thật giản dị mà độc đáo: đất nước được tạo nên bởi sức mạnh và tình nghĩa của nhân dân, đất nước là của nhân dân, muốn hiểu đất nước phải hiểu nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của[r]
Trang 1TRƯỜNG THPT AN KHÁNH TỔ NGỮ VĂN
Tài liệu ôn thi TNTHPTQG năm học: 2020 – 2021(Lưu hành nội bộ)
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP THPT
B Các bước đọc- hiểu văn bản : Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học về làm văn và
tiếng Việt để trả lời các câu hỏi nhận biết nội dung thông tin trong văn bản Vận dụng những trải nghiệm của bản thân để trả lời câu hỏi vân dụng (bộc lộ tư duy và quan điểm của cá nhân)
* Bước 1: Đọc kĩ văn bản để hiểu ngôn từ: hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển
cố, các phép tu từ, hình ảnh… (đối với thơ) Đối với tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện và các sự viêc, chi tiết từ mở đầu đến kết thúc
* Bước 2: Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật: hình tượng trong văn bản văn học hàm
chứa nhiều ý nghĩa
* Bước 3: Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học: phải
phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản
C Kĩ năng đọc - hiểu theo các mức độ:
- Hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ, thao tác lập luận
- Thông điệp của văn bản
- Đặt nhan đề
Vận dụng những trải nghiệm của bản thân để trả lời câu hỏi
mở (bộc lộ tư duy và quan điểm của cá nhân)
2 Các dạng câu hỏi đọc- hiểu
Trang 22
a) Dạng câu hỏi nhận biết
* Nhận biết phương thức biểu đạt của văn bản:
- Đặc điểm của các phương thức:
- Kĩ năng trả lời:
+ Đọc kĩ văn bản, dựa vào đặc điểm của các phương thức biểu đạt để trả lời
+ Nếu câu hỏi hỏi phương thức biểu đạt chính, chỉ trả lời một phương thức,
còn hỏi các phương thức thì xác định từ hai trở lên
* Nhận biết phong cách chức năng ngôn ngữ của văn bản
- Đặc điểm của các phong cách chức năng ngôn ngữ:
- Tính cá thể
Sinh hoạt
Miêu tả Dùng chi tiết, hình ảnh giúp người đọc hình dung ra được
những đặc điểm nổi bật của sự việc, sự vật, con người…làm cho những đối tượng được nói đến nhu hiện ra ngay trước mặt người đọc
Tự sự Trình bày một chuỗi sự việc liên quan với nhau…sự việc này
dẫn đến sự việc kia, cuối cùng có kết thúc nhằm giải thích sự việc
Biểu cảm Bày tỏ tư tưởng, tình cảm, thái độ, của người viết đối với đối
tượng được nói tới
Thuyết minh Trình bày, giới thiệu, giải thích…nhằm làm rõ đặc điểm của đối
tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên và xã hội
Nghị luận Dùng lí lẽ và dẫn chứng làm sáng tỏ luận điểm nhằm thuyết
phục người nghe về một tư tưởng, quan điểm
Hành chính - công
vụ
Truyền đạt nội dung yêu cầu của cấp trên hoặc bày tỏ ý kiến nguyện vọng của cá nhân tới cơ quan hoặc người có quyền để giải quyết
Trang 3PCNN báo chí Bản tin, phóng sự, tiểu phẩm, thư
bạn đọc, phỏng vấn, bình luận thời sự,…
- Tính thông tin, thời
- Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận
- Tính truyền cảm, thuyết phục
Ngôn ngữ chính luận
PCNN khoa
học
-Luận án, luận văn, báo cáo khoa học
- Giáo trình, giáo khoa
- Sách phổ biến khoa học kĩ thuật
- Tính trừu tượng, khái quát
- Tính lí trí, logic
- Tính phi cá thể
Ngôn ngữ khoa học
- Kĩ năng trả lời:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào đặc điểm của các phong cách chức năng ngôn ngữ để trả lời
Vd: Chắc rằng bạn không thể lường trước được bệnh cúm có thể tấn công nhanh và
mạnh đến mức nào trong mùa đông Nó có thể khiến nạn nhân bị bệnh trong nhiều tuần Cách tốt nhất để chống lại vi-rút là giữ một cơ thể khỏe mạnh Việc tập luyện hằng ngày và chế độ ăn uống kèm với thật nhiều hoa quả và rau xanh rất được khuyến khích để hỗ trợ hệ thống miễn dịch nhằm chống lại các vi-rút này xâm nhập vào cơ thể
(Theo "Chương trình tiêm chủng cúm tự nguyện của ACOL")
Phong cách ngôn ngữ khoa học
Trang 44
Văn bản đề cập đến những thông tin khoa học phổ cập kiến thức về sức khỏe Bên
cạnh đó văn bản có chứ nhiều thuật ngữ y học: bệnh cúm, vi-rút, chế độ ăn uống, hệ
thống miễn dịch
* Nhận biết các biện pháp nghệ thuật
- Đặc điểm của các biện pháp nghệ thuật:
+ Biện pháp điệp: điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp, điệp âm, điệp vần
Ðiệp là biện pháp lặp đi lặp lại có ý thức những từ, ngữ… nhằm mục đích mở rộng, nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc
+ Biện pháp nhân hóa: là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,…bằng những từ
ngữ vốn được gọi hoặc tả con người để biểu thị những suy nghĩ, tình cảm của con người
+ Biện pháp ẩn dụ: gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm sức gợi hình, gợi cảm, hàm súc cho sự diễn đạt + Biện pháp hoán dụ: gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên gọi của sự
vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi cảm cho sự diễn đạt
+ Biện pháp tu từ nói giảm – nói tránh: dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chyển
nhằm lảng tránh cảm giác đau buồn, thô tục, thiếu văn hóa
+ Biện pháp tương phản (đối) : là cách dùng các từ ngữ biểu thị những khái
niệm đối lập cùng xuất hiện trong một văn cảnh làm rõ được đặc điểm của đối tượng được miêu tả
+ Biện pháp liệt kê : là cách sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để
diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế, tư tưởng
tình cảm
+ Chêm xen : tách bằng ngữ điệu khi nói, khi đọc Còn khi viết thì chúng được
tách ra bằng dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu gạch ngang Chúng có tác dụng ghi chú hoặc giải thích cho từ ngữ đi trước, bổ sung thông tin thêm sắc thái về tình cảm, cảm xúc của người viết
* Kĩ năng trả lời :
- Đọc kĩ văn bản, tìm hình ảnh, từ ngữ biểu đạt giá trị nghệ thuật
- Gọi tên biện pháp nghệ thuật và liệt kê các hình ảnh biểu đạt các giá trị nghệ thuật
Vd: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ sau:
Trang 5
5
Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Biện pháp tu từ: so sánh (như dát ngọc)
* Nhận biết thông tin trong văn bản
- Từ, ngữ, hình ảnh biểu đạt, nhận định của người tạo lập văn bản
- Kĩ năng trả lời: đọc kĩ câu hỏi, đọc văn bản tìm thông tin trả lời
Lưu ý: bám sát thông tin văn bản, không được diễn đạt lại từ, ngữ, câu văn
Vd: Cuộc sống gian khổ và nguy hiểm của người lính trên đảo được miêu tả qua
những từ ngữ, hình ảnh nào?
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Cho biển cả không còn hoang lạnh
Đứa ở đồng chua
Đứa vùng đất mặn
Chia nhau nỗi nhớ nhà
Hoàng hôn tím ngát xa khơi
Chia nhau vì vui
Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng
Chúng tôi coi thường gian nan
Dù đồng đội tôi có người ngã trước miệng cá mập
Có người bị chôn dùi dưới cơn bão dữ tợn,…
(Trích Hát về một hòn đảo - Trần Đăng Khoa)
Cuộc sống gian khổ và nguy hiểm của người lính trên đảo được miêu tả qua những từ
ngữ, hình ảnh: trần trụi giữa trời, lều bạt, gian nan, có người ngã trước miệng cá mập,
Có người bị chôn dùi dưới cơn bão dữ tợn
b) Dạng câu hỏi thông hiểu:
* Hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ: cần thực hiện theo mô hình sau:
- Tác giả sử dụng/ hoặc sử dụng kết hợp những biện pháp tu từ nào? Ở đâu?
- Tác dụng: thể hiện/ nhấn mạnh/bộc lộ/khẳng định,
• Nội dung trên đoạn văn/ đoạn thơ
• Thể hiện tình cảm của tác giả;
• Tạo nhịp điệu/ giọng điệu cho đoạn văn/đoạn thơ;
• Tăng sức thuyết phục, gợi hình, gợi cảm cho đoạn văn/ đoạn thơ
Trang 66
Lưu ý: Khi đề chỉ yêu cầu nêu hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ trong văn bản,
nhưng khi trả lời chúng ta vẫn gọi tên biện pháp tu từ sau đó mới nêu hiệu quả biểu đạt
Vd: Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau:
Cái hào hiệp ngang tàng của gió
Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ
Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời
Cái giản đơn sâu sắc như đời
Cách trả lời:
- Biện pháp: điệp từ (cái), điệp cú pháp (Cái hào hiệp,…)
- Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh vẻ đẹp phong phú của biển cả (về nội dung)
+ Tạo giọng điệu hào hứng, say mê (về nghệ thuật)
*Hiểu được ý của từ, của câu
- Nghĩa sự việc là sự việc, nội dung được đề cập trong từ ngữ, câu
- Nghĩa tình thái là tình cảm, thái độ của người viết thể hiện trong văn bản
Vd: Hãy xác định nội dung của các dòng thơ sau:
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng
Bao kiếp người trong đáy lạnh mù tăm
Nội dung của các dòng thơ:
- Thể hiện sự vất vả, hi sinh của con người
- Bộc lộ niềm thương cảm của tác giả
*Hiểu được nội dung, thông điệp của văn bản
Đọc kĩ văn bản dựa vào các yếu tố sau để trả lời:
- Tên văn bản
- Tiêu đề trong nội bộ văn bản (Câu chủ đề)
- Hệ thống từ ngữ chủ đề của văn bản (những từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần trong văn bản
Vd : Anh/Chị hãy xác định nội dung trong các dòng thơ sau :
« Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn, váy nhuôm nâu bốn mùa »
( Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)
Cần áp dụng cách sau đây để trả lời câu hỏi :
Trang 77
- Đoạn trích/ đoạn thơ miêu tả gì ?
