Trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao thì công tác kiểm sát điều tra vụ án về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân tỉ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH PHI HẢI
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Đắk Lắk - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH PHI HẢI
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Mã số: 8380102
Người hướng dẫn: TS Hoàng Thị Quỳnh Chi
Đắk Lắk - 2020
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài“Áp dụng pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của viện kiếm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk” là đề tài
nghiên cứu độc lập của riêng tôi, được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá các số liệu tại tỉnh Đắk Lắk Các số liệu là trung thực và chưa được công
bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào khác
Đắk Lắk, ngày 25 tháng 8 năm 2020 Người cam đoan
Huỳnh Phi Hải
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Viện Hàn Lâm Khoa Học
Xã Hội Việt Nam – Học Viện Khoa Học Xã Hội cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn
TS Hoàng Thị Quỳnh Chi, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến, góp ý của các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 25 tháng 8 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Huỳnh Phi Hải
Trang 5iii
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 8 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN
LÝ KINH TẾ 8
1.1 Khái quát chung về vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và vai trò của VKS trong giải quyết vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 8 1.2 Tổng quan về pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 18 1.3 Khái quát chung về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của VKS 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40 CHƯƠNG 2 42 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 42
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Đắk Lắk tác động đến việc giải quyết các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 42 2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại tỉnh Đắk Lắk 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56 CHƯƠNG 3 58
Trang 6iv
MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 58
3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Viện kiểm sát 58
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của VKS 61
3.3 Một số kiến nghị 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7e
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, trước sự thay đổi, phát triển của các điều kiện kinh tế- xã hội, tình hình các loại tội phạm nói chung có nhiều diễn biến phức tạp Đặc biệt là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước có chiều hướng gia tăng Điều này gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân, tác động, ảnh hưởng xấu đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, đến tình hình an ninh kinh tế của đất nước Tính chất của tội phạm này cũng ngày càng tinh vi, phức tạp, gây khó khăn trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao thì công tác kiểm sát điều tra vụ án về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đảm bảo các hoạt động khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan sai người vô tội góp phần giữ vững ổn định xã hội để phát triển kinh
tế và bảo vệ pháp chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bên cạnh đó, nhận thức được tính chất quan trọng của hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Viện kiểm sát nhân dân
Nhằm loại trừ, giảm bớt những bất cập, khó khăn và vướng mắc trên; đồng thời từng bước hoàn thiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát điều tra các vụ án trật tự kinh tế nói riêng và các tội phạm khác nói chung thì cần thiết phải tiến hành nghiên cứu về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế những năm gần đây (giai đoạn 2014- 2019), nhiều vấn đề về mặt lý luận cũng như thực tiễn cần tìm hiểu kỹ càng Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là nơi có sự phát triển và gia tăng
về tội phạm này trong thời gian vừa qua Tội phạm này có sự xuất phát từ những tội phạm nguồn gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc gia tăng tỷ lệ tội phạm về trật tự quản
lý kinh tế Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu những năm gần đây, các tội lại ít được nghiên cứu đầy đủ và cụ thể Việc xác định rõ nguyên nhân, điều kiện phạm
Trang 9Với ý nghĩa như vậy, việc học viên Huỳnh Phi Hải chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của viện kiếm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk ” làm đề tài luận văn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án XPTTQLKT nói riêng và các vụ án hình sự nói chung Giai đoạn điều tra vụ án cần phải làm rõ hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi pham tội, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết
vụ án, từ đó làm cơ sở cho việc truy tố và xét xử các bị can, bảo đảm đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Do đó, đòi hỏi hoạt động KSDT cũng phải đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật, việc áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT phải chặc chẽ, chính xác, nghiêm minh, kịp thời Vì vậy, đây là vấn đề thu hút nhiều nhà lý luận và nhiều nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu Việc nghiên cứu vấn đề này đã được thể hiện trong nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và một số giáo trình giảng dạy về pháp luật như:
- Sách chuyên khảo, các bài viết liên quan đến bảo vệ áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT, bị can trong pháp luật tố tụng hình sự như:
+ “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền”, do GS.TSKH Lê Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia, Hà
Trang 103
Nội, 2004;
+ “Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam” của TS Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2010; + “Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự” của TS Trần Quang Tiệp, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005;
+ “Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp, Nxb.Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004;
+ “Bình luận khoa học BLHS, phần các tội phạm”, tập VI, các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, của tác giả Đinh Văn Quế
+ Đề cương giáo trình “Đặc điểm tội phạm học của tội phạm về trật tự quản lý kinh 5 tế, chức vụ và giải pháp phòng chống” của TS Phạm Quang Phúc (Đào tạo cao học - Chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm) năm 2015
* Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia:
+ “Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đọan xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”
do GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, PGS.TS Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), Hà Nội, 2004;
+ “Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật” do GS.TSKH Lê Văn Cảm (chủ trì), Hà Nội,2013;
* Luận án tiến sĩ luật học:
- “ PGS.TS.Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Bảo vệ áp dụng pháp luật KSĐT các vụ
án XPTTQLKT bằng pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế
Trang 114
Nguyễn Thị Thu Hương năm 2013;
