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Theo

đó, mọi thông tin về thuế thu nhập và các thuế khác liên quan đến tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức sẽ tự động chuyển cho cơ quan có thẩm

Trang 28

quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Nếu cơ quan thuế tham gia thụ động thì chỉ khi có yêu cầu, các thông tin về thuế liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức mới được cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Có lẽ, nên quy định cơ quan thế phải chủ động tham gia kiểm soát tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức Hơn nữa, các hồ sơ, tài liệu mà cán bộ, công chức hoặc người thân thích nộp cho cơ quan thuế được sử dụng để xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

1.2.3 Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức

Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền

Đây là nguyên tắc Hiến định trong việc xây dựng chuẩn mực ứng xử của cán bộ, công chức, trong đó nêu rõ cán bộ, công chức phải “kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”

Các quy tắc ứng xử đối với cán bộ, công chức trong đó các quy tắc cụ thể hoá nguyên tắc hiến định: “kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” là công cụ giáo dục, ngăn ngừa cán bộ, công chức khỏi hành vi tham nhũng Rõ ràng, Đảng, Nhà nước và nhân dân không mong muốn phải xử lý cán bộ, công chức trong quá trình kiểm tra, thanh tra tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Điều mà Đảng, Nhà nước và nhân dân mong muốn là các cán bộ, công chức nghiêm chỉnh thực hiện chuẩn mực ứng xử Những tài sản, thu nhập của cán bộ, công

Trang 29

chức có nguồn gốc hợp pháp, chính đáng, phù hợp với nỗ lực của cán bộ, công chức Vì lẽ đó, bộ quy tắc ứng xử là sổ tay hành động của cán bộ, công chức Trong mọi hành vi của mình cán bộ, công chức đều phải nhất tuân theo cuốn sổ tay hành động Nếu được như vậy, việc kiểm tra tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức chỉ mang tính đánh giá sự nỗ lực tuân thủ chuẩn mực ứng

xử của cán bộ, công chức mà thôi Và như vậy một nền hành chính trong sạch, vững mạnh không phải là câu chuyện trong mơ

Về mặt nguồn gốc, bộ quy tắc ứng xử được Hiến pháp thừa nhận về mặt nguyên tắc Trên cơ sở đó, luật cán bộ, công chức và luật về phòng chống tham nhũng sẽ khái quát hoá những chuẩn mực Tiếp đến, tuỳ theo đặc thù mỗi ngành mà người đứng đầu ngành sẽ ban hành ra các quy tắc ứng xử cụ thể

Về mặt nội dung, liên quan đến việc cụ thể hoá nguyên tắc “kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”, quy tắc ứng xử đòi hỏi:

Thứ nhất, cán bộ, công chức phải có nghĩa vụ từ chối nhận quà biếu, quà tặng dưới bất kỳ hình thức nào Cán bộ, công chức khi thi hành công vụ

là đang nhân danh Nhà nước để thực hiện các hành vi nhất định Vì vậy, để tránh các hành vi của cán bộ, công chức bị ảnh hưởng bởi quà biếu, quà tặng hoặc lời hứa tặng quà, biếu quà, quy tắc không cho phép cán bộ, công chức nhận quà biếu, quà tặng tại bất kỳ thời điểm nào và vì bất kỳ lý do nào

Thứ hai, cán bộ, công chức không được đưa mình vào tình trạng xung đột lợi ích khi thi hành công vụ Khi xét thấy mình trong tình trạng xung đột lợi ích, cán bộ, công chức phải báo cáo với cấp trên để có phương án xử lý (thay thế, tạm đình chỉ, đình chỉ người có xung đột lợi ích thực hành công vụ) Nếu trong hoàn cảnh, không thể có người thay thế, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức phải thi hành nhiệm vụ một cách vô tư, khách quan và mẫn cán như không có xung đột lợi ích Ví dụ,

Trang 30

công chức làm thủ tục đăng ký nhà đất được giao xử lý hồ sơ đăng ký quyền

sử dụng đất của người thân thích thì trước hết công chức này phải báo cáo với cấp trên trực tiếp để có phương án tìm người thay thế Nếu không thể tìm người thay thế thì công chức phải xử lý hồ sơ của người thân thích như hồ sơ của những người khác theo đúng quy định của pháp luật mà không được có bất kỳ thiên vị nào