- Qua đó người viết/ nhà thơ muốn thể hiện điều gì ?
Đoạn thơ miêu tả hình ảnh người mẹ hiện lên với sự thiếu thốn, vất vả, nghèo khổ nhưng rất đơn sơ, mộc mạc, giản dị,…Qua đó bày tỏ tình cảm yêu thương, kính trọng và thể hiện lòng biết ơn của mình đối với sự
hi sinh thầm lặng của mẹ
Lưu ý : trả lời ngắn gọn, bám sát ý từng đoạn trong văn bản, không ghi lại nhiều thông
tin trong văn bản
c) Dạng câu hỏi vận dụng:
- Vận dụng kiến thức thực tế để phản biện, lí giải vấn đề đặt ra từ văn bản đọc hiểu
Lưu ý: bám sát vào câu hỏi kết hớp với kiến thức thực tế của bản thân để phản
biện (đúng/sai, đồng tình/không đồng tình) Cần lí giải ngắn gọn, thuyết phục
Vd: Anh/Chị có đồng tình với quan niệm cho rằng: “Cô không phải là người nông
dân một nắng hai sương làm ra hạt thóc, nhưng cô dạy con biết quý bát cơm chan chứa mồ hôi Cô không phải người công nhân kĩ sư kiến thiết mọi nơi, nhưng cô xây cho con một tương lai phía trước.” không? Vì sao?
- Tôi hoàn toàn đồng ý với quan niệm cho rằng: “Cô không phải… phía
trước”
- Vì: khác với người nông dân và người kĩ sư, giáo viên là người làm nghề
dạy học vừa cung cấp cho học sinh những tri thức để có trí tuệ vừa giáo dục học sinh phát triển nhân cách hướng tới cái chân, thiện, mĩ Ngoài ra người giáo viên còn có định hướng phát triển cho học sinh trong tương lai
D GIẢI ĐỀ ĐỌC - HIỂU
ĐỀ 1:
Đọc đoạn trích dưới đây:
Trung thực rất tinh tế và khó phân biệt qua lời nói hay hành động Đôi khi đức tính trung thực bị xem là đã “lỗi thời”, chỉ còn trên sách vở, không thực tế hoặc chẳng hay
ho gì để ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, trung thực là yếu tố căn bản
để có sự bình an trong tâm trí, là nền tảng cho sự tự do nội tâm và mối quan hệ lành mạnh Trước đây, tôi từng cho rằng bình an là giá trị quan trọng nhất, nhưng giờ tôi thấy trung thực mới chính là nền tảng của tất cả giá trị khác.
Gần đây tôi có gặp một phụ nữ trẻ, xinh đẹp, có ba người con rất đáng yêu Giỏi giang, thông minh và giàu có nhưng chị tâm sự chị không hài lòng chút nào về bản thân Chị luôn so sánh mình với hai người chị dâu, là những nữ doanh nhân cực kì sắc sảo và thành đạt Chị đánh giá mình chỉ là một người phụ nữ vô tích sự, chẳng làm được trò trống gì, đã thế lại còn thất nghiệp Thực ra, chị đã không trung thực với chính mình khi chỉ nhìn vào những điểm mạnh của những người chị dâu, và đánh giá
họ hoàn toàn dựa trên những cái mình không có Trung thực trong lòng giúp ta đánh giá lại mình một cách chính xác và thực tế: biết và đánh giá cao ưu điểm của mình bên cạnh việc nhận ra nhược điểm của bản thân
Trang 88
(Trích Lăng kính tâm hồn- Trish Summerfield,NXB Tổng hợp tp Hồ Chí Mimh)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên Câu 2 Trong văn bản, tác giả đã chỉ ra sai lầm nào của người phụ nữ khi nhận thức
về bản thân?
Câu 3 Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến: Trung thực là yếu tố căn bản để có
được sự bình an trong tâm trí, là nền tảng cho sự tự do nội tâm và mối quan hệ lành mạnh?
Câu 4 Anh /chị có đống tình với quan niệm: Thiếu sự trung thực với chính mình
sẽ đồng nghĩa với việc nhận thức sai về bản thân không? Vì sao?
ĐỀ 2:
Đọc đoạn trích dưới đây:
Giữa lúc dịch Covid-19 căng thẳng ở Pháp, một dòng tin nhắn xuất hiện trong nhóm người Việt tại Pháp: "Mến chào các anh chị và các bạn Nếu nhóm mình có ai nấu cơm cho các y bác sĩ thì cho em góp chút sức "
Nước Pháp đang thực hiện lệnh phong tỏa, số người nhiễm Covid-19 và tử vong tăng cao mỗi ngày Người dân hoang mang, thận trọng Khắp nơi, không khí chùng xuống nặng nề Các y bác sĩ ở bệnh viện vắt hết sức chạy đua với khối công việc khổng
Thắc mắc của vị bác sĩ Pháp: “sao người Việt Nam nào cũng dễ thương và tử tế?” Câu trả lời đơn giản nhất: “Bởi chúng tôi là người Việt Nam”
(Trích Giữa dịch Covid, bác sĩ Pháp đặt câu
hỏi: Sao người Việt Nam luôn tử tế - Báo Thanh
niên)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Nêu phong cách ngôn ngữ của văn trên
Câu 2 Theo tác giả, trái tim Việt là những ai?
Câu 3 Anh chị hiểu như thế nào về câu trả lời “Bởi chúng tôi là người Việt Nam”
trước thắc mắc của vị bác sĩ người Pháp?
Câu 4 Điều gì khiến anh/chị tâm đắc nhất qua văn bản trên? Vì sao?
Trang 9Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân Ta biết cho đi hơn là nhận lại Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình
Thử thách của tuổi mới lớn có thể chỉ đơn giản là một cú vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn Em hãy thử đi xa hơn, bước tới những thử thách rằng ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng Ai truyền đi những năng lượng tích cực mạnh mẽ hơn Ai biết sống vì người khác, vì bạn bè còn gian khó, vì làng quê còn nghèo nàn, vì đất nước còn lạc hậu, vì dân tộc còn tụt lại phía sau
Mỗi ngày hãy nhìn thẳng vào phía Mặt Trời thiêu đốt và vạch những vạch đinh hằn mốc đánh dấu trưởng thành của mình theo cách cao thượng: cách trưởng thành khi em biết nghĩ về những điều dài rộng và biết sống vì người khác
(Trích Bút kí Sống như cây rừng, Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr 191)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên? Câu 2 Theo tác giả, biểu hiện của sự trưởng thành là gì?
Câu 3 Anh/ chị hiểu như thế nào về ý kiến: Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của
mình Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân?
Câu 4 Anh/ chị có đồng tình với ý kiến: Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta
trưởng thành lên? Vì sao?
ĐỀ 4:
Đọc đoạn trích dưới đây:
Mỗi ngày, chúng tôi phải đi cho hết đoạn đường hoặc dài, hoặc ngắn tuỳ theo những làng ở cách xa hay gần Chúng tôi phải diễn trò mỗi khi gặp chỗ đông đúc có thể thu được tiền Chúng tôi phải luyện lại những vai trò của các con chó và con Giôlicơ Chúng tôi còn phải nấu cơm bữa sáng, bữa chiều Xong những việc đó, mới
là thì giờ để học chữ hay học nhạc Nơi dừng chân để học phần nhiều là trong quán chợ, dưới gốc cây hay trên đống đá, lấy bãi cỏ hay vệ đường làm bàn để bày những miếng gỗ Cách học tập này khác hẳn cách học tập đối với phần đông những trẻ bằng tuổi tôi được đến nhà trường Chúng không phải làm lụng gì, chỉ có việc học Thế mà nhiều khi chúng còn phàn nàn là không đủ thì giờ để làm bài Nhưng có một điều quan trọng gấp mấy thì giờ để học tập, đó là sự chuyên cần Không phải dành nhiều thời gian để học bài là có thể ghi được bài đó vào ký ức của ta đâu, mà cái chính là sự tập trung tư tưởng kia May cho tôi, tôi đã tập trung hết tâm trí vào việc học không bị thú chơi đùa cám dỗ Nếu tôi chỉ có việc ngồi trong phòng với hai tay bịt tai, hai mắt dán vào quyển sách như vài đứa trẻ ù lì khác, thì liệu tôi sẽ học được gì? Chẳng được gì
Trang 1010
cả, vì chúng tôi không có buồng để giam mình, và trong khi đi đường, tôi phải luôn nhìn xuống chân cho khỏi vấp ngã
(Trích Không gia đình – Hecto Malot)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Chỉ ra phương thứ biểu đạt chính của văn bản trên
Câu 2 Cách học của cậu bé trong đoạn văn trên có khác gì so với cách học tập của
phần đông những đứa trẻ được đến trường?
Câu 3 Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật trong đoạn sau: Mỗi ngày,
chúng tôi phải đi cho hết đoạn đường hoặc dài, hoặc ngắn tuỳ theo những làng ở cách
xa hay gần Chúng tôi phải diễn trò mỗi khi gặp chỗ đông đúc có thể thu được tiền Chúng tôi phải luyện lại những vai trò của các con chó và con Giôlicơ Chúng tôi còn phải nấu cơm bữa sáng, bữa chiều
Câu 4 Anh/chị có đồng tình với quan điểm “một điều quan trọng gấp mấy thì giờ
để học tập, đó là sự chuyên cần” không? Vì sao?