Luận án Tiến sĩ của tác giả Bùi Minh Thanh: “Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay” (năm 2003) Qua khảo sát, cho thấy: nhiều công trình đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò, các chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong KSĐT các vụ án XPTTQLKT và thông qua các giai đoạn trong tố tụng hình sự; có những nghiên cứu ban đầu về việc thực hiện nhiệm vụ, vai trò bảo vệ quyền của bị can của Viện kiểm sát ở những địa phương cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống việc thực hiện vai trò bảo vệ quyền của bị can trong hoạt động kiểm trát điều tra vụ án hình sự tại tỉnh Đắk Lắk
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phân tích làm rõ những vấn đề vướng mắc, bất cập của pháp luật và hạn chế, tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật về KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế; Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
- Những vấn đề lý luận về pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án XPTTQLKT
Trang 12Luận văn nghiên cứu hoạt động KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, thực trạng thực hiện công tác này nhằm tạo cơ sở đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ
án về trật tự quản lý kinh tế nói riêng và các vụ án hình sự nói chung tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk nói riêng trong giai đoạn hiện nay
Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm 2016 đến năm 2019, tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và cải cách tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động KSĐT các vụ án XPTTQLKT; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để nêu lên cơ sở lý thuyết về hoạt động KSĐT các vụ án XPTTQLKT và đánh giá, khái quát thành những quan điểm, luận điểm làm nền tảng lý luận cho luận văn
Trang 136
- Phương pháp thống kê: tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở chương
2 của luận văn, các số liệu thu thập, điều tra được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng qua đó đánh giá về thành tựu, hạn chế để đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề một cách cụ thể trong quá trình áp dụng trong thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về chức năng KSĐT các vụ án XPTTQLKT tại tỉnh Đắk Lắk trong thực tế Luận văn góp một phần bổ sung những thiếu sót mà các công trình nghiên cứu trước chưa đề cập đến về chức năng KSĐT của VKSND về các vụ án XPTTQLKT và thực tiễn tại một địa phương cụ thể
* Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án XPTTQLKT ở tỉnh Đắk Lắk, giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:
Luận văn góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận cơ bản về chức năng, nhiệm vụ, đưa ra các tiêu chí đánh giá và nghiên cứu lý luận về vai trò của VKSND trong KSĐT các vụ án XPTTQLKT
Đưa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chức năng KSĐT của VKSND các cấp ở tỉnh Đắk Lắk thời gian tới
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để những người trực tiếp hoạt động trong ngành kiểm sát nhân dân, đặc biệt là những Kiểm sát viên cấp huyện ở tỉnh Đắk Lắk tham khảo để có hướng nâng cao năng lực góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng công việc, làm cơ sở khoa học phục vụ cho việc học tập của sinh viên chuyên và những ai quan tâm đề tài, gợi mở hướng nghiên cứu để những người tâm huyết đi sâu vào tìm hiểu Đồng thời nó giúp những cán bộ, kiểm sát viên trực tiếp làm về chức năng, nhiệm vụ của KSV trong thực tế có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò, tầm quan trọng nhiệm vụ mình được giao
Trang 147
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương, cụ thể:
- Chương 1: Những vấn đề chung về áp dụng pháp luật về kiểm sát điều tra
các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
- Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra
các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
- Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế
Trang 158
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH
TẾ
1.1 Khái quát chung về vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và vai trò của VKS trong giải quyết vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Trật tự quản lý kinh tế là những quy định của Nhà nước về chế độ, nguyên tắc, chính sách trên các lĩnh vực sản xuất, lưu thông kinh doanh hàng hóa, quản lý tài chính, tiền tệ, tài nguyên, quản lý đấu tranh phòng ngừa tội phạm và bảo vệ rừng… Các tội XPTTQLKT đã xâm phạm đến các lĩnh vực quản lý kinh tế của Nhà nước, gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
Các tội XPTTQLKT được Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS 2015) quy định
có 3 nhóm tội: Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm; các tội khác XPTTQLKT Người phạm tội là cá nhân, tổ chức, pháp nhân có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế ở các mức độ khác nhau với mục đích vụ lợi, tùy theo từng tội danh Hành vi phạm tội được thể hiện có thể là dạng hành động hoặc không hành động và đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân hoặc cho từng ngành, lĩnh vực nhất định Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý
Hiện nay, chưa có một khái niệm pháp lý nào quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Trong một số giáo trình thì đề cập đến khái niệm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được đề cập tương đối đơn giản, cụ thể:
Giáo trình Luật hình sự - trường đại học Luật Hà nội, nhà xuất bản Công an nhân dân 2016 ghi nhận: Các tội phạm xâm phạm quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân thông qua các vi phạm, các quy định trong QLKT
Trang 169
Giáo trình Luật hình sự - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội ghi nhận: Các tội phạm xâm phạm quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một các cố ý hoặc vô ý, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân
Tuy nhiên, tác giả cho rằng các khái niệm trên xây dựng trên cơ sở khái niệm chung của tội phạm và tên gọi chung của nhóm tội Đồng thời, phản ánh mối quan
hệ một cách khái quát nhất các quan hệ xã hội có cùng tính chất bị hành vi, vi phạm xâm hại Lý do cơ bản dẫn đến hạn chế này, theo chúng tôi là do chưa làm rõ được nội hàm khách thể loại của tội phạm, hay thuật ngữ “trật tự quản lý kinh tế” Các thuật ngữ “trật tự quản lý kinh tế”, “cơ chế quản lý kinh tế”, “quan hệ quản lý kinh tế” đều gắn với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việc quy định các tội XPTTQLKT và trách nhiệm hình sự đối với các tội XPTTQLKT là xuất phát từ trật
tự quản lý kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế, quan hệ quản lý kinh tế và rộng hơn là chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước bị hành vi phạm tội xâm hại đáng kể Tuy nhiên, qua việc vi phạm các chế độ, chính sách quản lý kinh tế, nền kinh tế đất nước, lợi ích của Nhà nước, của các chủ thể kinh tế và lợi ích của người tiêu dùng đều bị xâm hại
Trong Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Chí Công – Trách nhiệm hình sự đối với các tội XPTTQLKT năm 2016 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia đã đưa ra
khái niệm sau: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm quản
lý kinh tế của Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân
Như vậy, nếu xuất phát từ hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có thể phát biểu khái niệm các tội XPTTQLKT như sau: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là các hành vi, vi phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý kinh tế, xâm phạm cơ chế Nhà nước quản lý, vận hành nền kinh tế, gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế, lợi ích của Nhà nước, các chủ thể kinh tế và người tiêu dùng Nếu
Trang 1710
xuất phát từ khái niệm chung về tội phạm và khách thể loại (nhóm) của tội phạm, có
thể phát biểu khái niệm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như sau: Các tội XPTTQLKT là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách có lỗi, xâm hại các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý, vận hành nền kinh tế giữa các cơ quan quản lý Nhà nước
về kinh tế và các chủ thể kinh tế
1.1.2 Vai trò của VKS trong giải quyết vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Theo quy định của pháp luật, VKSND được giao thực hiện hai chức năng: Thực hiện Quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Hai chức năng này vừa có tính độc lập tương đối, vừa quan hệ chặt chẽ, tác động quan lại, bổ sung lẫn nhau, không tách rời nhau Chính đặc điểm đó đã tạo nên tính thống nhất trong chức năng của VKSND Ở Việt Nam, VKS là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Hoạt động kiểm sát điều tra được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra vụ
án hình sự
Viện kiểm sát có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, pháp chế, bảo đảm thực hiện chức năng KSĐT các vụ án XPTTQLKT Việc bảo đảm thực hiện chức năng KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự được thể hiện trên hai phương diện:
Một là, đấu tranh chống tội phạm, phát hiện kịp thời để đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật đối với người phạm tội xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có các quyền của con người
Hai là, bảo đảm các quyền của con người (của người bị tình nghi, bị can, người bị kết án) không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng và đảm bảo hoạt động điều tra được diễn ra đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo quyền và lợi ích cửa các bên có liên quan
Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát sẽ bảo đảm thực hiện chức năng KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thông qua các giai đoạn sau:
Trang 1811
Bảo đảm thực hiện chức năng KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế, qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp Luật trong việc điều tra các vụ án hình sự xâm phạm hoạt động điều tra; Bảo đảm thực hiện chức năng KSĐT các vụ
án XPTTQLKT thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các
vụ án hình sự
Kiểm sát điều tra hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
để thực hiện việc kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự được thực hiện một cách công bằng, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Thông qua hoạt động của VKSND nói chung thì thực hiện chức năng KSĐT các vụ án XPTTQLKT thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự mà cụ thể được ghi nhận tại BLTTHS 2015 và Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố, điều tra và truy tố của Viện
Trưởng VKSNDTC ban hành kèm theo Quyết định số 111 ngày 17/4/2020
Hiến pháp năm 1959 ra đời đã ghi nhận VKSND là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã ghi nhận VKSND có nhiệm vụ:
"Điều tra những việc phạm pháp về hình sự, truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan công an và của CQĐT khác; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của các trại giam ".[36]
Điều này cho thấy, từ khi mới thành lập VKSND đã có trách nhiệm quyết định việc kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt nam, Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND có những bước tiến và có những thay đổi căn bản về nội dung Nhưng chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKS vẫn
Trang 19
Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật TCVKSND 2014 thì VKS thực hiện cả chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Quốc hội đã giao cho VKS thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trong phạm vi được Quốc hội giao cho Việc Quốc hội giao cho VKS thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội trước đây và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp hiện nay là xuất phát từ chỗ VKS do cơ quan lập pháp cao nhất của Nhà nước là Quốc hội lập ra, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất và độc lập so với các cơ quan Nhà nước khác VKS là cơ quan không nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp và cơ quan xét xử Mặt khác, Quốc hội đã giao cho VKS thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật như nêu ở trên, còn xuất phát
từ nhu cầu và sự đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước, giữa các ngành, các cơ quan Nhà nước với nhau Thực tế đã chứng minh rằng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế,
xã hội từ năm 1960 đến năm 2014 và hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp từ năm 2014 đến nay đã có kết quả tốt, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và chấp hành pháp luật trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Trên thực
tế hoạt động kiểm sát hoạt động điều tra được quy định tại khoản 1 Điều 4 và Điều
15 Luật TCVKSND năm 2014 Hoạt động KSĐT đã được cụ thể hóa thông qua quy chế ban hành kèm Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2019 về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố Các khâu công tác này có quyền sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đã được pháp luật quy định để tác động đến
Trang 2013
hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Từ những phân tích trên cho thấy khâu công tác kiểm sát hoạt động điều tra
là một giai đoạn trong quá trình hoạt động nghiệp vụ của VKS trong các giai đoạn
tố tụng hình sự, nhằm thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành kiểm sát VKSND tỉnh Đắk Lắk đã quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của VKSND tối cao về “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”; theo đó, đã chú trọng việc nắm và quản lý về tình hình tội phạm; tăng cường kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, áp dụng các biện pháp theo luật định để chống bỏ lọt tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tích cực, chủ động tham gia sâu hơn, sớm hơn vào quá trình điều tra, bám sát các hoạt động điều tra để làm rõ tội phạm, cùng chịu trách nhiệm với cơ quan điều tra
về kết quả điều tra; kịp thời đưa ra các yêu cầu điều tra, chủ động cùng với cơ quan điều tra tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình điều tra Khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật
để chủ động thu thập và kiểm tra chứng cứ Nội dung điều tra các vụ án xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt - Tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố VAHS và quyết định việc khởi tố VAHS Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là các thông tin đầu tiên về tội phạm đến với cơ quan có thẩm quyền Đây là cơ sở đầu tiên để cơ quan có thẩm quyền xem xét xác định có phải là
vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt hay không để quyết định đưa hay không đưa
vụ việc vào giải quyết theo thủ tục TTHS Để đảm bảo tính chính xác, đòi hỏi các hoạt động liên quan đến việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của luật TTHS về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn và các yêu cầu pháp lý khác Sau quá trình kiểm tra, xác minh, tùy thuộc vào kết quả, cơ quan có thẩm quyền có thể ra các quyết định sau:
Trang 2114
+ Có đủ căn cứ xác định sự việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án
+ Có căn cứ xác định không có sự việc xảy ra hoặc có một trong các căn cứ
để không khởi tố VAHS theo quy định tại Điều 107 Bộ luật TTHS thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố VAHS và kết thúc về mặt TTHS đối với vụ việc
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong điều tra các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình điều tra các vụ
án XPSH có tính chất chiếm đoạt nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, không để các đối tượng trong vụ án bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án, nhưng đồng thời nó cũng liên quan đến các chiến thuật điều tra Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt bao gồm: Bắt người (với ba trường hợp bắt bị can bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã); Tạm giữ, tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Các biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng trước hoặc sau khi khởi tố vụ án Đây là các biện pháp có tính cưỡng chế nghiêm khắc, thường tác động đến các quyền cơ bản của con người, vì vậy khi áp dụng đòi hỏi phải đảm bảo tính có căn cứ, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục mà luật TTHS quy định Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn mang tính nghiệp vụ thể hiện thủ thuật, chiến thuật trong điều tra nhưng không được lạm dụng mà yêu cầu tiên quyết vẫn là phải đảm bảo tính pháp lý cho hoạt động này
- Tiến hành các biện pháp điều tra Sau khi quyết định khởi tố các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, Cơ quan điều tra sẽ bắt tay vào tiến hành các biện pháp điều tra Tùy tính chất từng vụ án và các tình huống xuất hiện khi khởi tố vụ
án mà thứ tự các biện pháp điều tra được tiến hành Nhưng nhìn chung tất cả các vụ
án XPSH có tính chất chiếm đoạt đều phải tiến hành một số biện pháp điều tra sau
để thu thập chứng cứ phục vụ quá trình chứng minh làm sáng tỏ vụ án
Trang 2215
+ Khám nghiệm hiện trường: Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành tại nơi xảy ra tội phạm hoặc tại nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện vật chứng, dấu vết của tội phạm và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết VAHS Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố VAHS Ngoài việc xác định, thu giữ dấu vết, vật chứng có liên quan đến vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt thì công tác khám nghiệm hiện trường còn phải xác định, ghi nhận những dấu vết phản ánh việc lục soát, chiếm đoạt tài sản, đặc điểm, chủng loại tài sản bị chiếm đoạt…Cá biệt trong những trường hợp kèm theo hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể có những hành vi phạm tội khác như giết người, gây thương tích thì công tác khám nghiệm hiện trường còn phải phát hiện, thu giữ dấu vết, vật chứng phản ánh về những hành vi phạm tội đó,
kể cả việc khám nghiệm tử thi (nếu có) Hoạt động khám nghiệm hiện trường phải được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định tại Điều 150 BLTTHS
+ Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đây là biện pháp điều tra bằng cách triệu tập và hỏi những người này các tình tiết liên quan đến vụ án nhằm làm rõ sự thật của vụ án Việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của Điều 133 đến 137 và các quy định khác
có liên quan của BLTTHS Lấy lời khai những người tham gia tố tụng này trong vụ
án XPSH có tính chất chiếm đoạt phải đặc biệt chú ý làm rõ thời gian, địa điểm xảy
ra tội phạm; số lượng, chủng loại, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt; nguồn gốc tài sản, những người biết được nơi cất giữ tài sản…
+ Khởi tố bị can và hỏi cung bị can: Khởi tố bị can là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố về hình sự một người khi có căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý cho các hoạt động điều tra và các biện pháp tố tụng khác để xử lý đối với người phạm tội theo đúng quy định của pháp luật Việc khởi tố bị can phải thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định tại các Điều 126, Điều 127, Điều 128 Bộ luật TTHS Sau khi có quyết
Trang 23+ Đối chất: Đối chất là biện pháp điều tra bằng cách tiến hành hỏi hai người cùng một lúc về cùng một vấn đề có liên quan đến vụ án nhằm làm rõ mâu thuẫn trong các lời khai của họ Việc đối chất có thể tiến hành giữa: Bị can với bị can; Bị can với người bị tình nghi, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; Giữa người bị hại với người làm chứng; Giữa những người làm chứng với nhau Hoạt động đối chất phải tiến hành theo đúng quy định Điều 138 BLTTHS
+ Nhận dạng: Nhận dạng là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách đưa người, vật, ảnh để người làm chứng, người bị hại, bị can quan sát nhận xét có đúng là đối tượng có liên quan đến vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt mà họ đã biết trước đây hay không Người nhận dạng có thể là người làm chứng, người bị hại,
bị can Đối tượng nhận dạng có thể là người sống (nhận dạng về hình dáng, tiếng nói), tử thi, đồ vật, súc vật, địa điểm, ảnh của các đối tượng này Hoạt động nhận dạng phải được tiến hành theo quy định tại Điều 139 BLTTHS
+ Khám xét: Khám xét là hoạt động điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát trên người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện thu giữ vật chứng, đồ vật tài liệu có liên quan đến
vụ án Khám xét là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đến việc đảm bảo bí mật thư tín, điện thoại, điện tín Việc khám xét chỉ được tiến hành khi có căn cứ luật định và phải có lệnh của người có thẩm quyền Hoạt động khám xét phải được tiến hành theo quy định tại các Điều 140, 141, 142,
143, Điều 145 và các quy định khác có liên quan của BLTTHS
+ Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện: Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện thì CQĐT ra lệnh thu giữ Lệnh này phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp không
Trang 2417
thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản và sau khi thu giữ phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp biết Việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện phải tiến hành theo Điều 144 BLTTHS
+ Thực nghiệm điều tra: Thực nghiệm điều tra là biện pháp điều tra bằng việc CQĐT tổ chức diễn lại hoặc làm thử một hành vi, sự việc, hiện tượng có liên quan đến việc điều tra làm rõ vụ án trong điều kiện tương tự như lời khai của bị can, người làm chứng, người bị tạm giữ, người bị hại hay giả thuyết điều tra của CQĐT
để xem hành vi, sự việc, hiện tượng đó có xảy ra hay không và như thế nào Khi tiến hành thực nghiệm điều tra phải tuân theo các quy định tại Điều 153 và các quy định khác có liên quan của BLTTHS
