1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN bị KÍCH ĐỘNG MẠNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM từ THỰC TIỄN địa bàn TỈNH NAM ĐỊNH

83 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây: + Tìm hiểu lịch sử quy định và hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự nước ta về tội Giết người

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH DIỆU

TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN

BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MINH DIỆU

TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN

BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Diệu

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TTHS: Tố tụng hình sự PLHS: pháp luật hình sự QĐHP: quyết định hình phạt CTTP: cấu thành tội phạm TNHS: trách nhiệm hình sự VKSND: Viện Kiểm sát nhân dân TAND:Tòa án nhân dân

HSST: Hình sự sơ thẩm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7

1.1 Những vấn đề lý luận về tội giết người trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh 71.2 Các yếu tố cấu thành tội phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 101.3 Lịch sử lập pháp các quy định của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 241.4 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với các tội phạm khác 32

Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 36

2.1 Thực tiễn định tội danh tội giết người trong trạng thái bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Nam Định 362.2 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Nam Định 48

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 56

3.1 Quan điểm của Đảng và chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam trong xử lý các tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 56

3.2 Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 61

Trang 6

3.3 Nâng cao năng lực cán bộ áp dụng pháp luật về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 663.4 Các giải pháp tổng kết thực tiễn áp dụng PLHS về tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 68

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng số vụ án, bị cáo Tòa án tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm từ năm

2015 đến năm 2019 38

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong Tuyên Ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “ tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” và Tuyên ngôn nhân quyền thế giới ngày 10/12/1948, tại Điều 3 Quy định: “Mọi người đều có quyền sống, được tự do và bảo đảm an ninh” Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam cũng đã quy định tại Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong đó đặc biệt nhấn mạnh “Mọi người đều có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19)

Con người là vốn quý, là giá trị cao nhất của xã hội, quyết định sự tồn tại

và phát triển của xã hội Trong đó, quyền sống là quyền thiêng liêng và quan trọng nhất trong các quyền cơ bản của con người Chính vì thế, pháp luật quốc tế

và pháp luật các quốc gia đều ghi nhận và bảo vệ quyền sống của con người Ở nước ta, từ khi Hiến pháp năm 1946 được ban hành đến nay, quyền sống luôn được ghi nhận là quyền thiêng liêng và quan trọng nhất trong các quyền cơ bản của con người Theo pháp luật Việt Nam, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng con người, tước đi quyền được sống của họ luôn được coi là một tội

ác cần phải trừng trị nghiêm khắc nhất và phải bị loại bỏ

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội, quyền con người ở nước ta ngày càng được tôn trọng và đảm bảo Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế, đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, trong đó có các vấn đề về việc làm, tệ nạn xã hội, quá trình đô thị hoá nhanh ảnh hưởng đến sự gia tăng tội phạm nói chung và tội Giết người nói riêng

Trang 9

Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác Tuy nhiên đối với hành vi giết người luật hình sự phân chia thành các trạng thái như là giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội Trong đó, người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức được hành vi của mình, không có khả năng làm chủ hành vi của mình và chỉ diễn ra trong khoảnh khắc tức thời, sau đó thì người này trở lại trạng thái bình thường Bởi vậy, đây là nhóm tội phạm khá phức tạp trong việc cân nhắc, xem xét để có kết luận cũng như hình phạt tương xứng Vì cậy, cần phải có những quy định riêng và cụ thể cho tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trên địa bàn tỉnh Nam Định thời gian gần đây cũng có sự diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội Giết người trọng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng Trong vòng 5 năm từ 2015 đến 2019 trên địa bàn tỉnh Nam Định có 03 vụ khởi tố và 03 vụ xét xử với 03

bị can phạm tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bị truy tố Nhiều vụ án giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xảy ra mang tính chất côn đồ, hung hãn và ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ, tâm lý và đời sống của người dân

Nghiên cứu các vấn đề từ thực tiễn để tổng kết thành kinh nghiệm, nêu lên một số tồn tại, bất cập trong quy định về tội giết người trong Bộ luật Hình

sự Để từ đó đưa một số đề xuất nhằm khắc phục hạn chế, bất cập

Công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung và tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng trên địa bàn tỉnh Nam Định đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn đang diễn biến phức tạp Nhằm góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hiện

nay, tác giả chọn đề tài: “Tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích

Trang 10

động mạnh theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Nam Định”

làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vừa là dấu hiệu định tội vừa là hình thức hoạt động thể hiện sự đánh giá về mặt pháp

lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội Do đó, ở trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, những phương diện khác nhau về vấn đề này Ở cấp độ luận văn thạc sỹ

có các đề tài của các tác giả Đoàn Văn Lâm “Các tội xâm phạm tính mạng con người trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội, 2013.Ở cấp độ luận án tiến sĩ có các đề tài của các nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hồng Hà “Tội giết người trong

Bộ luật hình sự Việt Nam” luận án tiến sĩ Tiến sĩ Trần Văn Luyên (2000)

“Các tội xâm phạm tính mạng con người trong luật hình sự Việt Nam” Nxb

chính trị quốc gia.Bên cạnh đó, về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có

các công trình sau: Lê Cảm (chủ biên 2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam

(Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, (tái bản lần thứ nhất – 2003);

Lê Cảm (chủ biên 2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội

phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Đỗ Ngọc Quang, Trịnh Quốc Toản,

