Trên cơ sở kế thừa các thành quảnghiên cứu của các công trình, bài viết về vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai đã được công bố, Luận văn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này ở một khía cạchk
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM THỊ PHƯỢNG
HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI ỦY BAN
NHÂN DÂN CẤP XÃ THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả luận văn
ĐÀM THỊ PHƯỢNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBNDcấp xã 81.2 Thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tạiUBND cấp xã 181.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hòa giải tranh chấp đất đai 27
Chương 2 THỰC TRẠNG HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP XÃ THEO PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG 31
2.1 Thực trạng pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã 312.2 Thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai theo pháp luật tại UBND huyện
Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng 38
Chương 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG HIỆU QUẢ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT TẠI UBND CẤP
XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG 62
3.1 Quan điểm, định hướng tăng cường hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đaitại UBND cấp xã 623.2 Giải pháp tăng cường hiệu quả hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấpxã 65
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4Ủy ban nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng chocon người, là tư liệu sản xuất trực tiếp phục vụ nhu cầu thiết yếu của conngười C.Mác Các Mác đã viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, làđiều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tưliệu sản xuất cơ bản của sản xuất vật chất” [9,tr.7] Trung thành với họcthuyết Mác, V.I.Lênin cho rằng, đất đai là cơ sở cực kỳ quan trọng để pháttriển kinh tế - xã hội; là một tài sản quý giá của toàn thể nhân dân
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ đấtđai cũng phát triển hết sức đa dạng, phức tạp, đòi hỏi pháp luật đất đai phải cónhững cơ chế điều chỉnh phù hợp Nhiều quan hệ trước kia bị nghiêm cấm,nay pháp luật cho phép thực hiện Các giao dịch dân sự về đất đai được xáclập như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảolãnh, góp vốn v.v bằng giá trị quyền sử dụng đất Cũng từ đó mà số lượng vàđối tượng của tranh chấp đất đai có sự thay đổi, đặc biệt là những năm gầnđây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp
về tính chất, nhất là những vùng đang đô thị hóa nhanh
Tranh chấp đất đai để lại các hệ lụy xấu phá vỡ sự đoàn kết trong nội bộnhân dân Để ngăn ngừa nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị và duy trìkhối đại đoàn kết toàn dân, công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy bannhân dân (UBND) cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã) luônđược Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Vì tăng cường công tác hòa giải
ở cơ sở nhất là hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là một trong những biệnpháp hữu hiệu để hạn chế các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án để giảiquyết tranh chấp đất đai Pháp luật đất đai qua các thời kỳ: Luật Đất đai
Trang 6(LĐĐ) năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đấtđai năm 2013 đều có các quy định về hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở.
Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thayđổi qua các năm, các thời kỳ, song bên cạnh đó còn nhiều quy định khôngnhất quán, Luật Đất đai và các văn bản dưới luật được thay thế, sửa đổi, bổsung liên tục qua đó dẫn tới việc giải thích, hướng dẫn của các cơ quan cóthẩm quyền chưa đầy đủ, kịp thời Do đó, tình hình hòa giải tranh chấp đất đainói chung còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến có vụ việc tranh chấp, khiếu kiệnđất đai kéo dài, vượt cấp, giải quyết không dứt điểm gây bức xúc cho ngườidân, giảm niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước
Trong vài năm trở về đây, công tác quản lý đất đai trên cả nước cũngnhư địa bàn tỉnh Cao Bằng nói chung và tại UBND huyện Phục Hòa nóiriêng, nhất là công tác khiếu kiện về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai diễnbiến vô cùng phức tạp và khó khăn Để công tác quản lý đất đai thực tiễn đivào cuộc sống của người dân và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôntrọng, chấp hành pháp Luật Đất đai của mọi tầng lớp nhân dân cũng như côngtác hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã nói chung và trên địa bànhuyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng nói riêng ngày càng có hiệu quả hơn Vì thế,việc đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu quảchất lượng trong công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã
là một việc làm có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Với ý mục đích đó,
tôi đã lựa chọn đề tài: Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp
xã theo pháp luật đất đai từ thực tiễn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Luật
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Do nhu cầu sử dụng đất, giá trị về quyền sử dụng đất ngày càng tănglàm cho giá đất tăng lên một cách nhanh chóng, đôi lúc chỉ vì một mâu thuẫnnhỏ trong việc quản lý, sử dụng đất đất đai đã là nguyên nhân phát sinh tranhchấp gay gắt Tình trạng tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp, khó xử lý, tồnđọng, kéo dài, việc giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập thiếu thống nhấttrong thực hiện Có thể nói cho đến thời điểm này vấn đề đất đai vẫn là chủ đề
“nóng, nhạy cảm, phức tạp” gây nhiều tranh cãi, bức xúc trong xã hội Quanghiên cứu, tìm hiểu tác giả được biết có rất nhiều các công trình, bài viết lớn
nhỏ nghiên cứu khoa học về xoay quanh vấn đề: làm thế nào để giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu quả nhất, trong đó có các bài viết về hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở (đặc biệt là cấp xã, phường, thị trấn) Tuy nhiên,
các công trình nghiên cứu và các bài viết này được tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau và dẫn đến quan điểm khác nhau,kết quả nghiên cứu khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếpcận vấn đề Có thể kể đến các công trình:
Bài viết về “Hòa giải tranh chấp đất đai theo Điều 135 Luật Đất đai
năm 2003 và một số vấn đề đặt ra” của tác giả Mai Thị Tú Oanh đăng trên
Tạp chí Tòa án nhân dân số 21, tháng 11/2012 Tác giả nêu các quy định củapháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Thông qua đó nêu rađược những bất cập, chồng chéo, thiếu cụ thể của các quy định pháp luật vànêu quan điểm của mình khi vận dụng pháp luật để giải quyết; Bài viết
về“Hòa giải ở cơ sở khi có tranh chấp quyền sử dụng đất”, của tác giả Tưởng
Duy Lượng (2007), đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2007 Tác giảphân tích những quy định của pháp luật về hòa giải tranh chấp quyền sử dụngđất, tầm quan trọng của công tác hòa giải và những bất cập khi tiến hành hòa
giải đối với loại tranh chấp này; Bài viết “Pháp luật về hòa giải tranh chấp
đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã và một số kiến nghị”, của tác giả Dương
Trang 8Tấn Thanh – Trần kim Yến (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) viết trênTạp trí Tòa án nhân dân (điện tử) ngày 01/11/2019 Trong phạm vi bài viết,các tác giả trình bày một số quy định của pháp luật về hòa giải tranh chấp đấtđai tại UBND cấp xã Nêu một số khó khăn, bất cập trong thực tiễn và kiếnnghị giải pháp cụ thể.
Ngoài ra còn có các bài viết về “Vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai
tại ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn”, của tác giả Nguyễn Văn Hương.
