Nguyễn Thị Ly Na 2012, “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội; Trần Văn Khanh 2012, “Bảo vệ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Lê Mai Thanh
Hà Nội, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 7
1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ 7 1.2 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ 17 1.3 Vị trí, vai trò của cơ quan quản lý thị trường trong hệ thống các cơ quan bảo về quyền sở hữu trí tuệ 27
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 Thực trạng xác định hành vi xâm phạm và các biện pháp bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ 30 2.2 Thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bởi cơ quan quản lý thị trường 42 2.3 Thực tiễn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua hoạt động của Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội 49
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống cơ quan Quản lý thị trường trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 66 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ của Cục quản lý thị trường thành phố Hà Nội 70
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QLTT: Quản lý thị trường
SHTT: Sở hữu trí tuệ
SHCN Sở hữu công nghiệp
TRIPS: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển hiện nay, nhiều công ty, doanh nghiệp đã rất thành công nhờ khai thác có hiệu quả quyền SHTT Xu thế này đã khẳng định tài sản trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng Thực tế này đã đặt ra yêu cầu phải gia tăng mối quan tâm đến vấn đề SHTT trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có hiệu quả không chỉ bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu nhằm thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu sáng tạo, sản xuất, kinh doanh mà còn góp phần nâng cao đời sống đời sống vật chất và tinh thần cho toàn xã hội Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nên vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn phải xác lập theo các cam kết chung trong khuôn khổ tổ chức này Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, trong khi đó các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm này chưa thực sự phát huy hiệu quả Vậy nên, bảo vệ quyền SHTT là một trong những mục tiêu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Cục QLTT thành phố Hà Nội là một trong những cơ quan chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng phòng, chống, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa bàn thành phố Hà Nội Bảo vệ quyền SHTT là một trong những chức năng nhiệm vụ của Cục QLTT thành phố Hà Nội Qua thực tiễn, hoạt động này của Cục QLTT thành phố Hà Nội đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra Do vậy, cần phải nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể thực trạng bảo vệ quyền SHTT thông qua hoạt động mang tính chức năng của Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội để có giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả công tác này trên thực tế
Trang 7Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập này, tác giả đã chọn đề tài “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, SHTT ngày càng trở thành một trong những công cụ được sử dụng để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế các quốc gia, trong đó có Việt Nam Do vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay để giải quyết được những thách thức trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế có ý nghiaxm vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật, đánh giá thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền SHTT thực tế đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết trên báo và các tạp chí chuyên ngành,… nổi bật là các công trình đã được
công bố sau: Bùi Thị Dung Huyền (2006), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng
biện pháp dân sự tại toà án nhân dân”, Tạp chí Toà án nhân dân, Số16/2006;
Tào Thị Huệ (2014), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp kiểm soát
biên giới”, Tạp chí Luật học, Số 3/2014; Nguyễn Thanh Tú (2010), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: chế độ tài sản và chế độ trách nhiệm dưới góc độ pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 2/2010; Nguyễn Ngọc
Sơn (2005), “Bảo vệ và thực thi có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ của ngành
hải quan - điều kiện quan trọng để Việt Nam gia nhập WTO”, Tạp chí Luật
học, Số 2/2005; Trần Văn Hải (2016), “Một số vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ
ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Kiểm sát, Số 4/2001; Đặng Vũ Huân (2005),
“Nâng cao vai trò nhận thức xã hội trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 5/2005; Hoàng Anh Công (2006),
“Pháp luật hải quan với việc thực thi bảo vệ quyền SHTT”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 12/2006; Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), “Thực thi bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ của hải quan Việt Nam đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5/2008 Cùng một số luận án,
luận văn: Vũ Thị Hải Yến (2008), “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam trong
Trang 8Nguyễn Thị Ly Na (2012), “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội;
Trần Văn Khanh (2012), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự -
Quy định của pháp luật Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ,
Đại học Luật Hà Nội; Ngô Thị Hoà (2012), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với
tên thương mại bằng biện pháp hành chính - Pháp luật Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ Đại học Luật Hà Nội…
Các công trình nghiên cứu trên đây đã luận giải một số vấn đề lý luận của việc bảo vệ quyền SHTT nói chung, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo
vệ quyền SHTT và thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền SHTT trên một số lĩnh vực và bằng phương thức, biện pháp cụ thể Tuy nhiên, nghiên cứu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tác nghiệp của Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội, cơ quan quản lý thị trường lớn thứ hai trong cả nước, chưa được nghiên cứu tổng thể Trên cơ sở tham khảo và
kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã công bố, luận văn đi sâu nghiên cứu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích cứu luận văn:
Luận văn đánh giá pháp luật bảo vệ quyền SHTT và các biện pháp bảo
vệ trong đó đặc biệt bảo vệ thông qua thiết chế bảo vệ là cơ quan quản lý thị trường tại đại bàn cụ thể - Hà Nội để có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền SHTT và tăng cường hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền SHTT tại Cục QLTT thành phố Hà Nội
- Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn:
+ Luận văn sẽ phân tích lý luận chung về bảo vệ quyền SHTT; chỉ ra những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền SHTT như: Căn cứ, các biện pháp bảo vệ, thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; vai trò của cơ quan QLTT và chức năng nhiệm vụ trong bảo vệ quyền SHTT
+ Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền SHTT qua thực tiễn tại Cục QLTT thành phố Hà Nội
Trang 9+ Trên cơ sở đánh giá đó, luận văn đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền SHTT tại Cục QLTT
thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn nghiên cứu đề tài vào một số nội dung cụ thể sau đây:
- Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn bảo vệ quyền SHTT qua thực tiễn Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
- Về thời gian: Từ năm 2005 (thời điểm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành) đến nay;
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung vào vấn đề bảo vệ khi quyền SHTT bị xâm hại mà không mở rộng đến vấn đề xác lập và thực hiện quyền của các chủ thể khác Ngoài ra, luận văn cũng không mở rộng đến hoạt động bảo vệ quyền SHTT của các cơ quan/tổ chức liên quan khác mà chỉ dựa trên hoạt động QLTT thực hiện bởi Cục Quản lý thị trường Hà nội
Dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là cơ sở pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thực tiễn bảo vệ quyền SHTT tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lenin Đây là phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận văn
- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, logic, phương pháp hệ thống, nghiên cứu liên ngành v.v được sử dụng khi nghiên cứu Chương 1- lý luận về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;
Trang 10Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, thống kê… được sử dụng khi đánh giá thực tiễn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
Phương pháp tổng hợp, quy nạp… được sử dụng khi đề cập phương hướng và giải pháp nâng cao hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
Phương pháp lập luận logic được sử dụng khi nghiên cứu đề xuất các phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn có một số đóng góp nhất định khu trú vào một số vấn đề cụ thể sau:
- Luận văn hệ thống hóa và góp phần bổ sung cơ sở lý luận về bảo vệ quyền SHTT
- Luận văn phân tích, bình luận, đánh giá tổng thể hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội trong những năm qua
- Luận văn đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
- Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm tìm hiểu
về lĩnh vực pháp luật này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ qua hoạt động Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trí tuệ tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
Trang 12Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” được dùng để chỉ các loại quyền tài sản bắt nguồn từ những thành quả sáng tạo trí tuệ của con người Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” trong Công ước Thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới chưa có được một định nghĩa chính thức Các quốc gia thành viên soạn thảo Công ước Công ước Thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới được ký tại Stockholm vào ngày 14 tháng 7 năm
1967 lựa chọn cách đưa ra một danh mục mang tính liệt kê các quyền liên quan
quy định tại Khoản viii, Điều 2: “Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và các chương trình phát thanh truyền hình; các sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, các phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; và “tất cả các quyền khác bắt nguồn từ hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học và văn học hoặc nghệ thuật” (Khoản
viii, Điều 2) Theo Từ điển Tiếng việt, khái niệm quyền sở hữu trí tuệ là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” [45]
Hiện nay, pháp luật các nước không định nghĩa thế nào là quyền SHTT
mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền SHTT Ví dụ như pháp luật của Hoa
Kỳ không định nghĩa quyền SHTT mà chỉ quy định cụ thể về từng đối tượng của quyền SHTT Bộ luật Hoa Kỳ năm 1996 (United States Code 1996) dành hẳn Quyển 7, Chương 58 để đưa ra quy định về bảo hộ giống cây trồng; Quyển 15, chương 22 về nhãn hiệu; toàn bộ Quyển 17 về quyền tác giả; Quyển 35 về văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp [27]
Hiệp định TRIPS dành toàn bộ phần II để nêu ra các đối tượng của quyền SHTT, gồm quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, patent (văn bằng bảo hộ sáng chế), giống cây
Trang 13trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bị mất và giúp chống các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh [20]
Sở dĩ các quốc gia không đưa ra định nghĩa quyền SHTT vì các đối tượng của SHTT luôn thay đổi Trong môi trường kinh doanh toàn cầu hóa, thị trường ngày càng đông đúc, khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng con người đã tạo ra nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại nên đưa ra định nghĩa về SHTT thì định nghĩa sẽ nhanh chóng lỗi thời Do đó, pháp luật về quyền SHTT của nhiều nước quy định định nghĩa bằng cách liệt
kê các đối tượng của tài sản trí tuệ
Theo pháp luật Việt Nam, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi
bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2019 Luật SHTT quy định: “Quyền
sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” Như vậy, quyền SHTT bao gồm
các quyền sở hữu đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng
1.1.1.2 Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định cuả pháp luật, quyền SHTT là một loại quyền tài sản Quyền SHTT có những đặc điểm sau:
- Quyền sở hữu trí tuệ mang tính chất vô hình
SHTT là loại tài sản vô hình, phi vật chất không thể nhìn thấy bằng mắt thường nên chủ sở hữu của loại tài sản này sẽ giữ quyên, không nắm giữ vật như những loại tài sản hữu hình khác Khác với các loại tài sản hữu hình, chủ sở hữu có đủ ba quyền gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt, pháp luật về quyền SHTT không quy định gì về quyền chiếm hữu Điều này xuất phát từ đặc tính vô hình của các đối tượng SHTT Chúng ta không thể nắm bắt, chiếm hữu được các kiến thức về một giải pháp kỹ thuật hay một kinh doanh công nghệ Chỉ có một cách duy nhất để chiếm hữu chúng là giữ bí mật kiến thức đó Một khi kiến thức được công bố, phổ biến thì bất cứ ai cũng có khả
Trang 14thức đó không được pháp luật bảo hộ, thì sẽ dẫn đến hậu quả là không ai chịu phổ biến các bí quyết mà mình biết, mà hậu quả là trình độ khoa học kỹ thuật không phát triển được Ngoài ra, mặc dù quyền SHTT là tài sản vô hình nhưng nó thường có vai trò quan trọng và có giá trị kinh tế lớn, thậm chí loại tài sản này có khả năng làm thay đổi vị thế của chủ sở hữu trên thương trường, hoặc quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp [19]
- Quyền SHTT bị giới hạn về thời hạn bảo hộ
Sự bảo hộ độc quyền của loại tài sản này bị khống chế bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định Theo Luật SHTT của Việt Nam, quyền tài sản của các tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời gian bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời gian bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình Quyền sở hữu công nghiệp, ngoại trừ các đối tượng như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh sẽ được pháp luật SHTT bảo hộ
vô thời hạn khi những đối tượng này thỏa mãn các điều kiện theo như quy định của Luật SHTT; các đối tượng sở hữu công nghiệp khác chỉ được pháp luật bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định Một trong những lý do quyền SHTT bị khống chế như vậy là để đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu tài sản SHTT và lợi ích xã hội bởi tài sản SHTT được con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của nhân loại được tốt hơn, do đó chủ sở hữu, sau một khoảng thời gian được độc quyền sử dụng như khai thác giá trị thương mại của tài sản trí tuệ do mình tạo ra, thì sản phẩm trí tuệ
ấy phải được nhân loại sử dụng thì mới có ý nghĩa [19]
- Quyền SHTT có tính lãnh thổ triệt để và bị giới hạn về không gian bảo hộ
Sự giới hạn bảo hộ và thực thi quyền trong phạm vi lãnh thổ mỗi quốc gia cũng là một đặc điểm của loại tài sản này Xuất phát từ điểm đặc thù này nên tất cả các đối tượng SHTT ở lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan và các đối tượng SHTT ở lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp sau khi được pháp
Trang 15luật của một số quốc gia nhất định ghi nhận hoặc công nhận bảo hộ, thì các quyền SHTT chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó [27]
1.1.1.3 Nội dung quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT là một loại quyền dân sự, các tác giả đồng thời là chủ sở hữu của các loại tài sản này được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu hai quyền này sẽ tách bạch giữa tác giả và chủ sở hữu Quyền nhân thân được pháp luật trao cho các tác giả sáng tạo ra những đối tượng SHTT được bảo hộ trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật hay kỹ thuật Quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ vô thời hạn (trừ quyền công bố tác phẩm) như quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền được đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, quyền được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền sở hữu công nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn Quyền tài sản là những quyền được pháp luật trao cho chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp các đối tượng SHTT của mình Hiện nay pháp luật của Việt Nam chỉ bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các đối tượng quyền ở lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan, quyền đối với giống cây trồng và một số đối tượng thuộc lĩnh vực sở hữu công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn Các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh, pháp luật chỉ bảo hộ quyền tài sản, không bảo hộ quyền nhân thân
- Chủ sở hữu quyền SHTT có quyền độc quyền sử dụng đối tượng SHTT dưới những hình thức do pháp luật quy định
Sử dụng đối tượng SHTT có thể được hiểu một cách đơn giản nhất là việc chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp quyền SHTT ứng dụng các đối tượng SHTT được pháp luật bảo hộ của mình vào cuộc sống, vào việc sản xuất, kinh doanh Khai thác quyền SHTT là việc chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp quyền SHTT tiến hành khai thác các giá trị thương mại của
Trang 16tượng SHTT trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao quyền SHTT; chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu, nhượng quyền thương mại, chuyển giao công nghệ, góp vốn, hợp tác kinh doanh bằng quyền SHTT…Sau khi sản phẩm trí tuệ được pháp luật bảo hộ, chỉ có chủ thể quyền SHTT mới có quyền khai thác thương mại các đối tượng của mình vào cuộc sống, chỉ có họ mới có quyền chuyển giao, chuyển nhượng quyền của mình Nếu thiếu từ độc quyền thì toàn bộ chế định về SHTT sẽ mất hết ý nghĩa bởi bất cứ ai cũng có thể ăn cắp một sản phẩm sáng tạo, sáng kiến của các chủ thể quyền và làm giàu trên công sức của những người lao động sáng tạo Tuy nhiên, mặc dù quyền SHTT
là một dạng độc quyền song đây không phải là sự độc quyền mang tính tuyết đối, trong một số trường hợp chủ sở hữu quyền SHTT sẽ không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sản phẩm trí tuệ của mình nếu nó thuộc vào những trường hợp pháp luật cho phép chủ thể khác sử dụng mà không cần xin phép chủ sở hữu, những trường hợp này được gọi là giới hạn quyền SHTT
1.1.1.4 Phân loại quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT bao gồm các lĩnh vực truyền thống đó là quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Pháp luật về SHTT của Việt Nam quy định, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
- Quyền tác giả và quyền liên quan
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Các tài sản quyền SHTT ở lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan luôn được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản Chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan được độc quyền sử dụng và khai thác tác phẩm của mình Ngoại trừ những trường hợp được pháp luật cho phép sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao thì mọi hành vi sao chép, dịch, công bố, phổ biến…nhằm mục
Trang 17đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan Quyền tác giả và quyền liên quan được xác lập tự động
Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã quy định các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học cụ thể sẽ được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm các loại hình tác phẩm sau: a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương
tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản
vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; tác phẩm văn học,
nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu Đối với quyền liên quan, phát sinh trong các trường hợp như: người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư có các tài sản đối với cuộc biển diễn như định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình; phát sóng hoặc truyền theo các khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được; phân phối bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn dưới hình thức bán, cho thuê…Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, bao gồm: sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; phân phối bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn dưới hình thức bán, cho thuê…Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, bao gồm: sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình và được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình và được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình đó được phân phối đến công chúng Quyền của tổ chức phát sóng như phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình; phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình; định hình chương trình phát sóng của mình; được hưởng các quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được
Trang 18ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng (Điều 29, 30, 31 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019)
- Quyền sở hữu công nghiệp
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận, bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa
lý Có nhiều tiêu chí để phân nhóm các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, căn cứ vào tính sáng tạo của sản phẩm thì quyền sở hữu công nghiệp
có thể phân chia thành hai nhóm: quyền sở hữu công nghiệp đối với thành tựu sáng tạo trí tuệ (sáng chế, kiểu sáng công nghiệp, bí mật kinh doanh và thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn) và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa)
Nhóm quyền sở hữu trí tuệ là các thành tựu sáng tạo công nghệ là các sản phẩm mang hàm lượng trí tuệ cao, có tính ứng dụng trong đời sống khoa học, sản xuất để tạo ra các sản phẩm mới có giá trị sử dụng và kinh tế Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Kiểu dáng công nghiệp là giải pháp mang tính mỹ thuật, dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp, thủ công nghiệp Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và các mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn, được bảo hộ nếu có tính nguyên gốc và tính mới
về thương mại Bí mật kinh doanh là những thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh Nhóm thứ hai là các đối tượng liên quan đến chỉ dẫn thương mại được
sử dụng phổ biến trong các hoạt động kinh doanh thương mại, là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân, tên gọi của các tổ chức,
cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (tên thương mại), những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn về lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng uy tín hoặc đặc tính khác của hàng hóa chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định (chỉ dẫn địa lý)
Trang 19Quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp Luật về sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh Sở hữu công nghiệp là sở hữu quyền dưới dạng tài sản vô hình Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ trên cơ sở văn bằng hoặc khi đối tượng được bảo hộ vẫn đáp ứng điều kiện bảo hộ
- Quyền đối với giống cây trồng
Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định pháp luật
1.1.2 Ý nghĩa của quyền sở hữu trí tuệ và nhu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.2.1 Ý nghĩa của quyền sở hữu trí tuệ
Thứ nhất, SHTT là nhân tố đem lại sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục cho chủ thể sở hữu và xã hội
Nhìn vào lịch sử phát triển của các quốc gia, nhất là các nước công nghiệp phát triển, SHTT được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của đất nước Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời
và được bảo hộ, chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ đó không những có được tỷ
lệ tiền bản quyền cao hơn và có giá trị thị trường cao hơn nhiều lần so với các tài sản vô hình khác, mà chính người mua quyền SHTT đó và người xin cấp giấy phép sử dụng cũng vui lòng trả nhiều tiền hơn do có sự bảo hộ Việc bảo
Trang 20nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc cung cấp các hiệp định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng của các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ đó bằng việc thương mại hoá chúng, chính việc thương mại hoá các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủ thể sở hữu cũng như những
người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích kinh tế
Thứ hai, SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng
như nền kinh tế quốc gia trong hội nhập
Hiện nay, năng lực SHTT là một trong những năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững Quốc gia, doanh nghiệp nào có được càng nhiều quyền SHTT thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của SHTT Cách hiệu quả nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về SHTT nhằm xây dựng hệ thống SHTT có hiệu quả Điều đó làm cho hoạt động SHTT xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tới chuẩn mực chung của thế giới
Thứ ba, SHTT là phương tiện đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như từng doanh nghiệp
Sở hữu các tài sản hữu hình là sở hữu cái có giới hạn, còn sở hữu tri thức, trí tuệ của nhân loại là sở hữu cái vô hạn, vì vậy sẽ là vô cùng bền vững nếu biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả SHTT là sở hữu một thứ tài sản đặc biệt, khi sử dụng không những không mất đi mà còn có khả năng kiến tạo những sản phẩm trí tuệ cao hơn, là những tiền đề cho sự phát triển mạnh
mẽ và bền vững đối với những chủ thể sở hữu và xã hội
Thứ tư, tuân thủ hệ thống quản lý SHTT là cách thức để các nước đang phát triển tiếp cận bền vững hơn với các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ và hội nhập hiệu quả
Nguy cơ chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ bao gồm sao chép, mô phỏng, thậm chí đánh cắp nguyên vẹn các thành quả sáng tạo kỹ thuật – kinh doanh
là nguy cơ thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh tế
Trang 21công nghiệp hoá Bởi vậy, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chấp nhận chuyển giao công nghệ và thực hiện các biện pháp đầu tư nếu nhận thấy đủ cơ hội khai thác an toàn, hiệu quả công nghệ đó ở quốc gia dự định đầu tư.Vì vậy, xác lập được một hệ thống bảo hộ SHTT hiệu quả và việc tuân thủ hệ thống quản lý bảo hộ SHTT một cách nghiêm túc sẽ là một điều kiện tiên quyết tác động đến quyết định đầu tư và chuyển giao của các công ty nước ngoài
Thứ năm, một hệ thống bảo hộ quyền SHTT hiệu quả là một yếu tố để chống lại nguy cơ tụt hậu và phát triển đất nước
Một khi cơ sở hạ tầng và khả năng kỹ thuật cho việc cải tiến công nghệ đã được thiết lập ở một nước, nhất là ở các nước đang phát triển, hệ thống bảo
hộ SHTT sẽ thành một yếu tố thúc đẩy sự nghiệp cải tiến kỹ thuật Bởi vậy, câu hỏi đặt ra cho các nước đang phát triển không phải là có thiết lập hệ thống bảo hộ SHTT hay không, mà phải là thiết lập như thế nào và vào lúc nào trong quá trình phát triển kinh tế, kỹ thuật của đất nước sẽ là phù hợp cho việc
áp dụng một hệ thống bảo hộ toàn diện và hiệu quả [24]
1.1.2.2 Nhu cầu của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT là một tài sản có tính đặc thù, được hình thành từ hoạt động sáng tạo của con người và có tác dụng đem lại cuộc sống văn minh hơn cho con người về cả mặt tinh thần và vật chất Quyền SHTT không chỉ khuyến khích người sáng tạo, nhà sáng chế mà những người khác có thể đưa ra những sáng chế kế tiếp dựa vào những thông tin này Tại thị trường sản phẩm và dịch vụ với các chỉ dẫn thương mại của nhà kinh doanh cần được bảo hộ để thúc đẩy sản xuất Do đó, xã hội cần những biện pháp cụ thể để khuyến khích sáng tạo cũng như bảo đảm thành quả đầu tư của doanh nghiệp, mặt khác nếu bảo hộ quá chặt chẽ thì sản phẩm trí tuệ sẽ không được xã hội khai thác triệt để
Lợi ích xã hội sẽ tăng lên khi càng có nhiều người tiếp cận và sử dụng tài sản trí tuệ ấy Việc cung cấp miễn phí là đi ngược với các nguyên tắc thị trường Việc cung cấp miễn phí sẽ làm nảy sinh tình trạng hạn chế đầu tư hoặc sáng tạo Tình trạng này làm nản lòng các nhà đầu tư đồng thời nếu sử dụng miễn phí sẽ làm mất đi động lực phát triển, cạnh tranh Do đó, cần một
Trang 22hiện tượng kẻ ăn không sử dụng tài sản trí tuệ Đề đảm bảo cân bằng lợi ích giữa người chủ sở hữu và xã hội, Nhà nước phải duy trì việc bảo hộ quyền SHTT trong một thời gian thích hợp
Vấn đề bảo vệ quyền SHTT có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển quốc gia mà trước hết là quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền SHTT, chủ thể sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sở hữu trí tuệ là một công cụ đắc lực đối với việc phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia Nhiều công ty, doanh nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khai thác có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ trở thành một tài sản có giá trị của doanh nghiệp, có thể được khai thác để tăng doanh thu và lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Tuy nhiên, cũng vì lợi nhuận kinh tế mà có hiện tượng một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xâm phạm quyền SHTT của người khác khi khai thác mà không được phép Toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế sâu rộng trên khắp thế giới đã khiến các hành vi này ngày càng thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức với thủ đoạn tinh vi, khó lường mà
hệ thống pháp luật về SHTT quốc gia chưa kịp thời điều chỉnh được Vậy nên xu hướng coi trọng sự bảo vệ SHTT từ chính chủ thể quyền bởi lẽ, nếu như quyền sở hữu một tài sản hữu hình cho phép chủ sở hữu có quyền năng như chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt đối với tài sản và thực tế, chủ sở hữu có thể kiểm soát tài sản một cách trực tiếp thì đối với tài sản hữu hình như SHTT thì khả năng xâm phạm quyền từ chủ thể khác sẽ dễ dàng khi được công bố Đồng thời, chủ thể quyền SHTT gặp khó khăn khi tự bảo vệ quyền SHTT của chính họ sẽ đạt được hiệu quả tối ưu hơn Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước có thiết chế và cơ chế phù hợp để những đối tượng này phát huy khả năng, vai trò
1.2 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
1.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, trong đó các bên tham gia đáp ứng được những điều kiện do nhà nước quy định, có những quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật Quan hệ pháp luật được
Trang 23các quy phạm pháp luật điều chỉnh Do đó, bảo vệ quan hệ pháp luật sẽ căn cứ vào pháp luật; cụ thể là các văn bản pháp luật đảm bảo điều kiện cho việc thực thi quyền và quy định các hình thức chế tài khi quyền đó bị xâm hại
Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, những tranh chấp liên quan đến việc xác lập quvền, sử dụng và chuyển giao các đối tượng thuộc quyền SHTT thường phát sinh trong xã hội Việc bảo vệ quyền SHTT là bảo
vệ quyền tài sản của các chủ thể và được hiểu dưới hai phương diện sau đây:
- Theo phương diện khách quan: Bảo vệ quyền SHTT là tổng hợp các quy định của pháp luật được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp các chủ thể quyền SHTT và các biện pháp xử lí hành vi xâm phạm quyền SHTT
- Theo phương diện chủ quan: Bảo vệ quyền SHTT là những biện pháp
cụ thể được áp dụng để xử lí hành vi xâm phạm quyển sở hữu trí tuê tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm [19]