1.2.4 Kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trong phần này sẽ làm rõ về mặt lý luận những tài sản, thu nhập nào của cán bộ, công chức phải kê khai

Thu nhập: Về mặt bản chất, thu nhập chính là nguồn chính tạo ra tài

sản của cán bộ, công chức Vì vậy, việc kê khai thu nhập là bắt buộc để nhằm mục đích: (1) Đánh giá được đời sống kinh tế của cán bộ, công chức; (2) Đánh giá được các nguồn thu nhập của cán bộ, công chức; (3) Đánh giá được mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với nguồn thu nhập (quan hệ với người chi trả thu nhập, tính chất công việc, dịch vụ mà công chức thực hiện để được hưởng thu nhập); và (4) phát hiện ra xung đột lợi ích (nếu có)

Về nguyên lý, tất cả các thu nhập (bao gồm giá trị và nguồn) phải được

kê khai một cách chính xác và trung thực: lương, phí, lợi ích, cổ tức, khoản thu từ bán hoặc cho thuê tài sản, tiền bảo hiểm; trúng thưởng xổ số, thừa kế, tặng cho,… [59, tr 62] Tuy nhiên, pháp luật cũng có thể quy định một mức thu nhập mà nếu cán bộ, công chức có mức thu nhập trên đó phải kê khai Việc quy định như vậy có thuận tiện là giảm bớt thủ tục, tránh việc cán bộ, công chức phải kê khai thu nhập dù mức thu nhập đó rất nhỏ Tuy nhiên, quy định mức thu nhập bắt buộc phải kê khai chỉ phù hợp với kê khai bất thưởng Đối với trường hợp kê khai định kỳ, nên quy định cán bộ, công chức phải kê khai toàn bộ thu nhập trong kỳ mà không phân biệt mức và nguồn thu nhập

Trang 31

Tài sản: Bên cạnh thu nhập, cán bộ, công chức cũng phải kê khai tài

sản thuộc sở hữu của mình bao gồm cả tài sản thuộc sở hữu chung của cán bộ, công chức với người khác Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa và phân loại tài sản như sau: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản 2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản

có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”

Như vậy, bất kỳ tài sản nào thuộc sở hữu riêng hoặc sở hữu chung của cán bộ, công chức đều phải được kê khai Các bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất, nhà ở, căn hộ chung cư, bất động sản trong khu nghỉ dưỡng; các động sản hữu hình như: xe ô tô, xe mô tô, xe đạp, du thuyền, …; các tài sản

vô hình như: quyền sở hữu trí tuệ; cổ phần; trái phiếu; sổ tiết kiệm; chứng chỉ tiền gửi, … đều phải được kê khai

Tương tự như thu nhập, khi kê khai, cán bộ, công chức phải kê khai đầy đủ và trung thực đặc điểm của tài sản, giá trị của tài sản tại thời điểm mua bán, nhận chuyển nhượng, được tặng cho hoặc thừa kế và giá trị hiện thời của tài sản (nếu có thể xác định được) Quan trọng hơn, cán bộ, công chức phải kê khai rõ nguồn gốc của tài sản, người bán, chuyển nhượng, tặng cho tài sản, để lại thừa kế căn cứ bán, chuyển nhượng, tặng cho tài sản, thừa kế tài sản…

Việc xác định được chính xác giá trị tài sản, nguồn gốc tài sản và mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với người người bán, chuyển nhượng, tặng cho tài sản cũng sẽ giúp (1) Đánh giá được đời sống kinh tế của cán bộ, công chức; (2) Đánh giá được các nguồn gốc tài sản của cán bộ, công chức; (3) Đánh giá được mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với người bán, chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế, căn cứ để công chức được bán, chuyển nhượng, tặng cho,

để lại thừa kế); và (4) phát hiện ra xung đột lợi ích (nếu có)