Nguyễn Ngọc Hòa (1997) Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Võ Khánh Vinh (chủ biên) giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2005; Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học luật hình sự (phần các tội phạm) tập I, Nxb TP HCM 2003; Lê Cảm “một số vấn đề lý luận chung về định tội danh Chương XXXI – giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội; Trường đại học Luật Hà Nội (2008) giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần

các tội phạm) Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

Trên cơ sở khảo sát cho thấy ở nước ta đã có một số công trình

Trang 11

mạnh nhưng chưa được xem xét riêng với tư cách là một dấu hiệu định tội

mà chỉ tập trung phân tích các cấu thành tội phạm cũng như hình phạt áp dụng hoặc nghiên cứu chúng trong hệ thống các tội phạm xâm phạm về tính mạng, sức khỏe Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở khái niệm mà chưa đi sâu nghiên cứu các dấu hiệu nhận biết thực hiện tội phạm trong trạng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn này là làm rõ những dấu hiệu pháp

lý, đường lối xử lý và phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng với những hạn chế, vướng mắc xung quanh tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh từ đó góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm này cũng như rút ra nguyên nhân, từ đó tìm ra đóng góp khắc phục, làm giảm tình hình tội phạm tại địa bàn tỉnh Nam Định

- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

Về lý luận: Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đồng thời phân biệt tội này với một số tội phạm khác

Về thực tiễn: phát hiện những vướng mắc, phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn đồng thời đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện quy định luật hình sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dưới góc độ của luật hình sự và tìm hiểu thực trạng tội phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại địa bàn tỉnh Nam Định

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

+ Tìm hiểu lịch sử quy định và hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình

sự nước ta về tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

+ Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

+ Phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Nam Định

+ Phân tích, đánh giá thực tiễn định hình phạt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Nam Định

+ Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh Nam Định

Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và luật

tố tụng hình sự Các số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập tại Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đối với các vụ án giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xảy ra trên địa bàn tỉnh từ năm

2015 đến năm 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp,

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Việc nghiên cứu thành công đề tài có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn

- Về lý luận: Luận văn góp tiếng nói khoa học và nhận thức chung về tội giết người trong khoa học luật hình sự Việt Nam, đồng thời góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và hoàn thiện các quy định của BLHS về tội giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh Làm tài liệu cho học tập

và nghiên cứu

- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn, những vấn đề lý luận nêu trong luận văn góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý tôi phạm giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh và những tội phạm khác có liên quan Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Nam Định nói riêng và cả nước nói chung

7 Kết cấu của luận văn

- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo pháp luật hình sự Việt Nam

- Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với

tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên địa bàn tỉnh

Nam Định

- Chương 3: Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp

luật Hình sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH THEO

PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Những vấn đề lý luận về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

•Khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được hiểu là hành vi giết người trong tình trạng không tự chủ, không kiềm chế được hành

vi phạm tội của mình(tức sự phản đối của người phạm tội) do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính người phạm tội hoặc người thân của người phạm tội

Là một trường hợp đặc biệt của tội giết người, vì vậy, để hiểu rõ khái niệm của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều

125 BLHS) thì trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm “tội giết người”

Về khái niệm của tội giết người hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Cụ thể:

Hiện nay, các nước trên thế giới có hai xu hướng để đưa ra về tội giết người Một là, định nghĩa tội giết người và không định nghĩa tội giết người Các nước theo xu hướng định nghĩa về tội giết người trong BLHS của mình nhưng mỗi nước lại có các cách định nghĩa khác nhau Luật Hình sự Liên bang Nga năm 1966, tại Điều 106, tội giết người được định nghĩa: “… là cố ý làm chết người khác” ; Trong BLHS Trung Quốc năm 1997, tại Điều 232 tội giết người được định nghĩa “là hành vi cố ý giết người khác; Bộ luật Bang

Trang 15

California (Hoa Kỳ) năm 1998 tại Điều 187 tội giết người được định nghĩa “là hành vi cố ý giết người khác hoặc giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp pháp” Một số nước theo xu hướng thứ hai, không định nghĩa tội giết người, nhưng trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều định nghĩa khác nhau Trong đó có các định nghĩa: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác” , hoặc “Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước đoạt quyền sống của người khác” Hoặc “Tội giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật” Phân tích, đánh giá các định nghĩa trên cho thấy về nội dung, các định nghĩa không đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể hoặc có đề cập đến trách nhiệm hình sự mà không đề cập đến độ tuổi Về sử dụng thuật ngữ giết người là hành vi “cố ý tước đoạt tính 8 mạng” của người khác là chưa phù hợp, chính xác theo ý nghĩa từ ngữ trong tiếng Việt Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng

“tước đoạt” là “tước và chiếm lấy sự sống của người khác” và “tước đoạt” đã bao gồm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định “tội giết người là hành vi cố

ý tước đoạt tính mạng” Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam được quy định tại Điều 8, Khái niệm Tội phạm thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự thực hiện bởi người có năng lực trách hình sự thực hiện một cách cố ý, hoặc vô ý… xâm phạm tính mạng… của công dân…” Trên cơ sở phân tích các định nghĩa trên về tội giết người, tác giả đưa ra khái niệm về tội giết người như sau: Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi theo quy định của pháp luật

Theo bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số 452-HS2 ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân

tối cao thì: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” [31, tr.83]; [15, tr.12] Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng “tội giết người là hành vi trái pháp luật của người

Trang 16

đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác” [11, tr.67]

Cả hai quan điểm đưa ra đều chưa hợp lý ở chỗ: Chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể “tội giết người” (quan điểm thứ nhất) hoặc chỉ đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự mà không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi (quan điểm thứ hai), để

khắc phục những hạn chế này, quan điểm thứ ba cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện” [6, tr.38]

“Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy định tại Điều 125, BLHS năm 2015 như sau:

“1 Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm” [21]

