1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

83 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 850,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở các quy định hiện hành, có thể hiểu rằng, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan Thi hành án dân sự do Chấp hành viên quyết định theo thẩm qu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ VĂN LONG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Văn Long

Các số liệu và kết quả nghiên cứuz trong Luận văn là trung thực và chưa hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào

Các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Đắk Lắk, tháng 9 năm 2020

Học viên

Cao Tiến Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 4

1.1 Khái niệm, đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự 4

1.2 Chủ thể, vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự 4

1.3 Điều kiện, phương thức cưỡng chế thi hành án dân sự 5

1.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 8

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 11

Chương 2 12

THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 12

TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 12

2.1 Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 12

2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội và tổ chức bộ máy thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk ảnh hưởng thi hành án dân sự 32

2.3 Thực tiễn cưỡng chế thi hành án dân sự ở tỉnh Đắk Lắk 37

2.4 Đánh giá chung về cưỡng chế thi hành án dân sự ở tỉnh Đắk Lắk 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 54

Chương 3 55

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP VỀ CƯỠNG CHẾ 55

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 55

3.1 Định hướng về cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 55

3.2 Giải pháp về cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 71

KẾT LUẬN LUẬN VĂN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công lý trong Bản án, Quyết định của Tòa án chỉ trở thành hiện thực khi Bản án, Quyết định đó được hiện thực hóa một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ nhất có thể trong thực tế Điều này dẫn đến yêu cầu để các Bản án, Quyết định của Tòa án được thực hiện thì hoạt động của thi hành án dân sự (THADS) phải được tiến hành một các khoa học, nghiêm minh, phù hợp với hiến pháp, pháp luật, với thực tế cuộc sống

Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, một số đối tương phải THADS không chấp nhận thi hành án, thậm chí còn có vi phạm pháp luật trong quá trình THADS Đây là lý do phải tiến hành các biện pháp cưỡng chế THADS theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong THADS Theo đó, nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án chính là một trong những giải pháp đảm bảo hiệu quả của THADS ở nước ta hiện nay

Trong những năm gần đây, Công tác thi hành án dân sự tại tỉnh Đắk Lắk tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự cũng như Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk; sự phối hợp hiệu quả của các ngành chức năng, chính quyền và tổ chức đoàn thể trong tỉnh Đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh tiếp tục được nâng cao về trình độ chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; cơ sở vật chất, trang thiết bị cơ bản đáp ứng được yêu cầu công tác ngày càng cao của các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên các cơ quan Thi hành án dân sư tỉnh Đắk Lắk cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức, đó là: Các tranh chấp dân sự, kinh tế tiếp tục phát sinh làm gia tăng số việc và số tiền thụ lý mới mà các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh phải thi hành, đặc biệt là án thi hành cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng, kinh tế, tham nhũng chiếm tỷ trọng lớn về giá trị

Tuy nhiên, dưới sự triển khai chỉ đạo quyết liệt, sâu sát và toàn diện của Cục Thi hành án dân sự tỉnh, nên ngay từ đầu năm công tác, các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk đã nêu cao tinh thần trách nhiệm vượt qua khó khăn, thách thức, tập trung tổ chức thi hành án quyết liệt nên công tác thi hành án dân sự của tỉnh đã đạt được kết quả khả quan

Trang 6

Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Nghị định số 33/2020/NĐ-CP S ử a đ ổ i , b ổ s u n g m ộ t s ố đ i ề u c ủ a Nghị định số 62/2015/NĐ-

CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự được Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk triển khai thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trong công tác

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Luận văn này sẽ là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả, luận giải những vướng mắc, bất cập cả về lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn trong cưỡng chế thi hành án dân sự tại địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích:

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về cưỡng chế thi

hành án dân sự nói chung, tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng

Nhiệm vụ:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự trong

quá trình giải quyết thi hành án

- Đánh giá thực trạng chung về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự của tỉnh

Đắk Lắk Phân tích, đánh giá kết quả đã đạt được; những tồn tại, hạn chế, vướng mắc

và chỉ ra những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế, vướng mắc

- Đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác cưỡng chế thi hành án

dân sự tại tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 7

Về không gian: Luận văn được nghiên cứu thực hiện tại ngành Thi hành án dân sự

tỉnh Đắk Lắk

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác cưỡng chế thi

hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 - 2020, đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2025

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận:

Để đạt được những mục đích đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

- Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong Luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận chung về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự

- Nêu ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động Pháp luật về

cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk từ đó góp phần mang lại hiệu quả

công tác thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn tới

7 Bố cục của luận văn

Nội dung của đề tài được trình bày trong 03 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng cưỡng chế thi hành án dân sự tại tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Định hướng, giải pháp về cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

Ngoài ra, luận văn còn có phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự

Khái niệm:

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành án, thể hiện việc cơ quan Thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên

Trên cơ sở các quy định hiện hành, có thể hiểu rằng, cưỡng chế thi hành án dân sự

là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan Thi hành án dân sự do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền, nhằm buộc đương sự phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành

án tẩu tán, hủy hoại tài sản

Điều 71 Luật thi hành án dân sự quy định có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án như sau [57, tr.39]:

1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ

ba giữ

4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án

5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

1.2 Chủ thể, vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự

Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, giữ nghiêm

kỷ cương pháp luật chung của nhân dân, xã hội, nhà nước, trong đó có cả lợi ích cá nhân Xác định rõ quyền lực của nhà nước bằng việc cho phép cơ quan Thi hành án dân

sự áp dụng các biện pháp bảo đảm, các biện pháp cưỡng chế, xử phạt vi phạm hành

Trang 9

chính, thậm chí là đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi chống đối, các hành vi vi phạm các quy định về thi hành án dân sự

Là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô cả nước, đồng thời đó cũng là phương tiện để nhà nước kiểm soát các hoạt động của Chấp hành viên, của các tổ chức, các cơ quan và mọi công dân trong cưỡng chế thi hành án dân sự

Góp phần làm rõ thêm các chủ trương, chính sách của nhà nước, đặc biệt là chủ trương xây dựng nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều phải chấp hành các quy định của pháp luật

Tất cả mọi người tham gia việc cưỡng chế thi hành án đều phải chấp hành một

cách nghiêm chỉnh và triệt để, không phân biệt giữa người này hay người khác

1.3 Điều kiện, phương thức cưỡng chế thi hành án dân sự

1.3.1 Quy định về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên

Quy định về Chấp hành viên

Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, có nhiệm vụ, quyền hạn như sau [57, tr.11]:

1 Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành

án theo thẩm quyền

2 Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên

Trang 10

3 Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án

4 Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án

5 Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án

6 Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật

7 Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm

8 Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác

9 Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ

10 Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín

Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong thi hành án dân sự [57, tr.78]: Thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước; Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự; Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự; Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành án dân sự

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ

Trang 11

Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự theo quy định của Chính phủ

Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây [57, tr.7]: Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự; Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự; Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự; Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên; Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự; Thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống

tổ chức thi hành án dân sự; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm

cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự; Tổng kết công tác thi hành án dân sự; Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án dân sự; Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành

án dân sự

Các Bộ, Ngành Trung ương có trách nhiệm phối phối hợp với Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân

sự, chỉ đạo các cơ quan thuộc hệ thống quản lý của mình phối hợp trong công tác thi hành

án dân sự theo quy định của pháp luật [57, tr.78 - tr.83]

Trong phạm vi quyền hạn do pháp luật quy định, Ủy ban nhân dân các cấp, Tư lệnh quân khu và tương đương có trách nhiệm phối hợp chỉ đạo và tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực thi chính sách, pháp luật về thi hành án dân sự; chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tốt việc quản lý hoạt động thi hành án dân sự trên địa bàn [57, tr.81]

1.3.2 Quy định về thẩm quyền áp dụng và tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Chấp hành viên có quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án; Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương

sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác

Trang 12

Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa

vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp người phải thi hành

án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng

kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án

Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương

Trong trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương ít nhất là 05 ngày làm việc trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại Khoản 1 Điều 172, Khoản 2 Điều 173 và Khoản 2 Điều 174 của Luật Thi hành án dân sự [57, tr.81]

1.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân

sự

1.4.1 Năng lực thực thi công vụ của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên thi hành án dân sự

Trang 13

Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh Tư pháp do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật

Được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự

Hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ Chấp hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động tác nghiệp của đội ngũ Chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Nếu áp dụng pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc thì sẽ không đạt được hiệu quả, kết quả như mong muốn, mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục [38] Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin Chấp hành viên phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để có thể áp dụng pháp luật một cách năng động, linh hoạt, khéo léo Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của Chấp hành viên thi hành án dân sự, về cơ bản, bao gồm các yếu tố như trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật; ý thức pháp luật nghề nghiệp; kỹ năng nghiệp vụ công tác; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

1.4.2 Ý thức pháp luật của các bên liên quan trong cưỡng chế thi hành án dân sự

Ý thức chấp hành pháp luật thể hiện qua thái độ tự giác, tự nguyện thi hành án, tự thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi nhận, thể hiện ý chí và

sự mong muốn của các bên

Kết quả của tự nguyện thi hành án là tiền đề, cơ sở và là căn cứ để Chấp hành viện

áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu đương sự không tự nguyện thi hành án Chủ thể của tự nguyện thi hành án không chỉ là người được thi hành án, người phải thi hành án, mà còn có thể là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Trường hợp nếu các bên không có ý thức tự giác, tự nguyện thi hành án, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, thì Chấp hành viên buộc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là hết sức cần thiết, bảo đảm công lý được thực thi, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tuy nhiên, nó cũng có

Trang 14

thể làm tốn kém thời gian, chi phí, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương

1.4.3 Sự phối hợp của các bên liên quan trong cưỡng chế thi hành án dân sự

Hoạt động thi hành án dân sự liên quan đến nhiều hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chức năng khác, đòi hỏi các cơ quan này phải tham gia giải quyết theo chức năng, nhiệm vụ được giao thì mới có thể xử lý được các vấn đề liên quan đến thi hành án dân sự, như: hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp, Văn phòng, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và môi trường trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hoạt động của cơ quan Thuế trong việc tính thuế, nghĩa vụ tài chính đối với tài sản thi hành án; hoạt động của cơ quan Công an trong bảo vệ cưỡng chế, khởi tố vụ án hình sự về tội không chấp hành án, tống đạt tài liệu, trả giấy tờ, tài sản cho phạm nhân, trích xuất phạm nhân là người phải thi hành án để Chấp hành viên làm việc trực tiếp; hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp trong xét xử, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trang 15

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Để công tác thi hành án dân sự đạt được hiệu quả, thì không thể thiếu các biện pháp cưỡng chế thi hành án, là các biện pháp mạnh, sử dụng quyền lực nhà nước, thể hiện tính nghiêm khắc, nghiêm minh của pháp luật, giữ vững kỷ cương phép nước, bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại Việc nghiên cứu các biện pháp cưỡng chế thi hành án sẽ giúp làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí, vai trò của cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên; xác định rõ hơn trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động thi hành

án dân sự, cũng như công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

Trang 16

Chương 2

THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

2.1 Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự

2.1.1 Quy định về thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự

Theo quy định tại Điều 70 Luật THADS căn cứ để tổ cức cưỡng chế thi hành án

gồm: “Bản án, quyết định; Quyết định thi hành án; Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án”

Để lựa chọn biện pháp cưỡng chế phù hợp với tính chất vụ việc, tương ứng với nghĩa

vụ thi hành án, trước khi ban hành quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh đầy đủ, chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, hoàn cảnh gia đình, nhân thân và nguồn thu nhập của người phải thi hành án Sau khi Chấp hành viên đã quyết định cưỡng chế và xây dựng kế hoạch cưỡng chế thì cần thực hiện công tác chuẩn bị cưỡng chế

- Họp bàn cưỡng chế, trên cơ sở nội dung, tình huống của kế hoạch cưỡng chế

đã được Chấp hành viên xây dựng và đề xuất, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự mời các các cơ quan, đơn vị phối hợp cưỡng chế, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp họp bàn cưỡng chế, phổ biến kế hoạch cưỡng chế và phân công nhiệm phối hợp cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, đồng thời lắng nghe ý kiến đóng góp của

các cơ quan phối hợp để hoạn thiệt kế hoạch cưỡng chế

Theo quy định tại thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT – BTP – BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp – Bộ Công an; quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án, Cơ quan công an có trách nhiệm chủ trì trong việc xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm phối hợp

để xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế sát với tình hình vụ việc, đạt yêu cầu đặt ra

- Chấp hành viên chủ động liên hệ thuê phương tiện, xe cứu thương, xe đưa đón

đoàn cưỡng chế đi làm nhiệm vụ … thuê nhân công, mua vật liệu cần thiết

Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự được quy định tại chương VIII của Luật THADS và được quy định chi tiết tại Nghị định

số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ S ử a đ ổ i , b ổ s u n g m ộ t s ố điề u của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và

Trang 17

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự Lãnh đạo Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk phải tham mưu cho UBND tỉnh Đắk Lắk thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo thi hành án dân sự, theo đó Ban chỉ đạo thi hành án dân sự có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo công tác thi hành án dân sự trên địa bàn toàn tỉnh và chỉ đạo công tác phối hợp thi hành án trên địa bàn thành phố, thị xã, huyện đặc biệt là chỉ đạo phối hợp cưỡng chế đối với những vụ việc có tính chất phức tạp có ảnh hưởng đến an ninh, tật tự của địa phương

Thủ tục cưỡng chế thi hành án là một công đoạn trong quá trình tổ chức thi hành

án, trong đó cưỡng chế thi hành án là công việc phức tạp nhất, trải qua nhiều giai đoạn:

Sau khi hết thời hạn tự nguyện THA, người có thẩm quyền THA xem xét, cân nhắc lựa chọn biện pháp cưỡng chế được quy định tại điều 71 Luật THADS để ra quyết định cưỡng chế, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án

- Lập kế hoạch cưỡng chế: Trước khi tiến hành cưỡng chế THADS, người có

thẩm quyền THA phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay hoặc không huy động lực lượng