ĐỀ 5:
Đọc đoạn trích sau:
Nước Mỹ hùng mạnh với tầu vũ trụ lên mặt trăng, tầu ngầm vượt đại dương, tên lửa vượt châu lục, quốc gia giàu nhất thế giới nhưng cũng bị virus Covid làm cho thất điên bát đảo Nước Ý xinh đẹp bên bờ Địa Trung Hải thì hơn 18 000 người chết Phi thuyền, tầu ngầm, tên lửa hạt nhân, dường như không địch nổi những con virus vô hình và biến đổi chủng loại không lường Các nền kinh tế thị trường hùng mạnh cũng
bị khủng hoảng Giá dầu lao dốc Hơn 10 triệu ngườ lao động ở Mỹ đệ đơn xin trợ cấp thất nghiệp Các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới đang điên đảo bởi những con Covid vô hình “WTO dự báo kim ngạch thương mại toàn cầu sẽ sụt giảm mạnh hơn nhiều so với mức 12,6% của khủng hoảng 2009”
Virus Covid 19 không từ một ai, từ công dân hạng bét đến thượng lưu quý tộc Thái
tử Charles con trai cả Nữ hoàng Elizabeth II, người kế vị ngài vàng nước Anh cũng dương tính virus corona Phó tổng thống Iran và hàng hoạt quan chức cao cấp của đất nước tấm thảm bay cũng nhiễm Covid từ đầu tháng 3 Mới nhất, Covid đã kịp làm cho ông Matt Hancock - Bộ trưởng Y tế Anh và ngài Boris Johnson - Thủ tướng Anh dương tính virus corona phải tự cách ly Loài người bị những virus vô hình quật cho tơi bời, chẳng biết về sau có ngạo nghễ coi mình là Chúa tể của muôn loài với cái nghĩa quyền sinh quyền sát không
Chưa bao giờ tiềm năng, sức mạnh cũng căn tính dân tộc yếu kém của các quốc gia hiển lộ, phơi bày như “chiến tranh chống virus Covid” hiện nay Chính phủ, quốc gia nào chủ quan, bỏ qua thời cơ vàng, thụ động chống dịch thì bị trả giá nặng nề Chính phủ, quốc gia nào chủ động tổ chức phòng chống ngay từ đầu, quyết liệt thì bớt đau thương
Chủng loài virus corona mới này đến từ đâu, mà cả gan xâm lược đánh phá loài người? Dĩ nhiên, chúng không đến từ hành tinh khác Chúng đến từ trái đất Cuộc chiến này không phải “chiến tranh giữa các vì sao”, mà trận tuyến là hai giống loài trên địa cầu này: Con người và virus Covid Giặc Covid lại bình đẳng gây bệnh cho
Trang 1111
bất cứ cá thể nào, quốc gia nào Chúng không ưu ái nước lớn, mà cũng chẳng bạc đãi nước nhỏ Trong cuộc chiến này, các cường quốc không có quyền áp đặt luật chơi với virus Covid, như đã từng áp đặt, chia chác lãnh thổ, tài nguyên trên lưng nước nhỏ
(https://vietnamnet.vn - “Loài người có bớt ngạo mạn?” (trích) - Sương Nguyệt
Minh)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra phong cách ngôn ngữ chính được sử dụng trong đoạn trích trên Câu 2: Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào về việc “Virus Covid 19 không từ
một ai”?
Câu 3: Anh/ chị hiểu như thế nào về câu: Giặc Covid lại bình đẳng gây bệnh cho
bất cứ cá thể nào, quốc gia nào?
Câu 4: Anh/ chị có đồng tình với quan điểm: Chính phủ, quốc gia nào chủ động tổ
chức phòng chống ngay từ đầu, quyết liệt thì bớt đau thương? Vì sao?
ĐỀ 5:
Đọc đoạn trích dưới đây:
Nước mắt này chẳng muốn rớt đâu con
Về đi thôi, bữa cơm chiều vẫn đợi Cây khế già, cây xoan nâu cứ hỏi…
Dáng yêu thương sao lạc mãi chưa về?
Áo con xanh và mái tóc còn xanh Như lá đang xuân, sao lìa cành bất chợt?
Mẹ hỏi trời, trời mưa nhòe tấm tức
Mẹ hỏi đất, đất câm nín không hay
Chiếc áo sờn, hơi ấm vẫn còn đây
Mẹ cầm trên tay – bế bồng thơ ấu Quản gì đâu bao mồ hôi xương máu Cho hôm nay con khôn lớn hình hài
Để hoàng hôn đời mẹ vẫn thấy nắng ban mai Lấp lánh mắt con khoác trên mình cảnh phục Người chiến sĩ sẽ vì dân vì nước
Nối gót cha ông, yêu dòng máu Lạc Hồng […]
Đất nước tự hào vì có các con Nhịp trái tim đập nhịp bình yên sông núi Ngủ đi con, cho mẹ ru lần cuối
Giấc thảnh thơi bay đến những mặt trời
Trang 1212
(Trích Ngủ đi con, cho mẹ ru lần cuối… - Lương Đình Khoa)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên
Câu 2 Chỉ ra và nếu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Áo con xanh và mái tóc còn xanh Như lá đang xuân, sao lìa cành bất chợt?
Câu 3 Anh chị hiểu như thế nào về hai câu thơ: Đất nước tự hào vì có các con -
Nhịp trái tim đập nhịp bình yên sông núi
Câu 4 Nêu cảm nhận của anh/chị về tấm lòng người mẹ trong đoạn trích trên?
Trang 1313
PHẦN II : LÀM VĂN
A KĨ NĂNG DỰNG ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI THEO NHỮNG YÊU CẦU KHÁC NHAU
I Các mức độ của dạng đề nghị luận xã hội
Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng/ vận dụng cao
Nhận biết các dạng
đề: một tư tưởng
đạo lí, một hiện
tượng đời sống
Vấn đề nghị luận Vận dụng kiến thức, kĩ năng nghị
luận về một tư tưởng đạo lí, một hiện tượng đời sống để tạo lập một đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân về đề tài xã hội được gợi
từ ngữ liệu đọc - hiểu
Hiểu được quy trình, cách thức viết đoạn văn nghị luận 200 chữ
Bày tỏ được ý kiến, quan điểm của bản thân trên cơ sở kết nối giữa nội dung, ý nghĩa của đoạn đọc hiểu với thực tiễn cuộc sống
II Cấu trúc đoạn : trình bày bằng một đoạn văn hoàn chỉnh, đủ số chữ theo yêu cầu của đề, gồm ba phần :
1 Đoạn văn diễn dịch
Là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát, đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai cụ thể ý của của câu chủ đề, bổ sung làm rõ cho câu chủ đề Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, có thể kèm theo nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nhận của người viết
*Vd: Nhật kí trong tù canh cánh một tấm lòng nhớ nước Chân bước đi trên đất
bắc mà lòng vẫn hướng về Nam, nhớ đồng bào trong cảnh lầm than, có lẽ nhớ cả tiếng khóc của em bé Trung Quốc, nhớ người đồng chí đưa tiễn bên sông, nhớ lá cờ nghĩa đang tung bay phất phới Nhớ trong lúc tỉnh và cả trong giấc mơ
Hoài Thanh
Câu 1 là câu chủ đề, mang ý nghĩa khái quát, các câu còn lại triển khai cụ thể
ý của của câu chủ đề
2 Đoạn văn quy nạp
Là đoạn văn được trình bày đi từ các ý nhỏ đến ý lớn, từ các ý chi tiết đến ý khái quát, từ ý luận cứ cụ thể, đến ý kết luận bao trùm Theo cách trình bày này câu chủ đề nằm ở vị trí cuối đoạn Ở vị trí này câu chủ đề không làm nhiệm vụ định hướng nội dung triển khai cho toàn đoạn mà lại làm nhiệm vụ khép lại nội dung cho đoạn ấy
Trang 1414
Các câu trên được trình bày bằng các thao tác lập luận, minh họa, cảm nhận và rút ra nhận xét đánh giá chung
*Vd: Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách
Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ
(Hồ Chí Minh) Các câu đầu là luận cứ cụ thể để dẫn đến ý kết luận bao trùm ở cuối đoạn
3 Đoạn tổng - phân - hợp
Là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp Câu mở đầu đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo triển khai cụ thể ý khái quát Câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu triển khai ý được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét đánh giá hoặc nêu suy nghĩ … từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp, khẳng định, nâng cao vấn
đề
*Vd: Trong hoàn cảnh “trăm dâu đổ đầu tằm”, ta càng thấy chị Dậu thật là một
người phụ nữ đảm đang, tháo vát Một mình chị phải giải quyết mọi khó khăn đột xuất của gia đình, phải đương đầu với những thế lực tàn bạo: quan lại, cường hào, địa chủ
và tay sai của chúng Chị có khóc lóc t có kêu trời, nhưng chị không nhắm mắt khoanh tay, mà tích cực tìm cách cứu được chồng ra khỏi cơn hoạn nạn Hình ảnh chị Dậu hiện lên vững chãi như một chỗ dựa chắc chắn của cả gia đình
(Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh)
Câu mở đầu đoạn văn trên nêu lên môt nhận định chung về nhân vật Hai câu khai
triển đoạn đưa ra các biểu hiện cụ thể minh họa cho nhận định chung ấy Từ những chứng cớ cụ thể này, câu kết đoạn đúc kết thành một nhận định mới vừa phù hợp với nhận định ban đầu, vừa được nâng cao hơn Đó là mô hình tổng hợp – phân tích – tổng
hợp (tổng – phân – hợp)
4 Đoạn văn song hành
Là đoạn văn có các câu triển khai nội dung song song nhau, không nội dung nào bao trùm lên nội dung nào Mỗi câu trong đoạn văn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn làm rõ cho nội dung đoạn văn
5 Đoạn văn móc xích
Là đoạn văn mà các ý gối đầu đan xen nhau và thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ đã có ở câu trước vào câu sau Đoạn móc xích có thể có hoặc không có câu chủ đề
III Các bước viết đoạn văn nghị luận 200 chữ
* Bước 1 : đọc kĩ đề, xác định vấn đề cần nghị luận
* Bước 2 : tìm ý
+ Tìm ý chủ đề
+ Tìm ý bổ trợ cho chủ đề
Trang 1515
* Bước 3 : xác định thao tác lập luận và phương thức biểu đạt
* Bước 4 : viết đoạn văn
*Vd:
ĐỀ 1: Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự trải nghiệm trong cuộc
sống
Ý chủ đề: vai trò của trải nghiệm đối với cuộc sống Ý bổ trợ: Trải nghiệm là tự
mình trải qua để có được hiểu biết, kinh nghiệm; tích lũy được nhiều kiến thức và vốn sống Trải nghiệm đem lại hiểu biết và kinh nghiệm thực tế; giúp chúng ta mau chóng trưởng thành về cách nghĩ, cách sống Trải nghiệm giúp mỗi người dấn thân, thử nghiệm để sáng tạo; biết cách vượt qua những trở ngại khó khăn, tôi luyện bản lĩnh, ý chí để thành công Lấy dẫn chứng về những người trải nghiệm để chứng minh (Bill Gates, Steven Job, Đoàn Nguyên Đức, Đặng Lê Nguyên Vũ, ) Thực tế, nhiều bạn trẻ chưa coi trọng hoạt động trải nghiệm để bản thân trưởng thành Đó là những người chỉ chú ý vào việc học tập, thi cử mà chưa chủ động, tích cực trải nghiệm, rèn kỹ năng sống Khuyên con người, đặc biệt là những người trẻ cần trải nghiệm để khám phá cuộc sống và chính mình
ĐỀ 2: viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến: Không nên
dùng roi vọt để đánh trẻ em:
Phần mở đoạn (chủ đề): Không nên dùng roi vọt để trừng phạt trẻ em Phần phát
triển đoạn (bổ trợ ý chủ đề) Sở dĩ như vậy vì trẻ em có cơ thể bé nhỏ, yếu đuối, dễ bị
tổn thương cả thể chất lẫn tinh thần Gần đây có rất nhiều vụ bạo hành trong các trường mầm non bị xã hội lên án dữ dội Nhưng người Việt có câu “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, đó là cách mà nhiều gia đình vẫn dạy con cái Tuy nhiên, cách thức đó là kinh nghiệm lạc hậu, phản khoa học Trẻ có thể sợ hãi người lớn
và nghe lời Nhưng sau khi đã quen bị bạo hành, trẻ sẽ có tâm lý cũng như các hành động cực đoan Nhiều đứa trẻ từ chỗ là nạn nhân, có xu hướng chống đối gia đình, đi
bắt nạt bạn bè hoặc trở thành người đi bạo hành, gây tội ác cho xã hội sau này Phần kết đoạn (khẳng định lại ý chủ đề) Như vậy, cần phải loại bỏ cách dạy trẻ em bằng
roi vọt Người lớn cần học cách điều chỉnh cảm xúc của mình, thấu hiểu trẻ, giúp trẻ
sửa sai, đưa ra các quy tắc đồng thuận, quan tâm và bao dung với trẻ
IV Triển khai đoạn văn
1 Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
Trang 1616
- Vì sao nói như vậy? Biểu hiện của vấn đề như thế nào?
- Phải làm như thế nào?
- Ai/Chuyện gì có thể minh chứng cho điều đó?
- Phản biện/Phê phán/ Bổ sung/ để nhìn nhận vấn đề từ
nhiều góc độ
KẾT ĐOẠN
- Đánh giá/Cảm nghĩ của bản thân về vấn đề
- Liên hệ rút ra bài học nhận thức và hành động( Thông điệp)
Từ 2-3 câu
Vd: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng
200 chữ về điều bản thân cần thay đổi để có được thành công trong cuộc sống
MỞ ĐOẠN (1 – 2 câu)
Trong cuộc sông thành công là điều ai ai cũng mong muốn Để có được thành công, tôi nghĩ rằng bản thân không ngừng thay đổi từ suy nghĩ đến hành động theo hướng tích cực
PHÁT TRIỂN ĐOẠN (Thay đổi từ suy nghĩ đến hành động theo hướng tích cực để
thành công)
Thay đổi là điều tất yếu để ta tốt hơn từng ngày
Mỗi người đều có điểm yếu và điểm mạnh Nhìn nhận để thay đổi là dần khắc phục những điểm yếu, phát huy những điểm mạnh, lợi thế mình có được Hơn nữa cuộc sống là một quá trình phát triển luôn đặt mọi người trước những trải nghiệm mới, những thử thách mới Khi thay đổi ta sẽ có niềm tin vào chính mình, từ đó sẽ phát huy sự sáng tạo, nghĩ ra nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả công việc Những giải pháp đó gắn với những hành động trên nền tảng sự hiểu biết đưa đến sự thành công, đóng góp cho cộng đồng cho sự phát triển của nhân loại.Nhờ không ngừng thay đổi bản thân và sáng tạo, Henry Ford đã từ một tràng trai bình thường thành cha đẻ của ngành ô tô hiện đại của Mĩ Trong thời điểm hiện tại, tôi nghĩ bản thân mình không ngừng học tập để nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng sống và không quên cho mình thêm những trải nghiệm mới, cách làm mới Và cũng phải luôn tin vào bản thân để sống lạc quan mới có thể có tư duy, sáng tạo mang đến những giải pháp mới, cách làm mới Sống là phải thay đổi, thế nhưng vẫn còn nhiều người sống trì trệ, ngại thay đổi để phát triển
KẾT ĐOẠN
Tôi nghĩ rằng, không phải bất cứ thay đổi nào cũng lập tức mang đến thành công, nhưng bạn sẽ không bao giờ thành công nếu bạn không chịu thay đổi
Trang 17- Mô tả hiện tượng
- Giải thích những cụm từ quan trọng (nếu có)
- Giới thiệu thực trạng của hiện tượng, sự kiện
- Phân tích biểu hiện của hiện tượng, sự kiện đời sống:
+ Nguyên nhân
+ Kết quả (hậu quả)
-Bình luận: Tác động của hiện tượng, sự kiện đối với bản thân, xã hội Phê phán những biểu hiện tiêu cực đồng thời cổ vũ, động viên những biểu hiện tích cực của vấn đề
Đề xuất ý kiến (giải pháp)
KẾT ĐOẠN
Liên hệ bản thân: Bài học nhận thức và hành động
c Dạng đề theo hướng mở đề cập đến những biểu hiện của con người trong đời sống
Đối với dạng nghị luận này, cần xem xét vấn đề từ nhiều góc độ Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời những câu hỏi như: Nó là gì? Nó như thế nào? Vì sao lại như thế? Điều đó đúng hay sai, hay vừa đúng vừa sai? Nó được thể hiện như thế nào (trong văn học, trong cuộc sống)? Điều đó có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân? Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi đó, có thể hình dung một đoạn văn
nghị luận dạng này thường được triển khai theo ba bước cơ bản sau:
Giải thích câu trích từ văn bản đọc hiểu: trước tiên cần giải thích nghĩa cụ thể của
một số từ ngữ, khái niệm chưa rõ; sau đó giải thích ý nghĩa của cả câu
Phân tích và chứng minh: phân tích và dẫn ra các ví dụ về những con người và sự
việc cụ thể trong cuộc sống, xã hội, lịch sử, để làm sáng tỏ chân lí mà mình đã giải thích ở phần trên
Bình luận, đánh giá: sau khi giải thích và chứng minh, cần khái quát, khẳng định lại
chân lí, mở rộng và nâng cao ý nghĩa của vấn đề để từ đó có thể phê phán những hiện tượng, những biểu hiện đi ngược lại chân lí và liên hệ bản thân để rút ra bài học
*HƯỚNG DẪN VIẾT ĐOẠN:
Trang 1818
ĐỀ 1: Qua đoạn trích phần Đọc hiểu, anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng nhân ái
ĐỀ 2:
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của việc yêu thương, hiếu kính đối với cha mẹ
Trang 1919
B NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
I Các mức độ của dạng đề nghị luận văn học:
Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng/ vận
để tạo lập một bài văn nghị luận văn học
Hiểu được quy trình cách thức làm văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi, ý kiến bàn về văn học
Liên hệ, so sánh, đối chiếu với một vấn đề văn học khác
có điểm tương đồng hoặc khác biệt về giá trị nội dung
và hình thức để khẳng định vấn đề
1 Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ
1.1 Các dạng đề nghị luận về thơ:
Gồm ba dạng cơ bản:
- Nghị luận về một một bài thơ
Vd: Phân tích vẻ đẹp vừa hùng vĩ, dữ dội vừa mĩ lệ, nên thơ của thiên nhiên
núi rừng miền Tây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
- Nghị luận về một đoạn thơ
Vd: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Trang 20Bàn về những nội dung và nghệ thuật của bài thơ/đoạn thơ/ý kiến bàn về thơ
(phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của ngữ liệu được chọn)
- Kết bài: Đánh giá chung về bài thơ/đoạn thơ/ý kiến về thơ =>liên hệ, rút ra bài
THÂN BÀI 1.Khái quát:
Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích
2 Phân tích/cảm nhận
- Đoạn/cụm đoạn phân tích luận điểm 1
- Đoạn/cụm đoạn phân tích luận điểm 2 ………
3 Đánh giá
Những thành công về nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề/ tư tưởng của đoạn của bài thơ
KẾT BÀI - Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ
- Nêu ý nghĩa/ vai trò/vị trí của đoạn thơ và cả bài thơ đối với sự
nghiệp của tác giả
2 Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
2.1 Các dạng đề nghị luận về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
- Nghị luận về một giá trị nội dung của tác phẩm
Vd : Anh/Chị hãy phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của
Tô Hoài
Vd: Có ý kiến cho rằng: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính
dân tộc rất đậm đà
(Dẫn theo Ngữ văn 12, tập một, Sđd, tr.98)
Trang 21Vd : Phân tích tình huống độc đáo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
- Liên hệ, so sánh các nhân vật, các chi tiết, các đoạn văn trong các tác phẩm văn xuôi
Vd : Cảm nhận về vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt trong Vợ nhăt (Kim Lân)
và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
2.2 Kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
* Yêu cầu
- Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận
- Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm đoạn trích
- Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích
* Các bước tiến hàn Bước 1: Tìm hiểu đề
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác,…)
- Dẫn nội dung nghị luận
* Thân bài:
- Ý khái quát : tóm tắt tác phẩm, đoạn trích
- Làm rõ nội dung, nghệ thuật theo định hướng của đề
- Nêu cảm nhận, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích
* Kết bài:
Nhận xét, đánh giá khái quát tác phẩm, đoạn trích (cái hay, độc đáo)
II Nội dung kiến thức trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 12
1 Nội dung kiến thức trọng tâm về văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 12:
Bài 1: Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh
- Tác giả: Quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật
Trang 2222
- Tác phẩm:
+ Nội dung:
Nguyên lí chung về quyền bình đẵng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của
con người và các dân tộc
Tố cáo tội ác của thực dân Pháp
Tuyên bố độc lập
+ Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm, giọng văn linh hoạt
2 Nội dung kiến thức trọng tâm về thơ trong chương trình Ngữ văn 12:
a) Bài 1: Tây Tiến - Quang Dũng
1 Tác giả Quang Dũng
2 Tác phẩm:
a) Hoàn cảnh sáng tác Tây Tiến:
- Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào và đánh tiêu hao sinh lực địch ở Thượng Lào và miền Tây Bắc Bộ Việt Nam
- Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng: từ Mai Châu, Châu Mộc sang Sầm Nưa rồi vòng về phía Tây tỉnh Thanh Hóa
- Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên, sinh viên Hà Nội Họ chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn lạc quan yêu đời
- Quang Dũng làm đại đội trưởng ở đó một thời gian rồi chuyển đơn vị khác vào năm 1948 Xa đơn vị cũ không lâu, tại làng Phù Lưu Chanh vì nhớ anh em, đồng đội nên Quang Dũng đã viết bài thơ này
- Bài thơ lúc đầu có tên gọi Nhớ Tây Tiến Về sau tác giả bỏ chữ “nhớ” chỉ còn
hai chữ Tây Tiến bởi bản thân hai chữ Tây Tiến đã bao hàm nỗi nhớ đoàn quân Tây Tiến
b) Bố cục: Bài thơ gồm 4 đoạn:
- Đoạn 1: (14 câu đầu) Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến
và cảnh trí hoang sơ, hùng vĩ dữ dội của miền Tây đất nước
- Đoạn 2: (8 câu thơ tiếp theo) Những kỷ niệm đẹp của tình quân dân và cảnh sông nước miền Tây đầy thơ mộng của Tổ quốc
- Đoạn 3: (Từ “Tây Tiến đoàn binh…” đến “Khúc độc hành”) Chân dung của người
lính Tây Tiến
- Đoạn 4: (4 câu thơ còn lại) Lời thề và lời hẹn ước
c) Nội dung:
* Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và