Từ quy định tại Điều 125 BLHS cho thấy “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” đòi hỏi người phạm tội khi thực hiện hành

bi phạm tội phải ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế tức thời ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh có thể

là tình tiết làm giảm nhẹ một cách đáng kể mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Do vậy tình tiết này có thể được quy định là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ hoặc có thể là tình tiết định tội cho tội nhẹ hơn so với tội của trường hợp bình thường BLHS 1985 quy định tình trạng tinh thần bị

Trang 17

người” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” Trong BLHS năm 1999 và BLHS 2015 các trường hợp này được tách ra thành các tội danh riêng, đó là “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”

Theo Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định phần các tội phạm của BLHS

năm 1985 thì “tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên” Cá biệt, có trường hợp, do hành vi trái pháp

luật của nạn nhân có tính chất đè nén áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại,

sự kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được, nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh

Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi

cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác trong trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người đó

1.2 Các yếu tố cấu thành tội phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo quy định tại Điều 125 BLHS “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng như sau:

Trang 18

1.2.1 Khách thể của tội phạm

Trong bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào, Nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị bằng sự hỗ trợ của các quy phạm pháp luật, trong đó có các quy phạm pháp luật hình sự Trong Luật Hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và có thể bị tội phạm xâm hại là những quan hệ được xác định trong khái niệm tội phạm, đó là:

“Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (khoản 1 Điều 8 BLHS 2015) Trong số những

quan hệ xã hội đã được xác định này tính mạng con người là một trong những khách thể có tầm quan trọng đặc biệt Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người, đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ

tính mạng của người khác từ đó có thể xác định khách thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đó là quyền sống của con người

Đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ

1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Cũng giống như các tội phạm khác khi được thực hiện đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ra bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” cũng có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ở ngoài thế giới khách quan, đó là:

- Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác;

- Hậu quả chết người;

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt trái pháp luật tính

Trang 19

Ngoài ra còn có các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội… Những dấu hiệu này không được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng việc xác định nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

* Hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:

Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người gây ra hoặc

đe doạ gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua hai hình thức đó là hành động hoặc không hành động Theo quy định của BLHS

2015, hành vi khách quan của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác

Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của con người Hành vi đó có thể được thực hiện bằng những cách thức khác nhau như bắn, đâm, chém

Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được coi là hành vi khách quan của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Đặc điểm này vừa phản ánh tính nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời cũng là đặc điểm cho phép chúng ta phân biệt tội này với các tội khác mà trước hết là tội giết người (Điều 123 BLHS)

Theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP, ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức Lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của

Trang 20

hành vi của mình Trạng thái tinh thần này của họ chỉ xẩy ra trong chốc lát Người phạm tội khi thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thường xuất hiện cơn bùng phát về tinh thần, thường biểu hiện các trạng thái tâm lý như: Quá lo sợ, quá hốt hoảng, quá kinh hãi, quá căm tức và quá phẫn nộ Nguyên nhân dẫn tới trạng thái tâm lý này xuất phát từ những hành

vi trái pháp luật của nạn nhân, dưới đây, chúng tôi xin phân tích một số hành

vi chủ yếu để thấy rõ biểu hiện tâm lý của người phạm tội khi có hành vi trái pháp luật của nạn nhân dối với họ hoặc người thân thích của họ:

- Hành vi sỉ nhục hay vu khống người khác: Đây là dạng hành vi xúc phạm tới nhân phẩm, danh dự của người khác, tác động mạnh tới trạng thái tâm lý của của người phạm tội Ví dụ, trường hợp A và B là hàng xóm của nhau, A vu khống cho rằng B lấy trộm gà nhà A, B đã nhiều lần đính chính là

B không làm điều đó nhưng A vẫn một mực nghi ngờ và đi nói với nhiều người khác và B cũng đã nhắc nhở A nhiều lần Một lần, nhà B có khách đến chơi, B có làm gà tiếp khách thì A có nói bóng gió rằng B là thằng ăn trộm, gà đấy là nhà A, quá tức giận, B liền nhặt đá ném vào đầu A làm A chết Như vậy, hành vi vu khống của A đã tác động vào tâm lý của B, đỉnh điểm là khi nhà B có khách làm cho B cảm thấy bị xúc phạm, căm phẫn dẫn tới hành vi ném đá vào A

- Hành vi dùng bạo lực một cách thô bạo với người khác: Đây là dạng hành vi tác động vào tính mạng, sức khoẻ người khác một cách trái pháp luật

Ví dụ, trường hợp của anh Lương Văn Thanh (người phạm tội) là công nhân may của Công ty may Youngone khi đang trên đường trở về nhà sau khi tăng

ca vào buổi đêm thì bị anh Vân (nạn nhân) bất ngờ từ trong hẻm nhảy ra chặn đánh (do anh Vân nhầm lẫn, nhận sai người) Do bị đánh đau nên anh rút dao

ra đâm vào ngực trái của nạn nhân làm nạn nhân chết trên đường đi cấp cứu Hành vi của anh Vân là quá bất ngờ lại vào đêm khuya nên đã làm cho anh

Trang 21

Thanh hoảng sợ dẫn tới tinh thần bị kích động mạnh nên đã dùng dao đâm chết anh Vân