Việc thông báo quyết định cưỡng chế được thực hiện theo quy định chung về thông báo thi hánh án quy định tại điều 39, 40, 41, 42 của Luật THADS và được hướng dẫn tại điều 12 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều c ủa Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự

- Tiến hành cưỡng chế: Người có thẩm quyền THA công bố quyết định cưỡng

chế, giải thích các quy định có liên quan, chủ trì điều hành toàn bộ quá trình cưỡng chế, kịp thời xử lý mọi tình huống đã dự kiến trong kế hoạch và tình huống phát sinh

diễn ra trong quá trình cưỡng chế cho đến khi kết thúc việc cưỡng chế

Giai đoạn 1: Xác minh tài sản

Việc xác minh phải theo đúng quy định tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự [57, tr.26], Điều 9 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ S ửa đổi, bổ sung một số điề u của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính

Trang 18

phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự [26, tr.6] và Điều 3 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng dất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký Sau khi kê biên, Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để

xử lý theo quy định của pháp luật

Chấp hành viên phải thực hiện đầy đủ công tác xác minh điều kiện thi hành án và

số lượng tài sản cần kê biên, trong đó khâu quan trọng nhất là phải làm rõ quyền sở hữu tài sản riêng, tài sản chung đồng sở hữu của người phải thi hành án mà cơ quan thi hành

án được quyền kê biên

Giai đoạn 2: Thông báo cưỡng chế kê biên

Thông báo là thủ tục đặc biệt quan trọng và được thực hiện xuyên suốt trong quá trình tổ chức thi hành án Nếu vi phạm thủ tục thông báo, kết quả thi hành án có thể bị hủy bỏ

Chấp hành viên phải gửi quyết định cưỡng chế cho Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án

Giai đoạn 3: Kê biên tài sản

Khi kê biên nếu đương sự vắng mặt thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình

Khi kê biên nhà ở, công trình kiến trúc mà phải mở khoá, phá khoá thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý mở khoá; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá, phá khoá, trong trường hợp này phải có người làm chứng

Khi kê biên tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp thì phải lưu ý việc kê biên trong trường hợp này chỉ được thực hiện khi người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, và giá trị của tài sản

đã thế chấp phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nhận thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp biết về việc kê biên [57, tr.48]; khi xử lý

Trang 19

tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật thi hành án dân sự

Khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nêu trên mà xảy ra trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ bảo đảm thì Chấp hành viên thông báo với các bên liên quan, đương sự để dừng việc xử lý tài sản, nếu xác định đương sự vẫn không có tài sản khác để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì làm thủ tục trả đon yêu cầu thi hành án

Khi kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ, kể cả trường hợp tài sản đó chỉ mới được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên vẫn có quyền ra Quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ

ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản

để thi hành án Khi kê biên tài sản đang cho thuê thì cần lưu ý người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết [57, tr.48]

Khi kê biên tài sản là vốn góp của người phải thi hành án, chấp hành viên yêu cầu

cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó [57, tr.48] Trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án Đương sự cũng có quyền yêu cầu Toà án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án

Chấp hành viên phải thực hiện việc kê biên đối với tất cả tài sản khi tiến hành xử lý

kể cả trường hợp Tòa án tuyên phát mãi để thi hành án mà nay các được sự tụ thỏa thuận

về giá để đưa tài sản ra bán đấu giá, ngọai trừ trường hơp bản án, quyết định đã kê biên

2.1.2 Quy định về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự

Biện pháp bảo đảm thi hành án:

Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm [57, tr.38]:

- Phong tỏa tài khoản;

- Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Khấu trừ tiền trong tài khoản:

Việc cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác

Trang 20

hoặc kho bạc nhà nước Trước khi ra quyết định cưỡng chế, Chấp hành viên cần tiến hành xác định số tiền của người phải thi hành án trong tài khoản tại ngân hàng, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng trên cơ sở các tài liệu thông tin do Chấp hành viên xác minh, thu thập hoặc do người được thi hành án cấp Cụ thể:

Tiến hành thu thập thông tin về số tài khoản, nơi mở tài khoản, số dư hiện có trong tài khoản có thể là tài khoản cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội của người phải thi hành án Luật THADS đã quy định trách nhiệm của kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng trong THADS là phải cung cấp đúng, đầy

đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu cầu của Chấp hành viên

Trường hợp người phải thi hành án là pháp nhân thì để thu thập được số tài khoản thì trước hết, Chấp hành viên lấy thông tin qua mạng về Giấy phép đăng ký kinh doanh qua cổng thông tin của Sở kế hoạch và Đầu tư cấp Tỉnh hoặc trực tiếp gửi công văn đến Phòng đăng ký kinh doanh Qua đó để nắm thông tin về tên doanh nghiệp, mã số thuế, địa chỉ trụ sở, ngành nghề kinh doanh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp… Từ đó để xác minh tên doanh nghiệp qua Cục thuế cấp tỉnh; cũng có thể qua người được thi hành án và đối tác của công ty để biết được số tài khoản Các hành vi này của Chấp hành viên không trái pháp luật và được pháp luật cho phép Khi được yêu cầu, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp các thông tin cấn thiết về tài khoản của người phải thi hành án cho Chấp hành viên

Khi xác định người phải thi hành án có tiền gửi hoặc có tiền trong tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc thì Chấp hành viên lập biên bản về tình trạng tiền trong tài khoản của người phải thi hành án tại ngân hàng, kho bạc nhà nước,

tổ chức tín dụng khác và ra quyết định khấu trừ tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án Theo quy định tại Khoản 1, Điều 76 Luật THADS: “…Số tiền khấu trừ không vượt quá nghĩa vụ thi hành án và cho phí cưỡng chế thi hành án”

Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế phải gửi cho người được thi hành án, người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ tiền giấy tờ có giá của người phải thi hành án Đồng thời Chấp hành viên yêu cầu thủ trưởng cơ quan, tổ chức, người thứ ba và bản thân người phải thi hành án có trách nhiệm phải thực hiện quyết định cưỡng chế

Theo quy định tại khoản 2 Điều 76 Luật THADS thì khi nhận được quyết định

Trang 21

cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án ở ngân hàng, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng khác thì cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm khấu trừ ngay tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan THADS hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ

Nếu áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án phong tỏa tài khoản thì sau khi khấu trừ tài khoản của người phải thi hành án thì việc phong tỏa tài khoản sẽ chấm dứt (Điểm b, khoản 1, Điều 77 Luật THADS) [41, tr.33]

Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế cần thiết để Chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành án Tại ngành thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án đối với 150 vụ việc thi hành án/năm, qua đó Chấp hành viên đã giải quyết dứt điểm vụ việc Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi vẫn còn những khó khăn tồn tại: Khó khăn từ việc phối hợp của các tổ chức tín dụng trong việc xác minh điều kiện thi hành

án, theo quy định tại Điều 11 Luật THADS các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp, thực hiện các yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên

Ngoài ra, khi đã xác minh được tài khoản, thu nhập của người phải thi hành

án thì khó khăn vẫn chưa hết Các tổ chức tín dụng sẽ viện dẫn Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để từ chối cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án Nếu cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên kiên quyết xác minh thì các đơn vị này cung cấp một cách hạn chế Sau khi đã thu thập thông tin về tài khoản của người phải thi hành án thì các ngân hàng lại viện lý do số tiền lớn, phải xin ý kiến của hội sở hoặc viện lý do bảo vệ khách hàng nên trì hoãn việc thực hiện quyết định

Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một bộ phận là cán bộ, công chức, viện chức, hưu trí, trong một số trường hợp Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án đối với cán bộ, công chức, viện chức, hưu trí là người phải thi hành án Quá trình Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án cho thấy đây

là biện pháp cưỡng chế ít phức tạp, không cần huy động lực lượng, ít có sự chống đối quyết liệt của người phải thi hành án, nhưng việc tổ chức thi hành án thường

Trang 22

kéo dài nhiều tháng, nhiều năm và cũng có khó khăn nhất định, khó khăn lớn nhất của biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án và nhận thức, trách nhiệm của cơ quan liên quan Một

số trường hợp, người đang thi hành án chuyển chỗ ở, chuyển nơi công tác khiến

cơ quan THADS mất thời gian thông báo đến nơi ở, nơi công tác mới và các thủ tục phải bắt đầu lại từ đầu; chưa kể trường hợp người phải thi hành án cố tình trốn tránh nghĩa vụ, công tác THADS gặp khó khăn Người sử dụng lao động từ chối cơ quan THADS vì lý do bảo vệ cho người lao động của mình hoặc đơn giản chỉ vì chưa có tiền lệ Bên cạnh đó, tại Điều 78 Luật THADS quy định khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập không quá 30% đối với tiền lương, đối với các thu nhập khác nhưng phải đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người phải thi hành án Những bất cập này làm cho không ít hồ sơ thi hành án tồn đọng, không thi hành được mặc dù người phải thi hành án có tiền lương hưu, tiền trợ cấp hàng tháng tại bảo hiểm xã hội

Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án:

Biện pháp trừ vào thu nhập được quy định tại khoản 2 Điều 71 và Điều 78 Luật THADS Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập: Người THA có thu nhập thực tế và không tự nguyện thi hành; Theo thỏa thuận của đương sự hoặc Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án hoặc Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án: Việc xác minh điều kiện thi hành án [41, tr.19]: Để trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải xác minh, thu thập của người phải thi hành án có phải

là thu nhập hợp pháp không, nguồn nhập có từ đâu, mức thu nhập là bao nhiêu, có ổn định không, cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lí thu nhập của người phải thi hành án…

Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc theo thỏa thuận của các đương sự hoặc bản án, quyết định đã được ấn định trừ vào thu nhập hoặc tài sản của người phải thi hành án không lớn thi Chấp hành viên chỉ cần tiến hành xác minh người phải thi hành án có thu nhập thường xuyên hay không

Chấp hành viên cần tập trung vào xác định: tổng số tiền thu nhập hàng tháng

là bao nhiêu, trong đó xác định tiền lương, tiền công, tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất

Trang 23

sức lao động là bao nhiêu và khoản thu nhập hợp pháp khác nếu có; đồng thời xác minh ai là người đang trực tiếp quản lí các nguồn thu

Trong trường hợp người phải thi hành án có mức lương hoặc mức thu nhập thấp chỉ để bảo đảm cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và gia đình; không có tài sản nào khác tại thời điểm xác minh hoặc tuy có tài sản nhưng tài sản có giá trị nhỏ không đủ để thi hành án, thì Chấp hành viên đề nghị với Thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự ra quyết định việc chưa có điều kiện thi hành án theo quy định tại Điều 44a Luật THADS

Ra quyết định và thi hành quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành

án [41, tr.19]: Quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 71, Điều 78 Luật THADS [41, tr.44] Thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành

án là việc tổ chức giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí thu nhập của người phải thi hành án thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành án để thi hành án Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan BHXH nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác khi nhận được quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập phải có nhiệm vụ thực hiện quyết định đó theo đúng nội dung đã quyết định

Sau khi khấu trừ thu nhập, cơ quan, tổ chức, cá nhân nêu trên có nghĩa vụ chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự số tiền đã khấu trừ để chi trả cho người được thi hành án

Tỉnh Đắk Lắk là địa phương sản suất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong có cấu kinh tế, nguồn thu nhập chủ yếu của người dân từ sản xuất nông nghiệp, trồng cây

cà phê, cây hồ tiều, cây điều, cây cao su … do đó nguồn thu nhập không ổn định, mang tính thời vụ, vì vậy việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án ngoài những điều kiên áp dụng được Luật thi hành án dân sự quy định còn

bị hạn chế do đặc điểm nguồn thu nhập của người dân địa phương

Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ

ba giữ

Qua thực tiễn công tác cho thấy, biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ là biện pháp được áp dụng chủ yếu trong 06 biên pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa tỉnh Đắk Lắk đây

Trang 24

cũng là biện pháp cưỡng chế phức tạp, trình tự, thủ tục kê biên, xử lý tài sản có nhiều bước, nhiều giai đoạn chặt chẽ và bên cạnh đó người phải thi hành án thường xuyên có sự chống đối quyết liệt, có trường hợp gia đình người phải thi hành án dùng bình ga, xăng tự thủ trong nhà để chống đối việc cưỡng chế, do đó đòi hỏi Chấp hành viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, có nhiều kinh nghiệp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng xử lý tình huống và cẩn trọng trong tác nghiệp Tuy vậy, quá trình tổ chức kê biên, xử lý tài sản Chấp hành viên cũng gặp

một số khó khăn từ quy định của pháp luật như:

Khó khăn do đương sự cố tình kéo dài thời gian thi hành án bằng cách yêu cầu định giá lại tài sản kê biên, tại địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk có những vụ việc kèo dài nhiều năm (trên 5 năm) do đương sự yêu cầu định giá lại theo quy định tại Điều 99, Điều 104 của Luật thi hành án dân sự năm 2008, đến nay tuy Điều 99, 104 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm

2014, nhưng cũng chưa triệt để, cụ thể là: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 99

của Luật THADS quy định:

Như vậy, quyền yêu cầu định giá lại được thực hiện sau khi kê biên, định giá tài sản cho đến trước khi thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản

Khó khăn trong việc kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nhưng quyền

sử dụng đất không phải của người phải thi hành án, thực tiễn tại thành phố Buôn

Ma Thuột có những vụ việc Bản án, quyết định của Tòa án chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, không kê biên quyền sử dụng đất của người khác có nhà ở, công trình gắn liền trên đất hoặc quá trình tổ chức thi hành án thì Chấp hành viên chỉ

kê biên nhà ở của người phải thi hành án, không kê biên quyền sử dụng đất của người khác có nhà ở, công trình gắn liền trên đất, do đó quá trình xử lý tài sản cưỡng chế kê biên gặp nhiều khó khăn và giá trị nhà ở, công trình xây dựng của người phải thi hành án định giá hàng tỷ đồng nhưng bán không có người đăng ký đấu giá, kết quả

hạ giá nhiều lần và chỉ bán với giá rất thấp so với định giá ban đầu

Lý do dẫn đến tình trạng trên là do quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn, nên Chấp hành viên không đủ căn cứ để kê biên quyền sử dụng đất không phải của người khác có công trình xây dựng của người phải thi hành án gắn liền trên

đất Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật thi hành án dân sự quy định “Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở

Trang 25

Đây là một quy định mập mờ, nước đôi, không dứt khoát mà đến nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, vi vậy gây khó khăn cho việc áp dụng biện pháp kê biên,

xử lý tài sản, đặc biệt nhiều trường hợp làm giảm giá trị tài sản của người phải thi

hành án

Khó khăn trong việc kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người

thứ ba giữ, theo quy định tại Điều 91 Luật thi hành án dân sự:

Nhưng trong thực tế khi áp dụng quy định này thì Chấp hành viên gặp khó khăn trong trường hợp người thứ ba giữ tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án nhưng họ không chấp hành quyết định của Chấp hành viên, họ không giao nộp tiền, giấy tờ có giá Trong trường hợp này Chấp hành viên không thể khám người, khám nhà người thứ ba để thu hồi tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án, vì pháp luật không cho phép, đặc biệt theo quy định tại Điều 70 Luật THADS thì căn cứ tổ chức cưỡng chế thi hành án gồm có 03 căn cứ là: Bản án, quyết định; Quyết định thị hành án; Quyết định cưỡng chế Như vậy, qua phân tích như trên thì việc tổ chức cưỡng chế đối với người thứ ba theo quy định tại Điều 91 Luật THADS là chưa đủ căn

cứ để tổ chức cưỡng chế

Một số khó khăn nữa là: Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Luật THA dân

sự thì “Khi kê biên quyền sử dụng đất, chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành

án, người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự” [41, tr.42] Nhưng phát sinh tình huống: Sau khi có được

giấy tờ về quyền sử dụng đất Cơ quan thi hành án đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tiến hành tách thửa đất để thi hành án nhưng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai từ chối với lý do diện tích đất nhỏ, không đủ diện tích tối thiểu để được tách thửa cấp giấy chứng nhận, hoặc trường hợp người phải thi hành án, người đang quản lý giấy chứng nhận không nộp lại giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, Cơ quan thi hành án đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ và cấp mới cho người nhận tài sản, người mua trúng đấu giá tài sản, nhưng tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013 không có quy định về trường hợp thu hồi theo đề nghị của cơ quan thi hành án với lý do cơ quan thi hành án không thu được giấy cũ Do vậy, một số trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người

nhận tài sản thi hành án, người mua trúng đấu giá gặp khó khăn

Trang 26

Luật Thi hành án dân sự quy định một trong những biên pháp cưỡng chế thi hành

án đó là kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ

ba giữ khi xác định người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án [57, tr.48]

Về nguyên tắc, cơ quan thi hành án chỉ được quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án của họ theo bản án, quyết định của Tòa

án Do đó, cơ quan Thi hành án dân sự không thể kê biên tài sản của người khác để đảm bảo các nghĩa vụ của người phải thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Theo Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy

tờ có giá và các quyền tài sản”

Những tài sản của người THA không được kê biên: Điều 87 Luật THADS

quy định tài sản không được kê biên gồm: “Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức

Quy định về cưỡng chế kê biên tài sản: Tại khoản 3 Điều 71 Luật THADS quy

định một trong những biên pháp cưỡng chế thi hành án đó là “Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ” Điều kiện để cơ

quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là hết thời gian tự nguyện thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật THADS (10 ngày) và người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế (khoản 1 Điều 46) Về nguyên tắc, cơ quan thi hành án chỉ được quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án của họ theo bản án, quyết định của Tòa án Do đó, cơ quan thi hành án không thể kê biên tài sản của người khác để đảm bảo các nghĩa vụ của

người phải thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và tránh việc cơ quan thi hành án tùy tiện trong việc kê biên tài sản của người phải thi hành

án, tại khoản 1, Điều 13 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều c ủa Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015

Trang 27

của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự, quy định: Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn nhiều lần

so với nghĩa vụ thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản; tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên

xử lý để thi hành án hoặc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này

Trường hợp đương sự, người đang quản lý, sử dụng, bảo quản tài sản không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên

tổ chức cưỡng chế mở khóa, mở gói; buộc ra khỏi nhà, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất hoặc các biện pháp cần thiết khác để kiểm tra hiện trạng, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản hoặc giao tài sản cho cá nhân, tổ chức khác bảo quản theo quy định của pháp luật

Trường hợp sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế mà không thực hiện được việc giao bảo quản đối với tài sản theo quy định tại Điều 58 Luật Thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp,

hỗ trợ bảo quản trong thời gian chưa xử lý được tài sản.”

Như vậy, trước khi kê biên tài sản của người phải thi hành án Chấp hành viên phải tính toán các khoản chi phí cưỡng chế với các nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành để tiến hành kê biên tài sản tương ứng với nghĩa vụ Tuy nhiên, trên thực tế tài sản bị kê biên không phải lúc nào cũng bán đấu giá được ngay mà thông thường cơ quan thi hành án phải tiến hành giảm giá một số lần thì mới bán được tài sản dẫn đến chi phí bán đấu giá tăng, lãi phát sinh do chậm thi hành án tăng nên số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản không đủ thanh toán cho chi phí cưỡng chế

và các nghĩa vụ thi hành án, từ đó phát sinh khiếu nại của người được thi hành án

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án và tránh trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung với người khác, người phải thi hành án

có tài sản nhưng do người khác đang giữ hoặc người phải thi hành án tặng cho, cầm cố thế chấp hoặc chuyển nhượng tài sản của mình cho người khác để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành án đã có quy định một số trường hợp cụ thể

Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung:

Trang 28

Tại khoản 2 Điều 24 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều c ủa Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cách thức cụ thể cho Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng tài sản của thành viên trong hộ gia đình

Về thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định chưa rõ, chưa đáp ứng được yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án, do đó trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, theo đó thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án được quy định tại khoản 9 Điều 27 và điểm a khoản 2 Điều 35

Về thẩm quyền thụ lý giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định chưa rõ, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản

bị cưỡng chế để thi hành án, do đó trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, theo đó thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án được quy định tại khoản 12 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35

Việc kê biên tài sản của người phải thi hành án đã chuyển nhượng cho người khác:

Tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điề u của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự, quy định:

“1

a) Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền

sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự

Trang 29

Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự và có văn bản thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

b) Trường hợp có các giao dịch khác liên quan đến tài sản mà không chuyển giao quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người khác thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản để thi hành án Quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia giao dịch được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và các quy định của pháp luật

Việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp:

Tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điề u của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự, quy định:

Trên thực tế quy định này thường bị các đương sự, chủ yếu là người phải thi hành án, lợi dụng để yêu cầu định giá lại để kéo dài thời gian thi hành án Do đó, để hạn chế bất cập nêu trên, tại khoản 2 Điều 99 luật THADS quy định:

Về việc bán đấu giá tài sản:

Theo quy định tại Điều 101 Luật THADS thì tài sản kê biên được bán thông qua hai hình thức là bán đấu giá hoặc bán không qua thủ tục đấu giá, đồng thời quy định rõ trường hợp nào thì bán đấu giá, trường hợp nào bán không thông qua thủ tục bán đấu giá cũng như trường hợp nào thì việc bán đấu giá phải thông qua tổ chức bán đấu giá và trường hợp nào thì Chấp hành viên tiến hành bán đấu giá Đối với tài sản là động sản có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên và bất động sản thì việc bán đấu giá do tổ chức bán đấu giá thực hiện

Nghị định số 17/2010/ NĐ-CP quy định về bán đấu giá tài sản để thi hành án

Trang 30

như sau: Hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ chức bán đấu giá tài sản và người có tài sản bán đấu giá hoặc người đại diện của người đó (khoản 1, Điều 25); tài sản để thi hành án thì hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa chấp hành viên có thẩm quyền xử lý tài sản đó với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (điểm a, khoản 1, Điều 26); Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá được ký kết giữa tổ chức bán đấu giá tài sản và người mua được tài sản bán đấu giá

Trong quá trình thực hiện các quy định trên về bán đấu giá tài sản, nhiều trường hợp cơ quan thi hành án đã phó mặc việc bán tài sản cho các tổNếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Việc định giá tài sản kê biên:

Để có căn cứ thực hiện việc bán đấu giá tài sản thì phải xác định được giá của tài sản Việc định giá tài sản kê biên được quy định tại Điều 98 Luật THADS và Điều

26 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ S ử a đ ổ i , b ổ sung một số điề u c ủa Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, quy định: Theo đó giá của tài sản kê biên do các đương sự thỏa thuận với nhau tại, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau thì giá đó được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá Các đương sự cũng có quyền thỏa thuận với nhau về tổ chức thẩm định giá và Chấp hành viên thực hiện việc ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá do các đương

sự thỏa thuận lựa chọn (tổ chức thẩm định giá có thể ở trong hoặc ngoài địa bàn tỉnh nơi có tài sản kê biên) Chỉ khi hết thời hạn 05 ngày làm việc các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giá hoặc tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên mới tiến hành ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh nơi có tài sản kê biên Trong trường hợp không ký được hợp đồng với tổ chức thẩm định giá hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ dưới 10.000.000 đồng thì Chấp hành viên

có quyền xác định giá

Để đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự thì tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự quy định rõ đương sự có quyền đề nghị định giá lại tài sản kê biên trong các trường hợp: Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai

Trang 31

Việc bán đấu giá tài sản:

Tổ chức bán đấu giá, việc ký hợp đồng bán đấu giá giữa các cơ quan thi hành án

với tổ chức bán đấu giá chưa chặt chẽ, nhất là điều khoản liên quan đến việc thanh toán tiền bán tài sản dẫn đến đa số tổ chức bán đấu giá lợi dụng để giữ lại tiền bán đấu giá trong thời gian dài nhằm hưởng lợi, cá biệt còn có một số tổ chức bán đấu giá chiếm đoạt tiền bán đấu giá tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của cơ quan thi hành án Để khắc phục trình trạng nêu trên, tại khoản 3 Điều 27 Nghị định

số 33/2020/NĐ-CP ngày 1 7 / 3 / 2 0 2 0 của Chính phủ S ử a đ ổ i , b ổ s u n g m ộ t s ố điề u của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, quy định: Trường hợp trong cùng một cuộc đấu giá mà có nhiều tài sản được đấu giá để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu tổ chức đấu giá thực hiện việc đấu giá theo thứ tự từ tài sản

có giá trị lớn nhất Trường hợp số tiền thu được đã đủ để thi hành nghĩa vụ và các chi phí theo quy định thì không tiếp tục đấu giá các tài sản còn lại

Bên cạnh đó, do việc bán đấu giá tài sản không phải lúc nào cũng thu được kết quả, do đó, Điều 104 Luật THADS quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản

Theo quy định tại Điều 104 của Luật Thi hành án dân sự thì khi mà giá của tài sản giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành

án Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều tài sản đã thực hiện việc giảm giá đến hơn 10 lần, thậm chí đến 20 lần hoặc cá biệt có trường hợp bán đến hơn 30 lần nhưng chưa bán được tài sản, việc giảm giá quá nhiều lần mà không bán được tài sản đã kéo dài thời gian tổ chức thi hành án và cũng không phản ánh đúng giá trị thật của tài sản và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự Do đó, Điều 104 quy định là sau 02 lần giảm giá nếu người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết

Theo quy định tại Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản thì hợp đồng bán mua bán tài sản đấu giá được ký giữa người mua được tài sản và tổ chức bán đấu giá Đây là hợp đồng dân sự, người phải thi hành án không tham gia vào hợp

Trang 32

đồng này nhưng người phải thi hành án luôn tìm cách trì hoãn việc giao tài sản bằng cách khởi kiện để yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá Do vậy để đảm bảo quyền lợi của người mua được tài sản bán đấu giá, tại Điều 102 Luật THADS quy định chỉ

có người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản

Khai thác tài sản của người phải thi hành án:

Biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án được quy định tại Điều

107, Điều 108, Điều 109 luật THADS

Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản; (2) Người khai thác tài sản quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết; (3) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án

Những năm qua ngành thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk chưa có vụ việc nào áp dung biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án, dự kiến trong năm 2020 sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản đối với Công ty TNHH cao su Đắk Lắk, tài sản khai thác là mủ cây cao su Do việc thu mủ, quản lý và bán

mủ do Công nhân của Công ty TNHH cao su Đắk Lắk thực hiện, do đó áp dung biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản đối với tài sản là mủ cây cao su rất khó khăn, phức tạp Để đạt được hiệu quả khi áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của Công

ty TNHH cao su Đắk Lắk, tôi cho rằng Chấp hành viên cần phải thực hiện các thủ tục:

Bố trí kho tập kết mủ, từ đó quản lý khối lượng mủ thu về; tiếp theo Chấp hành viên

ký thoả thuận giữa Chấp hành viên, Công ty TNHH cao su Đắk Lắk, người thu mua

mủ, theo đó toàn số tiền bán mủ phải được chuyển vào tài khoản tại Ngân hàng được lập trước; tiếp theo Chấp hành viên ký thoả thuận giữa Chấp hành viên, Công ty TNHH cao su Đắk Lắk và Ngân hàng nơi mở tài khoản để người mua mủ chuyển tiền vào, theo đó các bên cam kết trích phần trăm để Công ty TNHH cao su Đắk Lắk nộp thuế, trả chi phí quản lý và nhân công…, số tiền còn lại từ việc khai thác mủ hàng tháng chuyển tài khoản của Cơ quan thi hành án dân sự để chi trả cho người được thi

hành án

Trang 33

Hiện nay các văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản chưa còn hạn chế, do đó Chấp hành viên khó áp dụng cũng như gặp nhiều

trở ngãi từ phía khách quan

Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ:

Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ là một trong những biện pháp không phức tạp, nhưng lại rất khó khăn khi áp dụng điều luật này vào thực tiễn, theo thống kê trên địa tỉnh Đắk Lắk từ năm 2016 đến tháng 6 năm 2020 Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức cưỡng chế 15 việc chuyển giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại buổi cưỡng chế Chấp hành viên tiếp tục động viên, thuyết phục nhưng người phải thi hành án cũng không giao nộp, do đó Chấp hành viên đã công

bố Quyết định cưỡng chế yêu cầu người phải thi hành án chấp hành quyết định cưỡng chế

và đồng thời đại diện chính quyền địa phương vận động, thuyết phục nhưng người phải thi hành án cũng không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Chấp hành viên

đã lập biên bản về việc tổ chức cưỡng chế không thành và lập hồ sơ đề nghị UBND thành phố Buôn Ma Thuột hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được thi hành án theo quy định tại Điều 106,

Điều 116 Luật THADS

Qua vụ việc cưỡng chế như nêu trên cho thấy hiệu quả của biên pháp cưỡng chế chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ phụ thuộc vào sự chấp hành của người phải thi hành án, trường hợp người phải thi hành án chống đối, không tự nguyện hoặc che dấu hoặc hủy hoại giấy tờ, Chấp hành viên không thể nào lấy được giấy tờ trả lại cho người được thi hành án Trong trường hợp này Chấp hành viên căn cứ vào tình hình thực tế

mà xử lý: Đối với giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại, trong trường hợp này thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy

giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án

Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định:

Điều kiện áp dụng BPCC Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định: Ngoài những điều kiện chung về áp dụng BPCC, điều kiện riêng khi áp dụng BPCC này là Chấp hành viên đã ra quyết định phạt tiền nhưng người phải thi hành án vận không chấp hành án Trong trường hợp này, người phải thi hành án có thể bị Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ

Trang 34

luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án hoặc bị Chấp hành viên áp dụng các biện pháp để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành

Hàng năm, ngành thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định từ 30

vụ việc, biện pháp thường hay áp dụng nhất là buộc giao người chưa thành niên cho người khác nuôi dưỡng Biện pháp này mang tính đạo đức và nhân văn rất cao

Bên cạnh khó khăn từ việc người phải thi hành án chống đối, các quy định pháp luật cũng có nhiều bất cập Biện pháp cưỡng chế buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định được quy định tại Điều 118, Điều 119, Điều 120, Điều 121 của Luật thi hành án dân sự, điểm chung cả bốn điều luật đều yêu cầu Chấp hành viên trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì phải ra quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn để người phải thi hành án tự nguyện thực hiện

Chấp hành viên có thẩm quyền xử phạt đến 500.000 đồng, Chi cục trưởng có thẩm quyền xử phạt đến 2.500.000đồng Trong khi đó các hành vi không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản

án quyết định có mức phạt tiền từ 3.000.000đồng đến 5.000.000đồng, vời mức phạt này thuộc thẩm quyền xử phạt của Cục trưởng không phải của Chấp hành viên Việc quy định không hợp lý như trên đã làm cho Chấp viên không thể ra quyết định phạt tiền theo quy định của Điều 118, Điều 119, Điều 120, Điều 121 của Luật thi hành án dân sự, Chấp hành viên muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải chấp nhận vi

phạm áp dụng thẳng biện pháp cưỡng chế, bỏ qua quyết định phạt tiền

2.1.3 Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong cưỡng chế thi hành án dân sự

Về khiếu nại và giải quyết khiếu nại:

Trang 35

Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình [57, tr.67]

Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó

Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian

có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền

Về tố cáo và giải quyết tố cáo:

Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi

vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [57, tr.73]

Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết

Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày

Trang 36

Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại,

tố cáo Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội và tổ chức bộ máy thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk ảnh hưởng thi hành án dân sự

2.2.1Điều kiện kinh tế xã hội ở tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai; Phía đông giáp các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà; Phía nam giáp các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông; Phía tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Đắk Lắk năm 2019 đạt 9,23%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ, xây dựng làm nồng cốt cho tăng trưởng, huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 33.795 tỷ đồng

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp từng bước được chuyển biến theo hướng đa chuyên sâu, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ, sản xuất bền vững theo chuỗi, sản xuất nông nghiệp sạch theo chuẩn vietGAP, Ogarnit …

Đến nay, hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới chủ động cho 80,5% diện tích cây trồng

có nhu cầu tưới; giao thông nhựa hóa, bê tông hóa đường tỉnh lộ đạt hơn 96%, đường huyện lộ 88%, đường liên xã 60,7%; có 99% thôn, buôn có điện và 99% số hộ được sử dụng điện; 92,5% dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh

Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội (số liệu năm 2019) đạt và vượt kế hoạch đề ra cụ thể: tổng thu ngân sách nhà nước đạt 6.910 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 49 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 giảm 3,46%, giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 9,35%; công tác bảo đảm an sinh xã hội được chú trọng; có 52 xã đạt chuẩn nông thôn mới Các hoạt động văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

có nhiều chuyển biến tích cực Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, Quốc phòng - An ninh được tăng cường

Tuy nhiên, nền kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk bộc lộ một số hạn chế, khuyết điểm như giá một số mặt hàng nông sản chủ lực như cà phê, hồ tiêu, cao su của tỉnh giảm thấp, khó tiêu thụ Tình hình thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp

An ninh trật tự trên một số địa bàn, lĩnh vực có thời điểm xảy ra phức tạp Việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, mâu thuẫn trong nhân Phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những khó khăn, hạn chế trong năm 2019 Năm 2020 tỉnh Đắk Lắk phấn đấu tăng

Trang 37

trưởng kinh tế đạt 11% Tuy nhiên, hiện nay do tình hình dịch bệnh Co vid 19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế năm 2020, cụ thể là khó có khản năng đạt được như kế hoạch đề ra Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ, công nghiệp-xây dựng, nông-lâm nghiệp bền vững Thu ngân sách Nhà nước khoảng 8.480 tỷ đồng Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 650 USD Thu nhập bình quân đầu người đạt 54,6 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,36%-4,49%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS giảm từ 4%-4,5%; giải quyết việc làm cho 30.200 lao động; 61 xã đạt chuẩn nông thôn mới, có một đến hai đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới

Bên cạnh kết quả mà tỉnh Đắk Lắk đạt được tỉnh Đắk Lắk vẫn là tỉnh nghèo, nhiều tiềm năng, thế mạnh vẫn chưa được khai thác; đời sống của nhân dân, nhất là nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào DTTS vẫn còn gặp nhiều khó khăn, số hộ nghèo vẫn còn cao Vì vậy, Đắk Lắk cần đề ra các giải pháp có tính đột phát, đổi mới, phát huy nội lực

để thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra Trong đó, quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, huy động các nguồn lực trong và ngoài tỉnh

để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, nhất là chế biến nông, lâm sản, năng lượng tái tạo như điện năng lượng mặt trời, điện gió; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững, hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung Việc phát triển kinh

tế phải gắn với công tác bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, gia đình chính sách; phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, chú trọng giảm nghèo nhanh và bền vững Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

2.2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy thi hành án dân sự ở tỉnh Đắk Lắk

Hệ thống Thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk gồm có Cục Thi hành án dân sự tỉnh và 15 Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, thực hiện chức năng thi hành án dân sự, có nhiệm vụ giúp Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan thi hành

án dân sự địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Cơ cấu bộ máy tổ chức của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk gồm có 05 phòng chuyên môn và tương đương thuộc Cục, gồm:

Trang 38

1) Văn phòng

2) Phòng Tổ chức cán bộ

3) Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự

4) Phòng kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo

5) Phòng Tài chính – Kế toán

Tính đến thời điểm hiện nay, toàn ngành Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk được Tổng cục Thi hành án dân sự giao 186 biên chế (đã thực hiện 186/186 biên chế được giao), trong đó Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk được giao 34 biên chế, các Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc được giao 152 biên chế (nguồn: báo cáo kết quả công tác thi hành án dân sự 06 tháng đầu năm năm 2020, [28, tr.6]

Cơ cấu đội ngũ công chức của ngành gồm 121 nam, 65 nữ, trong đó, 163 người có trình độ đại học, 02 người có trình độ cao đẳng, 21 người có trình độ trung cấp

Về trình độ chính trị, 01 người có trình độ cử nhân giáo dục chính trị, 20 người có trình độ cao cấp lý luận chính trị

Toàn ngành có 35 Chấp hành viên Trung cấp, 61 Chấp hành viên sơ cấp, 08 Thẩm tra viên, 43 Thư ký thi hành án, 03 Thư ký trung cấp thi hành án, 03 chuyên viên, 18 kế toán, 15 công chức khác nhân viên

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý gồm có Cục trưởng, 03 Phó Cục trưởng, 05 Trưởng phòng, 07 Phó trưởng phòng và tương đương, 15 Chi cục trưởng và 28 Phó Chi cục trưởng

Trước khi tìm hiểu về kết quả tổ chức thi hành án ở tỉnh Đắk Lắk, để thuận lợi cho việc theo dõi các nội dung liên quan đến số liệu thống kê kết quả thi hành án được nêu trong phần này, tác giả thông tin về cách tính thống kê kết quả thi hành án dân sự như sau:

1 Việc thi hành án dân sự: Mỗi quyết định thi hành án được tính là một việc

2 Việc cưỡng chế: Mỗi quyết định cưỡng chế thi hành án được tính là một việc cưỡng chế

3 Việc có điều kiện thi hành:

4 Việc chưa có điều kiện thi hành:

Việc chưa có điều kiện thi hành được xác định là trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án theo quy định tại Điều 44a của Luật Thi hành án dân sự [57, tr.27],

Trang 39

5 Việc thi hành xong:

Kết quả tổ chức thi hành án dân sự giai đoạn 2016 – tháng 6/2020 của tỉnh Đắk

Lắk đạt được cụ thể như sau (Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác thi hành án dân sự năm

2016, 2017, 2018, 2019, tháng 6/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk)

- Kết quả thi hành án về việc:

Năm 2016: Tổng số việc còn phải thi hành là 17.448 việc, trong đó: 14.819 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 84,93%) và 2.629 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 15,07%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 12.276 việc, đạt tỷ lệ 82,84%

Năm 2017: Tổng số việc còn phải thi hành là 18.602 việc, trong đó: 14.769 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 80,11%) và 3.666 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 19,89%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 12.507 việc, đạt tỷ lệ 84,68%

Năm 2018: Tổng số việc còn phải thi hành là 19.931 việc, trong đó: 15.166 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 76,78%) và 4.587 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 23,22%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 13.044 việc, đạt tỷ lệ 86,01%

Năm 2019: Tổng số việc còn phải thi hành là 19.665 việc, trong đó: 14.540 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 74,45%) và 4.990 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 25,55%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 11.383 việc, đạt tỷ lệ 78,29%

06 tháng năm 2020: Tổng số việc còn phải thi hành là 13.113 việc, trong đó: 11.021 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 84,05%) và 2.092 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 15,95%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 7.092 việc, đạt

tỷ lệ 64,35%

- Kết quả thi hành án về tiền:

Năm 2016: Tổng số phải thi hành 1.098.639.914.000 đồng, trong đó: kết quả xác minh, phân loại: 906.852.835.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 82,54%) và 191.787.079.000 đồng; chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 17,46%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 359.095.578.000 đồng, đạt tỷ lệ 39,60%

Năm 2017: Tổng số phải thi hành 1.813.762.577.000 đồng, trong đó: kết quả xác minh, phân loại: 895.048.365.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 51,87%) và

Trang 40

830.390.387.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 48,13%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 438.300.496.000 đồng, đạt tỷ lệ 48,97%

Năm 2018: Tổng số phải thi hành 1.705.763.787.000 đồng, trong đó: kết quả xác minh, phân loại: 737.857.583.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 47,76%) và 809.834.678.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 52,33%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 349.121.354.000 đồng, đạt tỷ lệ 47,32%

Năm 2019: Tổng số phải thi hành 1.771.294.064.000 đồng, trong đó: kết quả xác minh, phân loại: 794.212.990.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 45,29%) và 959.394.231.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 54,71%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 265.505.560.000 đồng, đạt tỷ lệ 33,43%

06 tháng năm 2020: Tổng số phải thi hành 1.416.519.886.000 đồng, trong đó: kết quả xác minh, phân loại: 836.878.202.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 59,08%) và 579.641.684.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 40,92%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 151.448.606.000 đồng, đạt tỷ lệ 18,10%

Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn và nhất là bất cập về trình tự, thủ tục thi hành

án dân sự, nhưng toàn Ngành Thi hành án dân sự của tỉnh đã nỗ lực, phấn đấu khắc phục mọi khó khăn, tích cực đẩy mạnh các mặt công tác và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ

Nhưng thực tế số lượng việc tồn cần phải giải quyết hàng năm vẫn còn một số lượng lớn Có nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình trạng án tồn đọng kéo dài không thi hành được, một trong những nguyên nhân là quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế, xử lý tài sản thi hành án, bên cạnh mặt tích cực cũng có những hạn chế nhất định dẫn đến án tồn đọng như tài sản kê biên, bán đấu giá, hạ giá nhiều lần bán không thành, thủ tục kê biên, xử lý tài sản chung phức tạp, kéo dài; đương sự cố tình dây dưa; khi kê biên pháp luật yêu cầu phải kê biên tương ứng nhưng khi xử lý thì giá trị tài sản bị hạ giá nhiều lần nên không đủ để thi hành án, chấp hành viên lại phải tiếp tục kê biên; thời gian cho việc cưỡng chế, xử lý tài sản phải phải mất hàng năm

do vậy số vụ việc cưỡng chế tồn chưa xử lý xong chuyển từ năm này sang năm khác dồn lại là một số lượng đáng kể Theo số liệu của biểu số 2 cho thấy, số quyết định cưỡng chế không nhiều nhưng số việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế nhiều, do

án chùm, một người phải thi hành án phải thi hành nhiều nghĩa vụ, thi hành cho nhiều người; qua phân tích trong số quyết định cưỡng chế thi hành án hàng năm thì tỷ lệ áp

Ngày đăng: 24/12/2020, 13:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm