Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điề
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HÀ TRANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Phương Lan Các số liệu, những kết luận được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình luận văn nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 8
1.1 Tổng quan về hợp tác quốc tế và chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học 8
1.2 Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học 19
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 34
2.1 Tổng quan về các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân 34
2.2 Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân 44
2.3 Một số vấn đề rút ra từ việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân 56
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN 63
3.1 Giải pháp chung 63
3.2 Một số giải pháp cụ thể 72
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
1 Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1 Chu trình chính sách 20
Sơ đồ 1.2 Các bước tổ chức thực hiện chính sách 22
Sơ đồ 2.1 Công tác ban hành văn bản, kế hoạch thực hiện chính sách HTQT các cấp trong GDĐH CAND 48
Sơ đồ 2.2 Công tác phân công, phối hợp thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND 50
Sơ đồ 2.3 Công tác theo dõi, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND (giai đoạn 2015-2019) 52
2 Bảng biểu
Bảng 1.1 Phản ứng xã hội đối với chính sách HTQT trong GDĐH 15Bảng 1.2 Tiêu chí tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện 25chính sách HTQT tại các CSGDĐH 25 Biểu đồ 2.1 Tổng hợp số liệu trao đổi đoàn của các trường CAND giai đoạn 2015-
2019 57 Biểu đồ 2.2 Mục đích các đoàn ra, đoàn vào của các trường CAND giai đoạn 2015-
2019 57
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo, coi giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Phát triển giáo dục và đào tạo là góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với quan điểm
“con người là trung tâm của phát triển bền vững; phát huy tối đa nhân tố con người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển bền vững ” [31, tr.1] Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 29), Đảng ta đã chỉ rõ: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội…” [2, tr.2], trong đó giáo dục đại học (GDĐH) là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân; trực tiếp góp phần chuẩn bị và phát triển nguồn nhân lực (với tư cách như một nguồn vốn) cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra ngày càng sâu rộng cùng những thay đổi về phương thức quản trị đại học của thế giới hiện nay, hợp tác quốc tế (HTQT) trong giáo dục đào tạo đang diễn ra như một xu thế tất yếu, trở thành yêu cầu quan trọng, cấp bách và có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại, phát triển của các cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) bởi lẽ HTQT mang lại những lợi ích thiết thực đối với sự phát triển của các trường đại học (ĐH) nói riêng
và nền GDĐH của các quốc gia nói chung Trước hết, nó giúp các CSGDĐH định hướng sự phát triển của mình theo hướng hiện đại, tiệm cận nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa
Trang 8học và triển khai ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, HTQT là một trong số các tiêu chuẩn xếp hạng các trường ĐH của các bảng xếp hạng các trường ĐH hàng đầu thế giới hiện nay và cũng là một trong số các tiêu chuẩn xác định CSGDĐH chuẩn quốc gia của Việt
Nam
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, các CSGDĐH Công an nhân dân (CAND) cũng không đứng ngoài xu thế nêu trên Kế thừa thành tựu đã đạt được của giáo dục, đào tạo CAND trong suốt chiều dài lịch sử 74 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành với nhiệm vụ xây dựng lực lượng CAND cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành trung ương (Khóa XI), ngày 28/10/2014, Đảng ủy Công an Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/ĐUCA và Bộ trưởng Bộ Công an đã ký ban hành Chỉ thị số 13/CT-BCA về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Công
an nhân dân (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 17 và Chỉ thị 13), trong đó có nhấn mạnh nội dung công tác HTQT về giáo dục, đào tạo Các CSGDĐH CAND theo
đó, dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp Lãnh đạo Bộ Công an đã và đang từng bước khai thác, thiết lập và dần mở rộng mối quan hệ hợp tác với các đối tác quốc
tế trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học; tạo những bước tiến mới trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng CAND Việt Nam
Tuy nhiên, do đặc thù của các CSGDĐH CAND Việt Nam nên nội dung và hình thức HTQT còn hạn chế; công tác tổ chức thực hiện chính sách HTQT chưa
đạt mục tiêu như mong muốn đề ra Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện
chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân của Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn
vận dụng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện GDĐH trong đó bao gồm nội dung công tác HTQT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ, đặc biệt là từ sau khi Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) được ban hành:
- Phạm Thị Ly (2009) trong bài viết “Vai trò của HTQT trong việc xây dựng trường Đại học theo chuẩn mực quốc tế cho Việt Nam” cho rằng: HTQT có một vai trò cốt yếu và không thể thiếu trong tiến trình thành lập những trường đại học được kỳ vọng là đáp ứng những chuẩn mực quốc tế Kinh nghiệm các nước cho thấy việc xây dựng năng lực nội tại thông qua HTQT là một hướng đi đúng, chứ không phải sao chép hay nhập khẩu toàn bộ mô hình quản lý và chương trình đào tạo của nước ngoài Những nỗ lực phát triển HTQT trong GDĐH không chỉ giới hạn trong vấn đề nguồn lực tài chính, mà quan trọng hơn và cốt yếu hơn, là trong quyết tâm đổi mới cơ chế và chính sách [22]
- Nguyễn Thị Nguyệt Nga (2016) trong bài viết “Những cơ hội và thách thức của GDĐH Việt Nam khi gia nhập cộng đồng chung ASEAN” đăng trên Tạp chí Giáo dục số đặc biệt tháng 5/2016 đã khẳng định “hội nhập quốc tế trong giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng là một xu thế tất yếu Với một nền GDĐH còn nhiều bất cập và còn tụt hậu so với khu vực và thế giới như hiện nay, quá trình đưa GDĐH Việt Nam hội nhập với quốc tế sẽ đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức Tuy nhiên đây cũng là cơ hội giúp giúp nước ta phát triển nền giáo dục bậc đại học” [24]
- Nguyễn Thị Thanh Tùng, Ngô Văn Tuần (2018) trong bài viết “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 426 (kỳ 2-3/2018) đã nêu
ra các tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức của cách mạng công nghệ 4.0 với nền GDĐH; đề xuất một số các giải pháp xoay quanh các nội dung về phía