- Những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình: Trong thực

tế, có rất nhiều vụ giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xuất phát từ mâu thuẫn gia đình, chồng hoặc vợ ngoại tình, chồng đánh đập

vợ, đánh đập con cái, người vợ không làm tròn trách nhiệm làm mẹ, làm vợ…

Ví dụ, trường hợp của ông Hoàng Văn Thái (thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định), do bị bà Mai Thị Thu (vợ) thường xuyên lăng mạ, khinh thường vì thu nhập thấp, ngoài ra, bà Thu còn ngoại tình với người khác nên vợ chồng ông Thái, bà Thu đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn Trong một lần cãi vã, bị bà Thu mắng nhiếc nặng lời và dùng đồ đạc ném về phía ông Thái, do quá tức giận,ông Thái cầm cuốc dài 1,2m, đánh liên tiếp vào người bà Thu làm bà chết tại chỗ Hành vi thường xuyên hành hạ, coi thường chồng của bà Thu đã làm cho ông Thái tức giận dồn nén lâu ngày đặc biệt là khi bà dùng lời lẽ, hành động ném đồ đạc làm ông Thái căm phẫn nên đã dùng cuốc đập liên tiếp vào người bà Thu TAND tỉnh Nam Định cũng đã xác định ông Hoàng Văn Thái do sự dồn nén, ức chế lâu ngày trong quá trình chung sống vì thường xuyên bị bà Thu chửi bới, coi thường nên khi thấy bà Thu chửi bới, ném đồ, thì ông Thái đã bị kích động mạnh mà dùng cuốc đánh bà Thu tới chết

- Hành vi xâm phạm tới tài sản của người khác như đốt cháy, cướp giật, đập phá Đây là hành vi xâm phạm tới tài sản của người phạm tội của nạn nhân, tài sản ở đây thường là tài sản có giá trị lớn về vật chất hoặc tình thần

Ví dụ, trường hợp do mâu thuẫn trong quan hệ xóm giềng nên một lần, nhân lúc thấy xe ô tô của A dựng ngoài sân mà không có người nên B đã lấy một thanh sắt đập vào kính, vào gương và cốp xe của A, A đi bên nhà C về thì thấy B đang đập phá ô tô của mình nên tức giận nhảy vào đánh B làm cho B chết trên đường đi cấp cứu Hành vi phá hoại tài sản có giá trị lớn của B đã làm cho A tức giận và có hành động nhảy vào đánh B

Trang 22

Trường hợp người phạm tội có bị kích động về tinh thần nhưng chưa đến mức mất khả năng tự chủ thì không gọi là tinh thần bị kích động mạnh, không thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đối với trường hợp này người phạm tội chỉ được giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 1, Điều 51 BLHS 2015

Trên thực tế việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không là một vấn đề phức tạp Bởi trạng thái tâm lý của mỗi người là khác nhau, cùng một sự việc nhưng người này xử sự khác người kia, có người

bị kích động mạnh về tinh thần nhưng có người lại không bị kích động mạnh

Ví dụ: Cùng một sự việc là thấy vợ có quan hệ bất chính với người khác, anh A lao tới giết tình nhân của vợ, anh B đệ đơn ly hôn

Như vậy, không có “thước đo” cụ thể nào để xác định một người bị kích động hay kích động mạnh mà chúng ta phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể, xem xét từng tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, điều kiện sống, quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội…

Nạn nhân của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội: Hành vi trái pháp luật của nạn nhân đối với người phạm tội phải là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng Hành

vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là những hành vi vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm tới lợi ích của người phạm tội hoặc đối với những người thân thích của người phạm tội Thông thường, những hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm phạm tới sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự như hành vi sỉ nhục hay vu khống người khác, hành vi dùng bạo lực thô bạo đối với người khác, những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, hành vi xâm phạm tới tài sản của người khác như đập phá tài sản, đốt cháy, cướp giật hay những hành vi khác trái với đạo đức xã hội [17, tr.57-58]

Trang 23

Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình… Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng ở đây có thể cấu thành tội phạm hoặc chưa cấu thành tội phạm nhưng dù trường hợp nào thì hành vi đó cũng phải có tính chất trái pháp luật nghiêm trọng Nếu hành vi của nạn nhân tuy là trái pháp luật nhưng không nghiêm trọng, có tính chất nhỏ nhặt thì không thuộc trường hợp này

Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể chỉ là một hành vi cụ thể và tức thì dẫn đến tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội Nhưng cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là chuỗi những hành vi khác nhau diễn ra có tính lặp đi, lặp lại trong suốt thời gian dài và liên tiếp tác động đến tinh thần người phạm tội làm cho họ bị dồn nén về mặt tâm lý Đến thời điểm nào đó khi có hành vi trái pháp luật cụ thể xảy ra thì trạng thái tinh thần của người phạm tội bị đẩy đến cao độ và người phạm tội lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Trong trường hợp này, nếu chỉ xét hành vi cụ thể ngay liền trước trạng thái tinh thần bị kích động mạnh sẽ không thấy được sự nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân [29]

Ví dụ, trường hợp A mở quán nước trước nhà B, thường xuyên vứt rác trước cổng nhà B, B đã rất nhiều lần nhắc nhở nhưng A không thay đổi Một lần, cả nhà B đang ngồi ăn cơm ngoài sân thì A lại tiếp tục vứt rất nhiều rác bẩn trước cổng nhà B, B ra mắng A thì bị A cãi lại, thách thức làm B tức giận lấy thanh sắt ở sân đánh vào đầu A, làm A chết Nếu xét từng hành vi cụ thể của A thì sẽ không thấy được sự nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật mà A

đã thực hiện nhưng hành vi này đã diễn ra thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài mặc dù đã được B nhắc nhở, đến thời điểm cả nhà B đang ăn cơm, A lại vứt rác bẩn vào cổng, bị B mắng A lớn tiếng cãi lại, thách thức thì B thực sự tức giận, bị kích động mạnh về tinh thần và dùng thanh sắt đánh A chết

Trang 24

Một người bị kích động mạnh về tinh thần ngoài trường hợp nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với họ còn có những trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng với người thân thích của người đó Hiện nay chưa có văn bản nào giải thích chính thức thế nào là người thân thích của người phạm tội nhưng theo thực tiễn xét

xử có thể hiểu những người thân thích với người phạm tội là những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng như: Vợ chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với nhau, ông bà nội ngoại đối với các cháu, trong thực tiễn xét xử Tòa án cũng đã công nhận một số trường hợp tuy không phải là quan hệ huyết thống hay quan hệ hôn nhân mà chỉ là quan hệ thân thuộc giống như anh chị em ruột, cha

mẹ ruột cũng được xác định là người thân thích của nhau [17] Như trong trường hợp mẹ và con nuôi với nhau mặc dù không có quan hệ huyết thống nhưng cũng có quan hệ nuôi dưỡng, tình cảm với nhau: Bố mẹ A chết sớm, A được bà C nhận làm con nuôi từ nhỏ, một hôm đang đi làm đồng thì có người gọi “Về nhà ngay! Mẹ của mày bị người ta đánh cho què chân rồi” A vội cầm dao chạy về nhà và biết mẹ mình bị M đánh đang nằm bất tỉnh ở sân trước, A liền chạy sang nhà M chém liên tiếp vào đầu M làm M chết ngay tại chỗ Tuy A và bà C không phải có quan hệ huyết thống nhưng có quan hệ nuôi dưỡng, tình cảm với nhau nên bà C có thể được xem là người có quan hệ thân thích với A

Nguyên nhân của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người đó thì không có trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội Ví dụ trường hợp A đánh B (con của C) bị thương, C nghe tin cầm gậy chạy đi tìm A để đánh nhưng không gặp A mà gặp bà M (mẹ của A) nên C dùng gậy đánh bà M, do vết thương quá nặng nên bà M đã chết trên đường đi cấp cứu Trường hợp này, A mới là người có hành vi trái pháp luật

Trang 25

thần chứ không phải bà M, nên hành vi giết người của C không phải là giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trường hợp người phạm tội tự mình gây nên tình trạng tinh thần bị kích động mạnh rồi giết người cũng không thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Ví dụ, A và B cãi nhau, B tức giận đi uống rượu, say rồi về cầm dao đi giết A, trường hợp này B sẽ bị xử lý theo Điều 123 BLHS chứ không áp dụng Điều 125 BLHS, vì hành vi giết A của B

là do B bị say rượu dẫn tới không nhận thức và điều khiển được hành vi chứ không phải do A và B cãi nhau mà B bị kích động mạnh

* Hậu quả của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đó là hậu quả chết người, cụ thể là nạn nhân phải chết thì người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân mới bị coi là phạm tội này Theo đó, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người xảy ra Nếu nạn nhân không chết mà chỉ bị thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe mà thương tật từ 31% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy định tại điều 126 BLHS Cũng theo quy định của BLHS, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không

có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ có khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó, sự kích động đó phải có tính đột xuất, nó đến rất nhanh và cũng qua đi rất nhanh

* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm

Trang 26

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tội phạm có cấu thành vật chất nên hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Một người chỉ phải chịu TNHS về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nếu giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người đó có mối quan hệ nhân quả với nhau

Hành vi giết người phải xảy ra tức thời, ngay lúc có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân Bởi vì: “Nếu giữa lỗi của nạn nhân và hành động của bị cáo có một khoảng thời gian nhất định thì không thể nói bị cáo đang ở trong tình trạng đột xuất bị kích động tinh thần mạnh mẽ đến nỗi họ không tự chủ được mình nữa” [23, tr.346]

Như vậy, để xác định người phạm tội có ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không chúng ta cần xem xét giữa hành vi giết người và hậu quả chết người có mối quan hệ nhân quả hay không Nếu giữa chúng không có mối quan hệ nhân quả thì bị cáo không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà phạm một tội khác Ví dụ, trường hợp A đánh con của B bị thương nặng, tức giận B chạy sang đánh A bị thương, sau đó A được mọi người đưa đi bệnh viện, trên đường đi A bị tai nạn giao thông mà chết thì trường hợp này B không phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vì giữa hành vi đánh A bị thương của B và hậu quả A bị chết không có mối quan hệ nhân quả

Trang 27

Năng lực TNHS là năng lực nhận thức và điều khiển hành vi Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người có lỗi hay không khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ có người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có khả năng điều khiển được hành vi

ấy Người có năng lực TNHS theo luật Hình sự Việt Nam là người đạt độ tuổi chịu TNHS (Điều 12 BLHS năm 2015)

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đòi hỏi người phạm tội cũng phải là người có năng lực TNHS, tức là khi thực hiện hành vi phạm tội họ có khả năng nhận thức được hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật ngăn cấm

và họ có khả năng điều khiển, kiềm chế hành vi của mình để không thực hiện hành vi nguy hiểm đó nhưng họ vẫn thực hiện hành vi phạm tội

Bên cạnh năng lực TNHS, chủ thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng phải là người đạt tới độ tuổi nhất định Điều

12 BLHS năm 2015 quy định về tuổi chịu TNHS như sau: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật

có quy định khác; 2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Đồng thời cũng theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 BLHS năm 2015 thì “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù”…

Căn cứ vào tại khoản 2 điều 12, khoản 1 điều 8 và Điều 125 BLHS thì

chủ thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên Như vậy,

Trang 28

những người chưa đạt đến độ tuổi này thực hiện hành vi được quy định tại Điều 125 BLHS gây ra hậu quả chết người thì cũng không phải chịu TNHS

•) Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo bộ luật Hình sự năm 2015

Theo điều 125 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“1 Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

2 Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”[21]

So với BLHS năm 1985 thì quy định về “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” tại Điều 95 BLHS năm 1999 có những điểm mới Từ đó,điều 125 BLHS 2015 tiếp tục kế thừa và phát huy những điểm sửa đổi của BLHS 1999

- Thứ nhất, BLHS năm 2015 đã tách trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ra khỏi tội giết người và quy định thành một tội danh độc lập với các khung hình phạt riêng

- Thứ hai, trên cơ sở quy định thành một tội danh độc lập, BLHS năm

2015 tiếp tục phân hóa trách nhiệm hình sự các trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có các mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Nếu như trước đây BLHS năm 1985 quy định trường hợp “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” chỉ có một khung hình phạt là bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm thì trong BLHS năm 2015 với tư cách là một tội danh độc lập “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định hai khung hình phạt là: khung cơ bản có hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm còn khung tăng nặng với trường hợp phạm tội với 02 người trở lên thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm BLHS 2015 đã cụ thể hóa

Trang 29

mà thay bằng “phạm tội với 02 người trở lên” để cụ thể hóa quy định, dễ dàng

áp dụng trong các trường hợp phạm tội

1.2.4 Mặt chủ quan

Lỗi là dấu hiện bắt buộc thuộc mặt chủ quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng như trong mặt chủ quan của mọi cấu thành tội phạm

Lỗi trong cấu thành tội phạm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Căn

cứ quy định tại điều 10, điều 11 BLHS thì lỗi cố ý trực tiếp của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể hoặc tất yếu xảy ra và vì mong muốn hậu quả chết người nên đã thực hiện tội phạm Lỗi cố ý gián tiếp của tội giết người trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình

là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra

Đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì người phạm tội thực hiện tội phạm khi có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với họ hoặc người thân thích của họ làm tinh thần của

họ bị kích động mạnh dẫn tới hành vi phạm tội Người phạm tội không hề có

sự chuẩn bị trước về tinh thần cũng như công cụ, phương tiện phạm tội Do vậy, lỗi của người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dù là lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp đều có đặc điểm chung là lỗi cố ý đột xuất Cố

ý đột xuất là trường hợp người phạm tội vừa có ý định phạm tội đã thực hiện ngay ý định đó, chưa có sự cân nhắc kỹ

Khi thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì lý trí của người phạm tội biểu hiện như sau: người phạm tội thấy rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội

của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó Người phạm tội

Trang 30

thấy trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình là sự nhận thức được tính chất gây thiệt hại cho xã hội của hành vi đang thực hiện trên cơ sở nhận thức được những tình tiết khách quan của nó Người phạm tội thấy trước hậu quả của hành vi là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển của hành vi đó

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mặc dù người phạm tội bị hạn chế trong việc thấy trước hậu quả của hành vi giết người, vì khi thực hiện hành vi giết người họ đang trong tình trạng tinh thần

bị kích động mạnh nhưng không phải vì thế mà người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì lúc đó họ chưa mất hẳn khả năng nhận thức và vẫn còn có thể lựa chọn xử sự khác chứ không phải là hành vi giết người Khi thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì ý chí của người phạm tội được biểu hiện là mong muốn hậu quả chết người xảy ra Hậu quả chết người xảy

ra phù hợp với mong muốn của người phạm tội

Khi thực hiện tội phạm với lỗi với lỗi cố ý gián tiếp thì lý trí của người phạm tội biểu hiện như sau: người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả có thể xảy ra Người phạm tội không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, ở đây người phạm tội có thể thấy trước hậu quả chết người nhưng nằm ngoài mục đích và sự quan tâm của họ, người phạm tội không hướng vào hậu quả chết người mà hướng vào mục đích khác, mục đích của hành vi Bởi lẽ khi có hành vi giết người, người phạm tội đang ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể người phạm tội chỉ mong muốn trút bỏ được cơn thù tức do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với mình hoặc người thân thích của mình

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm

Trang 31

1.3 Lịch sử lập pháp các quy định của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Sự hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung kể từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nó gắn liền với các giai đoạn của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Khi đất nước được thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những

cơ sở về chính trị, kinh tế- xã hội để thống nhất về mặt luật pháp, trong đó pháp luật hình sự quy định các tội phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ngày càng được xây dựng và hoàn thiện

1.3.1 Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự 1985

Từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm

1985 nguồn pháp luật hình sự Việt Nam là tập hợp các văn bản đơn hành với

21 nhiều hình thức tên gọi như Sắc lệnh, thông tư, điều lệ… nội dung chủ yếu

là các tội phạm về phản cách mạng, tội phạm xâm phạm tính mạng sức khỏe, tội phạm, về sở hữu…Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, để kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL ngày 15/03/1976 quy định về tội phạm và hình phạt (sau tháng 12/1976 văn bản này được áp dụng cho các nước) Quy định về tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được thể hiện tại Sắc luật số 03-SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời và Thông tư số 03- SL-BTP-TT ngày 15/4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật

số 03 theo đó “Giết người kèm theo tình tiết giảm nhẹ đặc biệt sau đây thì bị phạt thấp hơn 15 năm tù: Giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động

Trang 32

một cách mạnh mẽ và đột xuất do hành vi sai trái nghiêm trọng của nạn nhân” Sắc luật số 03/SL chỉ dừng lại ở việc nêu tội danh chứ chưa phân biệt

cụ thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Để nhận thức sắc luật được đúng đắn và để việc áp dụng được thống nhất thì thông tư 03/BTP/TT có hướng dẫn cụ thể, theo đó trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được coi là tội phạm ít nghiêm trọng và là một tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác Như vậy, trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời thì việc quy định các tội phạm nói chung và các tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng ở các văn bản dưới luật nên giá trị pháp lý của những văn bản đó chưa cao đồng thời các quy định đó còn quá chung chung, không nêu cụ thể rõ ràng dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, việc xét xử 22 gặp nhiều vướng mắc do vậy cũng ảnh hưởng phần nào đến chất lượng xét xử cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này