Tạp chí TAND, số 02/2012; “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam – Cơ sở lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ luật học, của tác
giả Trần Văn Quang 2004, Đại học Luật Hà Nội; “Kỹ năng giải quyết tranh
chấp đất đai và hòa giải tranh chấp đất đai” của PGS.TS Nguyễn Quang
Tuyến giảng tại Hội thảo tập huấn Hòa giải viên, già làng, trưởng bản, người
có uy tín trong cộng đồng dân cư tại Phú Yên và Sóc Trăng, năm 2015 (do VụPPBGDPL, Bộ Tư pháp tổ chức); Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị
Hảo, Khoa luật trường đại học Quốc gia Hà Nội về “Hòa giải trong giải
quyết tranh chấp đất đai”.v.v Tuy nhiên các công trình, bài viết trên chỉ là
những bài viết đề cập một số khía cạnh về hòa giải tranh chấp đất đai mà chưachuyên sâu, toàn diện về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai Mặc dù,không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nhưng kể từ khi Luật Đất đai 2013, Bộluật Tố tụng Dân sự 2015 ra đời đã có nhiều quy định mới về hòa giải trongdân sự cũng như hòa giải tranh chấp đất đai Trên cơ sở kế thừa các thành quảnghiên cứu của các công trình, bài viết về vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai
đã được công bố, Luận văn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này ở một khía cạchkhác, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực tiễn về hòa giải tranhchấp đất đai tại UBND cấp xã trong giai đoạn thực hiện pháp luật đất đai hiệnnay, đặc biệt là việc thực hiện, áp dụng trên địa bàn của một huyện biên giớithuộc tỉnh miền núi phía bắc (Cao Bằng) có những nét đặc thù riêng là vôcùng cần thiết và và quan trọng
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá một cách khách quan và toàn diện các quy địnhcủa pháp luật đất đai hiện hành trong việc hòa giải tranh chấp đất đai tạiUBND cấp xã trên thực tế Qua đó hoàn thiện chính sách, pháp luật về hòagiải trong tranh chấp đất đai và đưa ra ý kiến, đề xuất các giải pháp gópphần hoàn thiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xãngày càng có hiệu quả hơn trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:3.2.1 Lý giải những vấn đề lý luận chung về hòa giải, tranh chấp đấtđai và giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải tại UBND cấp xã
3.2.2 Đánh giá các quy định của pháp luật đất đai thông qua việc tìmhiểu, phân tích các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định
về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
3.2.3 Đưa ra định hướng và một số giải pháp góp phần hoàn thiện vànâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tạiUBND cấp xã từ thực tiễn ở huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các quy định của pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đaitại UBND cấp xã
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Các văn bản pháp luật hiện hành về hòa giải tranh chấp
đất đai tại UBND cấp xã như: Luật đất đai 2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CPngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luậtđất đai; Luật Hòa giải năm 2013, Bộ Luật Dân sự 2015 v.v và thực tiễn
Trang 10áp dụng các quy định đó trong hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương(huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng).
Về thời gian: đánh giá tình hình thực hiện qua nguồn số liệu thu thập
trong giai đoạn từ năm 2015 – 2019 Phần giải pháp và đề xuất khuyến nghịtrong thời gian tới (giai đoạn năm 2020 -2025)
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hòa giải tranh
chấp đất đai tại UBND cấp xã, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên những luận giải khoa học được chứng minh và diễn giải theochủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng vềhòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, qua đó làm rõ những vấn đềtrong thực tiễn áp dụng pháp luật hòa giải tranh chấp đất đai hiện hành trênđịa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, phương pháp lịch
sử khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai vàpháp luật giải quyết tranh chấp đất đai, đặc trưng của hòa giải trong giải quyếttranh chấp đất đai Từ các tài liệu được công bố rộng rãi, bao gồm: các vănbản quy phạm pháp luật, các công trình luận án tiến sĩ, giáo trình, bài báo, tạpchí chuyên ngành, đề tài nghiên cứu khoa học, sách tham khảo, các thông tintrên phương tiện thông tin đại chúng và các bản báo cáo, thống kê về công táchòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, điều tra, khảo sát và
phân tích dữ liệu: Từ những dữ liệu thu được từ thực tiễn, trong quá trình nghiêncứu lí luận khoa học, tiến hành tổng hợp, đối chiếu, phân tích các thông tin đểđưa ra những nhận định, đánh giá khi tìm hiểu các quy định của pháp luật vàthực trạng áp dụng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
Trang 11Chương 3: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp để xem xét, tìm hiểu về hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyếttranh chấp đất đai hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý
luận và nội dung các quy định của pháp luật hòa giải trong giải quyết tranhchấp đất đai tại UBND cấp xã hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã góp phần làm rõ những bất cập
trong quy định của pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai vàthực tiễn áp dụng tại UBND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng Qua đó, luậnvăn đưa ra những quan điểm, những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng caohiệu quả thực thi pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai củacác cơ quan, tổ chức trên địa bàn huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng nói riêng vàtrên cả nước nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: những vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai
Chương 2: thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã tạihuyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng
Chương 3: quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quảhòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã từ thực tiễn huyện Phục Hòa,tỉnh Cao Bằng
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm hòa giải
Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong
đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng Hòa giải có ý nghĩalớn, nó làm cho những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, xích mích được dậptắt hoặc không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng, giúp cho các bên tránhđược một sự xung đột được giải quyết bằng bạo lực hoặc chiến tranh Giúpcác bên hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn cục diện ổn định… Chính vì vai trò to lớnnày nên trong quy định pháp luật, các nước thường đặt ra vấn đề hòa giảitrong giải quyết các tranh chấp
Mâu thuẫn, xung đột lợi ích, vi phạm quy tắc chung, vi phạm cam kết làđiều khó tránh khỏi trong các mối quan hệ xã hội Có hai hình thức cơ bản đểgiải quyết bất đồng, mâu thuẫn xảy ra giữa các bên là trong tố tụng (cơ quannhà nước có thẩm quyền – Tòa án đứng ra giải quyết theo quy định của phápluật) và ngoài tố tụng (các bên tự thương lượng, thỏa thuận với nhau hoặc nhờbên thứ ba can thiệp như trọng tài, hòa giải, đánh giá trung lập) Ngày nay, xuhướng sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng ngày càngđược coi trọng trên thế giới bởi khắc phục được những điểm yếu của hệ thốngtòa án (vì nhiều lý do mà số vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn ngày càng tăngtrong khi số lượng thẩm phán có hạn, thủ tục tố tụng tại Tòa án phải tuân thủđúng pháp luật rất phức tạp, mất nhiều thời gian, lại công khai )
Ở Việt Nam thì việc hòa giải là một hoạt động xuất phát từ truyền thốngđoàn kết, hoà hiếu của dân tộc như: "Dĩ hòa vi quý" "Hoà cả làng", "Một điều
Trang 13nhịn, chín điều lành", "Chín bỏ làm mười"… hay thói quen của cộng đồngtrong việc giải quyết tranh chấp là không muốn đưa các tranh chấp ra trướccác cơ quan tài phán để phán xử như: "Vô phúc đáo tụng đình", vì khôngmuốn "Chuyện bé xé ra to", "Vạch áo cho người xem lưng" mà chủ yếu là
"đóng cửa bảo nhau"
Pháp luật của Việt Nam cũng quy định về công tác hòa giải những xíchmích, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân bằng công tác hòa giải ở đơn vị
cơ sở Thể chế chủ trương, nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, Quốc hội đã thông qua nhiều văn bản luật có giá trị pháp
lý cao, trong đó có quy định biện pháp hòa giải như một phương thức giảiquyết tranh chấp (Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự,Luật hòa giải ở cơ sở, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình )
Như vậy, hòa giải có thể hiểu là hành vi thuyết phục các bên đồng ý
chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa, là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp), giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn
đề của họ.
1.1.1.2 Khái niệm tranh chấp đất đai
Các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra định nghĩa về TCĐĐ như sau:
TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai Theo quan
điểm này thì TCĐĐ là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng, trong đó,các chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp là các chủ thể khi tham gia quan hệpháp luật đất đai bao gồm Nhà nước và người sử dụng đất; đối tượng củaTCĐĐ là tất cả những xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
là Nhà nước và người sử dụng đất
Trang 14Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “TCĐĐ” chưa được
chính thức giải thích, mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy địnhcủa pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác
có liên quan đến quyền sử dụng đất Tranh chấp đất đai bao gồm tất cả cáctranh chấp phát sinh từ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Trong đó có
cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịchquyền sử dụng đất Kế thừa từ khái niệm “Tranh chấp đất đai” năm 2003, tại
khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh
chấp quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Hiện nay có những trường hợp tranh chấp đất đai thường gặp như:Tranh chấp đất giữa người sử dụng hợp pháp với cá nhân khác; tranh chấp đấtgiữa người sử dụng hợp pháp với Nhà nước (vấn đề bồi thường đất); tranhchấp đất giữa những người sử dụng chung đất, chung các tài sản gắn liền vớiđất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất ; tranhchấp đất giữa hai cá nhân chưa xác định được ai là người sử dụng hợp pháp
Như vậy, tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội xảy ra trong bất
cứ hình thái kinh tế - xã hội nào Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đốikháng thì tranh chấp đất đai mang mầu sắc chính trị, đất đai luôn là đối tượngtranh chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Ở xã hội không tồn tạimâu thuẫn về lợi ích giai cấp đối kháng, tranh chấp đất đai thường là mâuthuẫn về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của các bên Việc giải quyết tranhchấp đất đai do các bên tự tiến hành thông qua con đường thương lượng, hòagiải hoặc do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dựa trên việc ápdụng các quy định của pháp luật
1.1.1.3 Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai, hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
Trang 15“Hoà giải tranh chấp đất đai” là một thuật ngữ được sử dụng trong cácvăn bản pháp Luật Đất đai Tuy nhiên, thuật ngữ này lại không được giải thích
cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Căn
cứ vào quan niệm chung về hoà giải, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hoà
giải tranh chấp đất đai như sau: Hoà giải tranh chấp đất đai là tự chấm dứt
việc xích mích, tranh chấp trong sử dụng đất giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác.