Trang 10nhà quản lý, nội dung đào tạo, phương thức đào tạo và quan trọng nhất là năng lực của cán bộ, giảng viên, sinh viên để có đủ khả năng thực hiện thành công công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện và hội nhập với sự phát triển của GDĐH trên thế giới trong thế kỷ XXI [38]
Bên cạnh đó, vấn đề này cũng rất được quan tâm tại Bộ Công an nói chung
và tại các CSGDĐH CAND nói riêng:
- PGS TS Nguyễn Văn Thành, Thứ trưởng Bộ Công an (2018) đã có bài viết về “Công tác giáo dục, đào tạo trong CAND trước yêu cầu, nhiệm vụ mới” trong đó nhận định thế giới đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) với việc ứng dụng công nghệ 3D, công nghệ sinh học, vật liệu mới, tự động hóa, kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức đối với các quốc gia, dân tộc trong quá trình đổi mới, hợp tác, hội nhập và phát triển Trong bối cảnh đó, để hoàn thành xuất sắc trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, lực lượng CAND cần phải chủ động, tích cực, đổi mới toàn diện, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả các mặt công tác Công an, trong đó, giáo dục, đào tạo là một trong những giải pháp đột phá, chiến lược, lâu dài [30]
Ngoài ra, cũng có một số bài báo, bài báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí, kỷ yếu khoa học của các CSGDĐH CAND khẳng định vai trò công tác HTQT
và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này đối với từng học viện, trường ĐH CAND như bài viết của các tác giả Nguyễn Trọng Tam (2015) [27], Trần Văn Tất (2016) [28], Nguyễn Thị Phương Lan (2017) [19], Cao Hoàng Long (2018) [21]
Các nghiên cứu trên về cơ bản đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HTQT trong GDĐH nói chung (vai trò, mục tiêu, hình thức, nhiệm vụ, cơ hội, thách thức ), là nguồn tài liệu tham khảo hữu hiệu cho những nghiên cứu tiếp theo Tuy nhiên theo hiểu biết của tác giả, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào cụ thể về chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND Việt Nam Vì vậy tác
Trang 11giả hi vọng đề tài luận văn mà tác giả thực hiện sẽ là một đóng góp mới Thông qua luận văn, tác giả sẽ hệ thống hóa lý luận cũng như phát triển một số khái niệm mới về chính sách và thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH, từ đó hình
thành những hiểu biết chung giúp tiếp cận và đi sâu nghiên cứu vấn đề “Thực hiện
chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân của Việt Nam hiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chính sách và thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH;
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách HTQT trong giáo dục, đào tạo
và nghiên cứu khoa học tại các CSGDĐH CAND;
- Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện nội dung và quy trình thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nêu trên, luận văn triển khai một số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung về chính sách HTQT và việc thực hiện hiện chính sách trong hệ thống GDĐH quốc dân;
- Đánh giá đặc điểm HTQT của các CSGDĐH CAND; Khảo sát, phân tích thực tiễn việc thực hiện chính sách tại một số CSGDĐH trong CAND; qua đó nêu
ra những vấn đề còn tồn tại vướng mắc cũng như nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tại các trường CAND
- Đề xuất một số giải pháp chung và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện nội dung và quy trình thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH trực thuộc Bộ Công an Việt Nam (các học viện, trường ĐH CAND)
- Phạm vi về thời gian: Việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH CAND từ năm 2015 đến năm 2019 và đề xuất giải pháp cho thời gian tới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Xác định vấn đề nghiên cứu của luận văn là việc Thực hiện chính sách
HTQT tại các CSGDĐH CAND của Việt Nam hiện nay
- Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm chính phụ, các định nghĩa, các quan điểm của các nhà khoa học đã được kiểm chứng và các quy định của luật liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu; từ đó là căn cứ để phát triển các khái niệm, nội dung mới liên quan đến đề tài nghiên cứu đó là: khái niệm, vai trò, mục tiêu
và các hình thức HTQT tại các CSGDĐH; khái niệm, mục tiêu, nội dung chính sách HTQT tại các CSGDĐH; khái niệm, chu trình, yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH; đó cũng chính là cơ sở lý luận tiền đề
để liên hệ thực tiễn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết; tìm kiếm các tài liệu làm cơ
sở cho việc hình thành các luận điểm, luận cứ, luận chứng cả về mặt lý thuyết và thực tiễn;
- Phương pháp thống kê toán học: tổng hợp các số liệu liên quan đến việc thực hiện chính sách;
Trang 13- Phương pháp so sánh: so sánh giữa lý luận và thực tiễn, giữa các CSGDĐH trong việc thực thi chính sách;
- Phương pháp chuyên gia: tham vấn ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia, nhà quản lý và cán bộ thực tiễn làm công tác HTQT trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: luận văn từng bước xây dựng lý luận về hợp tác quốc tế, chính sách HTQT và thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH
- Về mặt thực tiễn: luận văn thống kê, khảo sát, đánh giá (định lượng và định tính) việc thực hiện chính sách HTQT tại một số CSGDĐH CAND giai đoạn 2015-2019; từ đó đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện việc thực hiện chính sách, bao gồm các giải pháp chung về xác định mục tiêu chính sách, nâng cao năng lực thực hiện chính sách và các giải pháp riêng cho từng bước trong khâu thực hiện chính sách của chu trình chính sách
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế
tại các cơ sở giáo dục đại học
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở
giáo dục đại học Công an nhân dân hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện việc thực hiện chính sách
hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan về hợp tác quốc tế và chính sách hợp tác quốc tế tại các
cơ sở giáo dục đại học
1.1.1 Hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học
1.1.1.1 Một số khái niệm
- “Hợp tác quốc tế”: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất
bản năm 2010, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” [40, tr.477], còn quốc tế là “các
nước trên thế giới trong quan hệ với nhau” (danh từ) hay “thuộc về quan hệ giữa
các nước trên thế giới” (tính từ) [40, tr.820] Như vậy, có thể hiểu hợp tác quốc tế
là hoạt động phối hợp của hai chủ thể trở lên thuộc các nước khác nhau trên thế giới nhằm giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó để đạt được mục đích chung, không chống đối nhau Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung; là sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, tài lực đến vật lực Về mặt kết quả, hợp tác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là cùng được hoặc cùng không thỏa mãn