1.3.2 Giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 1999

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, để kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL ngày 15/03/1976 quy định về tội phạm và hình phạt (sau tháng 12/1976 văn bản này được áp dụng cho các nước) Tại Điều 5 của Sắc luật này có quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Tuy nhiên Sắc luật này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu tội danh chứ chưa phân biệt

cụ thể tội giết người với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Để nhận thức Sắc luật được đúng đắn và để việc áp dụng được thống

Trang 33

dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/1976 trong đó hướng dẫn cụ thể tội giết người

Điểm 2 mục B của Thông tư này xác định:

“ Cố ý giết người là một tội đặc biệt nghiêm trọng do đó được quy định hình phạt cao hơn các tội phạm cùng loại quy định ở Điều 5 Sắc luật này:

Cố ý giết người thì bị phạt từ 15-20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ thì bị xử dưới

15 năm tù Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ thì

bị xử dưới 15 năm tù Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ là:

- Giết người trong trường hợp tinh thần bị kích động quá mạnh ”

Như vậy, ở thời điểm này, trường hợp giết người trong trạng thái tinh

thần bị kích động mạnh được coi là phạm tội ít nghiêm trọng và là một tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người, có thể bị xử dưới 15 năm tù

Trong BLHS năm 1985, “tội giết người” được quy định tại Điều 101 và

“tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy định

tại Khoản 3 Điều này như một trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người : “ Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích

động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm”

1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

Với sự quan tâm của nhà nước, quá trình pháp điển hóa ở Việt Nam được đẩy mạnh trong giai đoạn 1982 – 1986 mà đỉnh cao của nó là sự ra đời của một bộ luật thống nhất, duy nhất xác định tội phạm và hình phạt: Bộ luật hình sự 1985 Có thể nói, Bộ luật hình sụ 1985 ra đời là kết tinh thành tựu 40 năm hoạt động lập pháp của chính quyền cách mạng, là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta từ năm 1945

Trang 34

đến thời điểm Bộ luật được ban hành Kế thừa những quy định pháp luật của thời kỳ trước trường hợp thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đã được và ghi nhận tại hai điều luật Điều 101 về tội giết người

Tội giết người:

“1- Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì

bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình; a) Vì động cơ đê hèn; để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm khác; b) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; bằng cách lợi dụng nghề nghiệp hoặc bằng phương pháp có khả năng chết nhiều người;

c) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; d) Giết nhiều người hoặc giết phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Có tổ chức;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác;

g) Có tính chất côn đồ; tái phạm nguy hiểm

2- Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định ở khoản 1 Điều này hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm

3- Phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”

Trang 35

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác;

b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

3- Phạm tội gây cố tật nặng dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm

4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản

2, ở khoản 3 Điều này mà do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong 24 trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.(Điều 109)

Sau khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời thì chỉ có một văn bản duy nhất hướng dẫn về thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đó là Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29.11.1986 của HĐTP TANDTC mà chưa có một khái niệm hay hướng dẫn cụ thể nào khác Theo hướng dẫn của nghị quyết trên thì: Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã

âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng

sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành

Trang 36

tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục người khác, tội

vu khống) thì cũng được coi là giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh Như vậy, so với Sắc luật số 03-SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời thì quy định của Bộ luật hình sự 1985 và nghị quyết hướng dẫn liên quan đến tội phạm thực hiện trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đã đầy đủ và cụ thể hơn Cụ thể nêu ra tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là đối với người phạm tội và người thân thích

1.3.4 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đến nay

Trong vòng 12 năm Bộ luật hình sự 1985 đã có bốn lần sửa đổi, bổ sung Việc sửa đổi bổ sung là cần thiết và rất kịp thời nhưng vẫn còn mang tính bộ phận, chỉ đáp ứng được các yêu cầu bức xúc, thời sự trước tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng trong điều kiện xã hội đang chuyển đổi cơ chế, cái cũ mất đi thay thế những cái mới tiến bộ hơn Đó là những đòi hỏi có tính khách quan cho sự ra đời của Bộ luật hình sự 1999

Cũng trong sự thay đổi của diễn biến xã hội, bộ luật Hình sự 2015 tiếp tục ra đời Bộ luật hình sự năm 2015 không chỉ thể hiện một cách toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, mà còn

là công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

BLHS 2015 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam , kì họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 BLHS năm 2015 gồm 26 chương với 426 điều

Bộ luật sửa đổi bổ sung các nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; tăng phạt tiền với chính sách là hình phạt chính đối với các tội xâm phạm trật tự

Trang 37

của pháp nhân, sửa đổi, bổ sung nhóm các tội phạm về môi trường Sửa đổi,

bổ sung các quy định về điều kiện áp dụng hình phạt theo hướng hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt ngoài tù Sửa đổi, bổ sung các quy định về các hình phạt tử hình theo hướng tiếp tục thể chế hóa chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo các nghị quyết của Đảng về cải cách

tư pháp, bám sát tinh thần nội dung Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân Quy định chặt chẽ các điều kiện áp dụng hình phạt tử hình , bỏ hình phạt tử hình với 07 tội danh cụ thể…Thời điểm có hiệu lực quy định trong bộ luật là từ ngày 01/07/2016, tuy nhiên, do có một số sai sót trong BLHS 2015, ngày 29/6/2016, Quốc hội khóa 13 đã ban hành Nghị quyết số 144/2016/QH13 lùi hiệu lực thi hành BLHS năm 2015 từ ngày 01/7/2016 đến ngày luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 có hiệu lực thi hành; tiếp tục thực hiện các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 điều 7, điểm b, khoản 1 điều 1 và khoản 2 điều 1 BLHS 2015 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 109/2015-QH13