Hòa giải tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh chấpliên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò trunggian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợpcho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến quyền sử dụngđất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn
là một thủ tục được quy định trong pháp luật đất đai rất cần thiết, vì nó giúpgiữ gìn được mối quan hệ tốt đẹp trong nội bộ nhân dân, giảm bớt áp lực giảiquyết tranh chấp đất đai lên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó, đảmbảo tính khả thi hơn trong việc thi hành các nội dung trong việc giải quyếttranh chấp đất đai
Trường hợp các bên tranh chấp không tự hòa giải hoặc không hòa giảiđược thông qua hòa giải ở cơ sở, thì có thể gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp
xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải Đây là hình thức hòagiải do chính quyền cơ sở thực hiện nhằm nhanh chóng giải quyết những bấtđồng nội bộ trong nhân dân về đất đai trên địa bàn dân cư do chính quyền địaphương trực tiếp quản lý Tuy nhiên, kết quả hòa giải này không có giá trị nhưmột phán quyết của cơ quan tư pháp
Theo pháp luật đất đai hiện hành quy định: Hòa giải tranh chấp đất đaitại Ủy ban nhân dân cấp xã được tiến hành bởi các thành viên của Hội đồng
Trang 16hòa giải tranh chấp đất đai Với các thành viên bao gồm: Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận tổ quốc cấp xã và tổ chức thành viên củaMặt trận, các tổ chức xã hội khác, đại diện của một số hộ dân sinh sống lâuđời tại xã biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó, cán
bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn Đây là việc hòa giải tại nơi
có đất tranh chấp dưới hình thức bắt buộc đối với tranh chấp đất đai
Như vậy có thể hiểu “Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân
cấp xã, phường, thị trấn là một trong những thủ tục pháp lý mang tính chất bắt buộc Đây có thể coi là giai đoạn tiền tố tụng trong việc giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân hoặc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền”.
1.1.2 Đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
Tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của của tranh chấp dân sự, đốitượng của tranh chấp đất đai là quyền sử dụng đất Bởi vậy, hòa giải tranhchấp đất đai tại UBND cấp xã ngoài những đặc điểm của một dạng tranh chấpdân sự nói chung, còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc hoà giải tranh chấp đất đai không chỉ dựa trên quan
điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn áp dụng phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, quy ước, luật tục của địa phương… để vận động, thuyết phục các bên tranh chấp hoá giải bất đồng, mâu thuẫn về đất đai.
Khi tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai nói chung, hòa giải tranh chấpđất đai tại UBND cấp xã nói riêng, trên thực tế yêu cầu hòa giải không chỉbiết đến việc vận dụng những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng,pháp luật của nhà nước để tiến hành hòa giải một cách cứng nhắc, rập khuôn,máy móc Để việc hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã đạt hiệu quả,ngoài việc vận dụng các quy định của pháp luật, còn tùy từng trường hợp cụ
Trang 17thể, phải áp dụng cả những phong tục, tập quán, quy ước ở địa phương, bởi lẽ,khi một tranh chấp phát sinh sẽ kéo theo nguy cơ sụp đổ của các mối quan hệ
họ hàng, bạn bè, làng xóm láng giềng, Giải quyết tranh chấp ngoài cái lý còn
có cái tình hay nói cách khác là phải hợp tình, hợp lí Phong tục, tập quánthường được thể hiện hoặc bằng thói quen ứng xử dưới dạng một hành động
cụ thể, hoặc bằng ngôn ngữ như luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số,các quy ước của làng, bản, thôn, tổ dân phố Thường thường, các phong tục,tập quán được áp dụng trong hòa giải phải là phong tục, tập quán tốt đẹp,không vi phạm các chuẩn mực về đạo đức, lối sống, không trái với các quyđịnh của pháp luật Nếu phong tục, tập quán đã được quy định trong hươngước, quy ước thì phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệtthực hiện Đối với các hủ tục, tập quán lỗi thời thì tuyệt đối không được ápdụng trong quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp đất đai
Thứ hai, việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã
phải được tiến hành tại địa bàn nơi có đất tranh chấp.
Đất đai luôn gắn liền với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải thườngphải được tiến hành tại nơi có tài sản tranh chấp Thông thường, chính quyềnđịa phương nơi có tranh chấp đất đai sẽ có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu vềnguồn gốc, lịch sử và hiện trạng pháp lý cũng như thực tế của tài sản tranhchấp Chính vì vậy, chủ thể này sẽ có điều kiện tốt nhất để tiến hành hòa giảimột cách có hiệu quả
Thứ ba, hòa giải tranh chấp đất đai yêu cầu phải do các chủ thể am
hiểu về quy định của pháp luật về đất đai, nắm vững nguồn gốc, quá trình sử dụng đất cũng như nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp giữa các bên.
Người tiến hành hòa giải phải khách quan, công minh, đảm bảo giảiquyết tranh chấp một cách công bằng, không thiên vị, không áp đặt các bênđương sự trong việc hoà giải tranh chấp đất đai Các bên tự nguyện đưa ra các
Trang 18cơ sở, dẫn chứng thực tiễn để chứng minh cho quyền và nghĩa vụ của mình, tự
do thảo luận, đề xuất giải pháp, thỏa thuận và chấp nhận ý kiến tư vấn giảiquyết của các thành viên Hội đồng hòa giải (hòa giải viên) Các hòa giải viênkhông chỉ đưa ra những lời giải thích, phân tích “điều hơn, lẽ thiệt” hoặc phântích sự hợp lý, đưa ra lời tư vấn để các bên đương sự suy nghĩ tự quyết địnhviệc hoá giải những bất đồng, mâu thuẫn, qua đó còn giúp các bên tranh chấphóa giải mâu thuẫn, góp phần nâng cao nhận thức tuân thủ pháp luật củangười dân Hoà giải viên tuyệt đối không đưa ra nhận định chủ quan hoặc đưa
ra phán quyết “đúng - sai” để áp đặt với các bên đương sự trong quá trình hoàgiải và nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp giữa các bên
Thứ tư, việc hòa giải tranh chấp đất đai phải tôn trọng quyền định đoạt
của các bên tranh chấp; hòa giải tranh chấp cần được tiến hành kịp thời và nhanh chóng.
Thực tế giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy do tính chất phức tạp, gaygắt của loại tranh chấp này, nên nếu tranh chấp đất đai không được giải quyếtmau lẹ, nhanh chóng, dứt điểm ngay từ khi phát sinh bất đồng, mâu thuẫn thìviệc giải quyết ngày càng khó khăn, phức tạp Vì vậy, việc hoà giải tranh chấpđất đai cần được thực hiện kịp thời và nhanh chóng Điều này đòi hỏi tổ chức,
cá nhân thực hiện vai trò hoà giải tranh chấp đất đai phải luôn luôn chủ độngsẵn sàng vào cuộc ngay từ khi nảy sinh các bất đồng, mâu thuẫn
Thành viên Hội đồng hoà giải nên giữ bí mật thông tin đời tư của các bêntranh chấp; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạmlợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Mọi hoạt động hoà giải đều nhằm xâydựng niềm tin, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau giúp cho các bên biết kiềm chế,nhường nhịn nhau nhằm đạt được thỏa thuận, đi đến hòa giải thành công
Trang 19Thứ năm, hoà giải tranh chấp đất đai phải xoá tan tâm lý “thắng
-thua” của các bên đương sự và thay vào đó là khuyến khích tinh thần “đôi bên cùng có lợi”.
Trên thực tế do sự thiếu kiềm chế hoặc chỉ nhận thấy lợi ích trước mắt
mà nảy sinh bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên và khi phát sinh do tâm lý sĩdiện, hiếu thắng mà các bên tranh chấp có thái độ căng thẳng, cố chấp Ngườihoà giải viên phải nắm bắt được tâm lý này của các bên đương sự để đưa ranhững liệu pháp tâm lý nhằm giúp làm dịu sự căng thẳng, tính sĩ diện, ích kỷhoặc tâm lý “thắng - thua”
Thứ sáu, việc hoà giải tranh chấp đất đai phải tiến hành vận động, tuyên
truyền, thuyết phục các bên một cách kiên trì, bền bỉ, liên tục; phải tốn nhiều thời gian, công sức của người hoà giải mới mong đạt được sự thành công.
Việc hoà giải tranh chấp đất đai muốn đạt hiệu quả thì không chỉ trôngchờ vào các cơ quan công quyền mà phải khuyến khích, huy động sự tham giatích cực, chủ động, sáng tạo của cộng đồng, các tổ chức quần chúng ở cơ sở vàcác thiết chế tự quản của người dân ở cơ sở Mặt khác, do đất đai có tầm quantrọng đặc biệt đối với con người nên tranh chấp đất đai tiềm ẩn nhiều hậu quảtiêu cực về chính trị, kinh tế và xã hội Vì vậy, việc hoà giải tranh chấp đất đaikhông chỉ là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn là tráchnhiệm của cả cộng đồng xã hội và của mỗi người sử dụng đất (SDĐ)
1.1.3 Vai trò của hòa giải tranh chấp đất đai
Tại sao tranh chấp đất đai phải hòa giải từ cấp cơ sở? Đây cũng là vấn
đề các nhà nghiên cứu luật học đã bàn đến qua nhiều thời kì, có khoảng thờigian trong các văn bản luật không đề cập đến hòa giải là một thủ tục bắt buộctrong giải quyết tranh chấp đất đai Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều quanđiểm khác nhau, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng lợi ích, vai trò của hòagiải tranh chấp đất đai mang lại là vô cùng quan trọng và cấp thiết phải có khigiải quyết tranh chấp đất đai, đi vào cụ thể ta thấy:
Trang 20Thứ nhất, quyền tự định đoạt của các bên trong hòa giải: các bên tranh
chấp có thể bày tỏ quan điểm, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giảipháp giải quyết Hòa giải đem lại cơ hội cho các bên được gặp gỡ trực tiếp đểtrình bày, giải thích và đưa ra lý do mà mình bất đồng với bên kia, từ đó haibên hiểu nhau và đi đến thống nhất cách giải quyết So với cách giải quyếtkhác như quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay phán quyết củaTòa án thường mang lại cảm giác bị áp đặt thì trong hòa giải các bên khôngcảm thấy phải chịu áp lực mà họ thấy rằng họ được làm chủ, vì thế họ dễ dàngthống nhất cách giải quyết hơn Như vậy, hòa giải đặt con người vào vị trítrung tâm, thể hiện đề cao quyền con người, quyền tự định đoạt của công dântheo tinh thần Hiến pháp năm 2013
Thứ hai, tiết kiệm thời gian: Khi lựa chọn phương án hòa giải để giải
quyết tranh chấp, các bên hoàn toàn chủ động về thời gian, việc giải quyếtnhanh chóng hơn rất nhiều so với thủ tục tố tụng Các bên có thể gặp gỡ đểhòa giải vào bất kỳ thời diểm nào (kể cả ngoài giờ hành chính, thứ bẩy, chủnhật mà không phụ thuộc vào thời giờ làm việc của cơ quan hành chính nhànước hay tòa án)
Thứ ba, chi phí thấp: Khi giải quyết tranh chấp đất đai bằng hòa giải,
các bên tiết kiệm và giảm thiểu rất nhiều chi phí Hiện nay, vụ việc hòa giải ở
cơ sở không tính phí, hòa giải viên làm việc trên cơ sở tự nguyện, vì lợi ích xãhội, lợi ích cộng đồng; còn hòa giải thương mại thường tính phí theo giờ, hầuhết các hòa giải viên thương mại làm việc trong một số lĩnh vực khác ngoàicông việc hòa giải Trên thực tế, có những vụ án dân sự, vụ án kinh tế kéo dàinhiều năm, trải qua nhiều lần xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm rồilại quay trở về xét xử sơ thẩm lại, các đương sự trong vụ án dân sự mệt mỏivới chuyện kiện tụng, bên thắng kiện đôi khi không đủ bù đắp chi phí tố tụng(các đương sự trong vụ án dân sự phải nộp án phí theo quy định tại Bộ luật tốtụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày
Trang 2130/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án), ngoài ra công việc bịảnh hưởng, thu nhập bị giảm sút.
Đồng thời, việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải làm giảm chi phí, giảmkhối lượng công việc cho cơ quan nhà nước Mỗi năm hoà giải thành công baonhiêu vụ việc tức là giảm được bấy nhiêu vụ việc mà các cơ quan nhà nước phảithụ lý giải quyết, giảm thiểu các vụ việc tranh chấp phức tạp, kéo dài
Thứ tư, linh hoạt về thủ tục: Các bên có quyền lựa chọn hoặc không lựa
chọn giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa giải, không bên nào có thể
ép buộc bên nào tham gia vào phương thức này; các bên có thể quyết địnhhoàn toàn quy trình hòa giải hoặc đề xuất với hòa giải viên những thay đổicần thiết cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình, các bên được thamgia toàn bộ quá trình hòa giải cho đến khi hòa giải xong hoặc ngừng tham giahòa giải nếu thấy việc tham gia không hiệu quả hoặc muốn giải quyết bằngphương thức khác; quá trình hòa giải thường được hoàn thành trong một thờigian ngắn Đây là sự khác biệt với phương thức tố tụng, khi giải quyết vụ án,Tòa án phải tuân theo những quy định về thủ tục tố tụng rất chặt chẽ, tươngđối “rườm rà”, do vậy khi hòa giải, các bên tranh chấp không cảm thấy lo lắnghay căng thẳng như hoạt động xét xử tại Tòa án Ngoài ra, việc cung cấpthông tin và bằng chứng trong tố tụng phải thực hiện theo quy định của phápluật để bảo đảm tính chính xác; còn trong hòa giải không có quy định vềchứng cứ và kiểm tra tính chính xác của chứng cứ Đồng thời các bên tranhchấp còn có quyền lựa chọn địa điểm tiến hành hòa giải (địa điểm có thể lànhà riêng, trụ sở công ty của một bên tranh chấp, có thể là nhà văn hóa củakhu dân cư, thậm chí là quán cà phê hay khu nghỉ dưỡng…, bất cứ nơi nào màbên tranh chấp thấy thuận tiện cho họ và pháp luật không cấm họ gặp gỡ tạiđịa điểm đó)
Trang 22Thứ năm, duy trì mối quan hệ giữa các bên: Quá trình hòa giải giúp các
bên tham gia làm việc cùng nhau, tạo không khí thân thiện, lắng nghe, mangtính xây dựng và tin tưởng Các bên có cơ hội thể hiện tình cảm, bày tỏ sựquan tâm đến các quan hệ lâu dài trong tương lai
Thứ sáu, hiệu quả của hòa giải tác động đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Hòa giải góp phần xây dựng sức mạnh đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, hạn chếđơn thư khiếu nại, kiện tụng, kéo dài, bức xúc cho người dân, gây mất trật tự
an ninh, chính trị, mất ổn định trong xã hội
Thứ bảy, hiệu quả của hòa giải tác động đến kinh tế - xã hội: Quan hệ
cộng đồng làng, xã ổn định, bền chặt các thôn, bản, tổ dân phố được an ninh,trật tự, văn hóa; môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh và ổn định khiếnmỗi cá nhân, gia đình, tổ chức và doanh nghiệp yên tâm lao động, sản xuất,làm ăn hiệu quả hơn, giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng địa phương, đấtnước ngày càng giàu mạnh, văn minh
Như vậy, có thể thấy, hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấpđất đai mang đậm tính nhân văn sâu sắc, phản ánh tâm lý sống yêu chuộnghòa bình, coi trọng nghĩa tình của người Việt Nam với phương châm “Nghĩa
ăn không bằng nghĩa ở”, “Một điều nhịn, chín điều lành” và “Bán anh em xa,mua láng giềng gần”, không thích kiện tụng “vô phúc đáo tụng đình”
1.2 Thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
1.2.1 Thẩm quyền
Một trong những biện pháp hữu hiệu để hạn chế việc các bên tranh chấpkhởi kiện ra Tòa để giải quyết tranh chấp là tăng cường công tác hòa giải, đặcbiệt là hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn Công tác hoàgiải tại Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết kịp thời, nhanh chóng, giảm bớtkhiếu nại, tố cáo, khiếu kiện của nhân dân
Trang 23Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai thuộc về Ủy ban nhân dân cấp
xã, phường, thị trấn, nơi có đất tranh chấp Theo quy định của Luật đất đai
2013 thẩm quyền hòa giải không chỉ tại UBND cấp xã, trong quá trình giảiquyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính tại các cấp có thẩm quyền,Luật khuyến khích việc hòa giải trong quá trình giải quyết Như vậy, thẩmquyền hòa giải không chỉ có UBND cấp xã, mà tại UBND cấp huyện, cấp tỉnhđều có thể tiến hành hòa giải tại trong quá trình giải quyết tranh chấp Ngoài
ra, các hòa giải viên tại cơ sở (làng, bản, xóm, Tổ dân phố) đều có tiến hànhhòa giải khi có xảy ra tranh chấp Tuy nhiên, việc hòa giải tranh chấp đất đaitại UBND cấp xã là bắt buộc, vì vậy thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai làChủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã
1.2.2 Nguyên tắc
Hòa giải tranh chấp đất đại tại UBND cấp xã phải đảm bảo các nguyêntắc sau:
Một là, phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; tôntrọng sự tự nguyện của các bên; theo nguyên tắc công khai, dân chủ, kết hợpvới thuyết phục, phân tích có lý, có tình; tôn trọng quyền, lợi ích hợp phápcủa người khác, không xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng; kịpthời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế nhữnghậu quả xấu khác có thể xảy ra
Hai là, phải tôn trọng quyền tự do, tự cam kết, thỏa thuận của các bên
tranh chấp; đảm bảo phù hợp đạo đức xã hội, phong tục tập quán của nhândân; phát huy tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ nhân dân,quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của những đối tượng yếu thế trong xãhội hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trang 24Ba là, không được lợi dụng việc hòa giải để ngăn cản các bên tranh
chấp bảo vệ quyền và lợi ích của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốntránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự
Trước khi Luật hòa giải cơ sở ra đời, Pháp lệnh hòa giải chưa làm rõphạm vi hòa giải khi các bên tranh chấp phát sinh Đó là nguyên nhân tạo điềukiện cho các đối tượng lợi dụng việc hòa giải để ngăn cản các bên tranh chấpbảo vệ quyền lợi của mình, thậm chí là trốn tránh việc xử lý hình sự, xử lý viphạm hành chính Khi Luật Hòa giải cơ sở năm 2013 ra đời, đã quy địnhphạm vi hòa giải: việc hòa giải cơ sở không làm ảnh hưởng đến quá trình cơquan chức năng có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật, không đượclợi dụng việc hòa giải ở cơ sở để trốn tránh trách nhiệm hành chính, tráchnhiệm hình sự Đối tượng của hòa giải là việc hòa giải ở cơ sở được tiến hànhđối với các tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp:mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; viphạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng dân sự không được tiến hành hòa giải; vi phạm pháp luậttheo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạmhành chính; mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi íchcông cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình
Bốn là, kết quả hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã phải
được lập thành biên bản, có đầy đủ chữ ký của các bên và có xác nhận hòagiải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã Tại Điều
202 Luật Đất đai năm 2013 có đề cập đến nguyên tắc này: “Việc hòa giải
phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp”.
Trang 25Trên thực tế, việc tiến hành tổ chức hòa giải khi phát sinh tranh chấp,đặc biệt là tranh chấp đất đai, thì các cơ quan có thẩm quyền cũng như cácbên tranh chấp sẽ phải tốn rất nhiều thời gian cũng như chi phí cho việc thựchiện Tuy nhiên, có thể do thiếu hiểu biết pháp lý về hòa giải hoặc ý thức chấphành pháp luật chưa cao mà dẫn đến việc sau khi tổ chức hòa giải xong thì các
cơ quan tổ chức hòa giải không lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thànhhoặc hòa giải không thành Mặt khác, có những trường hợp có trong thànhphần tham gia hòa giải nhưng không ký vào biên bản hòa giải Đặc biệt là, cótrường hợp biên bản hòa giải không có xác nhận nhận của Ủy ban nhân dân
xã Điều này dẫn đến hệ lụy, khi khởi kiện hoặc khiếu nại lên cơ quan cấptrên, các bên sẽ bị trả lại hồ sơ vì Biên bản hòa giải chưa đảm bảo, đúng quyđịnh của pháp luật
Năm là, các thành viên của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai phải
đảm bảo tính trung lập, độc lập, khách quan, công tư phân minh, rõ ràng Khi
có tranh chấp đất đai phát sinh, các bên tranh chấp thường đưa ra lý lẽ chorằng mình đúng để bảo vệ quyền, lợi ích của bản thân, mà lại không thấyđược cái sai của mình Do đó, khi tiến hành hòa giải, các thành viên của Hộiđồng hòa giải tranh chấp đất đai phải thật sự công minh, khách quan, đề caocông bằng, lẽ phải, tìm cách thuyết phục để mỗi bên hiểu rõ cái sai của mình,phân định hài hòa lợi ích của cả hai bên Tránh hòa giải “hình thức” hoặc “dĩhòa vi quý” cho xong việc
Hiện nay, những tranh chấp đất đai phát sinh vô cùng đa dạng và phức tạp
Do đó, các thành viên trong Hội đồng hòa giải tranh chấp cần phải nắm vững cácnguyên tắc trên, đồng thời không ngừng cập nhật, nâng cao kiến thức pháp luật,
xã hội để công tác hòa giải phát huy tốt hơn nữa vai trò của nó
1.2.3 Trình tự, thủ tục
Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai, có thể hiểu là trình tự, thủ tục mà cơquan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm giúp đỡ các bên tranh chấp
Trang 26thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp đất đai Việc hòa giải này có
ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí cho các bên, giảmbớt các giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải quyết triệt để các mâu thuẫn giữa cácbên tranh chấp Vì vậy mà, nếu không quan tâm, thực hiện thủ tục hòa giải tranhchấp giữa các bên trong việc giải quyết tranh chấp đất đai thì quyền lợi của các bêntranh chấp khó có thể đảm bảo
Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã được quy địnhtại Điều 202 Luật Đất đai 2013 và được cụ thể hóa tại Điều 88 Nghị định43/2014/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật đất đai như sau:
Bước 1, tiếp nhận và xử lý hồ sơ tranh chấp đất đai:
Về hồ sơ yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai: Pháp luật không quyđịnh cụ thể hồ sơ yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã phải
có những loại giấy tờ bắt buộc Tuy nhiên trên thực tế, về cơ bản hồ sơ yêucầu giải quyết tranh chấp đất đai phải bao gồm: Đơn yêu cầu giải quyết tranhchấp đất đai, kèm theo các tài liệu, chứng cứ khác (nếu có) như: Biên bản hòagiải tranh chấp đất đai ở cơ sở; bản sao: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 nếu có);trích lục thửa đất; giấy tờ mua bán, sang nhượng đất; hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất; Giấy Chứng minh nhân dân của người yêu cầu…
Bước 2, sau khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai
và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có), UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
Thứ nhất, phải tiến hành thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát
sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp vềnguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất
Đây là một thủ tục bắt buộc phải thực hiện nhằm mục đích đảm bảo choviệc hòa giải mang lại hiệu quả và có tính thuyết phục cao Công việc này do
Trang 27cán bộ địa chính tham mưu thực hiện (thông thường địa chính sẽ tham mưugiúp Chủ tịch UBND xã ban hành Quyết định thành lập Tổ xác minh, thànhphần từ 3 đến 5 người gồm có công chức địa chính, tư pháp, công an, Trưởngxóm/Tổ trưởng Tổ dân phố hoặc các thành viên khác, do từng địa phươngquyết định, không quy định bắt buộc) Sau khi tiến hành thẩm tra, xác minh
về, Tổ xác minh có trách nhiệm phải lập báo cáo kết quả thẩm tra, xác minhnội dung tranh chấp đất đai gửi Chủ tịch UBND xã hoặc Phó Chủ tịch UBND
xã (người phụ trách hòa giải tranh chấp đất đai) Nội dung báo cáo có các nộidung chủ yếu sau: (i) Xác định rõ quan hệ tranh chấp mà các bên yêu cầu giảiquyết là gì: ai tranh chấp với ai (cá nhân với cá nhân hay hộ gia đình tranhchấp, lưu ý phân biệt vì hệ quả pháp lý khác nhau); diện tích, loại đất tranhchấp, yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu của bị đơn (ii) Nguồn gốc và quátrình sử dụng (iii)Thông tin hồ sơ địa chính qua các thời kỳ (tờ bản đồ, diệntích, loại đất, sổ mục kê, sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính…) (iii) Hiệntrạng sử dụng đất đang tranh chấp (phải kiểm tra hiện trường, lưu ý thủ tụckiểm tra hiện trường phải đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định); so sánh thông tinđịa chính qua các thời kỳ và phải có lý giải sự biến động (nếu có) (iv)Nguyên nhân và diễn biến phát sinh tranh chấp và kết quả hòa giải ở cơ sở, tựhòa giải (v) Tình trạng sử dụng đất hiện nay của các bên tranh chấp (hoàncảnh về đất ở, đất sản xuất của các bên tranh chấp)
Thứ hai, thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện
hòa giải
Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013 thì thành phần Hội đồng hòagiải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủyban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã,phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấpđối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại
Trang 28xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đấtđó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn Tùy từng trườnghợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiếnbinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Thứ ba, tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh
chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan
Trước khi tổ chức cuộc họp hòa giải, UBND cấp xã phải gửi thư mờiđến tất cả các bên tranh chấp và thành viên tổ hòa giải Và việc hòa giải chỉđược tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt Trường hợp, tại cuộc họphòa giải có một bên tranh chấp hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanvắng mặt thì phải hoãn cuộc họp hòa giải và tổ chức lại cuộc họp hòa giải lầnthứ hai Việc hoãn cuộc họp hòa giải phải lập thành biên bản và ghi rõ lý dohoãn cuộc họp Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lầnthứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành
Bước 3, lập biên bản hòa giải khi giải quyết tranh chấp:
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm
có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham
dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm
sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quảxác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; nhữngnội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận
Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranhchấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóngdấu của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp
và lưu tại UBND cấp xã Trường hợp, sau khi thông qua biên bản hòa giải mà
Trang 29một trong các bên tranh chấp không đồng ý ký tên vào biên bản hòa giải thìphải lập biên bản để lưu vào hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà cácbên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trongbiên bản hòa giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hộiđồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biênbản hòa giải thành hoặc không thành
* Giải quyết trong trường hợp hòa giải thành:
Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sửdụng đất, chủ sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến
cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định:
+ Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranhgiới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tàinguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trườngđối với các trường hợp khác
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trìnhUBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mớiGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liềnvới đất
* Giải quyết trong trường hợp hòa giải không thành:
Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ítnhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND cấp xãlập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơnđến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo
* Nội dung tổ chức cuộc họp hòa giải:
Trang 30Pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ chưa có quy định về nội dung tổchức một cuộc hòa giải tranh chấp đất đai ở cấp xã Sở dĩ pháp luật không quyđịnh rõ về vấn đề này là bởi lẽ: mỗi cuộc hòa hòa giải, người hòa giải phải căn
cứ vào tình hình thực tế ở từng địa phương, vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thểcủa việc tranh chấp hoặc tùy thuộc vào năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kinhnghiệm, năng khiếu hòa giải, thuyết phục của từng thành viên hòa giải sẽquyết định buổi hòa giải sẽ diễn ra như thế nào? kết quả ra sao?
Từ thực tiễn cho thấy, nội dung của buổi hòa giải thường có những nộidung cơ bản sau:
Thứ nhất, chuẩn bị cho buổi hòa giải, công chức địa chính tham mưu giúp UBND cấp xã chuẩn bị việc hoà giải tranh chấp đất đai bao gồm:
(i) Nghiên cứu nội dung vụ việc tranh chấp; chứng cứ của các bênđương sự đối chiếu với các quy định của pháp Luật Đất đai và những tài liệu,
hồ sơ, sổ sách địa chính, bản đồ địa chính về thửa đất tranh chấp do UBNDcấp xã quản lý để xây dựng phương án hoà giải;
(ii) Lập kế hoạch, thời gian, địa điểm, thành phần và các phương tiện vật chất cần thiết phục vụ việc hoà giải tranh chấp đất đai;
(iii) Gửi giấy mời cho các thành viên tham gia buổi hoà giải;
(iv) Thông báo hoặc gửi giấy triệu tập đến các bên đương sự
Thứ hai, các thành phần tham gia cuộc họp hòa giải
Chủ thể theo quy định phải có mặt trong buổi hòa giải gồm có: Hộiđồng hòa giải (Chủ tịch Hội đồng hòa giải; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; côngchức Địa chính; công chức Tư pháp; Tổ trưởng Tổ dân phố hoặc Trưởngxóm/Trưởng thôn, ấp, bản; đại diện một số hộ dân sống lâu đời tại nơi đấttranh chấp; các bên tranh chấp (nguyên đơn, bị đơn) Chủ thể tùy thuộc vào
vụ việc: Đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ; Đoàn thanh niên Cộng sản HồChí Minh; Hội Cựu chiến binh (tùy thuộc vào chủ thể tranh chấp là ai phụ nữ,
Trang 31thanh niên, nông dân hay cựu chiến binh thì sẽ là chủ thể của cuộc hòa giảiđó) Trên thực thế, một số nơi còn mở rộng mời thêm một số chủ thể sau:người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Thứ ba, chương trình hòa giải
Thông thường Chủ tịch Hội đồng hòa giải sẽ chủ trì cuộc hòa giải; đề xuấtlấy ý kiến thành viên HĐHGTCĐĐ quyết định cử một thành viên của Hội đồnglàm thư ký ghi chép nội dung cuộc hòa giải (Biên bản hòa giải), thực tế cho thấycán bộ địa chính sẽ phụ trách việc này (do là bộ phận chuyên môn, tham mưugiải quyết vụ việc) Các thành phần tham gia hòa giải sẽ được nghe công chức bộđịa chính thông qua bản báo cáo nội dung sự việc đã chuẩn bị trước đó (mỗithành phần tham gia hòa giải sẽ được cung cấp một bản báo cáo để nghiên cứu,điều này tùy thuộc vào từng nơi hòa giải) Thành viên Hội đồng hòa giải sẽ bằngcác biện pháp, nghiệp vụ của mỗi thanh viên sẽ tiến hành giải thích, động viên,thuyết phục, vận động … hai bên đương sự đồng ý với phương án mà Hội đồnghòa giải đã cùng thống nhất đưa ra trước đó
Qua thực tế cho thấy, thường các cuộc hòa giải thành phụ thuộc rấtnhiều vào phương án hòa giải mà Hội đồng hòa giải đưa ra (phương án càngtối ưu thì càng dễ thuyết phục hòa giải thành); khi các phương án đưa ranghiêng về lợi ích của một bên, thì buổi hòa giải đó sẽ không hòa giải thành
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hòa giải tranh chấp đất đai
1.3.1 Yếu tố về con người
Con người luôn là chủ thể của mọi mối quan hệ, chính vì vậy, yêu tố vềcon người luôn được quan tâm nhất từ xưa đến nay trong công tác hòa giải
Bàn về yếu tố con người, trước hết nói đến người tiến hành hòa giải; vềnăng lực, trình độ, kỹ năng hòa giải của cán bộ, công chức tiến hành hòa giảiđóng vai trò rất quan trọng trong việc hòa giải, phần lớn quyết định việc hòagiải có thành công hay không Các cán bộ tiến hành hòa giải phải năng nổ,
Trang 32nhiệt tình, am hiểu phong tục, tập quán địa phương, có kinh nghiệm sốngphong phú và có thái độ công tâm, khách quan vì lợi ích cộng đồng.
Trình độ, nhận thức của người được hòa giải (nguyên đơn, bị đơn) cũngđóng vai trò quan trọng trong việc hòa giải: thuyết phục, giải thích cho ngườiđược hòa giải là người có trình độ, có nhận thức, am hiểu pháp luật sẽ khácvới người có trình độ thấp, không am hiểu pháp luật Ví dụ, hòa giải chongười dân là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ học vấn mới hết tiểuhọc sẽ khác với một người dân sống ở thành thị, có trình độ học vấn là đạihọc Vì vậy, đây cũng chính là một trong những yếu tố mà người tiến hànhhòa giải xem xét đến đối tượng hòa giải là ai? Để có hướng đi thích hợp nhất,mang lại chất lượng, hiệu quả trong quá trình hòa giải
1.3.2 Yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sống
Việc áp dụng hoà giải tranh chấp đất đai có sự khác biệt giữa khu vựcnông thôn, miền núi (vùng sâu, vùng xa) và thành thị
Ở nông thôn, miền núi các mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng xómđược người dân rất coi trọng, giữ gìn và bảo vệ Khi tranh chấp phát sinh, ngườidân hướng tới hoà giải để giữ gìn tình đoàn kết xóm làng Hơn nữa, các thiết chếđạo đức, văn hóa, phong tục, tập quán truyền thống chi phối, ảnh hưởng mạnh mẽđến toàn bộ đời sống của người dân Trong quá trình hoà giải, áp dụng các tậpquán, thiết chế đạo đức này rất hiệu quả trong việc thuyết phục các bên Tại đây,già làng, trưởng bản và những người học cao được cộng đồng kính trọng, do đótiếng nói của họ rất có giá trị Sự tham gia của họ vào quá trình hoà giải là một yếu
tố dẫn đến thành công Không có sự góp mặt của luật sư do không phù hợp vớiphương pháp hoà giải và do người dân không có thói quen mời luật sư giúp họ giảiquyết tranh chấp Hơn nữa, phần lớn người dân nông thôn không thể chi trả phíthuê luật sư
Ở khu vực đô thị, hoà giải cũng được dùng để giải quyết tranh chấp đấtđai ở cơ sở Công việc này thường được thực hiện bởi một tổ hoà giải, gồm có
Trang 33tổ trưởng dân phố, thành viên của các tổ chức quần chúng như Mặt Trận TổQuốc, cán bộ Chi hội Phụ nữ, hội viên Chi hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiếnbinh Tuy nhiên, tỷ lệ hoà giải thành công tuỳ thuộc vào từng loại tranh chấp.
Ví dụ, tranh chấp nhỏ về hàng rào, ngõ chung giữa các hộ gia đình có tỷ lệhoà giải thành công cao nhất do tính chất đơn giản và tài sản tranh chấp không
có giá trị lớn Đối với những tranh chấp về quyền thừa kế nhà đất, kết quả hoàgiải phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hoà giải thành công khi các thành viên giađình và những người thừa kế có tinh thần hợp tác và nhường nhịn để đạt đượcgiải pháp hợp lý Hoà giải không thành công khi các thành viên gia đình vànhững người thừa kế không có tinh thần hợp tác, bảo thủ, hoặc do tài sảntranh chấp có giá trị quá lớn
1.3.3 Yếu tố về pháp lý và công tác quản lý đất đai
Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thihành Luật đất đai, Luật hòa giải cơ sở, Nghị định 15/2014/NĐ-CP, ngày 27tháng 02 năm 2014 là những văn bản pháp lý cơ bản nhất quy định về hòa giải
và hòa giải tranh chấp đất đai hiện nay
Một vấn đề được đề cập đến, mang tính định hướng, tính quyết định chobuổi hòa giải diễn ra, căn cứ vào đó HĐHGTCĐĐ sẽ phải lựa chọn “phương
án nào” để đưa ra trong buổi hòa giải, vấn đề này chính là “Căn cứ để hòagiải”
Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Giấychứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, thì
việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau: “Chứng cứ
về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra; thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương; sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với
Trang 34quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước; quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất”.
Căn cứ pháp lý, đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọngnhất mà Hội đồng hòa giải bắt buộc phải dựa vào để xem xét hòa giải vụ việctheo hướng nào, vừa hợp lý lại hợp tình, mang tính thuyết phục cao, nâng caohiệu quả, chất lượng cho buổi hòa giải
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai bằngbiện pháp hòa giải, trong những năm qua, công tác hòa giải các tranh chấp đấtđai đã đạt được những kết quả đáng khích lệ và ngày càng được quan tâm.Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các khái niệm về tranh chấp đất đai và hòagiải, luận văn đã xây dựng một cách đầy đủ và hoàn chỉnh khái niệm về hòagiải tranh chấp đất đai và các đặc điểm cơ bản của hòa giải tranh chấp đất đai.Bên cạnh đó, Luận văn cũng đã làm rõ được vai trò, ý nghĩa cơ bản của việchòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã trong quản lý nhà nước về đấtđai, trong trật tự xã hội và đặc biệt là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn chỉnh cácquy định pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai ở Việt Nam nói chung và ở
cơ sở nói riêng Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thốngcác qui định hòa giải tranh chấp đất đai về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và cácyếu tố ảnh hưởng đến hòa giải tranh chấp đất đai, luận văn đã làm rõ quy trìnhhòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã Kết quả nghiên cứu này giúpcho tác giả luận văn có góc nhìn xuyên suốt và sâu sắc hơn về vấn đề nghiêncứu, là tiền đề cần thiết để phân tích, đánh giá thực trạng hòa giải tranh chấpđất đai tại UBND cấp xã hiện nay (Chương 2), đồng thời là cơ sở quan trọng
để luận văn đưa ra những quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quảcông tác hòa giải tranh chấp đất đai sau khi đã tổng kết về thực tiễn về hòagiải tranh chấp đất đai tại địa phương (Chương 3)
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND CẤP
XÃ THEO PHÁP LUẬT TẠI HUYỆN PHỤC HÒA, TỈNH CAO BẰNG 2.1 Thực trạng pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã
Từ nhiều năm nay, tình hình khiếu nại, tố cáo luôn là vấn đề bức báchđược Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước đã cónhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Luật và các văn bản dưới luật quy định về vấn đềnày Các văn bản đó đã và đang được triển khai thực hiện, có tác động tíchcực đến tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp đất đai Nhờ vậy,nhiều “điểm nóng”, nhiều vụ việc phức tạp đã được giải quyết, góp phần ổnđịnh tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 thôngqua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014 Đạo luậtnày thay thế Luật Đất đai năm 2003 và có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm đápứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng
để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theohướng hiện đại
Việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2003 cùng lúc với Hiến pháp năm 1992
là một dịp hiếm có trong lịch sử, là một sự kiện quan trọng đánh dấu nhữngđổi mới về chính sách đất đai nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hộitrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và đảm bảogiữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước Luật Đất đai sửa đổi đã thểchế hóa đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng nêu trong Nghị quyết
số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa
XI, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân
Trang 36Một số điểm mới, tiến bộ của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bảnhướng dẫn thi hành về hòa giải tranh chấp đất đai (Hòa giải tranh chấp đất đaiđược quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 và tại Điều 88 Nghị định số43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) như sau:
Thứ nhất, về thời hạn hòa giải, Luật Đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung
quy định về thời hạn hòa giải, theo đó, thời hạn hòa giải không quá 45 ngày,
kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai
Thứ hai, bổ sung quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã
(UBND cấp xã) trong việc thực hiện hòa giải, theo đó, khi nhận được đơn yêucầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện cáccông việc sau:
(i) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thuthập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình
sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;
(ii) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải
So với quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì Luật Đất đai năm 2013
có điểm mới về thành phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai, đó là bổsung thêm Tổ trưởng tổ dân phố hoặc Trưởng xóm, thôn, ấp, bản,… và đạidiện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ vềnguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó Đây là một điểm mới gópphần đưa các vụ việc tranh chấp đất đai được hòa giải thành sớm từ cơ sở,tránh khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp, mang lại ổn định cho xã hội.(iii) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp,thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt.Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ 2 thì được coi làviệc hòa giải không thành
Trang 37Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định kết quả hòa giải tranh chấp đất đai
phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểmtiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấpthể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyênnhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hộiđồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấpthỏa thuận, không thỏa thuận Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịchHội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham giahòa giải và phải đóng dấu của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngaycho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã
Thứ tư, bổ sung quy định sau thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản
hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dungkhác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành, thì Chủ tịchUBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyếtđối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành
Thứ năm, bổ sung quy định trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi
hòa giải thành, mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòagiải, thì UBND cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bêntranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo
Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung quy định căn cứ để giải quyết tranh chấp đất
đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụngđất; cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết địnhcông nhận hòa giải thành
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới, tiến bộ của Luật đất đai năm 2013
về hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, thì các quy định của pháp luật đấtđai hiện hành vẫn còn nhiều vấn đề bất cập cần bàn và xem xét khi áp dụng vàothực tiễn hiện nay Mặt khác, các quy định của pháp luật đất đai hiện hành vềhòa giải tranh chấp đất đai chưa nhiều, quy định chung chung, mang tầm bao
Trang 38quát trên cả nước, chưa có quy định riêng cho các khu vực, tỉnh có tính đặcthù (miền núi – thành thị, biên giới – hải đảo…) nên khi áp dụng thực tiễncòn gặp rất nhiều lúng túng trong công tác hòa giải ở địa phương, cụ thể như:
Một là, bàn về thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 202, Luật Đất đai năm 2013 thì:
“Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” Như vậy,
quy định về việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã là mộtđiều kiện bắt buộc, nếu vụ việc tranh chấp đất đai mà chưa được tiến hành tạicấp xã, thì sẽ không được tiếp tục giải quyết khiếu nại tại cơ quan hành chínhcấp trên hoặc không được thụ lý giải quyết khiếu kiện tại Tòa án nhân dân cáccấp Cụ thể, nếu việc tranh chấp đất đai khởi kiện ra Tòa án mà chưa đượctiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thì các đương sự
sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 3,Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dântối cao Trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp
luật quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “1.
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: b) Chưa có
đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật - Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”.
Mặt khác, khi xem xét quy định này ta thấy, những đặc trưng của hòagiải tranh chấp đất đai do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện có sự khác biệtcăn bản giữa hình thức hòa giải này với các loại hình tự hòa giải tại cơ sở (làcác hình thức hòa giải thuần túy trong nội bộ cộng đồng dân cư, không có bất
cứ một sự can thiệp nào từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Chính vì
Trang 39sự khác biệt rõ nét giữa hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã tiến hànhvới các hình thức hòa giải tranh chấp đất đai khác, vì vậy, việc hòa giải tranhchấp đất đai phải được tiến hành theo trình tự thủ tục tương đối chặt chẽ: phảiđảm bảo thời gian luật định; việc hòa giải tranh chấp đất đai phải được lậpthành biên bản có chữ ký của các bên và xác nhận hòa giải thành hoặc khôngthành của Ủy ban nhân dân cấp xã; biên bản hòa giải này được gửi đến cácbên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi có tranhchấp và gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Qua đây, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, việc hòa giải tranh chấp đất đaitại UBND xã không phải là việc giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhànước có thẩm quyền Bởi lẽ, UBND xã chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải, giúp
đỡ, hướng dẫn các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, xử lý giải quyết ổn thỏatranh chấp, chứ không phải là cấp giải quyết tranh chấp đất đai, không quyếtđịnh đất tranh chấp thuộc về bên nào Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đaitheo quy định của pháp luật hiện hành chỉ thuộc về Cơ quan hành chính cấp trên
và Tòa án nhân dân các cấp Sở dĩ, điều này cũng dễ lý giải, căn cứ vào quy địnhcủa Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015; Luật Đất đai năm 2013 thìUBND cấp xã không có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính để giảiquyết tranh chấp đất đai nhưng có trách nhiệm và nghĩa vụ phối hợp với Mặt trận
tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ chức xã hộikhác để hoà giải tranh chấp đất đai Như vậy, Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ cóquyền hoà giải tranh chấp đất đai trên địa bàn xã quản lý Nhà nước khuyếnkhích hòa giải các tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân trước khi cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đó nhằm hạn chế khiếukiện phát sinh từ cơ sở
Hai là, xét về phạm vi hòa giải tranh chấp đất đai
Căn cứ vào quy định tại Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 quy
định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử
Trang 40dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Theo qui định này,
chỉ tranh chấp về việc xem ai là người có quyền và nghĩa vụ sử dụng đất thìmới bắt buộc phải tiến hành thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
có đất tranh chấp Như vậy, phạm vi hòa giải tranh chấp đất đai là nhữngtranh chấp mà các bên không tự hòa giải được Theo tinh thần của Nghị quyết
số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao: “Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như:
tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa
kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án” Theo qui định này, đồng
nghĩa với việc chỉ những tranh chấp liên quan đến “Ai là người có quyền sửdụng đất” bắt buộc phải tiến hành hòa giải Còn các tranh chấp khác về thừa
kế, tranh chấp các giao dịch liên quan đến QSDĐ, không bắt buộc
Ba là, vấn đề về thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập.
Luật Đất đai năm 2013 có điểm mới về thành phần Hội đồng hòa giảitranh chấp đất đai, đó là bổ sung Tổ trưởng tổ dân phố hoặc Trưởng thôn,xóm, ấp và đại diện của một số (ít nhất phải là 2) hộ dân sinh sống lâu đời tại
xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng Đây là mộtđiểm mới tiến bộ, mang lại nhiều hiệu quả trong việc hòa giải tranh chấp đấtđai tại cơ sở (như ở phần trên đã đề cập đến vấn đề này) Tuy nhiên, bên cạnhmặt tích cực, việc đưa qui định thành phần này là thành phần bắt buộc, trênthực tế thực hiện đã phát sinh một số bất cập, khi thiếu, vắng một trong cácthành phần này cuộc hòa giải không thể tiến hành được, nếu có tiến hành hòagiải, kết quả hòa giải thành mà các bên tự nguyện chấp hành thì không có vấn
đề gì, ngược lại không thành thì vụ việc sẽ khiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa,biên bản hòa giải đó sẽ không sử dụng được do thực hiện không đúng quy