cảnh trí hoang sơ, hùng vĩ, dữ dội của miền Tây đất nước
Trang 2323
- Khơi nguồn cho mạch cảm xúc của bài thơ là nỗi nhớ Nỗi nhớ da diết về đồng đội, về những năm tháng không thể nào quên phủ khắp bài thơ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Nỗi nhớ dường như không kìm nén nổi, “chủ thể” nhớ phải thốt lên thành tiếng
gọi Và nỗi nhớ như được cụ thể hóa, hình tượng hóa bằng từ láy tượng hình “chơi
vơi” rất gợi cảm, tạo cảm xúc cho những dòng thơ tiếp nối với những cảnh núi cao,
vực thẳm, rừng sâu xuất hiện
* Thiên nhiên Tây Bắc
- Theo dòng hoài niệm của nhà thơ, bức tranh thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc hiện lên sống động
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
+ Sài Khao,Mường Lát là những tên đất, tên làng mà đoàn quân Tây Tiến đã đi
qua
+ Hai chữ “sương lấp” gợi một miền đất hoang sơ, quanh năm mây mù che phủ + Ba chữ “đoàn quân mỏi” gợi một cuộc hành quân dãi dầu đầy gian khổ của
người lính Tây Tiến (cảm hứng hiện thực)
+ Hình ảnh “hoa về trong đêm hơi” là hoa của thiên nhiên hay con người? Chỉ
biết rằng nó gợi một cảm giác nhẹ nhàng, êm ả, đẩy lùi nỗi nhọc nhằn của người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân (cảm hứng lãng mạn)
- Bốn câu thơ tiếp theo được xem là tuyệt bút, là một bằng chứng thi trung hữu họa:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Người ta có thể hình dung ra một bức tranh thật kỳ vĩ với những cung bậc khác nhau qua những câu thơ trên Đó là khung cảnh rất hoang vu và hiểm trở, là nơi hoạt động của đoàn quân Tây Tiến Sự hoang vu và hiểm trở ấy được diễn tả bằng những từ
ngữ rất giàu sức tạo hình như: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, cồn mây, súng ngửi
trời
+ Từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút diễn tả sự hiểm trở với những con
đường quanh co, gập ghềnh, đứt đoạn của núi rừng Tây Bắc
+ Câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” như bị bẻ gẫy làm đôi, rất
dứt khoát, mạnh mẽ làm cho người đọc như thấy được rất rõ chiều cao của núi, độ cao của dốc và con tim không khỏi hồi hộp vì lo sợ cho những bước chân của người lính chiến
+ Nếu như câu thơ trước diễn tả cái “nhìn lên”, “nhìn xuống” thì câu thơ “nhà ai Pha
Trang 2424
Luông mưa xa khơi” lại diễn tả cái “nhìn ngang” Cái nhìn này đã mang đến cho người đọc sự
tận hưởng về một cảm giác nhẹ nhàng, bình lặng, giải tỏa được nỗi lo sợ cho những bước chân của người lính chiến Câu thơ gồm toàn thanh bằng đã góp phần tích cực vào việc diễn
tả cảm giác này
+ Hình ảnh “súng ngửi trời” là một cách viết thật sáng tạo, vừa diễn tả được tầm
cao của núi, cái hiểm trở mà người lính phải vượt qua, lại vừa bộc lộ được cái hóm hỉnh của người lính ngay cả khi gian khổ nhất Núi cao tưởng chừng như ngập trong
mây, mây nổi lên thành từng cồn “heo hút” Câu thơ giúp ta hình dung được người Tây Tiến đang ở một vị trí nào đó rất cao trên đỉnh đèo nên mới có cảm giác “súng
ngửi trời”
- Bốn câu thơ có sự phối thanh rất đặc biệt Ba câu đầu có tới 11 thanh trắc gợi cảm giác nặng nề, trúc trắc nhưng câu thơ thứ tư lại toàn thanh bằng gợi cảm giác nhẹ nhàng Sự phối thanh trong đoạn thơ cũng giống như cách phối màu trong hội họa Giữa những gam màu nóng, tác giả lại sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ Tài năng hội họa của Quang Dũng đã được bộc lộ trong bốn câu thơ này
- Sự dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc còn được tác giả tiếp tục khai thác theo
chiều dài của thời gian “đêm đêm” và chiều rộng của không gian “Mường Hịch” Núi
rừng Tây Bắc đâu chỉ có núi cao, vực thẳm mà còn có thác gầm, cọp dữ:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
- Ngòi bút lãng mạn, tài hoa của Quang Dũng đã phát huy cao độ trí tưởng tượng,
sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu, phóng đại, những thủ pháp đối lập để tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự hùng vĩ dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc
* Hình ảnh người lính Tây Tiến
- Khung cảnh thiên nhiên làm nền cho hình ảnh người lính Tây Tiến xuất hiện + Trong cuộc hành quân gian nan vất vả, người lính Tây Tiến không thể tránh
được sự mệt mỏi “đoàn quân mỏi” Quang Dũng đã ghi lại hiện thực đó Thậm chí
không giấu giếm sự hi sinh:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời + Người lính Tây Tiến coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng” Cái bi đã được nâng đỡ
bằng đôi cánh lãng mạn làm cho cái bi trở thành bi tráng
- Trên chặng đường hành quân, người lính Tây Tiến nghỉ lại ở một bản làng và bữa cơm đầu mùa tỏa hương nếp mới đã xua tan nhọc nhằn đời lính chiến và đưa họ về với cuộc sống đời thường:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
=> Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên hùng
vĩ của núi rừng Tây Bắc và hình ảnh người lính kháng chiến trong cuộc hành quân
Trang 2525
gian khổ
* Đoạn 2: Những kỷ niệm đẹp của tình quân dân và cảnh sông núi miền
Tây đầy thơ mộng của Tổ quốc
Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng đã đẩy lùi khung cảnh hùng vĩ núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội mở ra một thế giới khác của Tây Bắc Đó là cảnh một đêm liên hoan văn nghệ, cảnh sông nước mênh mang trong buổi chiều sương
* Cảnh đêm liên hoan văn nghệ
- Khi màn đêm buông xuống cũng là lúc đêm liên hoan văn nghệ bắt đầu
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
+ Chữ “bừng”: vừa diễn tả không khí tưng bừng, sôi nổi của đêm văn nghệ, vừa
tỏa sáng không gian, xua đi màn đêm bóng tối
+ Hai chữ “đuốc hoa”: chỉ ngọn đuốc thắp sáng trong đêm văn nghệ, vừa chỉ
ngọn đuốc thắp sáng trong đêm tân hôn Ý thơ thể hiện sự tinh nghịch của chàng trai Tây Tiến
- Hình ảnh của “em” chính là trung tâm, là linh hồn của đêm văn nghệ:
Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
+ Đó là cô gái dân tộc dịu dàng, duyên dáng (e ấp), trong trang phục dân tộc
(xiêm áo), trong vũ điệu dân tộc “man điệu” Vẻ đẹp của em đã thu hút sự chú ý của
các chàng trai Tây Tiến
+ Hai chữ “kìa em” biểu lộ sự ngõ ngàng đến ngạc nhiên của chàng trai Tây Tiến
trước vẻ đẹp của cô gái
+ Âm thanh của tiếng khèn, cảnh vật và tình quân dân ấm áp đã thăng hoa cảm
xúc của người nghệ sĩ: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
* Cảnh sông nước Tây Bắc
Nếu đêm liên hoan văn nghệ đem đến cho người đọc không khí say mê ngây ngất, thì cảnh sông nước Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang huyền ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
+ Nhà thơ không tả mà chỉ gợi Vậy mà cảnh vẫn hiện lên thơ mộng
+ Không gian của buổi chiều giăng mắc một màn sương – “chiều sương”
+ Bông hoa lau như có hồn, phảng phất trong gió
+ Bến bờ tĩnh lặng, hoang dại như thời tiền sử
+ Bông hoa rừng không “đung đưa” mà “đong đưa” như làm duyên với cảnh,
Trang 2626
với người
- Trên dòng sông ấy là hình ảnh một cô gái duyên dáng, uyển chuyển, khéo léo trên chiếc thuyền độc mộc, giữa dòng nước lũ Hình ảnh đó tạo nên một vẻ đẹp lãng mạn cho bức tranh thơ mộng của núi rừng Tây Bắc
- Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng thể hiện tập trung ở đoạn này, chất nhạc hòa quyện chất thơ Vì thế, Xuân Diệu có lí khi cho rằng: “Đọc đoạn thơ này như ngâm nhạc trong miệng”
=> Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã vẽ ra bức tranh thiên nhiên thơ mộng, duyên dáng, mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc
* Đoạn 3: Chân dung người lính Tây Tiến
** Vẻ đẹp kiêu hùng của lính Tây Tiến
- Chân dung của người lính Tây Tiến được vẽ bằng nét bút khác lạ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
+ Người lính Tây Tiến chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn gian khổ, bệnh sốt rét hoành hành làm cho mái tóc xanh hôm nào rụng hết (không mọc tóc) và hậu quả của bệnh sốt rét rừng đã để lại làn da xanh xao như “màu lá” Nhưng dưới ngòi bút của
Quang Dũng những mái đầu không mọc tóc, màu nước da xanh như màu lá lại có vẻ
đẹp kiêu dũng, oai phong của con hổ nơi rừng thiêng Dường như họ xem thường mọi khổ ải, thiếu thốn
- Nét độc đáo trong cách miêu tả của nhà thơ là không miêu tả cụ thể một gương mặt nào của người lính Tây Tiến mà tập trung khắc họa rõ nét mặt chung của cả đoàn quân Tây Tiến
+ Hai chữ “đoàn binh” tạo một âm hưởng mạnh mẽ, dứt khoát còn hình ảnh
“không mọc tóc” lại gợi lên nét ngang tàng của người lính Tây Tiến
- Thơ ca kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo Quang Dũng không hề che dấu những gian khổ đó nhưng ông không miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn
Cái nhìn nhiều chiều đã giúp nhà thơ nhìn qua cái dằn dữ mắt trừng của họ là
những tâm hồn, trái tim rạo rực yêu thương Họ chiến đấu trong điều kiện gian khổ nhưng vẫn mơ về Hà Nội Ở đó có dáng hình của người đẹp “dáng kiều thơm” Hình bóng người đẹp ở quê hương là động lực tinh thần thúc giục các anh cầm súng tiêu diệt
kẻ thù
** Vẻ đẹp bi tráng
Trang 27+ Hình ảnh “đời xanh” là biểu tượng cho tuổi trẻ đặt sau chữ “chẳng tiếc” thể
hiện tinh thần tự nguyện, sẵn sàng vượt lên cái chết hiến dâng cả sự sống, tuổi trẻ cho nghĩa lớn của dân tộc
+ Người lính Tây Tiến khi chết chỉ có manh chiếu (thậm chí không có) quấn
thân nhưng tác giả đã thay vào đó tầm áo bào sang trọng Và khúc nhạc tiễn đưa anh là
âm thanh gầm réo của dòng sông Mã Sự thật bi thương vậy mà dưới ngòi bút của Quang Dũng, người lính Tây Tiến vẫn chói ngời vẻ đẹp lý tưởng và mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa
- Tinh thần xả thân của người lính Tây Tiến được diễn đạt bằng những từ Hán
Việt hết sức trang trọng: biên cương, viễn xứ, chiến trường, áo bào, độc hành… Cách nói giảm nói tránh “về đất” làm mờ đi cái bi thương rồi bị át hẳn trong cái âm thanh
của dòng sông Mã Âm thanh đó làm cho sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng
=> Bằng bút pháp lãng mạn nhà thơ đã khắc họa thành công bức chân dung tượng đài bằng ngôn từ về đoàn quân Tây Tiến
* Đoạn 4: Lời thề và lời hẹn ước:
- Nhớ đến Tây Tiến, tác giả nhớ đến tháng ngày đẹp đẽ, hào hùng say mê:
Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi
+ Hình ảnh “người đi không hẹn ước” thể hiện tinh thần chung của Tây Tiến
Tinh thần ấy thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm người lính Tây Tiến
- Xa Tây Tiến nhưng tâm hồn, tình cảm nhà thơ vẫn gửi lại nơi ấy, những nơi mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
- Nhịp thơ chậm, giọng điệu thơ buồn nhưng linh hồn của đoạn thơ vẫn toát lên
Trang 28- Nhà thơ tập trung tô đậm cái đặc biệt, cái phi thường, cái đẹp của xứ phương
xa, đồng thời lồng vào hình ảnh người anh hùng trong hiện thực theo ba mẫu lí tưởng của người tráng sĩ thời xưa
e) Ý nghĩa văn bản: khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên
nền cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ dữ dội với vẻ đẹp lãng mạn đậm chất bi tráng
* Gợi ý, hướng dẫn làm bài:
** Đề 1:
Cảm nhận của anh/chị về hình tượng của người lính đoạn thơ sau trong bài thơ
Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ Văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
1 Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả Quang Dũng và tác phẩm và nội dung đoạn
trích
2 Thân bài:
* Về nội dung: Đoạn thơ tập trung khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn nhưng không thoát ly hiện thực với cảm xúc bi tráng
- Vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng, hào hoa, lãng mạn
+ Sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thiếu thốn, bệnh tật
+ Trong gian khổ, hình tượng người lính Tây Tiến vẫn hiện ra với dáng vẻ oai
phong lẫm liệt, toát lên cốt cách, khí phách hào hùng, mạnh mẽ
+ Hướng về nhiệm vụ chiến đấu nhưng tâm hồn vẫn “mộng” và “mơ”, khao khát
lập chiến công
- Vẻ đẹp bi tráng
+ Những người lính trẻ trung, hào hoa gửi thân mình nơi biên cương xa xôi, sẵn
sàng tự nguyện hiến dâng cuộc đời, tuổi xuân cho Tổ quốc
+ Sự hi sinh bình dị, đơn sơ nhưng không kém phần sang trọng, oai phong của
người lính Tây Tiến xem “cái chết nhẹ tựa lông hồng”, nhẹ nhàng, thanh thản
* Về nghệ thuật
+ Cảm hứng và bút pháp lãng mạn
+ Cách sử dụng ngôn từ đặc sắc: từ tượng hình, từ Hán Việt,
Trang 2929
+ Kết hợp chất nhạc và chất họa,
3 Kết bài: đánh giá lại đoạn thơ
- Đoạn thơ khắc họa chân dung người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất
* * Đề 3: Nhận xét về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến, có ý kiến cho rằng: "Một
ngọn hút đầy tài hoa vừa khắc họa được cái dữ dội, hào hùng lại vừa diễn tả được cái tươi mát, sâu lẳng, đau thương mà không hề bi lụy" Hãy phân tích bài thơ Tây Tiến
a) Hoàn cảnh sáng tác: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Miền Bắc được giải
phóng Các cơ quan trung ương Đảng và nhà nước chuyển từ Việt Bắc (Thủ đô kháng chiến) về thủ đô Hà Nội Sự lưu luyến giữa kẻ ở và người ra đi đã khơi nguồn cảm xúc lớn cho nhà thơ sáng tác thi phẩm này
b) Nội dung:
- Tám câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người
+ Bốn câu trên: Lời ướm hỏi, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình; qua đó, thể hiện tâm trạng của người ở lại
+ Bốn câu thơ tiếp: Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến
- Tám mươi hai câu sau: Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm + Mười hai câu hỏi: Gợi lên những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua, khơi gợi, nhắc nhớ những kỉ niệm trong những năm cách mạng và kháng chiến Việt Bắc từng là chiến khu an toàn, nhân dân ân tình, thuỷ chung, hết lòng với cách
Trang 3030
mạng và kháng chiến
+ Bảy mươi câu đáp: Mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết với Việt Bắc; qua đó, dựng lên hình ảnh chiến khu trong kháng chiến anh hùng và tình nghĩa thuỷ chung Nội dung chủ đạo là nỗi nhớ Việt Bắc, những kỉ niệm về Việt Bắc (bốn câu đầu đoạn khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt; hai mươi tám câu tiếp nói về nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và con người, cuộc sống nơi đây; hai mươi câu tiếp nói về cuộc kháng chiến anh hùng; mười sáu câu cuối đoạn thể hiện nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc, những kỉ niệm về cuộc kháng chiến)
c) Nghệ thuật:
- Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu:
+ Thể thơ lục bát
+ Lối đối đáp, cách xưng hô mình - ta quen thuộc trong ca dao
+ Ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi
d) Ý nghĩa:
- Bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến
* Gợi ý, hướng dẫn làm bài:
** Đề 1: Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố
Hữu
"Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu"
Gợi ý:
1 Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu, tác phẩm và nội dung đoạn trích
2 Thân bài:
* Về nội dung
Lời ướm hỏi của người ở lại, hỏi để khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua
“Mười lăm năm ấy” về không gian nguồn cội nghĩa tình “núi rừng Việt Bắc” Niềm
mong ước thiết tha, lời nhắn nhủ chân thành: đừng quên Việt Bắc, quê hương cội nguồn cách mạng
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Trang 3131
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Vận dụng kết cấu đối đáp của ca dao dân ca, nghệ thuật hoán dụ, từ láy tiếng
lòng của người về xuôi: bâng khuâng, lưu luyến
*Về nghệ thuật: Thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp, sử d ụng tài hoa cặp đại từ xưng hô
“mình –ta, sử dụng nhiều biện pháp tu từ
3 Kết bài:
- Đọan thơ tái hiện cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa người dân VB và cán bộ cách
mạng
- Mạng đậm dấu ấn phong cách thơ Tố Hữu
** Đề 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Những đường Việt Bắc của ta
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
+ Một không gian núi rừng rộng lớn với những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức đã khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên, con người Việt Bắc cùng sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân kháng chiến
-> Khổ thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ của một sử thi hiện đại
- Hai câu thơ tiếp theo, vẫn tiếp tục cảm hứng sử thi, lãng mạn hào hùng đã vẽ ra một viễn cảnh tương lai tươi sáng:
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
-> Với hình ảnh đối lập, câu thơ đã diễn tả niềm tự hào, lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước: chúng ta sẽ được độc lập, tự do, no ấm
- Chiến công lừng lẫy đã cùng Việt Bắc đi vào lịch sử dân tộc:
Tin vui chiến thắng trăm miền
Trang 3232
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
-> Niềm vui chiến thắng của dân tộc tràn ngập trong mỗi câu thơ, tràn ngập trong lòng mỗi người
- Nghệ thuật: Giọng thơ mạnh mẽ, dồn dập, hình ảnh con người kì vĩ, cảm hứng
sử thi, lãng mạn -> tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ngợi ca sức mạnh của nhân dân anh hùng, đất nước anh hùng
3 Kết bài:
Cảm nhận của bản thân về đoạn thơ
**Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau:
“Ta về mình có nhớ ta,
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
người
+ Trong từng cặp, dòng lục là nét đẹp về hoa, dòng bát là nét khắc chạm về người
Vẻ đẹp của cảnh làm phông, nền để tôn lên vẻ đẹp của người – hình tượng trung tâm của Việt Bắc
+ Vẻ đẹp của hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ:
Mùa đông Việt Bắc trong cái nhìn bao quát: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi/ Đèo cao
nắng ánh dao gài thắt lưng”:
+ Thiên nhiên Việt Bắc dần hiện lên bởi sắc xanh mênh mong đặc trưng của một vùng rừng núi Trên nền xanh ấy thấp thoáng sắc đỏ tươi của hoa chuối Sắc hoa như làm sáng bừng, ấm áp một vùng không gian Việt Bắc
+Hình ảnh con người xuất hiện với tư thế thật vững chãi, tự tin, tự chủ
Trang 3333
Bức tranh Việt Bắc vào xuân trong cặp lục bát tiếp theo “Ngày xuân mơ nở trắng
rừng/ Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”:
+ Dòng lục tả hoa xuân trong cái nhìn toàn cảnh kết hợp cái nhìn cận cảnh Nhịp chẵn truyền thống 2/2/2 của thơ lục bát như đang hòa điệu tài tình với nhịp đi nhẹ nhàng của thời gian: mỗi nhịp thơ là một nhịp đi của thời gian, từng cánh hoa mơ nở dần làm cho sắc trắng thanh khiết, tinh khôi của hoa cứ lan dần, mở rộng ra để rồi bất chợt phủ kín cả không gian núi rừng Hai chữ trắng rừng để lại ấn tượng về vẻ đẹp thật
thi vị đồng thời làm cho cảnh xuân thêm sinh động
+ Hình ảnh con người Việt Bắc trong công việc bình dị, thầm lặng đan nón Hai chữ chuốt từng vừa gợi tả dáng điệu, tâm thế lao động cần mẫn vừa gợi niềm khâm phục bàn tay tài hoa của những con người lao động
Khung cảnh Việt Bắc sang hè được ghi lại trong cặp lục bát đặc sắc “Ve kêu rừng
phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình”:
+ Nhà thơ thấy vọng lên trong kí ức âm thanh rất đỗi quen thuộc Ve kêu rừng phách đổ vàng Tiếng ve ngân lên lập tức rừng phách chuyển sang màu vàng Cảnh hè
Việt Bắc trở nên sôi động mà thật thơ mộng
+Nhà thơ phác họa hình ảnh cô em gái hái măng một mình tần tảo –phẩm chất rất đẹp, rất truyền thống của người lao động
Mùa thu Việt Bắc hiện lên bằng nét vẽ “Rừng thu trăng rọi hòa bình/ Nhớ ai tiếng
hát ân tình thủy chung”:
+Thiên nhiên Việt Bắc khi đêm về thật nên thơ trong trẻo bởi ánh sáng trăng thu + Con người Việt Bắc trong cảnh thu này được gợi tả với âm thanh đầy ý nghĩa tiếng hát ân tình thủy chung Đó là tình cảm gắn bó thủy chung cách mạng của người Việt Bắc
- Mượn hình thức trữ tình giàu tính dân tộc, Tố Hữu đã thể hiện thật thấm thía những tâm tình chung của con người Việt Nam trong thời đại cách mạng Đó là lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn – nội dung trữ tình bao trùm các sáng tác của Tố Hữu
c) Bài 3: Đất Nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm
1 Tác giả:
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ
Trang 3434
những năm chống Mĩ cứu nước (Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, )
- Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm:
+ Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư và cảm hứng lắng đọng, thực hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu
+ Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự đằm thắm, đôn hậu của con người xứ Huế với sự sắc sảo, trí tuệ của một người có trình độ văn hóa cao
2 Tác phẩm:
a) Hoàn cảnh ra đời
- Trường ca Mặt đường khát vọng được viết trong những ngày tháng nóng bỏng
của chiến trường Bình - Trị - Thiên Năm 1971 là năm mà cuộc chiến tranh chống Mĩ
ở miền Nam đang vào thời kì ác liệt
- Tác giả viết trường ca này nhằm thức tỉnh thế hệ trẻ thành thị miền Nam ở vùng tạm chiếm: nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, ý thức được
sứ mệnh của mình đối với dân tộc trong cuộc chiến tranh thiêng liêng bảo vệ đất nước
+ Đất nước bắt nguồn từ những câu truyện, truyền thuyết, cổ tích rất gần gũi
và thân quen: câu chuyện Trầu cau với tình người nồng hậu thủy chung, truyền thuyết Thánh Gióng như khúc anh hùng ca biểu tượng cho sức mạnh thần kì của nhân dân Việt Nam thuở bình minh dựng nước và giữ nước, Đất nước không phải là hình người khổng lồ xa lạ hay một khái niệm trừu tượng chung chung, mà đất nước là những gì giản dị, gần gũi, thân thương trong cuộc sống của mỗi con người Nó nhắc chúng ta nhớ về truyền thống đạo lí nghĩa tình và lòng yêu nước của người Việt Nam + Đất nước gắn với những nếp sống văn hóa của người Việt Nam (tập tục) như
bới tóc sau đầu, ăn trầu, đặt tên người, tên vật, rồi đến cả tình yêu của cha mẹ: Cha
mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Đây là những phong tục gắn bó rất gần gũi
thân thương với tâm hồn của mỗi người Việt Nam Và từ những phong tục tập quán xa xưa như không có tên tuổi ấy đã làm nên một khuôn mặt đất nước, đã tạo ra được sự bền vững sâu xa Bởi nó được hình thành và tồn tại trong sự tiếp nối thiêng liêng của nhiều thế hệ
-Đất nước gắn với những kỉ niệm riêng tư của mỗi con người
+ Tác giả đã lí giải, đưa ra một định nghĩa về đất nước:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Trang 3535
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
+ Ý niệm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và
nước Tác giả đã sử dụng lối chiết tự thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy
một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước: Đất
mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng, dịu hiền Cùng với thời gian lớn lên, đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn Không những
thế, đất nước còn là người bạn chia sẻ những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu
→ Tất cả đều bình dị, cụ thể, gần gũi đáng yêu với anh, với em, với mỗi chàng trai cô gái Nó thấm vào hồn của mỗi con người Việt Nam
- Đất nước trên bình diện địa lí, lịch sử
+ Bình diện địa lí - đất nước gắn với núi sông rừng bể bao la:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
[ ]
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
+ Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc và hình ảnh con cá ngư
ông móng nước biển khơi đều là những hình ảnh mượn từ dân ca Huế, quê hương của
nhà thơ Đất nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi lúc cũng rộng lớn, tráng lệ và kì
vĩ, nhất là đối với những người đi xa
→ Đất nước hiện lên qua một không gian rộng lớn mênh mông, thời gian vô tận, kết hợp với hình ảnh thơ đậm chất dân gian, làm cho hình ảnh thơ khi nói về bình diện địa lí không xa lạ, thô cứng mà gần gũi thiêng liêng, để từ đó tác giả tiếp tục triển khai mạch cảm xúc
+ Đất nước còn gắn với bình diện lịch sử của dân tộc:
+ Tác giả nói đến nguồn gốc, cội nguồn của đất nước (từ truyền thuyết con Rồng cháu Tiên) nhằm nhắc nhở người Việt Nam về nguồn gốc cao quý của mình, đồng thời khơi gợi sự đoàn kết nhất
Tóm lại, lời thơ đậm chất dân gian, giọng thơ khi thì tự nhiên sâu lắng, khi thì
đậm chất triết luận, tác giả đã thể hiện những cảm nhận sâu sắc của mình về đất nước trên nhiều bình diện khác nhau Từ đó, đoạn thơ giúp người đọc thêm yêu quý, tự hào
về nguồn gốc của dân tộc, của đất nước
* Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”
Đất nước do nhân dân sáng tạo nên
- Đất nước là những địa danh, những danh lam thắng cảnh kì thú: núi Bút non Nghiên, hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, vịnh Hạ Long, sông Cửu Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm,… Đó là những danh lam thắng cảnh tươi đẹp, mỗi địa danh không phải là một cái tên vô nghĩa mà sau mỗi tên đất, tên núi, tên sông là mỗi cuộc đời, gắn với những kì tích, huyền thoại
→ Tất cả những dáng hình núi sông trên đất nước ta đều do nhân dân làm ra Tác
Trang 3636
giả đã thể hiện tư tưởng này qua động từ góp Mọi người đều góp phần xây dựng đất
nước Chủ thể của động từ là: những người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, gót ngựa Thánh Gióng, người học trò nghèo và cả những người dân thường không tên tuổi, Chính những con người này đã làm ra một đất nước nhân hậu, thủy chung, anh hùng bất khuất và giàu truyền thống hiếu học
- Mỗi địa danh ấy là cuộc đời, là tâm hồn nhân dân hóa thân mà thành Chính vì vậy, nhân dân chính là những người thổi hồn mình vào đất nước, vào những địa danh, những danh lam thắng cảnh kì thú Thế nên đất nước chứa đựng linh hồn của nhân dân, trong đất nước đã in bóng hình của nhân dân và trong nhân dân có bóng hình đất nước
- Địa danh cũng chính là dấu ấn sinh tồn của dân tộc Lần theo những địa danh, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo dựng lại được cả diện mạo non sông đất nước:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Một đất nước chỉ có lãnh thổ không thôi thì chưa đủ, nó còn phải có lịch sử Lịch
sử của một dân tộc chính là sự sống của dân tộc ấy trong chiều dài thời gian Tư tưởng
Đất Nước của Nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về bốn nghìn năm
lịch sử
Đất nước do nhân dân chiến đấu và bảo vệ
- Những con người làm nên đất nước chính là những con người góp phần bảo vệ đất nước Họ là những con người bình dị vô danh; họ là những con người lao động cần
cù chăm chỉ nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm thì chính họ đã trở thành những anh hùng cứu nước:
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
+ Khi có giặc người con trai ra trận - Người con gái trở về nuôi cái cùng con:
cùng nhau chung sức, chung lòng để đánh giặc cứu nước
+ Khi cần thì giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
→ Nhà thơ đã khẳng định truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Đó là truyền thống được phát huy từ đời này sang đời khác
- Khi nhìn vào bốn nghìn năm Đất Nước, khi suy ngẫm về sự hình thành đất
nước trong chiều dài lịch sử, dường như nhà thơ cũng chẳng biết đất nước có tự bao giờ Nhưng nhà thơ cảm nhận cụ thể đất nước không chỉ có những triều đại nổi tiếng, những anh hùng có tên được lưu truyền sử sách, mà làm nên đất nước muôn đời ấy chính là do những con người bình dị, những người dân vô danh Họ có thể là những người vợ nhớ chồng, những cặp vợ chồng yêu nhau, những cậu học trò nghèo, ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm, Họ là những người con gái, con trai, bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi, sống và chết giản dị và bình tâm, không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã làm ra đất nước
Trang 37Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập, be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Bốn nghìn lớp người ấy đã làm nên tất cả: từ hạt lúa với nền văn minh lúa nước, ngọn lửa tạo nên bước tiến của loài người, đến những của cải tinh thần quý báu như phong tục tập quán, giọng nói cha ông, tên làng, tên xã Họ đã truyền lại tất cả, để đất nước này mãi là đất nước của nhân dân Đất nước và nhân dân hòa vào nhau tạo nên một đất nước vừa thực lại vừa linh thiêng Một đất nước địa linh nhân kiệt Đây là một
tư tưởng hết sức mới mẻ, khẳng định vai trò của nhân dân với đất nước Biết bao thế
hệ người dân ta từ già trẻ trai gái đã ngã xuống, máu của họ đã tạo thành sông suối, xương của họ tạo nên dáng núi và tâm hồn họ là hồn thiêng sống núi Họ là người làm
ra đất nước
- Đây là một cuộc chạy đua tiếp sức không biết mệt mỏi của bao thế hệ người Việt Nam Cái mà họ truyền cho nhau, tiếp sức cho nhau đó là ngọn đuốc sự sống của
dân tộc Việt Nam (ngọn lửa: chỉ sức sống bền bỉ, dẻo dai của dân tộc ta) Mỗi thế hệ
chạy một quãng đường và trao lại cho thế hệ kế tiếp Cứ như thế, đất nước được hình thành và phát triển bởi vô số những con người vô danh
Đất nước của nhân dân cũng chính là đất nước của ca dao thần thoại
Mạch cảm xúc, suy tưởng của đoạn thơ cứ tụ dần để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo:
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
+ Tác giả nói Đất Nước của ca dao thần thoại cũng chính là nói đến Đất Nước
của nhân dân, như để nhấn mạnh, khắc sâu nguồn gốc nhân dân, cội nguồn của đất
nước Nhân dân - những con người giản dị, vô danh cũng chính là những người sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước Một trong những giá trị văn hóa đặc sắc, kết tinh tư tưởng và tâm hồn của nhân dân, dân tộc chính là văn hóa, văn học dân gian
+ Tác giả đã khái quát: Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần
thoại Câu thơ với hai vế song song, đồng đẳng là một cách định nghĩa về đất nước
thật giản dị mà độc đáo: đất nước được tạo nên bởi sức mạnh và tình nghĩa của nhân dân, đất nước là của nhân dân, muốn hiểu đất nước phải hiểu nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của nhân dân hơn đâu hết có thể tìm thấy trong văn hóa tinh thần của nhân dân: đó là văn hóa dân gian, là truyện thần thoại, truyện cổ tích, là dân ca, ca
Trang 3838
dao,
→ Ở đây tác giả đã dùng đất nước dân gian từ xa xưa mà không dùng một đất nước hiện đại của ngày hôm nay Bởi vì, dân gian chính là dân tộc, lại là cái phần tiêu biểu, đậm đà nhất, dễ cảm thấy và cũng rất dễ nhận ra nhất của dân tộc, cũng là của đất nước mình Hình ảnh một đất nước dân gian thơ mộng, trữ tình từ xa xưa vọng về sẽ trở nên quen thuộc, gần gũi với mọi người nên dễ cảm, dễ hiểu, dễ nhận ra tư tưởng
Đất Nước của Nhân dân
c) Nghệ thuật: Sử dụng chất liệu văn hóa văn gian, ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân
dã,
giàu sức gợi Sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình
d) Ý nghĩa văn bản: cảm nhận mới về đất nước, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân
tôc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam
* Gợi ý, hướng dẫn làm bài:
“Có mối tình nào cao hơn là Tổ quốc?” - Trần Mai Ninh Bằng tình cảm
yêu thương sâu nặng ấy, các nhà thơ - chiến sĩ đã có biét bao bài thơ rất hay về Tổ quốc, đất nước Việt Nam thương yêu Nếu như các nhà thơ khác thường dùng những hình ảnh kì vĩ, mĩ lệ mang tính biểu tượng, tạo ra một khoảng cách để cảm nhận,
chiêm ngưỡng về đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm, trong phần đầu chương “Đất
Nước” – trích từ trường ca “Mặt đường khát vọng”, lại cảm nhận về đất nước qua
những gì hết sức gần gũi, đơn sơ, bình dị
2 Thân Bài:
“Đất nước”hai chữ thiêng liêng cao cả ấy chẳng phải ở đâu xa mà ở ngay trong
mỗi gia đình chúng ta: từ lời kể chuyện của mẹ, miếng trầu của bà, đến phong tục tập quán quen thuộc, tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ, hạt gạo, hòn than, cái kèo, cái cột trong nhà:
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”
Bằng giọng tâm tình, dịu ngọt như lời kể truyện cổ tích, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những cảm nhận, suy tưởng của mình về cội nguồn đất nước Lịch
sử sâu thẳm của đất nước ta được tác giả cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp của các vương triều hay các sự kiện lịch sử trọng đại như Nguyễn Trãi đã từng viết trong
“Bình Ngô Đại Cáo”:
Trang 3939
“Như nước Đại Việt ta từ thuở trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”
mà bằng những hình ảnh gần gũi, thân quen, bằng những câu thơ gợi nhớ đến truyền thuyết xa xưa, đến nền văn minh lúa nước sông Hồng, cùng những phong tục tập quán độc đáo có từ lâu đời Đó cũng chính là đất nước được cảm nhận trong chiều sâu tâm hồn nhân dân, văn hoá và lịch sử:
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Hình ảnh thơ phải chăng đã gợi cho ta về sự tích “Trầu cau” từ đời vua
Hùng dựng nước xa xưa, ngợi ca tình nghĩa vợ chồng, anh em đằm thắm, sắt son; về truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, trở thành bài ca giữ nước hào hùng của nhân dân đã trở thành lịch sử đất nước:
“Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép làm roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”
(Tố Hữu)
Nghĩa là, lịch sử lâu đời của đất nước được kết tinh trong từng câu
chuyện kể, trong miếng trầu bà ăn thường ngày, trong “cây tre đánh giặc” thân quen
quanh ta Đúng như Nguyễn Duy đã viết:
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”
Với cái nhìn độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, đất nước đã nằm sâu
trong tiềm thức mỗi chúng ta, mỗi người dân; trong đời sống tâm hồn của nhân dân từ thế hệ này qua thế hệ khác
Đất nước còn là phong tục búi tóc thành cuộn sau gáy rất quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay:
“Tóc ngang lưng vừa chừng em búi
Để chi dài bối rối lòng anh”
(ca dao cổ)
Đất nước Việt Nam mang vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam: tình
Trang 4040
nghĩa đậm đà, thuỷ chung son sắt của cha mẹ “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay
muối mặn” Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp:
“Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Hay:
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”
Với người Việt Nam vốn gắn bó lâu đời với nền văn minh lúa nước, hạt gạo trở thành gia bảo vô cùng cần thiết cho cuộc sống Cho nên ngay khi còn là đứa trẻ mới lớn, cảm nhận về vật chất đầu tiên phải là hạt gạo trải qua một quá trình lam lũ, vất vả kết tinh mồ hôi, nước mắt của người lao động một nắng hai sương xay, giã, dần,
sàng, phải suốt ngày “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, “dầm mưa dãi nắng” nhân
dân ta mới làm ra được hạt ngọc quý giá ấy Hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta gợi nhớ tới câu ca dao mẹ ru thuở nào:
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Cha ông ta xưa gắn liền với những miền quê thuần phác của nền nông nghiệp thóc gạo với mái rạ nhà tranh nên thường coi việc đặt tên cho con cũng chỉ bằng cái tên nôm na, dân dã; có khi lấy từ tên những bộ phận của ngôi nhà tre gỗ của
chính mình đang ở “cái kèo, cái cột”… Cách cảm nhận cội nguồn đất nước
của Nguyễn Khoa Điềm thật gần gũi, thân quen mà cũng không kém phần thi vị, độc
đáo, dễ làm lay động trái tim hàng triệu độc giả
Trong đoạn thơ trên, tác giả sử dụng khéo léo các kiểu cấu trúc thơ “Đất
Nước đã có”, “Đất Nước bắt đầu”, “Đất Nước lớn lên”, “Đất Nước có từ” đã giúp cho
ta hình dung được cả quá trình hình thành và phát triển của đất nước trong trường kì lịch sử nằm sâu trong tâm thức của con người Việt Nam qua bao thế hệ
Trường từ vựng: ông, bà, cha, mẹ gợi về tình cảm gia đình ruột thịt thân
thương Đó cũng là khởi nguồn cho đất nước Bởi nói như chú Năm “con sông gia
đình cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, rộng bằng nước ta” (Những đứa con
trong gia đình)
3 Kết bài:
Tóm lại, bằng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc thường ngày, bằng chất
liệu văn hoá dân gian, truyền thuyết, cổ tích, chỉ qua một đoạn thơ ngắn, Nguyễn Khoa Điềm đã trình bày được một ý niệm về đất nước thật độc đáo, hấp dẫn; vừa
thiêng liêng, vừa hiện hữu rõ ràng, vừa có chiều sâu văn hoá lịch sử, vừa bình dị thân