Theo từ điển Tiếng Việt, “Bảo vệ có nghĩa là giữ gìn cho khỏi hư
hỏng”, hay “Bảo vệ là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn…” Tựu chung lại, đa phần các từ điển, tài liệu đều thừa nhận bảo
vệ là chống lại sự xâm phạm, hủy hoại tài sản hay các lợi ích hợp pháp khác nhằm giữ gìn, bảo đảm sự nguyên vẹn của các giá trị
Bảo vệ quyền sở hữu hiểu theo cách thức thông thường là sự chống lại mọi sự xâm phạm đến tài sản, qua đó, bảo vệ chủ sở hữu được thực hiện đầy
đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình Dưới góc độ pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện pháp trong khuôn khổ pháp luật tác động đến hành vi xử sự của con người, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu, khắc phục thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu
Tóm lại, bảo vệ quyền SHTT là tổng thể các nguyên tắc, quy định pháp luật và các biện pháp tương ứng được ghi nhận trong pháp luật nhằm xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT và khắc phục hậu quả của hành vi đó
Cho dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bảo vệ quyền SHTT đều có một số đặc điểm sau đây:
Trang 24- Đối tượng được bảo vệ là quyền SHTT Chủ thể quyền SHTT là tác giả của tác phẩm, tác giả của sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp; chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp và một số chủ thể khác được chủ sở hữu quyền cho phép sử dụng các đối tượng SHTT theo quy định của pháp luật
- Cách thức bảo vệ quyền SHTT là áp dụng các biện pháp khác nhau để
xử lí hành vi xâm phạm tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm
Khi quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, chủ thể của quyền bị xâm phạm có quyền tự bảo vệ bằng các biện pháp mà pháp luật cho phép nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm Chủ thể có quyền bị xâm phạm có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành
vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại Ngoài ra chủ thể có quyền bị xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình hoặc khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Chủ thể áp dụng biện pháp bảo vệ có thể là chủ thể quyền SHTT hoặc các cơ quan nhà nước khác Các công ước quốc tế về SHTT cũng như pháp luật Việt Nam đều cho phép chủ thể quyền SHTT tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền SHTT của mình Chủ sở hữu là chủ thể đương nhiên có quyền bảo vệ quyền sở hữu của chính mình Đây là chủ thể phải có tinh thần, trách nhiệm cao nhất trong việc sử dụng các phương thức để tự bảo vệ quyền sở hữu nhằm đảm bảo quyền lợi cho chính bản thân mình Trong trường hợp tài sản của chủ sở hữu bị xâm phạm thì tự chủ sở hữu được quyền yêu cầu các bên có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, đòi lại tài sản hoặc yêu cầu bồi thường Bên cạnh các phương thức tự bảo vệ, theo quy định của pháp luật nước ta, thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT thuộc về: Toà án, thanh tra, quản lí thị trường, hải quan, công an, uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2019)
Trang 25- Mục đích của bảo vệ quyền SHTT là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT; ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT
Quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể được bảo vệ, tạo ra những điều kiện để chủ sở hữu quyền SHTT có cơ hội khai thác có hiệu quả những thành quả sáng tạo trí tuệ của con người trong sản xuất, kinh doanh Pháp luật bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam tạo ra sự cân bằng lợi ích của các chủ thể sáng tạo, các chủ thể khai thác, sử dụng sản phẩm sáng tạo nhằm đảo bảo các lợi ích của các chủ thể có liên quan đến việc tạo ra và sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện hữu hiệu, đồng thời ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT Đối với mỗi phương thức bảo vệ quyền sở hữu khác nhau thì mục tiêu hướng tới cũng không giống nhau Tùy từng trường hợp trên thực tế và theo quy định của pháp luật, mỗi một trường hợp bảo vệ quyền sở hữu có thể áp dụng các trường hợp khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
1.2.2 Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền
SHTT
Một trong những nội dung hết sức quan trọng mà chủ thể quyền SHTT
và các cơ quan có trách nhiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cần quan tâm, đó là xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT và nhận biết rõ ai là người xâm phạm quyền SHTT Việc xác định đúng hành vi xâm phạm quyền SHTT sẽ giúp cho chủ thể quyền chủ động trong việc bảo vệ quyền cũng như yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền SHTT của mình một cách chính xác
và có hiệu quả, hạn chế được những rủi ro hoặc bất lợi, thậm chí là bị kiện ngược lại Còn đối với các cơ quan có thẩm quyền sẽ bảo đảm việc xử lý chính xác, đúng người, đúng hành vi và mức độ xâm phạm, tránh được những sai sót Đồng thời việc đó góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức tôn trọng quyền SHTT cũng như bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể quyền, người tiêu dùng và xã hội, trên cơ sở đó khuyến khích các tổ chức cá nhân tích cực tạo dựng và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ làm cho sở hữu trí
Trang 26tuệ của Việt Nam ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước và hội nhập quốc tế
(i) Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan được hiểu là những hành vi cố ý hoặc vô ý của các cá nhân, tổ chức vi phạm bất kỳ một quyền nào thuộc quyền tác giả và quyền liên quan đang được pháp luật bảo hộ
và phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan phải là xử sự thực tế của các cá nhân, tổ chức xâm phạm các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan không chỉ gây thiệt hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây tổn hại cho lợi ích của toàn xã hội Hành vi này tác động tiêu cực đối với quyền tác giả và quyền liên quan, làm suy giảm một phần hoặc hoàn toàn cơ hội của tác giả để khai thác tác phẩm nhằm mục đích kinh tế Hơn nữa các hành vi xâm phạm xảy ra nằm trong sự kiểm soát của tác giả, dẫn đến triệt tiêu mục đích khuyến khích sáng
tạo mà pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan đặt ra
(ii) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hành vi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh trong phạm vi và thời hạn bảo
hộ mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu công nghiệp trừ các trường hợp được pháp luật cho phép Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được xác định theo các văn bản pháp luật hiện hành về sở hữu công nghiệp là các dấu hiệu, đặc điểm, quy trình, sản phẩm, thiết kế của các đối tượng sở hữu công nghiệp bị nghi ngờ xâm phạm được sử dụng để so sánh với các yếu tố tương đương của các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội,
từ các doanh nghiệp đến cá nhân công dân, từ môi trường đầu tư, kinh doanh, đến môi trường cạnh tranh lành mạnh cho đến việc ảnh hưởng đến ý thức tôn
trọng pháp luật của người dân, khuyến khích các hoạt động sáng tạo…
(iii) Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
Trang 27Khoản 5 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Quyền đối với
giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu”
Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng là hành vi sử dụng giống cây trồng trong phạm vi và thời hạn bảo hộ mà không được sự đồng ý của chủ
sở hữu công nghiệp trừ các trường hợp được pháp luật cho phép
1.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Các Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam đều xác định các biện pháp bảo vệ quyền SHTT sau:
(1) Biện pháp tự bảo vệ của chủ thể quyền SHTT
Điều 11 Bộ luật dân sự năm 2015 ghi nhận rằng khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ và được
cụ thể hóa tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm
2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 Biện pháp tự bảo vệ cho phép chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT được áp dụng những biện pháp nhất định để bảo vệ quyền của minh Các biện pháp mà chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT có thể lựa chọn để áp dụng là: ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền SHTT; yêu cầu
tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dút hành vi xâm phạm; buộc người có hành vi xâm phạm phải xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại; yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó có tòa án và trọng tài bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT có thể sử dụng các biện pháp này bằng cách trực tiếp gặp chủ thể vi phạm hoặc sử dụng các phương thức khác như: gọi điện thoại, gửi thư qua bưu điện, gửi thư điện tử, fax hoặc tiến hành những hành vi cụ thể để bảo vệ quyền sở hữu của mình Người bị xâm phạm quyền sở hữu có thể lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khác nhau để tự bảo vệ quyền SHTT của mình Tuy nhiên, việc chủ thể áp dụng các biện pháp để tự bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng của mình không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
Trang 28Trong thực tế, khi quyền SHTT bị xâm phạm, biện pháp bảo vệ quyền đầu tiên được áp dụng là tự bảo vệ Trước hết, biện pháp này tôn trọng quyền
tự định đoạt của chủ thể Hơn nữa, mặc dù không có sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng trong chừng mực nhất định, biện pháp này cũng giúp nhanh chóng ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm
(2) Biện pháp bảo vệ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện
Các biện pháp này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng khi có (hoặc nghi ngờ có) hành vi xâm phạm quyền SHTT xảy ra trên thực tế Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Tòa án, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT Cụ thể:
Một là, biện pháp dân sự
Biện pháp dân sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo thủ tục tố tụng dân sự Khi có hành vi xâm phạm, chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, xâm phạm quyền [21]
Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lí hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền SHTT hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lí bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự Khi áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản, do vậy những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là tranh chấp về quyền tài sản cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân Bởi vậy về nguyên tắc tranh chấp SHTT được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Khi bị xâm phạm quyền SHTT, tác giả, chủ sở hữu của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và tác giả, chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng như các chủ thể có quyền liên quan khác có quyền yêu cầu toà án bảo vệ quyền của mình
Thủ tục tố tụng dân sự cho phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp và chủ văn bằng bảo hộ quyền đối
Trang 29với giống cây trồng cũng như các chủ thể có quyền liên quan khác được quyền khởi kiện yêu cầu toà án công nhận quyền của mình; buộc người có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng phải chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc người có hành vi xâm phạm phải bổi thường thiệt hại, phải thực hiện nghĩa vụ, phải xin lỗi, cải chính công khai; buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền SHTT
Theo biện pháp dân sự, tòa án buộc cá nhân, tổ chức xâm phạm quyền SHTT phải bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần cho các chủ thể quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Tuy nhiên, khoản bù đắp tổn thất tinh - thần chỉ dành cho tác giả các tác phẩm vãn học, nghệ thuật, khoa học, người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng mà không dành cho chủ sở hữu các đối tượng này Mức bồi thường thiệt hại được xác định theo quy định tại Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019
Hai là, biện pháp hình sự
Biện pháp hình sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT được buy định là tội phạm theo thủ tục tố tụng hình sự [19] Theo đó, nếu phát sinh các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với cuốn sách của bạn, cơ quan nhà nước sẽ tiến hành xử lý nếu có đủ yếu tố cầu thành tội danh theo quy định tại điều 225 về xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan thuộc Bộ luật hình sự
Khi hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng của cá nhân, tổ chức là hành vi nguy hiểm cho xã hội cấu thành tội phạm thì cá nhân, tổ chức đó bị truy cứu trách nhiệm hình
sự Việc áp dụng biện pháp hình sự thuộc thẩm quyền của toà án
Trang 30Biện pháp hành chính là việc cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT Nếu cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi xâm phạm hoặc phát hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm[18]
Xử lí vi phạm hành chính đối với quyền SHTT là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nhất định xử lí các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng của cá nhân, tổ chức mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Bản chất biện pháp hành chính là sử dụng sức mạnh quyền lực của các cơ quan hành chính thông qua quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính đó để
xử lý các vi phạm hành chính Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Hiện nay so với biện pháp dân sự và hình sự thì biện pháp hành chính đang tỏ
ra chiếm ưu thế hơn Bởi vì, để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự, hình sự phải thông qua các thủ tục tố tụng với nhiều giai đoạn, trong khi đó giải quyết hành chính với ưu điểm đơn giản, hình thức xử phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền đánh vào kinh tế của bên vi phạm
Xử lí hành vi xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính được quy định tại Mục 1 Chương XVIII Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019; Chương IV Nghị định số 119/2010/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định
Trang 31số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012
Đối với biện pháp hành chính, cách thức bảo vệ quyền của chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT rất phong phú Cụ thể, bao gồm các hình thức xử phạt hành chính (trong đó có hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung) và các biện pháp khắc phục hậu quả Cảnh cáo và phạt tiền là hai hình thức xử phạt chính Bên cạnh đó, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, người xâm phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như sau: tịch thu hàng hoá giả mạo về SHTT, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về SHTT; đình chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm trong một thời hạn nhất định Tuỳ từng trường hợp, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền SHTT còn phải chịu áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như sau: buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về SHTT; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền SHTT hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về SHTT, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về SHTT sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá
Để bảo đảm việc xử lí các hành vi xâm phạm quyền SHTT bằng các biện pháp hành chính đạt hiệu quả, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính Các biện pháp cụ thể là: tạm giữ người, tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật, khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về SHTT; một số biện pháp khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính trong những trường hợp nhất định theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019