- “Cơ sở giáo dục đại học”: Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục đại học năm 2012, cơ sở giáo dục đại học là “cơ sở giáo dục thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” [26, tr.1], “có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi
khác phù hợp với quy định của pháp luật” [26, tr.2]
- “Hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học”: có thể được hiểu là hoạt
động phối hợp giữa chủ thể là một CSGDĐH thuộc quốc gia này với chủ thể là
Trang 15CSGDĐH thuộc quốc gia khác nhằm giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện những nội dung
mà hai bên cùng thỏa thuận vì mục đích chung trong lĩnh vực GDĐH
1.1.1.2 Vai trò của hợp tác quốc tế với các cơ sở giáo dục đại học
Thứ nhất, hoạt động HTQT có vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của các trường ĐH theo hướng hiện đại, tiệm cận nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thông qua hoạt động HTQT, các trường ĐH Việt Nam có thể rút
ra các kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục Việt Nam và các nước phát triển Trong quá trình đó, các trường đại học có thể khai thác các cơ hội, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, cập nhật các tiến bộ khoa học công nghệ thông qua các chương trình nghiên cứu chung, liên kết với các đối tác nước ngoài để từng bước chuẩn hóa các chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu các tiêu chuẩn quốc tế nhằm tiến tới quốc tế hóa các chương trình, giáo trình giảng dạy
Thứ hai, HTQT là một trong số các tiêu chuẩn xếp hạng các trường ĐH của các bảng xếp hạng các trường ĐH hàng đầu thế giới hiện nay và cũng là một trong số các tiêu chuẩn xác định CSGDĐH chuẩn quốc gia theo quy định của Việt Nam Nhu cầu quốc tế hóa khiến các trường ĐH ngày nay không thể phát triển mà
không chú trọng tới HTQT và hoạt động theo những chuẩn mực quốc tế nhằm đạt được sự thừa nhận, đồng thời duy trì khả năng cạnh tranh của mình trong một môi trường toàn cầu Hiện nay, các bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu trên thế giới như Quacquarelli Symonds (QS) và The Times Higher Education đều sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến yếu tố quốc tế là những tiêu chí cơ bản khi xếp hạng, chẳng hạn như tỉ lệ sinh viên quốc tế, số bài báo khoa học quốc tế, số lượng giảng viên quốc tế, số lượng chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài Bảng
Trang 16xếp hạng đại học thế giới QS là bảng xếp hạng thường niên về thứ hạng các trường đại học trên thế giới của tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds - Anh Quốc Trước năm 2010, QS liên danh với tờ Phụ trương của Thời báo Giáo dục Đại học (Times Higher Eduction Surplement) của Anh Quốc để công bố bảng xếp hạng chung QS-THES Tuy nhiên, từ 2010 đến nay hai tổ chức này công bố độc lập các bảng xếp hạng là bảng xếp hạng QS và bảng xếp hạng của Times Higher Education Trong số 13 tiêu chí xếp hạng đại học của QS có 5 tiêu chí liên quan đến yếu tố quốc tế, cụ thể: Tỉ lệ giảng viên quốc tế trên 20%, tỉ lệ sinh viên quốc
tế trên 10%, 25 chương trình nghiên cứu hợp tác với các đại học thuộc top 500 của xếp hạng QS trong vòng 3 năm gần đây, tỉ lệ giảng viên đi giảng dạy và nghiên cứu nước ngoài trên 10%, tỉ lệ sinh viên đi trao đổi nước ngoài trên 10% Bên cạnh
đó, theo bảng xếp hạng The Times Higher Education, điểm số chung để xếp hạng toàn cầu “Overall score” được tính ra từ 5 thành phần rất quan trọng của hệ thống đào tạo - nghiên cứu: a) Giảng dạy; b) Tính quốc tế; c) Thu nhập và đổi mới; d) Năng lực nghiên cứu và e) Uy tín và ảnh hưởng nghiên cứu Trong đó tính quốc tế chiếm trọng số 7,5% được xét trên các khía cạnh về tỉ lệ sinh viên, giảng viên quốc tế, số bài báo khoa học quốc tế Do vậy, ngoài việc tập trung vào các hoạt động truyền thống là đào tạo và nghiên cứu khoa học, để có thể bắt kịp xu hướng phát triển của giáo dục thế giới, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, các trường ĐH bắt buộc phải tiến hành hoạt động HTQT
GDĐH tại Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã ban hành Thông tư số 24/2015/TT-BGDĐT ngày 23/9/2015 quy định chuẩn quốc gia đối với CSGDĐH với 5 tiêu chí HTQT liên quan [7, tr.2-4] đó là: (1) thư viện và trung tâm thông tin học liệu có bản quyền truy cập ít nhất một cơ sở dữ liệu khoa học quốc tế và có ít nhất một tạp chí khoa học quốc tế (bản
in hay bản điện tử) đối với mỗi ngành đào tạo; (2) các chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình giảng dạy bằng tiếng nước ngoài, các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ bắt buộc phải có chương trình tham khảo tương ứng của các nước phát triển đã được kiểm định bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được
Trang 17Bộ GD&ĐT thừa nhận; (3) phải có ít nhất 10% chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình liên kết đào tạo có thỏa thuận công nhận tín chỉ, đồng cấp bằng với các cơ sở giáo dục đào tạo nước ngoài; (4) mỗi ngành đào tạo có ít nhất một nhóm giảng dạy - nghiên cứu; (5) có ít nhất 5 chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường đại học của các nước phát triển và 3 chương trình hợp tác đào tạo, trao đổi sinh viên với các trường đại học nước ngoài
Ngoài ra, hoạt động HTQT cũng mang lại nhiều lợi ích thiết thực đối với mỗi cá nhân có liên quan, đối với sự phát triển của các trường ĐH nói riêng và nền GDĐH của các quốc gia nói chung Đối với sinh viên và giảng viên, HTQT
của các trường ĐH mang lại cơ hội to lớn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nguồn tri thức quốc tế khổng lồ Đối với các trường ĐH, hoạt động HTQT thúc đẩy các tổ chức này cải tiến cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo để có thể thu hút được các đối tác cũng như tìm được vị thế trên thị trường quốc tế Ngoài ra, khi hợp tác hệ thống GDĐH với nhau, các nước còn có cơ hội giao lưu, học tập kinh nghiệm quản lý và trao đổi kiến thức chuyên môn trong giảng dạy đại học Nhờ quá trình này, các bên đều có cơ hội nâng cao năng lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên Một lợi ích thiết thực khác đó là HTQT trong GDĐH cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan
hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau
1.1.1.3 Mục tiêu và các hình thức hợp tác quốc tế của cơ sở giáo dục đại học
- Tạo điều kiện để CSGDĐH phát triển bền vững, đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ và chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Hình thức:
Trang 18Về cơ bản, các hình thức HTQT trong GDĐH tại Việt Nam được xác định trên cơ sở nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm các nước phát triển trên thế giới cũng như rút ra từ thực tiễn quan hệ HTQT trong GDĐH; theo đó, Điều 44, Luật giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2018) [26, tr.71] đã quy định 9 hình thức HTQT của CSGDĐH gồm:
(1) Liên kết đào tạo
(2) Thành lập văn phòng đại diện của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam
(3) Hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học
(4) Tư vấn, tài trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị
(5) Bồi dưỡng, trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý và người học
(6) Liên kết thư viện, trao đổi thông tin phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ; cung ứng chương trình đào tạo; trao đổi các ấn phẩm, tài liệu
và kết quả hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ
(7) Tham gia các tổ chức giáo dục, khoa học, hội nghề nghiệp khu vực và quốc tế
(8) Mở văn phòng đại diện cơ sở giáo dục của Việt Nam ở nước ngoài (9) Các hình thức hợp tác khác theo quy định của pháp luật
Tùy vào điều kiện, đặc điểm, tiềm lực và mối quan hệ mà mỗi CSGDĐH
có thể tiến hành toàn bộ hay một số hình thức hợp tác phù hợp với CSGDĐH đó
1.1.2 Chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học
1.1.2.1 Một số khái niệm
- “Chính sách” hay “chính sách công”: các học giả hiện nay khi bàn đến
khái niệm chính sách công có rất nhiều cách hiểu khác nhau Các cách hiểu đó có thể được quy định bởi quan điểm chính trị song chủ yếu liên quan đến ý đồ giải
quyết những vấn đề cụ thể tiếp theo Thuật ngữ polis – chính sách trong tiếng Hy
Trang 19Lạp dùng để biểu thị công việc của Nhà nước gắn với quyền lực của Nhà nước, phục vụ cho quyền lực chính trị, thể hiện với tính cách là những định hướng, đường hướng chung trong các hoạt động của các chủ thể chính trị Đồng thời chính sách gắn liền và xác lập một hệ thống các nấc thang giá trị, chính sách còn gắn liền chặt chẽ với việc phân phối không chỉ quyền lực mà còn của cải của Nhà nước
bằng quyền lực
Ở nước ta cũng có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công; có thể
kể ra một số định nghĩa đáng chú ý sau: Chính sách theo từ điển Tiếng Việt thông
dụng là “chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” [9, tr.115] hay theo Từ điển bách khoa Việt Nam “là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó” [18, tr.475] PGS.TS Nguyễn Hữu Hải thì quan niệm rằng: “chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [10, tr.51] Viện Chính trị học cho rằng “chính sách công là chương trình hành động hướng tới đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [39, tr.235], một tập thể các tác giả khác lại cho rằng
“chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [29, tr.10]
Từ các định nghĩa trên đây có thể hiểu một cách chung nhất: “Chính sách
công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết
những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [12, tr.7]
- “Chính sách hợp tác quốc tế tại các CSGDĐH”: Trong bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc Việt Nam tham gia ký kết các hiệp định của các tổ chức thế giới đồng nghĩa với việc chấp nhận một thị trường giáo dục mở cho các nhà đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh đó, các quốc gia đang phải đối mặt
Trang 20với vấn đề là tiếp tục duy trì chính sách quản lý theo kiểu truyền thống hay áp
dụng chính sách quản lý mới
Chính sách HTQT tại các CSGDĐH hay còn gọi là chính sách HTQT trong GDĐH khi được hoạch định sẽ hướng tới giải quyết những vấn đề liên quan đến hợp tác đào tạo liên kết; hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, trao đổi học thuật; tài trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị; bồi dưỡng, trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, người học; mở văn phòng đại diện của các CSGDĐH với các đối tác nước ngoài và giải quyết mối quan hệ phối hợp giữa cơ quản quản lý các cấp với các CSGDĐH nhằm phát triển và nâng cao chất lượng HTQT trong GDĐH, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội… Vậy có thể
hiểu: Chính sách hợp tác quốc tế tại các CSGDĐH là các quyết định mang tính
quan điểm, tư tưởng, tính chiến lược của các chủ thể được trao quyền lực Nhà nước trong việc triển khai các hoạt động HTQT tại các CSGDĐH vì lợi ích chung của nền GDĐH và lợi ích chung của xã hội
- “Đối tượng chính sách hợp tác quốc tế tại các CSGDĐH”: là đối tượng
chịu sự điều chỉnh, tác động của chính sách HTQT tại các CSGDĐH, bao gồm tất
cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội (các CSGDĐH, các Bộ ban ngành ) hoặc toàn xã hội được thụ hưởng lợi ích hoặc chịu bất lợi trực tiếp và gián tiếp từ chính sách
Đối tượng chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách Chính sách có đạt được mục tiêu đề ra hay không, không chỉ phụ thuộc vào chất lượng chính sách và năng lực của chủ thể thực thi chính sách, mà còn phụ thuộc vào thái độ của đối tượng chính sách Theo đó, nếu đối tượng chính sách tiếp nhận và ủng hộ chính sách thì việc thực thi chính sách sẽ thuận lợi Còn nếu đối tượng chính sách không tiếp nhận chính sách, không ủng hộ chính sách thì việc thực thi sẽ khó khăn, từ đó làm cho chi phí thực thi chính sách tăng lên Việc chỉ có một bộ phận đối tượng chính sách tiếp nhận chính sách cũng làm cho quá trình thực thi chính sách trở nên khó khăn hơn Mức độ hưởng ứng và tiếp nhận chính sách của đối
Trang 21tượng chính sách vừa liên quan đến sự tính toán về mặt chi phí - lợi ích của đối tượng chính sách, vừa liên quan đến mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành
vi của đối tượng chính sách Một chính sách được ban hành, nếu mang lại lợi ích thiết thực cho đối tượng chính sách hoặc mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành vi của đối tượng chính sách không lớn thì thường dễ được đối tượng chính sách tiếp nhận, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách Trái lại, nếu đối tượng chính sách cho rằng, chính sách đó không mang lại lợi ích cho họ, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của họ, hoặc mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành vi của đối tượng chính sách là lớn thì đối tượng chính sách thường ít
tiếp nhận chính sách, thậm chí là cản trở thực hiện chính sách
Về cơ bản, tác giả đánh giá chính sách HTQT trong GDĐH được ban hành
là đúng đắn, phù hợp trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay; đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội, được mọi đối tượng chính sách ủng hộ Các đối tượng này được cụ thể hóa qua bảng phân tích phản ứng xã hội của các đối tượng đối với chính sách HTQT trong GDĐH sau:
Bảng 1.1 Phản ứng xã hội đối với chính sách HTQT trong GDĐH
Bên liên quan Lợi ích/bất lợi Quan điểm Nguồn lực
Ủng hộ chính sách
Bộ máy tổ chức, quản lý; nguồn nhân lực; cơ sở vật chất sẵn có
Ủng hộ chính sách
Bộ máy quản lý các cấp; các cơ
khích, tạo động
Trang 22nguồn lực tài chính