Lợi ích được thụ hưởng: Thực tiễn ngày nay cho thấy, không phải

trường hợp nào cán bộ, công chức thụ hưởng các lợi ích vật chất dưới hình

Trang 32

thái tài sản Trong nhiều trường hợp, cán bộ, công chức được hưởng các khoản lợi ích vật chất mà nếu chỉ đánh giá qua thì không phải là tài sản Ví dụ: cán bộ, công chức (hoặc người thân thích) được cho mượn mặt bằng để kinh doanh; được cho thuê mặt bằng với giá ưu đãi bất thường so với người khác để kinh doanh; cán bộ, công chức được tặng thẻ chơi goft định kỳ, được tặng thẻ spa định kỳ; con của cán bộ, công chức được học trường VIP mà không phải trả học phí; … Những khoản lợi ích này thường không thể chuyển nhượng vì đây là “ưu đãi” dành cho bản thân cán bộ, công chức hoặc người thân thích Nhưng nếu một người không phải là cán bộ, công chức, không có

vị trí công việc để có thể đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến người tặng cho hoặc cấp ưu đãi cho cán bộ, công chức thì rõ ràng sẽ phải trả một khoản tiền không nhỏ, nếu không muốn nói là lớn để được thụ hưởng Vậy những lợi ích này có cần phải kê khai không? Rõ ràng, cần phải kê khai cả các lợi ích này Bởi vì xung đột lợi ích cũng có thể ẩn mình và phát sinh từ những khoản lợi ích này Khi kê khai, cán bộ, công chức phải kê khai đầy đủ đặc điểm, giá trị (nếu có) của lợi ích ưu đãi, chủ thể cung cấp ưu đãi, lý do được hưởng ưu đãi

Chi phí: Cuối cùng, ngoài việc phải kê khai những gì mà cán bộ, công

chức nhận được, cán bộ, công chức còn phải kê khai những chi phí phục vụ sinh hoạt, cuộc sống, gia đình và công việc Việc buộc cán bộ, công chức kê khai chi phí giúp cho cơ quan quản lý nắm được: (1) Cán bộ, công chức có thực sự cần kiệm không? Nếu công chức đang rơi vào tình trạng chi tiêu vượt quá khả năng thu nhập, cơ quan phải có biện pháp nhắc nhở và buộc cán bộ, công chức chi tiêu tiết kiệm phù hợp điều kiện thu nhập (2) Cán bộ, công chức có các khoản nợ đáng kể nào không? Liệu các khoản nợ đó có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động thi hành công vụ của cán bộ, công chức hay không? (3) Mức chi tiêu cũng có thể phản ánh ngược lại mức thu nhập của cán bộ,

Trang 33

công chức, giúp cơ quan quản lý tìm ra những điểm bất hợp lý trong nội dung

kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Như vậy, cán bộ, công chức phải kê khai đầy đủ và chính xác các khoản mục chi phí, mức chi phí, lý do chi phí, các khoản nợ, mức dư nợ, nguyên nhân nợ, quan hệ với chủ nợ, lộ trình trả nợ, … Những thông tin này

sẽ giúp cơ quan quản lý có sự quan tâm đúng mực đến cán bộ, công chức tránh cán bộ, công chức bị tha hoá, biến chất

Sau khi làm rõ các thông tin phải kê khai, trong nội dung dưới đây sẽ làm rõ các thủ tục kê khai và thu thập thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trước hết, pháp luật phải làm rõ việc kê khai cần phải thực hiện định

kỳ hay bất thường Trước hết, trước khi được bầu cử, bầu, bổ nhiệm hoặc đảm nhiệm một vị trí công việc hoặc chuyển sang vị trí công việc mới, cán bộ, công chức phải kê khai thu nhập, tài sản, lợi ích và chi phí hiện thời của mình Việc công khai là cần thiết nhằm giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm được thực trạng đời sống kinh tế của cán bộ, công chức trước khi đảm nhiệm

vị trí công việc Số liệu này sẽ được dùng để so sánh với tình hình kinh tế của cán bộ, công chức trong thời gian và khi kết thúc nhiệm kỳ đảm nhiệm vị trí công việc Sau đó, trong suốt thời gian đảm nhiệm vị trí công việc, hàng năm, cán bộ, công chức phải kê khai tài sản, thu nhập, lợi ích và chi phí Ngoài ra, cũng cần thiết phải thiết kế cơ chế kê khai bất thường đối với trường hợp cán