Trang 32Theo Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019, biện pháp hành chính áp dụng để xử lí những hành
vi xâm phạm quyền SHTT đến mức gây thiệt hại cho người tiêu dùng, cho xã hội Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm quyền SHTT yêu cầu cơ quan nào xử lí hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục hành chính cũng là một vấn đề lớn cần phải xem xét để hoàn thiện Hiện nay, pháp luật quy định thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính cho rất nhiều cơ quan Trong thực tế, các
cơ quan này đôi khi hoạt động chồng chéo, đôi khi lại không cơ quan nào xử lí hành vi vi phạm Chính vì vậy, để việc xử lí các hành vi xâm phạm quyền SHTT đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các cơ quan này phải độc lập với nhau nhưng đồng thời phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình hoạt động
Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT
Biện pháp này là một trong các biện pháp hành chính nhưng đóng vai
trò vô cùng quan trọng Cơ quan hải quan có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ
Cụ thể, cơ quan hải quan áp dụng hai loại biện pháp sau: tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ [25] Theo quy định của Điều 73, Điều 74 Luật hải quan năm 2014, cơ quan hải quan được kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với các hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền SHTT
1.3 Vị trí, vai trò của cơ quan quản lý thị trường trong hệ thống các cơ quan bảo về quyền sở hữu trí tuệ
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 với các quy định về bảo vệ quyền SHTT đã đề cao trách nhiệm của chủ thể quyền, tăng cường các biện pháp đảm bảo việc thực thi được thực hiện, giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan hành chính, mức hình phạt đối với các hành vi vi phạm quyền SHTT mang tính răn đe hơn Bên cạnh nỗ lực thực thi quyền của các chủ thể quyền, việc thực thi quyền là một hoạt động thực thi pháp luật và được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm
Trang 33quyền gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm soát nhân dân, Công an kinh tế, Quản lý thị trường, Hải quan, Thanh tra khoa học công nghệ Theo quy định luật SHTT, việc áp dụng hình phạt hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
Cơ quan quản lý thị trường là bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức nhà nước, là công cụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xây dựng và bảo vệ nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo quy định của pháp luật, quản lý thị trường là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Vai trò, nhiệm vụ của cơ quan quản lý thị trường trong công tác bảo vệ quyền SHTT được cụ thể trong các văn bản pháp luật Với nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong các hoạt động quản lý thị trường trong nước; tổ chức thực hiện và chỉ đạo công tác kiểm tra kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, trong đó có hoạt động xâm phạm quyền SHTT và xử lý vi phạm pháp luật hành chính theo quy định của pháp luật; tổ chức và xây dựng lực lượng quản lý thị trường Cơ quan thường trực của lực lượng quản lý thị trường là Ban chỉ đạo 389, Ban chỉ đạo này gồm các ngành Công thương, Công an, Tài chính, Khoa học công nghệ, Tư pháp, Y tế, Nông nghiệp, Văn phòng chính phủ Với vị trí, chức năng và quyền hạn như vậy, lực lượng quản
lý thị trường góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo thực thi quyền SHTT, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm trong phạm vi cả nước
Trang 34Tiểu kết chương 1
Qua quá trình nghiên cứu và phân tích, chương 1 của luận văn với tên
gọi “Lý luận về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” được hoàn thiện với những kết
quả đạt được như sau:
1 Làm rõ được khái niệm, nội hàm và bản chất của quyền sở hữu trí tuệ cũng như ý nghĩa của quyền SHTT và nhu cầu của việc bảo vệ quyền SHTT
2 Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền SHTT như khái niệm, xác định các hành vi xâm phạm quyền SHTT và các biện pháp, hình thức bảo vệ quyền SHTT Từ đó, có thể khẳng định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
3 Phân tích và chỉ ra cơ sở pháp luật cùng vị trí, vai trò của cơ quan quản lý thị trường trong hệ thống các cơ quan bảo về quyền sở hữu trí tuệ
Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền SHTT cung cấp cơ sở khoa học để có cái nhìn tổng thể đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền SHTT của cơ quan QLTT tại Chương 2
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng xác định hành vi xâm phạm và các biện pháp bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ
2.1.1 Thực trạng pháp luật và thực tế xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Theo Luật SHTT đối tượng của SHTT gồm 3 nhóm chính (i) Sở hữu công nghiệp (ii) quyền tác giả (iii) giống cây trồng Do đó, bất kỳ hành vi xâm phạm nào đối với 03 đối tượng nêu trên đều được coi là hành vi xâm phạm quyền SHTT đã được pháp luật bảo vệ Cụ thể, hành vi vi phạm quyền SHTT bao gồm:
(i) Hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan
Hành vi xâm phạm quyền tác giả là hành vi xảy ra thường xuyên và gây thiệt hại rất lớn tới chủ sở hữu Chủ thể có quyền và lợi ích liên quan, cũng như tổn hại tới danh tiếng và uy tín của chính tác giả Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 có quy định về các hành vi xâm phạm tới quyền tác giả
Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa Các hành vi được xác định là hành vi xâm phạm quyền liên quan khi rơi vào các trường hợp được quy định tại Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019
(ii) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Một là, hành vi xâm phạm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí
Xuất phát từ cơ sở một số đối tượng sở hữu công nghiệp có những đặc điểm chung, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 không quy định hành vi xâm phạm
Trang 36nhóm hành vi xâm phạm Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo
hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó; thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kì phần nào có tính nguyên gốc của thiết
kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tại Điều 131 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
- Yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế quy định tại Điều 8 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP
- Yếu tố xâm phạm quyền đối với thiết kế bộ trí mạch tích hợp bán dẫn quy định tại Điều 9 Nghị định số 105/2010/NĐ-CP
- Yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là sản phẩm hoặc phần của sản phẩm mà hình dáng bên ngoài không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ Sản phẩm, phần sản phẩm bị coi là yếu
tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp quy định tại (Điều 10 Nghị định số 105/2010/NĐ-CP)
Hai là, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
- Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Hiện nay, các hành vi xâm phạm SHTT rất tinh vi và khó nhận biết, nó thường núp dưới hình thức khác nhau Tại khoản 1 điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019, đã định hướng các hành vi được coi là xâm phạm đối với quyền nhãn hiệu
- Hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại
Khoản 2, điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm
2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định hành vi bị coi là hành vi xâm
phạm đối với tên thương mại như sau: “Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương
mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương
Trang 37mại.” So với các quy định của hành vi xâm phạm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý
chưa được rõ ràng bằng, tuy nhiên với mức độ khái quát nhất ta có cái nhìn cụ thể về hành vi này, để không vi phạm bảo vệ chính lợi ích của mình cũng như không xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác
- Hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Khoản 3, điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm
2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 đưa ra quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Khi phát hiện những hành vi xâm phạm thì chủ thể có quyền và lợi ích liên quan có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước những hành vi xâm phạm đến quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
- Hành vi xâm phạm đối với bí mật kinh doanh
Bí mật kinh doanh được hiểu là một dạng thông tin hay tri thức liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, được giữ bí mật và tạo ra các giá trị kinh tế nhất định cho người nắm giữ thông tin đó.Khái niệm bí mật kinh
doanh được quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ
sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2019: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” Theo khái niệm này, một bí mật kinh doanh
có 3 dấu hiệu cơ bản sau:
(1) Là kết quả của quá trình đầu tư, nghiên cứu, sáng tạo thể hiện qua các tri thức, thông tin;
(2) Chưa được bộc lộ đến mức người khác có thể dễ dàng có được; (3) Có khả năng tạo ra những giá trị kinh tế khi được sử dụng trong kinh doanh
Bí mật kinh doanh thường liên quan tới các loại thông tin khác nhau như: bí quyết kĩ thuật và khoa học, thông tin thương mại, thông tin về tài chính…Người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh bao gồm chủ sở hữu bí mật kinh doanh, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng bí mật kinh
Trang 382005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định các hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh
(iii) Hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
Điều 188 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019 đưa ra quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
Luật SHTT đã quy định về các hành vi xâm phạm quyền SHTT mang tính trực tiếp mà chưa quy định hành vi gián tiếp gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền là hành vi vi phạm pháp luật Thực tế, ở Việt Nam hiện nay đã và đang tồn tại nhiều hành vi gián tiếp xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho chủ sở hữu như hành vi xúi giục vi phạm, gián tiếp tham gia vào các hành vi vi phạm Pháp luật SHTT ở một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản, Hoa Kỳ…quy định hành vi xâm phạm quyền SHTT bao gồm cả hành vi trực tiếp và gián tiếp xâm phạm quyền SHTT Thậm chí, còn quy định rõ ràng các biện pháp
xử lý tương xứng với hành các hành vi xâm phạm này Đây là kinh nghiệm cho Việt Nam để hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định về hành vi gián tiếp xâm phạm quyền SHTT trong hệ thống pháp luật quốc gia
Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT
Điều 5 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đã khái quát các căn cứ để xác định một hành vi xâm phạm quyền SHTT Việc xác định như vậy tạo thuận lợi cho việc bảo vệ hiệu quả quyền SHTT, là
cơ sở để các chủ thể quyền SHTT cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền SHTT bởi vì trên thực tế hành vi xâm phạm quyền SHTT rất đa dạng, trong nhiều trường hợp các văn bản pháp không thể hoặc chưa dự liệu được những hành vi xâm phạm trong tương lai Đây cũng là bước tiến quan trọng so với những quy định trước, góp phần quan trọng trong việc xác định một hành vi xâm phạm quyền SHTT
Về đối tượng bị xâm phạm: Nhìn chung, các quy định về đối tượng bị xâm
phạm và đối tượng bảo hộ quy định trong hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam phù
Trang 39hợp với pháp luật quốc tế và tương đối dễ xác định, bước đầu đã tạo cơ sở thuận lợi cho việc xác định các hành vi vi phạm quyền SHTT nhanh chóng, chính xác
Về địa điểm bị xâm phạm: Quyền STT mang tính lãnh thổ, bằng độc
quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…do Cục SHTT cấp chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam Do đó, một hành vi chỉ bị coi là xâm phạm quyền SHTT nếu xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam Một hành vi cũng có thể bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng Internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam Khái niệm xảy ra ở Việt Nam rất rộng, là lãnh thổ đường biên giới và lãnh thổ trên Internet nhằm vào người tiêu dùng hoặc người tin dùng ở Việt Nam Đây là quy định phù hợp với xu thế công nghệ thông tin, thời đại toàn cầu hóa, xóa bỏ ranh giới lãnh thổ truyền thống Tuy nhiên, việc xác định địa điểm thực hiện hành vi theo tiêu chí lãnh thổ rất phức tạp, khó khăn vì phải xác định dựa trên cơ sở mục đích của hành vi đòi hỏi phải có phương tiện kỹ thuật cao, hiện đại để xác định và hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cách xác định địa điểm thực hiện hành vi xâm phạm trong trường hợp này
Bên cạnh đó, việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT hết sức
phức tạp và khó khăn Trong nhiều trường hợp có sự đan xen giữa các hành vi xâm phạm cũng như sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các cơ quan chức năng dẫn đến việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT hết sức khó và phức tạp Việc xác định đúng hành vi xâm phạm quyền SHTT có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các biện pháp xử lý kịp thời, hợp pháp và hiệu quả Tuy nhiên, việc xác định hành vi xâm phạm không dễ và nếu xác định không đúng hành vi xâm phạm sẽ dẫn đến tình trạng xử lý sai, không đúng, gây ra những hậu quả đáng tiếc làm thiệt hại đến doanh nghiệm làm ăn chân chính, làm mất niềm tin vào hệ thống thực thi quyền SHTT trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng như hiện nay
2.1.2 Thực trạng pháp luật và thực tế tự bảo vệ quyền của các chủ thể quyền
Điểm a,b Khoản 1 Điều 198, Luật Sở hữu trí tuệ quy định Chủ thể
Trang 40sở hữu trí tuệ của mình: “a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại” Bản chất của quyền sở hữu trí tuệ
là quyền dân sự Vì vậy, cũng giống như tài sản vật chất, việc bảo vệ các tài sản trí tuệ trước tiên thuộc về trách nhiệm của chủ thể quyền mà không nên chỉ trông chờ vào việc xử lý của các cơ quan có thẩm quyền Tự bảo vệ là biện pháp bảo vệ quyền sở hữu được sử dụng thường xuyên với cách thức thể hiện đa dạng nhất trong các biện pháp bảo vệ được pháp luật dân sự ghi nhận Không cần trải qua bất kỳ trình tự, thủ tục nào, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản khác trực tiếp thực hiện các biện pháp đối kháng đối với hàn vi và các chủ thể thực hiện hành vi có nguy cơ, đã hoặc đang xâm phạm trực tiếp lên quyền sở hữu, các quyền hợp pháp của mình
Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành đề cao nguyên tắc tự bảo vệ quyền của chủ thể quyền Chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm và các biện pháp khác chống lại hành vi xâm phạm (Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi,
bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019) Cụ thể thực hiện thông qua việc: áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm quyền; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm; khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trước khi thực hiện quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay tòa án xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT, chủ thể quyền cần chủ động thực hiện các biện pháp ngăn ngừa các hành vi xâm phạm hay thực hiện quyền tự bảo vệ Từ bài học của các doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực SHTT trên thế giới, thì ngay từ khi nghiên cứu, thiết kế và tạo dựng các đối tượng SHTT, doanh nghiệp đã phải tính đến các biện pháp công nghệ nhằm bảo vệ các đối tượng đó trước khi đăng ký Vì khi đã đăng ký thì theo nguyên tắc là phải công bố công khai đối tượng đó cho công chúng biết, khi ấy việc sao chép,