- Thu hút được sự quan tâm của thế giới, kêu gọi đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục
Ủng hộ chính sách
Bộ máy quản lý các cấp; các cơ
khích, tạo động
nguồn lực tài chính
sách
Nguồn lực xã hội hóa (tài chính, cơ
sở vật chất, kỹ thuật)
1.1.2.2 Vai trò của chính sách
Vai trò cơ bản của chính sách thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu
để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách công như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước Cụ thể, chính sách HTQT tại các CSGDĐH của Việt Nam hiện nay có vai trò chính như sau:
Một là, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động HTQT
trong GDĐH, giúp Nhà nước và các cơ quan quản lý vận động đạt được những giá trị tương lai mong muốn đó là “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước” [2, tr.2]
Hai là, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động HTQT tại các
CSGDĐH theo mục tiêu chung Muốn đạt được mục tiêu phát triển GDĐH theo chuẩn quốc tế, tăng tính cạnh tranh cho các CSGDĐH Việt Nam trong thời kỳ hội nhập thì chính sách ban hành phải mang tính khuyến khích đối với các chủ thể tham gia
Trang 23Ba là, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội theo hướng đẩy
mạnh xã hội hóa, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư cho GDĐH, coi “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [2, tr.2]
Bốn là, tạo môi trường thích hợp cho việc triển khai hoạt động HTQT tại
các CSGDĐH Thông qua chính sách, các cơ quan quản lý Nhà nước chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập quốc
tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo nói chung và GDĐH nói riêng; tạo sự hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền nhằm phát huy tối đa khả năng HTQT của mỗi CSGDĐH
Năm là, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa cơ quan các cấp trong hệ
thống GDĐH Việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH không chỉ do các CSGDĐH đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá nhân Thông qua quy trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng
bộ trong hoạt động thực hiện chính sách
1.1.2.3 Mục tiêu và nội dung chính sách
* Mục tiêu chính sách
Mục tiêu chính sách HTQT tại các CSGDĐH của Việt Nam hiện nay được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế như sau:
- Mục tiêu tổng quát: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp,
dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với
Trang 24xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [2, tr.2]
- Mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực
trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ
và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [2, tr.3]
- Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo
- Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển
Trang 25giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế
- Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
- Đổi mới mạnh mẽ nội dung GDĐH theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống GDĐH Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết
xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới
- Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước
- Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước
- Tiếp cận chuẩn mực GDĐH tiên tiến của thế giới, phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam, tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới
- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh
xã hội hóa, khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu
đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới
1.2 Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học
1.2.1 Một số khái niệm
Trang 26- “Chu trình chính sách”: các chính sách được hình thành, thực thi và điều
chỉnh theo một quy trình nhất định gọi là chu trình chính sách Đó là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách
đến khi kết quả của chính sách được đánh giá (xem thêm sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1 Chu trình chính sách
Theo sơ đồ này, giai đoạn đầu tiên trong chu trình là hoạch định chính sách; đây là giai đoạn hình thành phương án chính sách và ra quyết định chính sách Tiếp theo là giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách, là giai đoạn tổ chức lựa chọn các giải pháp chính sách đã lựa chọn và kiểm tra thực hiện; có thể nói giai đoạn này có ý nghĩa quyết định thành bại của chính sách Cuối cùng là đánh giá chính sách; đây là giai đoạn đo lường các chi phí, kết quả của việc thực hiện chính sách và các hoạt động thực tế của chính sách trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách, từ đó xác định hiệu quả của chính sách trong thực tế Trên cơ sở kết quả của đánh giá chính sách, các cơ quan, đơn vị có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách (như hủy bỏ hoặc thay đổi hiệu lực chính sách) nếu cần thiết
(3) Đánh giá
chính sách
(2) Thực hiện chính sách
(1) Hoạch định chính sách
Phân tích chính sách
Trang 27Phân tích chính sách không phải là một giai đoạn độc lập của chu trình chính sách mà là một hoạt động cơ bản làm nền tảng ra quyết định của các chủ thể hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách
Trong giới hạn của luân văn, tác giả sẽ chỉ tập trung vào khâu tổ chức thực hiện chính sách trong chu trình chính sách
- “Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các CSGDĐH”:
Trong chu trình chính sách, tổ chức thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội và như vậy nếu thiếu giai đoạn này thì việc hoạch định chính sách sẽ trở nên vô nghĩa
Quá trình thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH là một quá trình diễn
ra liên tục, thường xuyên và trong một không gian, thời gian tương đối dài do đó cần phải được cung cấp một khối lượng nguồn lực to lớn cả về vật chất lẫn con người thực hiện, các nguồn lực này cũng cần phải được bố trí, sắp xếp một cách khoa học, hợp lý cho từng giai đoạn, từng thời kỳ của quá trình chính sách
Quá trình thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH tiến hành dựa trên cơ
sở của chính sách đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Khi tiến hành tổ chức triển khai thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH, các cơ quan hành chính nhà nước các cấp cùng với các cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện chính sách theo những trình
tự, thủ tục thống nhất để đảm bảo rằng chính sách được triển khai nhanh chóng đúng thời gian và tiến độ, vừa đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong phát triển giáo dục đào tạo nói chung
Từ những luận giải trên đây có thể đi đến một khái niệm cơ bản: Thực hiện
chính sách hợp tác quốc tế tại các CSGDĐH là toàn bộ quá trình huy động, bố trí,
sắp xếp các nguồn lực để đưa chính sách vào đời sống xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế trong GDĐH
Trang 281.2.2 Quy trình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học
Giai đoạn tổ chức thực thi chính sách hay còn gọi là giai đoạn thực hiện chính sách là giai đoạn thiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội Để tổ chức điều hành có hiệu quả, công tác thực hiện chính sách phải tuân thủ 04 bước cơ bản như sau:
Sơ đồ 1.2 Các bước tổ chức thực hiện chính sách
1.2.2.1 Xây dựng và ban hành văn bản, kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách nói chung và thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH nói riêng là một quá trình tương đối phức tạp, cần diễn ra trong một thời gian dài Vì vậy phải xác định tầm quan trọng của các văn bản, kế hoạch, chương trình ban hành để các bên làm căn cứ triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động
Theo đó, kế hoạch triển khai thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH bao gồm rất nhiều nội dung khác nhau: kế hoạch về thời gian thực hiện chính sách;
1
• Xây dựng và ban hành văn bản, kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
4
• Theo dõi, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách và điều chỉnh chính sách
Trang 29kế hoạch tổ chức, điều hành; kế hoạch phân công phối hợp thực hiện; kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực; kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách…
1.2.1.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Để triển khai thực hiện chính sách theo đúng kế hoạch đã đề ra, công tác phổ biến tuyên truyền chính sách HTQT tại các CSGDĐH có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng đối với các cơ quan quản lý nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách Làm tốt công tác này giúp cho các CSGDĐH, các đơn vị, cá nhân thực hiện chính sách hiểu rõ về vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách phát triển HTQT trong giáo dục đào tạo; từ đó thực hiện đúng các yêu cầu của chính sách đã ban hành Đồng thời, giúp mỗi cán bộ có trách nhiệm thực hiện chính sách nhận thức được tính chất, quy mô của chính sách, từ đó nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thực hiện các mục tiêu và triển khai chính sách có hiệu quả
Để công tác phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao đòi hỏi đội ngũ cán bộ và các đơn vị được giao nhiệm vụ phải am hiểu yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ của chính sách HTQT trong GDĐH; phải nhận thức được đầy
đủ vai trò của công tác phổ biến, tuyên truyền đến hiệu quả của chính sách Từ đó
có bước lựa chọn các kỹ năng, biện pháp phổ biến, tuyên truyền cho phù hợp với tình hình thực tế của các CSGDĐH
1.2.1.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Mục tiêu của chính sách HTQT tại các CSGDĐH rất đa dạng, phức tạp theo từng điều kiện, từng giai đoạn thời gian khác nhau Bởi vậy, muốn thực hiện chính sách một cách có hiệu quả đòi hỏi phải có sự phân công, phối hợp thực hiện giữa các cơ quan quản lý, các cơ sở giáo dục và đội ngũ cán bộ Thông thường công tác phân công, phối hợp thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH diễn ra với sự
có mặt của các cơ quan, đơn vị là: Bộ GD&ĐT; Bộ tài chính; các Bộ ngành có liên quan (nếu quản lý đào tạo theo ngành dọc - Ví dụ: các CSGDĐH CAND chịu
sự quản lý trực tiếp của Bộ Công an), các vụ, cục trực thuộc các Bộ…; các CSGDĐH và các cá nhân
Trang 30Trong hoạt động này cần lưu ý tới đặc điểm của từng cá nhân, cơ quan, đơn
vị trong phối hợp thực hiện chính sách, tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp chức năng nhiệm vụ, không rõ trách nhiệm hay không đủ năng lực thực hiện chính sách Bởi thực tiễn chỉ ra rằng việc thực hiện chính sách có hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào năng lực triển khai, khả năng phối hợp giữa các bên thực hiện
1.2.2.4 Theo dõi, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách và điều chỉnh chính sách
Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH là hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ có thẩm quyền theo quy định thông qua các công cụ đảm bảo trong quá trình thực hiện như đề án, kế hoạch, chương trình kiểm tra giám sát nhằm làm cho các chủ thể thực hiện chính sách nêu cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng của chính sách Thực tế cho thấy trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH không phải cá nhân, cơ quan, đơn vị nào cũng làm tốt, làm đúng vì thế cần có hoạt động kiểm tra, theo dõi để vừa có thể đôn đốc, thúc đẩy các chủ
Các Bộ và cơ quan ngang Bộ
Vụ Ngân sách Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính Các Vụ, Cục trực thuộc các Bộ quản lý theo ngành dọc
Các CSGDĐH
Trang 31thể nỗ lực hơn nữa trong thực hiện chính sách, vừa có thể kịp thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện
Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách là hoạt động nhằm đưa ra những kết luận, đánh giá về sự điều hành, chấp hành của các đối tượng liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH Trong quá trình duy trì chính sách, các cơ quan, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi chính sách hết hiệu lực
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; về thực thi chính sách là các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, đó có thể là cá nhân hoặc tổ chức
(xem thêm các đối tượng đã được cụ thể hóa tại Bảng 1.1 - tr.15) Thước đo đánh giá kết quả thực hiện chính sách của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện không gian và thời gian cụ thể
Các tiêu chí có thể được sử dụng làm căn cứ tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH được chi tiết qua bảng sau:
Bảng 1.2 Tiêu chí tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện
Trang 32Anh; hội thảo khoa học quốc tế các cấp; trao đổi sinh viên quốc tế; mời chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy bồi dưỡng; tỷ lệ giảng viên, sinh viên đạt chuẩn tiếng Anh quốc tế tương đương bậc 5 trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam )
- Các chỉ tiêu về chất lượng (yêu cầu về chuẩn đầu vào, đầu ra; mức độ hài lòng của các bên tham gia vào hoạt động hợp tác quốc tế )
- Tính cụ thể của văn bản chính sách (các chỉ dẫn
về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp ) có chi tiết hay không hay chỉ mang tính chất chung chung, không
rõ ràng Tình hình phối hợp chỉ
đạo, điều hành thực hiện
chính sách
- Tính đúng đắn, kịp thời, bao quát trong công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo có thẩm quyền
Việc thực thi của các đối
tượng tham gia thực hiện
chính sách
- Tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách
- Ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do các cấp lãnh đạo có thẩm quyền ban hành của các cá nhân/đơn vị cấp dưới để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể về không gian và thời gian
Trang 331.2.3 Những yếu tố ảnh hướng đến việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học
Sau thập niên 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu về chính sách công đã xuất phát từ các góc độ khác nhau để nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách công, từ đó hình thành nên các mô hình khác nhau Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình như sau:
Trong bài viết “Quá trình thực thi chính sách” [44, tr.201], T.B Smith cho rằng, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, bao gồm: (1) chất lượng chính sách, cụ thể là mục tiêu chính sách có phù hợp với thực tế hay không, nội dung của chính sách có phù hợp, và phương án chính sách có rõ ràng, khả thi hay không? (2) cơ quan hoặc tổ chức thực thi chính sách, tức năng lực của
cơ quan hoặc tổ chức chịu trách nhiệm thực thi chính sách như thế nào? (3) đối tượng chính sách, tức mức độ tiếp nhận chính sách của đối tượng chính sách như thế nào? (4) nhân tố môi trường, tức môi trường văn hóa, xã hội, chính trị và kinh
tế ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách
Hai tác giả D.S Meter và C.E Van Horn [45] cho rằng, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách, những yếu tố này vừa bao gồm nhân tố của bên trong vừa bao gồm nhân tố bên ngoài (môi trường) Theo hai ông, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, đó là: (1) mục tiêu và nội dung của chính sách có cụ thể, khả thi hay không? (2) nguồn lực chính sách, tức nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin…) phục vụ cho thực thi chính sách
có đầy đủ hay không? (3) sự trao đổi, phối hợp giữa các tổ chức và thành viên trong tổ chức trong quá trình thực hiện; (4) năng lực của cơ quan thực thi chính sách; (5) môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; (6) nhận thức và thái độ của nhân viên thực thi chính sách
Hai tác giả Paul A Sabatier và Daniel A Mazmanian [43] cho rằng, có ba nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách, đó là: (1) tính chất của vấn đề chính sách; (2) chất lượng chính sách, nguồn lực cho chính sách, sự
Trang 34tương tác và phối hợp giữa các cơ quan trong thực thi chính sách, năng lực của nhân viên thực thi chính sách, sự tham gia của xã hội; (3) các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường như môi trường kinh tế, sự tham gia của truyền thông đại chúng, mức độ ủng hộ và sự tham gia của công chúng và các đoàn thể xã hội
Trong cuốn sách “Thực thi chính sách công” [41, tr.143], George C Edwards cho rằng, sự tác động của bốn nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp và/hoặc gián tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách công, đó là: (1) tuyên truyền và truyền thông chính sách nhằm làm cho người thực thi chính sách hiểu rõ chính sách; (2) nguồn lực cho thực thi chính sách (nhân lực, thông tin, vật lực…); (3) thái độ, sự ủng hộ và sự quyết tâm của người thực thi chính sách; (4) cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của cơ quan hành nhà nước
Qua các nghiên cứu điển hình trên đây, tác giả rút ra hai nhóm yếu tố chính tác động đến việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH đó là:
1.2.3.1 Những yếu tố chủ quan
Những yếu tố chủ quan ở đây được hiểu là tổng thể các yếu tố thuộc về năng lực, phẩm chất của chủ thể thực hiện chính sách, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với hoàn cảnh hiện thực khách quan trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể hay chính là điểm mạnh, điểm yếu của các chủ thể liên quan đến việc thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH, cụ thể gồm:
- Nguồn nhân lực để thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH nói chung
và tại mỗi CSGDĐH nói riêng: Bất cứ chính sách nào cũng cần dựa vào chủ thể
thực thi chính sách để thực hiện Nguồn nhân lực thực hiện chính sách phải được đảm bảo về cả mặt số lượng và mặt chất lượng Chất lượng của đội ngũ nhân lực
có tốt hay không được đánh giá qua:
+ Năng lực quản lý, điều hành việc thực hiện chính sách: nhà lãnh đạo am
hiểu, nắm vững chính sách, có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và được tín nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai thực hiện thuận lợi chính sách HTQT tại các CSGDĐH
Trang 35+ Năng lực thực hiện chính sách: kết quả của chính sách có hiệu quả hay
không phụ thuộc rất lớn vào năng lực cán bộ thực hiện chính sách - những người trực tiếp đưa chính sách vào cuộc sống
Năng lực cán bộ thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH bao gồm kỹ năng hành chính, trình độ chuyên môn, năng lực thiết lập quan hệ, phân tích, dự báo, tinh thần trách nhiệm… Theo đó, cán bộ có năng lực tổ chức thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH sẽ chủ động, tích cực thay đổi được các yếu tố mang tính chủ quan tác động theo mong muốn Đồng thời, có khả năng khắc phục được những yếu tố mang tính tiêu cực khách quan đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách nhằm mang lại hiệu quả
- Nguồn vật lực để thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH: Nguồn
vật lực cho thực hiện chính sách có đầy đủ hay không cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách Ngay cả khi chính sách được ban hành rõ ràng, cụ thể, cá nhân đội ngũ nhân lực quản lý điều hành hay thực hiện chính sách
có năng lực nhưng nếu cơ quan thực hiện chính sách thiếu các nguồn vật lực cần thiết thì kết quả của việc thực thi chính sách đó cũng không thể đạt được mục tiêu chính sách như mong muốn Nguồn vật lực cho thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH hiện nay gồm: nguồn lực tài chính, nguồn lực thông tin, nguồn lực
cơ sở vật chất trang thiết bị Theo đó, cần phân bổ kinh phí đủ mức cho thực hiện chính sách; cần đảm bảo nguồn thông tin đầy đủ để cơ quan thực thi chính sách xây dựng được kế hoạch hoạt động khả thi, phù hợp với thực tế cũng như kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện; ngoài ra, theo quy luật phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng được tăng cường về quy mô và trình độ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội, việc đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật
và phương tiện hiện đại nhằm hỗ trợ thực hiện chính sách được đưa ra cũng là yêu cầu tối cần thiết, là một nguyên lý của sự phát triển
- Mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH: đây là yêu cầu mang tính quan trọng hàng đầu bởi ảnh
Trang 36hưởng của mối liên hệ tương tác giữa các bước đến hiệu quả của chính sách Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa nhất định đối với quá trình thực thi chính sách Các bước trong quy trình tổ chức thực thi được bảo đảm sẽ giúp cho việc đánh giá, kiểm tra giám sát và điều chỉnh chính sách được đúng đắn, kịp thời, hiệu quả và ngược lại
1.2.3.2 Những yếu tố khách quan
Phạm trù khách quan dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc
vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể
đó Ở đây, các yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định chính sách cũng như quá trình thực hiện chính sách HTQT tại các CSGDĐH là:
- Tính chất của vấn đề chính sách HTQT trong GDĐH: là yếu tố gắn liền
với chính sách Tính chất của vấn đề chính sách HTQT trong GDĐH được xác định là quan trọng, phức tạp, có liên quan đến nhiều đối tượng chính sách (cá nhân
- tổ chức, trong nước - quốc tế) và có ảnh hưởng to lớn đến việc phát triển nguồn nhân lực quốc gia; nó tác động một cách trực tiếp đến cách thức, biện pháp giải quyết vấn đề và quá trình tổ chức thực hiện Mỗi cơ quan, đơn vị quản lý, mỗi cơ
sở giáo dục và mỗi cá nhân có liên quan nhận thức được tính chất quan trọng của chính sách HTQT trong GDĐH sẽ giúp quá trình tổ chức thực hiện chính sách được thuận lợi hơn
- Tính đúng đắn và cụ thể của chính sách (hay chất lượng chính sách): Chất
lượng chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách công Sự ảnh hưởng của chất lượng chính sách đối với hiệu quả thực hiện chính sách thể hiện ở hai điểm chủ yếu: (1) tính đúng đắn của chính sách - là tiền đề cơ bản cho việc thực thi có hiệu quả chính sách Chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và sự phát triển xã hội, thể hiện lợi ích công, thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho đối tượng chính sách thì sẽ có được sự thừa nhận, ủng hộ của đối tượng chính sách, người thực thi và xã hội, từ đó góp phần nâng
Trang 37cao hiệu quả thực thi Trái lại, sẽ không có được sự thừa nhận, ủng hộ của đối tượng chính sách Chính sách đúng đắn thể hiện ở sự đúng đắn về nội dung, phương hướng cũng như việc hoạch định chính sách dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ (2) Tính rõ ràng, cụ thể của chính sách - là yếu tố then chốt để thực hiện chính sách có hiệu quả, là căn cứ cho hoạt động thực thi chính sách của chủ thể thực thi chính sách, cũng là cơ sở để tiến hành đánh giá và giám sát quá trình thực thi chính sách Để thực thi thuận lợi một chính sách nào đó, về mặt kỹ thuật, chính sách đó cần phải rõ ràng, cụ thể, tức sự rõ ràng về phương án chính sách, mục tiêu chính sách, biện pháp chính sách và các bước triển khai Đồng thời, tính
rõ ràng và cụ thể của chính sách còn yêu cầu mục tiêu chính sách cần phù hợp với thực tế và có thể thực hiện được, có thể tiến hành so sánh và đo lường được Phương án chính sách cần chỉ rõ kết quả đạt được, đồng thời cần xác định rõ thời gian hoàn thành Trong thực thi chính sách, sự thiếu rõ ràng, cụ thể của chính sách
sẽ dẫn đến khó khăn trong thực hiện, từ đó ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả thực thi chính sách
- Môi trường thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH: là yếu tố liên quan
đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng, quốc tế… Theo nghĩa rộng, môi trường thực hiện chính sách chứa đựng toàn bộ thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách đó như các nhóm lợi ích có được từ chính sách, bầu không khí chính trị, các điều kiện vật chất trong nền kinh tế, trật tự xã hội hay quan hệ quốc tế Theo đó, môi trường thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH ở Việt Nam hiện nay nói chung có nhiều thuận lợi nhất định: được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế; có môi trường chính trị ổn định; chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài; các cấp chính quyền có nhận thức cao về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HTQT trong GDĐH; ngày càng có nhiều tổ chức quốc tế sẵn sàng hợp tác…
Trang 38- Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH:
thể hiện sự thống nhất về lợi ích hay mức độ phối hợp trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách của các đối tượng
Trang 39Tiểu kết chương 1
Chính sách HTQT tại các CSGDĐH là các quyết định mang tính quan điểm,
tư tưởng, tính chiến lược của các chủ thể được trao quyền lực Nhà nước trong việc triển khai các hoạt động HTQT tại các CSGDĐH vì lợi ích chung của nền GDĐH
Tổ chức thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH là toàn bộ quá trình huy động, bố trí, sắp xếp các nguồn lực để đưa chính sách vào đời sống xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế trong giáo dục đào tạo
Khi tiến hành tổ chức triển khai thực hiện chính sách HTQT trong GDĐH, các cơ quan hành chính nhà nước các cấp cùng với các cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện chính sách theo những trình tự, thủ tục thống nhất để đảm bảo rằng chính sách được triển khai nhanh chóng đúng thời gian và tiến độ, vừa đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong phát triển giáo dục đào tạo nói chung Về cơ bản quá trình thực hiện chính sách phải tuân thủ ít nhất các bước sau: (1) Xây dựng và ban hành văn bản, kế hoạch thực thi chính sách; (2) Phổ biến, tuyên truyền về chính sách; (3) Phân công phối hợp thực hiện chính sách; (4) Theo dõi, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách và điều chỉnh chính sách
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tổng quan về các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân
2.1.1 Số lượng, cơ cấu các cơ sở giáo dục đại học Công an nhân dân
Cơ sở giáo dục đại học CAND là CSGDĐH thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, hoạt động theo Luật giáo dục đại học và chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Công an
Sau khi triển khai Nghị quyết số 22 ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị và Đề
án số 106 của Đảng ủy Công an Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức
bộ máy của Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Bộ Công an đã trình Thủ tướng Chính phủ và được phê quyệt đề án sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đào tạo thuộc Bộ Công an Ngày 22/4/2020, Bộ Công an đã tổ chức Hội nghị trực tuyến công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt địa điểm đào tạo và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, phiên hiệu của các học viện, trường đại học CAND; theo đó cơ bản vẫn tiếp tục duy trì 8 CSGDĐH trong CAND giống như giai đoạn trước (6 cơ sở ở phía Bắc, 2 cơ sở ở phía Nam) gồm:
- Học viện An ninh nhân dân (Học viện ANND);
- Học viện Cảnh sát nhân dân (Học viện CSND);
- Học viện Chính trị Công an nhân dân (Học viện Chính trị CAND);
- Học viện Quốc tế;
- Trường Đại học An ninh nhân dân (ĐH ANND);
- Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (ĐH CSND);
- Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy (ĐH PCCC);
- Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân (ĐH KT-HC CAND)