+ Trưng cầu giám định: Trưng cầu giám định là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm trưng cầu các cơ quan, tổ chức hoặc các nhà chuyên môn sử dụng tri thức khoa học vào việc nghiên cứu, xem xét, đối chiếu để kết luận về các vấn đề cần kết luận nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết VAHS Trong các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, hoạt động trưng cầu giám định thường là giám định tài sản bị chiếm đoạt Hoạt động trưng cầu giám định và giám định phải được tiến hành theo quy định tại các Điều 155 đến 159 Bộ luật TTHS
- Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra
+ Tạm đình chỉ điều tra: Tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với cả vụ án hoặc đối với một bị can khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội động giám định y khoa; khi chưa xác định được bị can hoặc không rõ bị can đang ở đâu hoặc chưa có kết luận giám định khi hết thời hạn điều tra (Điều 160 Bộ luật TTHS)
+ Kết thúc điều tra: Có hai hình thức kết thúc điều tra vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt: Đình chỉ điều tra: Hình thức này được tiến hành khi trong quá trình điều tra, CQĐT có căn cứ xác định không có sự việc phạm tội xảy ra, hành vi xảy ra không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc đã chết, hay hết thời hạn điều tra nhưng không
Trang 2518
chứng minh được bị can phạm tội Việc đình chỉ điều tra có thể là đình chỉ toàn bộ
vụ án hoặc đình chỉ điều tra đối với từng bị can Khi đình chỉ điều tra CQĐT làm bản kết luận điều tra, trong đó nêu rõ quá trình điều tra vụ án và căn cứ đình chỉ điều tra (Điều 164 Bộ luật TTHS) Đề nghị truy tố: Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật TTHS thì khi có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và những người phạm tội, CQĐT làm bản kết luận điều tra trong đó nêu rõ căn cứ khởi tố vụ án, các quyết định khởi tố bị can, trình bày diễn biến phạm tội của các bị can, các chứng cứ đã thu thập được chứng minh hành vi phạm tội của các bị can; Những ý kiến nhận xét và
đề xuất vụ án; Lý do và căn cứ đề nghị truy tố; Lý lịch của các bị can Kết luận điều tra do Thủ trưởng CQĐT ký, được chuyển cùng hồ sơ cho VKS và gửi cho các bị can.Hồ sơ VAHS được chuyển cho VKS đề nghị truy tố bị can trước pháp luật Hồ
sơ được đánh bút lục từ số 01 đến hết Khi chuyển hồ sơ sang VKS, CQĐT bàn giao
cả vật chứng cho VKS và phải lập biên bản bàn giao Mặt khác kiên quyết không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái pháp luật của Cơ quan điều tra, góp phần bảo đảm không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đã có chuyển biến rõ rệt
1.2 Tổng quan về pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nguồn của pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Xử lý các hành vi pháp luật và tăng cường KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế không chỉ là trách nhiệm của VKSND mà là của toàn xã hội Hoạt động KSĐT các vụ án XPTTQLKT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải được pháp điển hoá thành các quy phạm, các đạo luật Mặc dù vậy, hiện nay khái niệm
pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế vẫn còn những cách
hiểu khác nhau
Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc công
Trang 26phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như sau: Pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xử lý các tội phạm
về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khi các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT được cấu thành bởi hệ thống quy
phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các
Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành
Trên cơ sở đó, pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có
Trang 2720
hoạt động điều tra Tại Khoản 1 Điều 11 Luật tổ chức CQĐT hình sự 2015 quy định: “Viện kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của BLTTHS và Luật này; phải phát hiện kịp thời và yêu cầu, kiến nghị CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vu phạm pháp luật trong hoạt động điều tra.” BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sảt, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên nhằm nâng cao chức năng KSĐT Các chủ thể KSĐT đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình KSĐT các tội về XPTTQLKT là hoạt động của VKSND trong
tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bắt đầu từ khi có tố giác hành vi XPTTQLKT, tin báo về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hoặc kiến nghị khởi tố vụ án hình sự XPTTQLKT (có nguồn tin báo về tội phạm XPTTQLKT) và kết thúc thuộc một trong ba trường hợp đó là: Khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết nguồn tin báo về tội phạm XPTTQLKT; khi cơ quan
có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết thúc điều tra, ban hành kết luận điều tra đối với vụ
án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát để đề nghị truy tố các bị can
Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 khi KSĐT, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn đã được ghi nhận Với các quy định của Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì cơ quan có thẩm quyền KSĐT là Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động KSĐT của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua nhiệm vụ, quyền của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền pháp lý trong tố tụng hình sự Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể, chặt chẽ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra
Trang 2821
Để bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành tốt, Kiểm sát viên được phân công KSĐT phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, bám sát quá trình hoạt động của cơ quan điều tra nhằm kịp thời đưa ra các yêu cầu điều tra một cách toàn diện để đảm bảo quá trình điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc giải quyết
vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bên cạnh đó, để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thay đổi theo hướng tăng cường trách nhiệm của VKS khi kiểm sát điều tra các vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Điều 166 BLTTHS góp phần nhằm nâng cao chất lượng KSĐT vụ án hình sự nói chung, KSĐT vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được nhanh chóng, chống oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm Các chủ thể KSĐT đều phải chịu trách nhiệm trách pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra trong thực tế
+ Thứ hai, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT ở nước ta ra đời muộn hơn so với
một số lĩnh vực pháp luật khác Tuy rằng, khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm là tất yếu khách quan, cũng như yêu cầu luật hóa các công cụ pháp lý nhằm điều chỉnh việc thực hiện các biện pháp đấu tranh phòng ngừa tội phạm
+ Thứ ba, tuy rằng pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực luật pháp khác nhưng pháp luật
về KSĐT các vụ án XPTTQLKT đã có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn Cùng với sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về
chiến lược KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đã và đang được hoàn
thiện trên cả hai phương diện: Lý luận và thực tiễn Việt Nam đã đi đầu trong việc
xử lý các hành vi vi phạm, cụ thể hóa vấn đề KSĐT các vụ án XPTTQLKT thành chiến lược phát triển quốc gia… khẳng định không đánh đổi môi trường để lấy kinh
tế Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT cũng đứng trước những thách thức to lớn về đấu tranh phòng ngừa tội
Trang 2922
phạm và sự phát triển bền vững của Việt Nam trong thời đại mới
+ Thứ tư, pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung, vấn đề về kinh tế nói riêng Đặc biệt, pháp luật về KSĐT các vụ án XPTTQLKT ở nước ta có liên quan
mật thiết đối với nhiều lĩnh vực pháp luật khác như dân sự, kinh tế Hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung với mục tiêu là đấu tranh phòng ngừa tội phạm sống không chỉ riêng với đất nước ta mà còn là toàn cầu Nhà nước với vai trò
là chủ thể thay mặt nhân dân quản lý bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo phát triển nền kinh tế hoàn thiện, vững mạnh do vậy phải ban hành các quy phạm pháp luật nhằm quản lý xã hội trong đó có vấn đề KSĐT các vụ án XPTTQLKT Từ đó, cho thấy vai trò quan trọng của pháp luật KSĐT các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn đối với toàn cầu trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Nội dung áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của VKS
KSĐT vụ án hình sự là một nội dung thuộc chức năng Kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 LTCVKSND năm 2014: Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:
- Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại,
Trang 30- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh;
- Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
Kiểm sát điều tra là một trong số các nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Điều này có nghĩa là hoạt động điều tra là hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra là cơ quan tư pháp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là các chức danh tư pháp và mọi hoạt động theo Luật Tố tụng Hình sự của cơ quan và các chức danh này phải chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
“1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ
vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
2 Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật
3 Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra
4 Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết
Trang 3124
5 Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:
a) Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra
6 Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra
7 Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng
8 Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
9 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát điều tra vụ án hình
sự theo quy định của Bộ luật này.“
Kiểm sát điều tra là một trong số các nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Điều này có nghĩa là hoạt động điều tra là hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra là cơ quan tư pháp, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là các chức danh tư pháp và mọi hoạt động theo Luật Tố tụng Hình sự của cơ quan và các chức danh này phải chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát
Vấn đề đặt ra là: vậy Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng như thế nào và có quyền hạn, trách nhiệm đến đâu trong lĩnh vực này? Bộ luật Tố tụng hình sự, cho đến nay, vẫn chưa có những quy định cụ thể, khả thi cho phép Viện kiểm sát tiến hành các hành vi tố tụng và ra các quyết định tố tụng thích hợp phục vụ mục tiêu kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng Bù lại, Điều 168 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Cơ quan, tổ
Trang 3225
chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trường hợp không chấp hành mà không vì lý
do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.” Vận dụng quy định này và một số quy định khác như giải quyết khiếu nại, tố cáo; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; xem xét, cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa.v.v , Viện kiểm sát thực tế đã tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng
Điều 166 đặt trọng tâm vào việc kiểm sát hoạt động điều tra Theo điều luật này thì Viện kiểm sát kiểm sát ba loại công việc: khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, việc tiến hành các hoạt động điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra
Về khởi tố vụ án hình sự, Điều 161 đã quy định quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự Trước hết, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều bị khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp
Để đảm bảo việc khởi tố vụ án hình sự kịp thời, khách quan, chính xác và đúng pháp luật, trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, các cơ quan có quyền khởi tố (Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và cả Hội đồng xét xử) phải gửi quyết định khởi tố tới Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố Trường hợp quyết định khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan nói trên, trừ Hội đồng xét xử, không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố
đó Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử không có căn cứ thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Tòa án cấp trên Bên cạnh hoạt động kiểm sát việc khởi tố, Viện kiểm sát còn có trách nhiệm kiểm sát cả việc không khởi tố vụ án hình
sự Đây là hướng kiểm sát có vai trò quan trọng trong việc chống bỏ lọt tội phạm Các điều 157, 158 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định các căn cứ và thủ tục không khởi tố vụ án hình sự và đòi hỏi việc không khởi tố cũng phải được xác định bằng
Trang 3326
một quyết định tố tụng Và quyết định không khởi tố vụ án hình sự (cũng như quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan) phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan đó không có căn cứ thì Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án
Về kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát được thể hiện ở nhiều quy định khác nhau Trong quá trình kiểm sát hoạt động điều tra, việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cũng như kiểm sát việc khởi tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn: yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra
Cùng với việc tác động đến Cơ quan điều tra và Điều tra viên thông qua việc kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát còn có trách nhiệm kiến nghị với các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Để bảo đảm cho các kiến nghị của Viện kiểm sát có hiệu lực và hiệu quả, Điều 168 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định: những quyết định, yêu cầu của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự phải được cơ quan, tổ chức và công dân nghiêm chỉnh chấp hành Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát gắn với hoạt động kiểm sát điều tra là giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự, bằng các quy định cụ thể của mình, đã giải quyết khá toàn diện và cụ thể những vấn đề liên quan đến việc phân định thẩm quyền điều tra, song trong thực tế, những nhầm lẫn, tranh chấp về thẩm quyền điều tra vẫn thường xảy ra Bởi vậy, Viện kiểm sát, với tư cách là Cơ quan kiểm sát điều tra, đồng thời
giữ vai trò trung gian xử lý, ra quyết định cuối cùng giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra được quy định trong từng điều luật cụ thể
Trang 3427
1.3 Khái quát chung về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra vụ án
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của VKS
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra vụ án
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.3.1.1 Khái niệm
Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền
lực nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được Nhà
nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ
thể đối với cá nhân, tổ chức cụ thể Hoặc là hành vi của cơ quan nhà nước, cán bộ,
công chức có thẩm quyền hay một tổ chức được giao quyền để căn cứ vào quy định
của pháp luật nhằm giải quyết một trường hợp cụ thể
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật có những nét đặc thù
Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là bảo đảm cho những qui phạm pháp luật
được thực hiện triệt để trong đời sống thực tế Như vậy, có thể đưa ra khái niệm áp
dụng pháp luật như sau: Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật mang
tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
buộc người vi phạm phải thực hiện theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định
cụ thể đối với những vi phạm cụ thể
Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKSND là hoạt động áp
dụng các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức
VKSND và các văn bản hướng dẫn pháp luật có liên quan của cơ quan trong hoạt
động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo quy định pháp luật hiện hành
Hoạt động áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKSND được
thực hiện bởi Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, Kiểm sát viên nhằm buộc bị can phải
có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật trong thời gian điều tra vụ án hình
sự
Trong giai đoạn KSĐT vụ án hình sự về XPTTQLKT thì KSV thông qua các
chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đảm bảo các cơ quan thực hiện tố tụng
phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong giải quyết vụ án hình sự đối với các tội
Trang 3528
XPTTQLKT thực hiện theo quy định của luật nội dung là Bộ luật hình sự, căn cứ
quy định của Bộ luật hình sự để xử lý tội phạm từ đó lựa chọn áp dụng mức hình
phạt, loại hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị can Tại phiên tòa những
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cũng phải tuân thủ và thực hiện
đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, theo đó những
người tiến hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm có thẩm quyền áp dụng các quy định
của Bộ luật TTHS để buộc bị can phải thực hiện các nghĩa vụ của mình tại phiên
tòa
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế của VKSND như sau:
Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKSND là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền là VKSND với nội dung là kiểm sát các hoạt động
trong quá trình điều tra các vụ án hình sự để buộc người vi phạm (bị can) phải thực
hiện theo một trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra các tội XPTTQLKT có
nhằm răn đe giáo dục người phạm tội trở thành người tốt, đảm bảo trật tự án toàn xã
hội
1.3.1.2 Đặc điểm
Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án hình sự của VKSND là một trong những
hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho nên cũng
có những đặc điểm chung như của các loại hình áp dụng pháp luật khác Áp dụng
pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKSND xuất phát từ đối tượng xét xử,
đặc điểm của tội phạm nên cũng có những đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS có thẩm
quyền thực hiện nhân danh quyền lực nhà nước, nhân danh công lý nhằm bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của công dân, trừng trị thích đáng đối với người thực hiện hành
vi phạm tội
Hoạt động Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKSn có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong toàn bộ qúa trình giải quyết vụ án hình sự Thông
Trang 3629
qua các biện pháp điều tra của các cơ quan tố tụng nhằm hình thành nên kết quả điều tra, làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Việc xét xử tuân thủ đúng thủ tục luật định và các quy phạm pháp luật về nội dung về khung hình phạt, trách nhiệm dân sự
để giáo dục răn đe người phạm tội và phòng ngừa chung trong quàn chúng nhân dân nhằm giúp người dân hiểu được hành vi XPTTQLKT là hành vi vi phạm pháp luật, hành vi đó không những làm gia tăng hành vi phạm tội mà bản thân họ còn bị xử lý hình sự về các tội XPTTQLKT nếu có đầy đủ dấu hiệu phạm tội với mức hình phạt nghiêm khắc và phải bồi thường bồi hoàn về trách nhiệm dân sự đối với tài sản đó
Từ đó hạn chế các loại tội phạm xảy ra
Thứ hai: Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS được tiến hành tại giai đoạn điều tra
Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS góp phần thúc đẩy hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm được diễn ra một cách kịp thời Các
vụ án được Cơ quan điều tra giải quyết một cách hợp pháp, nhanh chóng để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội cần được giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được thực hiện trên thực tế Với tình hình tộiphạm ngày nay diễn ra ngày càng phức tạp, hoạt động áp dụng pháp luật hìnhsự của Cơ quan THTT không chỉ cần đáp ứng kịp thời nhucầu cấp bách của xã hội mà nó cần phải được thực hiện một cách công bằng, hợp pháp
Hoạt động áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra được biểu hiện tập trung ở kết quả là CQĐT kết thúc điều tra và đề nghị VKSND truy tố theo tội danh
Từ đó, góp phần răn đe, giáo dục công dân trong việc phòng, chống tội phạm Đồng thời, việc áp dụng pháp luật hình sự công khai cũng nói lên được tính khả thi của pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện từ phía cơ quan áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra là CQĐT
Thứ ba: Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS được thực hiện theo trình tự tố tụng do BLTTHS quy định
Ở mỗi giai đoạn tố tụng đều có những quy định về trình tự thủ tục khác nhau Sau khi thụ lý vụ án CQĐT được phân công phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để điều tra
Trang 3730
các hành vi phạm tội và VKSND tiến hành chức năng kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra không để căn cứ vào các quy định của pháp luật tương ứng nhằm ban hành quyết định có căn cứ và đúng quy định pháp luật
Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của BLTTHS là cơ sở, điều kiện bắt buộc để đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật hình sự được chính xác, khách quan Cho nên quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án phải vừa áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật về nội dung, vừa phải áp dụng đúng các quy phạm pháp luật về tố tụng mới đảm bảo cho việc ban hành bản án hợp pháp, đúng người, đúng tội đúng pháp luật, tránh trường hợp bị hủy sửa do oan sai, bỏ lọt tội phạm hay vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án Tuân thủ chặt chẽ về hình thức, thủ tục pháp lý về Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS có mục đích đảm bảo xác định được toàn bộ sự thật của vụ
án, đảm bảo cho việc ADPL chính xác, bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng, nhằm tránh sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ sở pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ Tính chặt chẽ về nội dung được thể hiện là mỗi điều luật áp dụng đòi hỏi sự chính xác về điểm khoản phù hợp với nội dung vụ án, nhân thân của bị can và trị giá tài sản, không có sự áp dụng pháp luật một cách tương tự cũng như suy diễn sự việc
Hoạt động ADPL hình sự đòi hỏi phải tuân thủ những yêu cầu nghiêm ngặt
từ quy trình áp dụng đến nội dung áp dụng xuất phát từ tính nghiêm khắc của chế tài pháp luật hình sự, từ yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, nhu cầu đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội theo trình tự chặt chẽ với những tiêu chuẩn nghiêm ngặt để thực hiện nhiệm vụ thường xuyên là giải quyết, xét xử các loại án XPTTQLKT theo thẩm quyền xét xử của Toà án
Thứ tư: Áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án XPTTQLKT là quá trình cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự
XPTTQLKT là tên một nhóm tội danh được quy định trong bộ luật hình sự,
Do vậy, việc điều tra các tội XPTTQLKTđòi hỏi phải có đủ căn cứ để buộc tội Từ
Trang 3831
đó có căn cứ xác định cá nhân, tổ chức phạm tội hay không, khung hình phạt cụ thể đối với từng vụ án, từng bị can để áp dụng hình phạt cụ thể với mỗi bị can phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội
Cơ quan THTT ội đồng xét xử căn cứ vào khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội để lựa chọn quyết định cho miễn trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng hình phạt phù hợp đối với bị can
Thứ năm: Áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS nhằm phòng ngừa, hạn chế các hành vi liên quan đến các tội phạm khác
Việc áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT của VKS mang ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Để áp dụng pháp luật một cách chính xác nhất đối với từng hành vi phạm tội và từng bị can đòi hỏi thẩm phán, hội đồng xét xử phải nghiên cứu thật kỹ hồ sơ vụ án, các chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập để từ đó đánh giá nhận định xem đối tượng đã cấu thành tội phạm XPTTQLKT chưa hay là đồng phạm với tội phạm của người thực hiện tội phạm hay họ không phạm tội để từ đó lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để ra quyết định đúng đắn đối với việc giải quyết vụ án
1.3.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của VKS
Để bảo đảm áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT thì những yếu tố tác động có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Cụ thể như sau:
Đấu tranh phòng ngừa tội phạm có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia, ngoài ra vì tính chất nhạy cảm của đấu tranh phòng ngừa tội phạm nên những vấn đề liên quan đến lĩnh vực này luôn có sự chỉ đạo sát sao, sự quan tâm cụ thể của Đảng và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Việc đưa ra đường lối chính sách về pháp luật áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT là điều cần thiết
Trang 3932
Trong tiến trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX chúng
ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quản lý chặt chẽ về vấn đề đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT nói riêng trong giai đoạn hiện nay
Thông qua việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, hiệu quả quản lý nhà nước về đấu tranh phòng ngừa tội phạm từng bước được tăng cường; chính sách pháp luật về đấu tranh phòng ngừa tội phạm ngày càng được hoàn thiện, nhất là trong vấn đề áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT trong giai đoạn hiện nay Đó là việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, nâng cao hiệu quả và trách nhiệm về áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT Đồng thời, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là cần kiện toàn về công tác quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nâng cao vai trò của các cơ quan Nhà nước trong quản lý, giải quyết các vấn đề về đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung đáp ứng với tình hình mới của đất nước Các cơ quan nhà nước phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đấu tranh phòng ngừa tội phạm Cơ chế giải quyết tranh chấp về đấu tranh phòng ngừa tội phạm cần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Tại nghị quyết hội nghị trung ương 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 11 quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục kế thừa những định hướng, chính sách pháp luật đấu tranh phòng ngừa tội phạm đã nêu trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách pháp luật về đấu tranh phòng ngừa tội phạm Đảm bảo sự quản lý thống nhất khi Nhà nước ta đang tích cực hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, trong đó có những bộ luật cơ bản nhằm bảo vệ KSĐT tội XPTTQLKT như: Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự,… thì việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bảo vệ KSĐT tội XPTTQLKT thông qua hoạt động xét xử và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong chức năng, nhiệm vụ của mình là điều rất cần thiết, cả về mặt lý luận và thực tiễn trên các địa
Trang 4033
phương nói riêng và cả nước nói chung trong giai đoạn hiện nay Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì việc hoàn thiện cơ chế giải quyết các vấn đề về tranh chấp đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và áp dụng pháp luật KSĐT các vụ
án XPTTQLKT nói riêng ở nước ta là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nên các quy định của pháp luật và thực hiện có hiệu quả những quy định này trong thực
tế
* Hệ thống quy định pháp luật
Yếu tố về hệ thống văn bản pháp luật: các quy định về trong quá trình thực hiện áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT cần được quy định rõ trong các văn bản pháp luật Hệ thống pháp luật về áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT cần đảm bảo quy định rõ ràng, chi tiết và có hướng dẫn cụ thể về phương thức, trình tự, thủ tục, chế tài, đảm bảo thực hiện bằng các công cụ như thế nào…Ngoài ra, hệ thống văn bản cần mang tính chất dự báo, các quy định mang tính chất điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh rộng và hiệu quả
Vấn đề áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT hiện nay đã và đang trở thành vẫn đề được các quốc trong khu vực và trên thế giới quan tâm, chú trọng Đối với vấn đề áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT nói nói riêng ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền và toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó có nội dung về đề áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT
Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 – luật cơ bản của nhà nước có giá trị pháp lý cao nhất là cơ sở pháp lý cơ bản cho văn bản luật và dưới luật triển khai chi tiết quy định về vấn đề này Cùng với Hiến pháp, các văn bản luật cũng quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn về nội dung áp dụng pháp luật KSĐT các vụ án XPTTQLKT ở nước ta, đáp ứng với yêu cầu chính trị, quá trình xây dựng kinh tế - xã hội ở nước ta trong tình hình mới Ngoài ra, các quy định về