bộ, công chức có một khoản thu nhập, xác lập sở hữu tài sản, thụ hưởng một lợi ích, phát sinh một khoản chi phí, phát sinh một khoản nợ, chi trả một phần hoặc toàn bộ khoản nợ mà giá trị của khoản thu nhập, tài sản, lợi ích, chi phí, khoản nợ hoặc một phần khoản nợ đó vượt một mức nhất định hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức (ví dụ: người tặng cho tài sản hoặc khoản lợi ích hoặc chủ nợ hoặc người thân thích của

Trang 34

người này là đối tượng hoặc hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của này

là đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý của cán bộ, công chức) Cuối cùng, khi cán bộ, công chức chấm dứt vị trí công việc thì cũng phải kê khai tài sản, thu nhập, lợi ích và chi phí

Tiếp đến, cần xây dựng mẫu kê khai và quy trình kê khai bảo đảm sự thuận tiện và chính xác trong việc kê khai và thu thập thông tin Ngày nay, công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ Vì vậy, việc kê khai và thu thập thông tin cũng dễ dàng hơn rất nhiều Vì vậy, việc kê khai tài sản, thu nhập, lợi ích và chi phí của cán bộ, công chức cần được điện tử hoá

1.2.5 Xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Về cơ bản, phần lớn các cán bộ, công chức sẽ trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập Tuy nhiên, cũng có không ít những trường hợp cán bộ, công chức cố tình che giấu hoặc kê khai không đúng sự thật về tài sản, thu nhập của mình Một nghiên cứu chỉ ra rằng này nếu không có cơ chế xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thì họ sẽ cung cấp những thông tin không có giá trị [59, tr 71] Vì vậy, vẫn cần có cơ chế kiểm tra, xác minh các thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Về mặt lý thuyết, có hai cơ chế xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Cơ chế thứ nhất: Xác minh tất cả các thông tin về tài sản, thu nhập của tất cả các cán bộ, công chức Cơ chế này có ưu điểm là không có cán bộ, công chức nào thoát khỏi thủ tục xác minh tài sản, thu nhập Vì vậy, buộc mỗi cán

bộ, công chức phải kê khai trung thực nếu không muốn bị phát hiện gian lận

và xử lý Tuy nhiên, cơ chế này có thực hiện được trên thực tế nếu đội ngũ cán bộ, công chức đông đảo Hầu như các hệ thống chính trị trên thế giới hiện nay không có khả năng áp dụng cơ chế này

Cơ chế thứ hai: Cơ chế này không xác minh tài sản, thu nhập của tất cả các cán bộ, công chức mà chỉ đưa ra các trường hợp xác minh cụ thể như sau:

Trang 35

- Xác minh tài sản, thu nhập của người đứng đầu và cấp phó của các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến cấp cơ sở;

- Xác minh tài sản, thu nhập theo lựa chọn: cơ quan có thẩm quyền sẽ bất ngờ lựa chọn bất kỳ cán bộ, công chức thuộc bất kỳ cơ quan, đơn vị nào

để xác minh;

- Xác minh tài sản, thu nhập trong trường hợp khi có căn cứ nghi ngờ

sự không trung thực về thông tin kê khai của một cán bộ, công chức nào đó;

- Xác minh tài sản, thu nhập trong trường hợp cán bộ, công chức đang

bị xử lý vi phạm liên quan đến hành vi tham nhũng;

- Xác minh tài sản, thu nhập khi có thông tin về hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức;

- Xác minh tài sản, thu nhập khi có đơn tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức

Như vậy, cơ chế thứ hai tỏ ra hợp lý và khả thi hơn Cơ chế này cho thấy tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức có thể bị xác minh tại bất kỳ lúc nào Do đó, cán bộ, công chức cần nghiêm túc và trung thực trong việc kê khai tài sản, thu nhập Tuy nhiên, cơ chế này đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm túc và thường xuyên công tác xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Nếu không sẽ dẫn đến sự “nhờn” trong công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Khi xác minh thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan thuế, cơ quan quản lý tài sản, ngân hàng và các cơ quan, tổ chức có liên quan khác cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, tài khoản của cán bộ, công chức Cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng của cán bộ, công chức Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể yêu cầu cơ quan tài chính phối hợp trong việc xác định giá trị của tài sản Các cơ quan, tổ

Trang 36

chức chuyên môn khác cũng có thể được yêu cầu phối hợp để xác định giá trị

sử dụng và đặc điểm của tài sản nếu cần thiết

1.2.6 Công bố thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Đoạn đầu của Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân…” Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tiếp cận thông tin của công dân Như vậy pháp luật cần bảo đảm người dân được tiếp cận thông tin về tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức Vấn đề cần phải làm rõ là liệu rằng có nên công bố thông tin về tài sản và thu nhập của tất

cả cán bộ, công chức ra công chúng hay không?

Nếu toàn bộ thông tin về tài sản và thu nhập của tất cả cán bộ, công chức được công bố rộng rãi ra công chúng thì tính minh bạch về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức được bảo đảm tuyệt đối Tuy nhiên, vấn đề công khai toàn bộ thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức có ảnh hưởng đến quyền riêng tư của cán bộ, công chức hay không? Liệu rằng sự an toàn của cán bộ, công chức có bị ảnh hưởng khi toàn bộ thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức được công bố rộng rãi ra công chúng

Trước hết, khi chưa đủ khả năng bảo đảm an toàn cá nhân cho cá nhân cán bộ, công chức và gia đình họ, không nên công bố rộng rãi thông tin tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Thông tin về tài sản, thu nhập của cán

bộ, công chức chỉ được công bố ở mức độ hạn chế:

Thứ nhất, chỉ công khai thông tin về tài sản, thu nhập của một số chức danh quan trọng như các thành viên trong cơ quan dân cử, người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước, toà án, … Trong trường hợp này, chỉ công khai thông tin chung chung, không công khai thông tin quá chi tiết

Thứ hai, chỉ công khai thông tin tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong nội bộ cơ quan, đơn vị, nơi cán bộ, công chức làm việc Trong

Trang 37

trường hợp cần đánh giá năng lực, đạo đức của cán bộ, công chức thì phải công khai thông tin chi tiết về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức đó

Thứ ba, trong một số trường hợp nhất định, chỉ công khai thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo yêu cầu của công dân trong trường hợp công dân có đơn tố cáo về hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức và thông tin nhân thân của người tố cáo rõ ràng, chính xác và được xác thực, đồng thời công dân đưa ra được căn cứ thuyết phục về hành vi phạm nhũng của cán bộ, công chức

1.2.7 Kiểm soát hành vi rửa tiền và các hành vi khác nhằm che giấu hoặc hợp pháp hoá tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trên thực tế, nhiều cán bộ, công chức tham nhũng sẽ áp dụng nhiều biện pháp nhằm làm hợp pháp hoá nguồn thu nhập bất hợp pháp hoặc che giấu tài sản, thu nhập bất chính của mình thông qua nhiều giao dịch khác nhau Vì vậy, bên cạnh cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, cần xây dựng các quy định và cơ chế kiểm soát hành vi rửa tiền và các giao dịch khác nhằm che giấu hoặc hợp pháp hoá tài sản, thu nhập của cán

Trang 38

1.2.8 Xử lý vi phạm trong kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Để bảo đảm cán bộ, công chức thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ công chức, đặc biệt là nghĩa vụ kê khai đúng, đầy đủ và trung thực tài sản, thu nhập của mình, pháp luật cần có chế tài phù hợp Kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là quan hệ hành chính giữa cơ quan có thẩm quyền với người có nghĩa vụ kê khai Vì vậy, chế tài phù hợp là các chế tài hành chính

Trước hết, hành vi vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức bao gồm:

- Không kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật;

- Chậm kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật;

- Kê khai không đúng thông tin về tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật; và

- Kê khai không đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật

Chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm sẽ phụ thuộc vào vị trí của cán

bộ, công chức Đối với, cán bộ được bầu cử, bầu thì biện pháp chế tài có thể là xoá tên khỏi danh sách ứng cử, bãi nhiệm Đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý thì biện pháp chế tài có thể là không bổ nhiệm, không bổ nhiệm lại, cách chức hoặc bãi nhiệm Đối với các vị trí công việc khác biện pháp chế tài

có thể là khiển trách, hạ bậc lượng, giáng chức, cách chức hoặc buộc thôi việc

Ngoài chế tài áp dụng cho cán bộ, công chức vi phạm nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, pháp luật cần có quy định về các chế tài áp dụng cho cán bộ, công chức có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trang 39

nhưng có hành vi bao che Các chế tài có thể là chế tài hành chính, nhưng đối với một số hành vi nhất định phải áp dụng chế tài hình sự Trong trường hợp hành vi bao che gây thiệt hại cho Nhà nước thì phải bồi thường thiệt hại

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

1.3.1 Yếu tố chủ quan

Hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan, đó chính là ý thức của cán bộ, công chức, cấp trên của họ và cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản

Trước hết, hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức chịu ảnh hưởng bởi ý thức của đội ngũ cán bộ, công chức là đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập Nếu đội ngũ cán bộ, công chức có ý thức cao, nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ mục tiêu và ý nghĩa của kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thì hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức sẽ cao Theo đó, cán bộ, công chức sẽ nghiêm chỉnh chấp hành đầy đủ các yêu cầu của việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức Các thông tin về tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức sẽ trung thực, đầy đủ và hữu ích trong công tác phòng, chống tham nhũng Ngược lại, nếu có một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức có ý thức coi thường pháp luật, không coi trọng kỷ cương, phép nước, luôn có khuynh hướng đối phó, bệnh hình thức, thì việc kê khai tài sản, thu nhập chỉ mang tính hình thức Những cán bộ, công chức này sẽ tìm mọi cách che giấu tài sản, thu nhập và kê khai tài sản, thu nhập một cách hình thức và đối phó Kết quả là những thông tin được cung cấp không trung thực và đầy đủ, không phản ánh đúng tình trạng kinh tế và các mối quan hệ liên quan đến tài sản và thu nhập của những cán bộ, công chức này Như vậy, nếu ý thức của một phận không nhỏ cán bộ, công chức không tốt sẽ ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Trang 40

Ngoài ra, ý thức và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi công chức làm việc cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Trước tiên, bản thân người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi công chức làm việc cũng là đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập Nếu người đứng đầu cơ quan, đơn vị gương mẫu, nghiêm túc kê khai một cách trung thực và đầy đủ tài sản và thu nhập của mình thì các cán

bộ, công chức dưới quyền sẽ noi gương theo và thực hiện nghiêm chỉnh Ngược lại, người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ nêu gương xấu cho cấp dưới Yếu tố này làm ảnh hưởng đến hiệu quả Ngoài ra, trong trường hợp người đứng đầu cơ quan đơn vị có nhiệm vụ đôn đốc cán bộ, công chức dưới quyền thực hiện kê khai tài sản thu nhập, nếu người đứng đầu là người nghiêm túc,

có trách nhiệm và kỷ luật trong công việc thì hiệu quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức sẽ cao Nếu ngược lại thì kết quả sẽ thấp, thậm chí người đứng đầu còn vẽ đường cho hươu chạy thì càng không tốt

Cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức Nếu người đứng đầu và toàn thể nhân lực của bộ máy kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức thực sự nghiêm túc, chí công, vô tư, có trách nhiệm cao trong công tác thì hoạt động kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức sẽ hiệu quả Tuy nhiên, nếu bộ máy kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức có sự nể nang, bao che thì hiệu quả kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức sẽ rất thấp

và chỉ mang tính hình thức

Cuối cùng, ý thức của quần chúng nhân dân cũng rất quan trọng Nếu quần chúng nhân dân có hiểu biết, tích cực tham gia vào công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức thì hoạt động này sẽ càng hiệu quả hơn Với tai mắt của nhân dân, cơ quan có thẩm quyền sẽ thu thập được nhiều thông tin có giá trị liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức

Ngày đăng: 24/12/2020, 22:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w