Tuy nhiên, nội dung tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại điều 125 BLHS năm 2015 vẫn được giữ nguyên từ điều 95 BLHS 1999

So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 2015 có nhiều quy định mới về tội phạm và hình phạt.Trong đó, quy định về thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng có sự thay đổi Đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125) được cấu tạo thành hai khoản Khoản 1 có khung hình phạt từ sáu tháng đến

ba năm (khoản 3 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 từ sáu tháng 26 đến năm năm); khoản 2 là trường hợp giết nhiều người có khung hình phạt từ ba năm đến bảy năm (quy định này mới, nặng hơn khoản 3 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985) Vì là trường hợp giết người có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, nếu quy định cùng một điều luật với tội giết người như trước đây thì không phải

Trang 38

ánh đúng tính chất của tội phạm này Việc nhà làm luật tách trường hợp giết này ra thành một tội phạm riêng không chỉ bảo đảm chính xác về lý luận và

kỹ thuật lập pháp mà còn phù hợp với thực tiễn xét xử Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105) Đây là tội phạm được nhà luật tách từ khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 Các dấu hiệu của tội phạm này cũng tương tự như trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 125 Bộ luật hình sự 2015, chỉ khác nhau ở ý thức chủ quan của phạm tội đối với hậu quả và hậu quả thực tế đã xảy ra So với khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985, thì các dấu hiệu cấu thành được quy định tại Điều 105 đầy đủ hơn và hoàn toàn tương tự với các dấu hiệu cấu thành tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại khoản 3 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 Khoản 4 Điều

109 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định "bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân", chứ chưa quy định "hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc người thân tích của người đó" như khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015 Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ tỷ lệ thương tật là từ 31% trở lên thì người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh mới bị truy cứu trách nhiệm hình

sự Còn khoản 4 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định gây thương tích nặng Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ của nạn nhân có tỷ lệ thương tật 31% được coi là thương tích nặng Trường hợp nạn nhân có tỷ lệ thương tật dưới 31% thì người thực hiện hành vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy, nhìn vào lịch sử lập pháp có thể thấy trường hợp thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được ghi nhận trong pháp luật hình sự khá sớm Qua ba lần pháp điển hóa với sự ra đời

Trang 39

định liên quan đến thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có sự thay đổi, bổ sung để ngày càng phù hợp với thực tế và theo đúng mục đích của bộ luật hình sự Sự thay đổi, bổ sung đó là tất yếu song thực tế

áp dụng vẫn còn gặp nhiều khó khăn và chưa thống nhất đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để hoàn thiện hơn

1.4 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với các tội phạm khác

* Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126, BLHS 2015)

Nghiên cứu các quy định của BLHS hiện hành về hai tội phạm này cho

thấy, bên cạnh những điểm giống nhau, còn có một số điểm khác nhau cơ bản sau đây:

- Chủ thể của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải là người theo quy định của pháp luật có quyền phòng vệ chính đáng, tức

là quyền chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, của bản thân hay của người khác Như vậy, động cơ hành động của chủ thể là động cơ bảo vệ lợi ích hợp pháp, nhưng do thực hiện biện pháp phòng vệ quá mức cần thiết, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại dẫn đến phạm tội Trong khi đó chủ thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125) không xuất phát từ động cơ phòng vệ khi thực hiện hành vi giết người

- Nạn nhân của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải là người có hành vi bất hợp pháp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, lợi ích chính đáng của con người

với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (Điều 104)

Trang 40

Nghiên cứu các quy định của BLHS hiện hành về hai tội phạm này cho thấy, bên cạnh những điểm giống nhau, còn có một số điểm khác nhau cơ bản sau đây:

- Mặc dù mặt chủ quan của hai tội này giống nhau vì đều là tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, nhưng nội dung của sự cố này có khác nhau: cố ý giết người là cố ý tước đoạt sinh mạng người khác; cố ý gây thương tích là cố

ý làm cho người khác bị thương chứ không muốn người đó chết, việc người bị hại chết là ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội

- Khách thể bị xâm phạm của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tính mạng con người; còn khách thể bị xâm phạm của tội

cố ý gây thương tích dẫn đến chết người là sức khỏe con người, mặc dù có hậu quả chết người, nhưng người phạm tội không nhằm mục đích giết người nên không phải là khách thể của tội này

- Mặt khách quan của hai tội giống nhau ở hành vi nhưng lại khác nhau

về hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả chết người của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hậu quả do chính hành vi của người phạm tội trực tiếp gây nên, ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác, nó

là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm; Hậu quả chết người ở tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người không chỉ do hành vi của người phạm tội gây nên, vì hành vi của người phạm tội không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chết người mà nạn nhân chết còn do những nguyên nhân khác

* Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh điều 125 BLHS với trường hợp giết người được áp dụng tình tiết giảm nhẹ khoản 1 Điều 51 BLHS

Căn cứ quy định của Điều 125 và khoản 1 Điều 51 BLHS, chúng ta thấy cả hai trường hợp người phạm tội đều bị kích động về tinh thần di hành

vi trái pháp luật của người khác gây nên nhưng sự khác nhau cơ bản là mức

Ngày đăng: 24/12/2020, 13:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm