Đồng thời thấy được những đóng góp riêng của nhà văn trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc, cũng như thấy những giá trị văn hóa dân tộc được thể hiện trong sáng tác của Nhất Linh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC VÀ TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH ( 1932 – 1945 ) 9
1.1 Khái lược về tiếp cận văn hóa học 9
1.2 Khái lược về tiểu thuyết Nhất Linh ( 1932 -1945 ) 23
Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU HIỆN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT NHẤT LINH ( 1932 – 1945 ) 33
2.1 Không gian văn hóa trong tiểu thuyết Nhất Linh 33
2.2 Chủ thể văn hóa 45
Chương 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH ( 1932 – 1945 ) 58
3.1 Hệ thống biểu tượng 58
3.2 Ngôn ngữ 66
3.3 Giọng điệu trần thuật 72
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hương Đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định
Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2020
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Huyền
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học là một trong những bộ phận quan trọng của văn hóa Qua các sáng tác văn học chúng ta có thể nhìn rõ những giá trị văn hóa trong đó Nó là sản phẩm mang tính đại diện cho văn hóa, có khả năng nhận thức, phản ánh, sáng tạo chuyển tải và giữ gìn các giá trị văn hóa Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ sâu sắc, chặt chẽ Văn hóa không chỉ thể hiện trên bề mặt biểu hiện mà có khả năng chi phối tác động lớn tới văn học Cũng chính vì lí do đó
mà mỗi sáng tác văn học đều mang đậm dấu ấn văn hóa Nghiên cứu văn chương từ góc nhìn văn hóa đã và đang là một hướng tiếp cận nghiên cứu hiệu quả Văn học trở thành một lĩnh vực thu hút nhiều nhà nghiên cứu Xu hướng nghiên cứu đang ngày càng khẳng định sự tác động biện chứng giữa văn học với văn hóa là sự thống nhất hữu cơ, hợp nhất chỉnh thể trong những
nỗ lực tìm kiếm, tiếp cận những giá trị nghệ thuật chân chính
Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu văn chương theo hướng này như: nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Phủ Ngọc Tường…Nhất Linh là nhà văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 đã để lại trong lòng bạn đọc những tác phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa Ông là người sáng lập Tự lực văn đoàn (một tổ chức văn học có uy tín giai đoạn 1932 – 1945), là chủ bút tờ tuần báo Phong hóa và Ngày nay Sự nghiệp sáng tác cuả Nhất Linh khá đồ sộ
ở nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu luận, phê bình, dịch thuật, hội họa Thành công hơn cả là thể loại tiểu thuyết Trong mỗi trang viết ở thể loại tiểu thuyết ông thể hiện sự sắc sảo ở lối tư duy theo hướng mới: sự đấu tranh đòi quyền tự do cá nhân, đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, đề cao khát vọng trong tình yêu, hạnh phúc gia đình Các nghiên cứu về Nhất Linh và tiểu thuyết của ông cũng đã chú trọng nghiên cứu về vấn đề giới, nghiên cứu về tiểu thuyết
Trang 6luận đề, nghiên cứu về tâm lý nhân vật Dù sự nghiệp văn học của Nhất Linh
đã được nghiên cứu khá nhiều nhưng vẫn còn những khoảng trống để chúng
ta tiếp tục nghiên cứu Tuy nhiên, Di sản văn học của ông vẫn luôn luôn là đối
tượng cho những hướng tiếp cận mới…Nghiên cứu “Tiểu thuyết Nhất Linh dưới góc nhìn văn hóa” để chúng ta cảm nhận rõ hơn những tình cảm của nhà
văn về thiên nhiên và cuộc sống con người Việt Nam Đồng thời thấy được những đóng góp riêng của nhà văn trong lịch sử phát triển của văn học dân tộc, cũng như thấy những giá trị văn hóa dân tộc được thể hiện trong sáng tác của Nhất Linh ở giai đoạn này Từ đó làm nổi bật ý nghĩa của mối quan hệ giữa nhà văn và quá trình sáng tạo nghệ thuật
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: Tiểu thuyết Nhất Linh dưới góc nhìn văn hóa (1932 – 1945), để thấy những giá trị
văn hóa trong tiểu thuyết Nhất Linh Đồng thời chúng tôi mong muốn góp thêm một vài ý kiến để tiến tới có một cái nhìn tổng thể, toàn diện về sáng tác
của Nhất Linh
2 Lịch sử nghiên cứu
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 đã có những đóng góp to lớn trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà Sự góp mặt của phong trào Thơ mới, của tổ chức Tự lực văn đoàn… đánh dấu một giai đoạn văn học phát triển rực rỡ và cho đến ngày hôm nay đã khẳng định được vị trí trên văn đàn Trở lại những năm tháng trước đổi mới, văn chương của nhóm Tự lưc văn đoàn không được mấy quan tâm Đối với tiểu thuyết của Nhất Linh lại càng vắng bóng Phần lớn, nhiều ý kiến cho rẳng văn chương Nhất Linh không được đánh giá cao…Từ sau đổi mới, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đất nước ngày càng phát triển, hòa chung không khí của cả nước là đổi mới, nên quá trình nghiên cứu, sáng tác, dịch thuật… cũng đòi hỏi từng bước đổi mới Vấn đề nghiên cứu về văn chương phong phú, sôi nổi nhất trong tiến
Trang 7trình hiện đại hóa văn học suốt thế kỷ XX Đó là nền lý luận phê bình đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhưng tinh thần đổi mới do Đảng khởi xướng và bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng đã tạo điều kiện cho lý luận, phê bình phát triển mạnh mẽ theo hướng dân chủ nhân văn Sự thay đổi quan trọng trong lý luận, phê bình được quan tâm đúng mực Văn chương được nhìn nhận, đánh giá khách quan Nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tập trung hơn vào sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn Ở đó các nhà văn đã khai thác về hiện thực cuộc sống, về những cảnh đời, nhiều số phận của nhân vật ở làng quê, đô thị và cũng có thể nhận ra nhiều điểm mạnh của hệ thống nhân vật ở mỗi giai cấp Mỗi nhân vật đều góp phần tạo nên những nét văn hóa trong tâm hồn người Việt Tiêu biểu kể đến các công trình của Phan Cự Đệ [11], ]Tú Mỡ [39], Lê Thị Đức Hạnh [26], Vu Gia [22], Lê Thị Dục Tú [61]…
Với tác giả Nhất Linh, tiểu thuyết của ông chịu ảnh hưởng của
phương Tây Trên Tạp chí văn học tháng 10/1986 Đỗ Đức Hiểu đã viết
“Nhất Linh thành công trong trong việc sử dụng nghệ thuật phương Tây để xây dựng tâm hồn phương Đông” [32] Sáng tác của ông góp phần vào sự
phát triển xã hội trong lĩnh vực hoạt động về tư tưởng và văn hóa văn nghệ Hình ảnh thành thị vốn vắng bóng trong văn chương Việt Nam suốt thời kỳ trung đại Trong mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã thấp thoáng hình bóng của sinh hoạt đô thị Nhà văn Nhất Linh đã tập trung khai thác cuộc sống nơi thành thị Cuộc sống mới của thành thị đã kéo theo những thay đổi trong tư duy của nhân vật Từ suy nghĩ cho đến hành động các nhân vật đều thể hiện nét tân thời ở giai đoạn mới
Một nghiên cứu khác của nhà nghiên cứu Trương Chính lại đề cao nghệ
thuật xây dựng trong tiểu thuyết của Nhất Linh, ông nhận xét: “Đoạn tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại Vì Đoạn tuyệt không chỉ có giá
trị xã hội mà nó còn có giá trị tâm lí không ai chối cãi được Ông Nhất Linh
Trang 8đã dùng một cách quan sát rất tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật trong truyện để đi sâu vào đời riêng tư của họ Trước đó nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại khen ngợi tài năng của Nhất Linh
trên báo Sông Hương (1937), “Văn tài, uyển chuyển mạnh mẽ, không có chỗ nào đáng bỏ, không có mục nào phải thêm” Vũ Ngọc Phan nhìn nhận “ Nhất Linh là tiểu thuyết gia có khuynh hướng về cải cách” [54]
Nhà thơ Huy Cận vốn là một cộng tác viên thân thiết và gần gũi của Tự
lực văn đoàn đã có những nhận xét chung thỏa đáng: “ Ta đã có đủ thời gian
để đánh giá sự đóng góp của Tự lực văn đoàn Có thể nói Tự lực văn đoàn đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam Họ có hoài bão về văn hóa dân tộc…” [20] Năm 1991, trong bài viết Thêm mấy ý kiến đánh giá về Tự lực văn đoàn đăng trên tạp chí văn học số 3, Lê Thị Đức Hạnh đã tổng kết: “ Văn của Khái Hưng và Nhất Linh trong Tự lực văn đoàn ngay thời kỳ đầu đã là một bước nhảy vọt” [26, tr.15]
Cùng với đó, rất nhiều nghiên cứu, phê bình bàn luận đến nghiên cứu văn chương ở mọi góc độ Việc nghiên cứu văn chương dưới góc nhìn văn
hóa cũng khá nhiều, như Cảm quan đô thị trong sáng tác của Thạch Lam của tác giả Trần Thị Thu Hà trường ĐH sư phạm Hà Nội, năm 2011; sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới cái nhìn văn hóa của tác giả Hoàng Thị Hà trường
ĐH sư phạm Hà Nội, năm 2011; Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa của Đỗ Thị Ngọc Chi, Học viện khoa học xã hội, năm 2013; Văn xuôi Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường từ góc nhìn văn hóa của Ngô Minh Hiển…
Các nghiên cứu phần nào đã đánh giá đúng mực và giúp người đọc hiểu rõ về yếu tố văn hóa trong từng tác phẩm
Qua các dẫn liệu trên, có thể thấy: Nhất Linh trong vai trò chủ soái của
Tự lực văn đoàn, Nhất Linh trong tư cách nhà văn, tác giả của tiểu thuyết luận
đề, tiểu thuyết tâm lý… đều đã được khảo sát, nghiên cứu và đánh giá rất thấu
Trang 9đáo và tương đối thỏa đáng Nhưng xem xét Nhất Linh ở góc độ một nhà văn hóa, và phân tích tiểu thuyết Nhất Linh dưới góc nhìn văn hóa, thì có lẽ cần thêm nhiều công trình sâu và rộng hơn nữa, mà luận văn của chúng tôi chỉ đóng góp một phần rất nhỏ Bởi vì, hơn ai hết, ông là người ý thức rất rõ điều
này, và muốn dùng văn chương để cổ động cho văn hóa dân tộc: “Nhất Linh vẫn thường nói văn hóa có sức mạnh thay đổi lâu bền hơn chính trị Làm chính trị có ích trong một thời, làm văn hóa – nếu thành công – sẽ còn lại mãi mãi” [53]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn dựa vào các phạm trù văn hóa từ đó làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa - văn học ở tầm khái quát và tập trung khai thác sâu tiểu thuyết Nhất Linh như một hiện tượng văn hóa cụ thể
Luận văn xác lập hệ thống lý luận mối liên quan giữa văn hóa – văn học để từ đó nhận diện sự tồn tại và nối tiếp mạch ngầm văn hóa được thể hiện ở tiểu thuyết của Nhất Linh
Đồng thời luận văn cũng chỉ rõ tầng sâu các giá trị văn hóa trong tiểu thuyết của Nhất Linh và sự tồn tại chất văn hóa trong sáng tác của nhà văn
Từ đó khẳng định nét độc đáo và đóng góp của Nhất Linh trong nền văn học hiện đại
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu khái lược về tiếp cận văn hóa học và tiểu thuyết Nhất Linh Tìm hiểu về các phương diện biểu hiện của văn hóa trong tiểu thuyết Nhất Linh (1932 – 1945)
Tìm hiểu về phương thức biểu hiện dưới góc nhìn văn hóa trong tiểu thuyết Nhất Linh (1932 -1945)
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Triển khai luận văn Tiểu thuyết Nhất Linh dưới góc nhìn văn hóa (1932 – 1945),
Chúng tôi khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của Nhất Linh giai đoạn 1932 –
1945 Trong đó tập trung vào một số tiểu thuyết sau:
- Tiểu thuyết: Nắng thu (1934)
- Tiểu thuyết: Đoạn tuyệt (1934)
- Tiểu thuyết: Lạnh lùng (1936)
- Tiểu thuyết: Đôi bạn (1937)
- Tiểu thuyết: Bướm trắng (1939)
- Tiểu thuyết viết chung của Nhất Linh và Khái Hưng: Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1935)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ việc nghiên cứu đề tài Tiểu thuyết Nhất Linh dưới góc nhìn văn hóa (1932 – 1945), chúng tôi đã lựa chọn những phương pháp
nghiên cứu phù hợp để làm sáng tỏ vốn văn hóa trong tiểu thuyết của Nhất Linh Tiểu thuyết Nhất Linh ở giai đoạn này thể hiện rõ sự đấu tranh tư tưởng, văn hóa, mâu thuẫn trong quan niệm nhân sinh và lối sống, đời sống đô thị thay đổi theo hướng Âu hóa…Vậy nên chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đây là phương pháp quan trọng trong đó phương pháp nghiên cứu văn học là chủ đạo, đồng thời phối hợp vận dụng tri thức liên ngành văn hóa học, sử học, tôn giáo học, ngôn ngữ học, liên văn bản cắt nghĩa văn học bằng truyền thống văn hóa, hoạt động văn hóa, góc nhìn văn hóa
Trang 11- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Với phương pháp này chúng tôi cắt nghĩa các hình thức nghệ thuật trong tiểu thuyết và mối quan hệ với nội dung để chỉ ra những đặc trưng nghệ thuật độc đáo
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Ở phương pháp này chúng tôi tập trung làm sáng tỏ nét mới trong tư tưởng thể hiện, để từ đó tìm ra nét mới trong tiểu thuyết của Nhất Linh Trên cơ sở tìm hiểu sự chi phối của của chính trị, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ… tồn tại trong không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về mặt xây dựng nhân vật, tư tưởng, ngôn ngữ, lối sống
- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp cần thiết giúp chúng tôi đối chiếu so sánh ở nội bộ tiểu thuyết của Nhất Linh; so sánh giữa tác phẩm của các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn Từ đó khám phá một cách hiệu quả tiểu thuyết của Nhất Linh, làm nổi bật nét văn hóa sâu sắc trong tiểu thuyết của Nhất Linh (1932 – 1945)
- Phương pháp xã hội học: Từ những yếu tố về mặt xã hội, những nhân
tố của đời sống… để làm sáng rõ nét văn hóa trong tiểu thuyết của Nhất Linh
- Phương pháp phân tích…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn là cơ sở lí luận để khai thác giá trị của tiểu thuyết từ phương diện văn hóa
Luận văn góp phần đánh giá đầy đủ, sâu sắc về văn hóa và những cảm quan văn hóa trong tiểu thuyết của Nhất Linh (giai đoạn 1932 – 1945) Từ đó, góp phần khẳng định tên tuổi, vị trí của Nhất Linh trong Tự lực văn đoàn và trong nền văn học Việt Nam hiện đại
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Khái lược về tiếp cận văn hóa học và tiểu thuyết của Nhất
Linh (1932 – 1945)
Chương 2: Các phương diện biểu hiện văn hóa trong tiểu thuyết của
Nhất Linh (1932 – 1945)
Chương 3: Phương thức biểu hiện dưới góc nhìn văn hóa trong tiểu
thuyết của Nhất Linh (1932 – 1945)
Trang 13Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC
VÀ TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH ( 1932 – 1945 )
1.1 Khái lược về tiếp cận văn hóa học
1.1.1 Một số khái niệm về văn hóa
Theo các nhà ngôn ngữ học, văn hóa (culture), với tư cách là một danh
từ độc lập, chỉ bắt đầu được sử dụng từ thế kỉ XVIII Trước đó, như nhiều tác giả đã viết, trong các câu hay các cụm từ, nó được chuyển từ nghĩa đen “gieo
trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc” (ở phương Tây) hay “giáo hóa bằng văn” (ở phương Đông) Ví như từ giữa thế kỉ XIII, F Bacon đã nói về “ văn hóa và chăm bón trí tuệ”, hay xa hơn nữa, ở thế kỉ I
trước công nguyên, Lưu Hướng (đời Hán) quan niệm văn hóa là văn trị và giáo hóa
Người đầu tiên có công đưa từ “culture” vào trong khoa học là S PuFendorf- nhà nghiên cứu pháp luật người Đức S PuFendorf sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra, và các sản phẩm nhân tạo này là khác với các sự vật trong thế giới tự nhiên tựa như con người được giáo dục khác với con người không được giáo dục [25]
Văn hóa là một phạm trù rộng, thể hiện những giá trị về vật chất cũng như tinh thần trong đời sống xã hội của loài người Theo như Chủ Tịch Hồ
Chí Minh “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn,
ở và các phương thức sử dụng… Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa” [40, tr.31]
Khái niệm về văn hóa có từ lâu đời và nội hàm của nó rất rộng Theo
A.L Kroeber và C.L Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: Cái nhìn phân tích về
Trang 14Khái niệm và Định nghĩa có khoảng hơn 200 định nghĩa về văn hóa Rõ ràng chúng ta thấy số lượng về khái niệm văn hóa hết sức phong phú Trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều khái niệm về văn hóa mà chúng ta có thể khai thác và hiểu một cách thấu đáo Tuy nhiên, với mỗi một khái niệm đều thể hiện tính mục đích sử dụng và vận dụng khác nhau Trong quá trình nghiên cứu chúng ta có thể sử đụng một khái niệm phù hợp nhất Dưới đây là một số khái niệm về văn hóa:
Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) [56] có đưa ra định nghĩa:
1, Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Kho tàng văn hóa dân tộc, Văn hóa Phương Đông, Nền văn hóa cổ)
2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời
sống tinh thần (Phát triển văn hóa, Công tác văn hóa)
3 Tri thức, kiến thức khoa học (Học văn hóa, Trình độ Văn hóa)
4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh: (Sống
có văn hóa, Ăn nói thiếu văn hóa)
5 Nền văn hóa của một thời kỳ xa xưa, đã được xác định trên tổng thể
những di vật tìm thấy và chúng có điểm giống nhau (Văn hóa rìu hai vai Văn hóa Đông Sơn)
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa trong cuốn Tìm
về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1997 “ Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [69]
Trang 15Một định nghĩa khác bao quát hơn, rộng lớn hơn “ Văn hóa là tất cả những gì phi tự nhiên” Đó là định nghĩa mà Đỗ Lai Thúy đã thể hiện trong Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa [70, tr16,17]
Theo tác giả Phan Ngọc thì cho rằng: “Văn hóa là quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ của một xã hội hay khúc xạ [41, tr22]
Trước sự đa dạng khái niệm về văn hóa, Tổ chức khoa học giáo dục
Liên hợp quốc đã đi đến thống nhất khái niệm về văn hóa: “ Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm cả nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân” [70, tr18]
Cùng với sự phát triển của đất nước, yếu tố văn hóa không thể không
được quan tâm Bởi chính văn hóa là “hồn cốt” để tạo nên một dân tộc Việt
Nam đậm đà bản sắc đân tộc Quan tâm tới sự phát triển đất nước, thì văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống
Trang 16nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hóa là một mặt trận; Xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng
và sự kiên trì thận trọng
Nói tóm lại, văn hóa là sản phẩm độc đáo của quá trình lịch sử, văn hóa
là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và
vì lợi ích của con người Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Với phạm vi của
đề tài, chúng tôi lựa chọn cách hiểu văn hóa gắn liền với bản sắc văn hóa của nhà nghiên cứu Phan Ngọc và Tổ chức Khoa học giáo dục Liên hợp quốc
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phải sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
Trang 17hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa” [40, tr.31]
Từ thế giới tự nhiên cho đến đời sống xã hội đã được con người làm cho có ý nghĩa nhờ thấm nhuần tinh thần của văn hóa Tinh thần văn hóa đó
không phải ngẫu nhiên mà có Các nhà triết học cho rằng “ Khả năng đối xử
có tính người đối với thế giới và đối với những người khác, khả năng lao động, giao tiếp với những người xung quanh, khả năng tư duy, có những tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ - tất cả những cái đó đều không phải
là những đặc tính của cơ thể, mà là những nét đã được hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội tiêu biểu cho thực chất của con người trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể của nó Những nét ấy được hình thành nhờ con người tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hóa xã hội” [64]
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với những giá trị văn hóa Giá trị văn hóa được thể hiện ở bản sắc văn hóa Với nhà nghiên cứu Dương Phú
Hiệp thì “ Bản sắc riêng của mỗi nền/ dạng/ kiểu văn hóa thường được biểu hiện là những nét đặc thù và độc đáo thể hiện trong hiện tượng văn hóa hoặc các sản phẩm của văn hóa, quy định bộ mặt của mỗi nền văn hóa” [33, tr.40] Còn Ngô Đức Thịnh thì bản sắc văn hóa “ là một tổng thể các đặc trưng của văn hóa được hình thành và tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử của dân tộc, các đặc trưng văn hóa ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể, bộc lộ và khả biến hơn” [67] Trong quá trình giao lưu, tiếp
Trang 18biến những giá trị văn hóa mới luôn được hình thành cho phù hợp với mỗi vùng, miền, quốc gia
Vậy có thể nói, văn hóa là cái đánh dấu sự vượt lên những gì tự nhiên
và bản năng của con người Đó là sản phẩm riêng của xã hội loài người Để có được nó, con người phải trải qua tự nhiên và cuộc sống xã hội mới hình thành
những giá trị văn hóa Bản sắc văn hóa là cái “ tinh túy”, cái cốt lõi của văn
hóa trong quá trình phát triển của lịch sử
1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
1.1.3.1 Văn học là hiện thân của văn hóa
Thời đại nào văn học ấy, đó là nhận định hoàn toàn đúng đắn Mỗi một thời đại cùng với nó là một giai đoạn văn học tương ứng Văn học là bức tranh phản chiếu về con người, đời sống xã hội tinh thần nhân đạo, nhân văn
là mục tiêu của văn hóa
Trong nghiên cứu phê bình những năm gần đây, chúng ta thấy nổi lên
những xu hướng tiếp cận bình diện văn hóa trong tác phẩm văn học “ Văn hóa” thành đối tượng chính để các nhà nghiên cứu phê bình phân tích: Nữ
quyền luận, sinh thái học, nhân học văn hóa, kí hiệu học văn hóa trong phân tích văn học… Thông qua các tác phẩm văn học mà những yếu tố mang màu
sắc văn hóa được thể hiện rõ ràng hơn “ khi thì hiện diện trên bề mặt của hiện thực đời sống với những phong tục, tập quán, hội hè, đình đám những nghi lễ,
có khi được thể hiện ở chiều sâu, trong sâu thẳm tâm thức văn hóa cộng đồng” [58, tr.161]
Trong đời sống con người, văn học từ lâu đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu Dường như ở đâu có cuộc sống thì ở đó có thi ca Niềm vui nỗi buồn của con người đều được thể hiện đầy đủ trong văn học Qua văn học ta thấy những giá trị ẩn chứa trong đó Văn học tồn tại không chỉ vì bản thân nó mà chính là vì đời sống con người Với tư cách là một hình thái ý
Trang 19thức, một hoạt động nhận thức, văn học nâng cao khả năng của con người trong quá trình chiếm lĩnh, đồng hóa hiện thực khách quan Mỗi tác phẩm văn học đều ít nhiều làm phong phú hơn sự hiểu biết của con người Sự cảm thụ tác phẩm giúp mỗi người tự giải phóng khỏi cái cuộc đời riêng biệt từ nhiều
xứ sở, nhiều thời đại xa xôi Văn học giúp cho con người được vui, buồn, yêu, ghét nhiều hơn, tạo ra những biến đổi trong tư tưởng, tình cảm con người Đến với văn học là đến với niềm an ủi, sự khích lệ, động viên, đến với những ước mơ, hy vọng… Văn học không chỉ là nguồn tri thức mà còn là nguồn năng lượng tinh thần lớn lao, có ý nghĩa cổ vũ, tiếp sức cho con người trong cuộc sống Văn học cùng với triết học, tôn giáo, phong tục tập quán, đạo đức
…là những thành tố quan trọng để tạo nên những giá trị văn hóa Văn học
cũng chịu sự chi phối của văn hóa “ Môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc” [2, tr5]
Cùng bàn về văn học và mối quan hệ của văn học với văn hóa, Đỗ Thị Minh
Thúy cũng đã viết: “ Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa …tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt này, văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân tố đại diện cho văn hóa” [68, tr239] Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống của con người
Bên cạnh đó văn học lưu giữ những giá trị văn hóa tinh túy nhất của thời đại
Từ sự tiếp nhận những giá trị văn hóa, những điều diễn ra trong cuộc sống, mỗi nhà văn bằng tài năng, độ am hiểu của bản thân và cho ra đời những tác phẩm văn học phản ánh chân thật về đời sống, văn hóa cộng đồng mang đậm chất văn hóa
Trang 20Cùng chiều dài của lịch sử và chiều rộng của không gian địa lý, cùng với thời gian, con người – nhà văn đã tạo nên những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam Tìm hiểu về những giá trị văn hóa ấy rất nhiều độc giả đã chọn cho mình cách tìm hiểu đơn giản, giầu chất nhân văn là tìm hiểu qua những tác phẩm văn học Có lẽ văn học là hiện thân của văn hóa Thông qua hệ thống ngôn từ, mỗi tác phẩm đã diễn đạt đầy đủ nội hàm ý nghĩa Chúng ta
đều biết những vần thơ bất hủ của Nguyễn Đình Chiểu “ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Qua những vần thơ
ấy ta thấy rõ về truyền thống yêu nước căm thù giặc của con người Việt Nam Chúng ta luôn tự hào đất nước Việt Nam chúng ta có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Trải dài từ Bắc vào Nam đất nước chúng ta
có những danh lam thắng cảnh mê đắm lòng người, có những vùng đất cuộc sống của người dân lao động giản dị, ấm áp , chân chất tình người Cũng chính từ phẩm chất và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam mà đất nước chúng ta có biết bao anh hùng, bao tấm gương được thế giới biết đến và vinh danh như Nguyễn Trãi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh… Còn biết bao kiệt tác văn chương đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả Đó là những tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô, Truyện Kiều… Là hiện thân của văn hóa, văn học đã thể hiện những giá trị văn hóa thể hiện hồn cốt của dân tộc ta Thời kỳ đất nước có chiến tranh văn học được coi là một mặt trân, người cầm bút như là chiến sĩ trên mặt trận ấy Thời kỳ hòa bình, văn học phản ánh những góc khuất của đời sống… Cho dù ở thời kỳ nào thì văn học cũng luôn thể hiện và phản ánh giá trị văn hóa
Nói về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh
đã viết: Tác phẩm văn học thể hiện ba phương diện sau
Thứ nhất: Căn bản văn học phản ánh toàn bộ đời sống cộng đồng dân tộc, trong đó văn hóa như phần hợp thành quan trọng nhất Chẳng hạn dễ thấy
Trang 21nhất là trong các hoạt động văn hóa như tập tục, lễ hội, lối sống của một cộng đồng, một thời đại nào đó
Thứ hai: Ngôn ngữ với tư cách là chất liệu tạo nên văn bản văn học là một trong những hiện tượng văn hóa quan trọng nhất Chẳng hạn, lời ăn tiếng nói dân gian hay bác học của nhân vật, cả các hình thức thể loại, các kiểu cốt truyện
Thứ ba: Văn bản văn học khi được công chúng tiếp nhận đã ảnh hưởng, tác động xã hội, đến tâm lý, sở thích cá nhân và công đồng, đôi khi tạo nên cả những phong trào xã hội Hoạt động của nó cũng là một hiện tượng văn hóa
Để hiểu tác phẩm văn học ta cần giải mã trong ngữ cảnh văn hóa, chiều sâu của đời sống văn hóa cũng như chiều sâu tư tưởng của người nghệ sỹ [14]
1.1.3.2 Văn học thể hiện giá trị văn hóa
Mỗi chúng ta đều biết, những năm gần đây trong nghiên cứu phê bình văn học nổi lên những xu hướng tiếp cận bình diện văn hóa trong tác phẩm văn học Văn hóa thành đối tượng chính để các nhà nghiên cứu, phê bình văn học phân tích; Nữ quyền luận, sinh thái học, nhân học văn hóa, ký hiệu học văn hóa trong phân tích văn học… Giá trị (value) là cốt lõi của văn hóa được thể hiện trong sáng tác Nghiên cứu những vấn đề về văn hóa ta cần tập trung những giá trị và giá trị văn hóa Đó chính là kết tinh giá trị từ đời sống tinh
thần Với nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh thì ông cho rẳng: “ Giá trị là những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo những gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp Nói cách khác, đó chính là những cái được con người cho là Chân, Thiện, Mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất con người” [66, tr 38]
Người nghệ sĩ ở bất kỳ thời đại nào cũng thuộc về một lực lượng xã hội nhất định, cũng gắn bó với quyền lợi của giai cấp này hay giai cấp khác về mặt tư tưởng, bao giờ cũng chịu sự chi phối của một hệ tư tưởng nào đó Điều
Trang 22mà người cầm bút hướng đến là những giá trị, nó gắn bó và với sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội Từ ngàn đời nay dân tộc Việt Nam thể hiện giá trị
của đất nước mình, đó là: ‘yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người…” Đó là những màu sắc khác nhau trong vô vàn những giá trị
văn hóa của dân tộc ta Cùng với thời gian giá trị về văn hóa của chúng ta có một bề dầy Để nhận thức những giá trị văn hóa mỗi chúng ta phải cảm nhận, sàng lọc, thẩm thấu bằng cả một tâm hồn văn hóa Tất cả những gì là chuẩn mực, là phù hợp với phong tục, lối sống của con người Việt Nam thì được bảo tồn, gìn giữ và nhân rộng Đó chính là giá trị văn hóa Bên cạnh đó, những gì không là chuẩn mực, là vô nghĩa sẽ bị cộng đồng đân tộc loại bỏ Những giá trị mà chúng ta hướng đến sẽ góp phần quan trọng trong đời sống văn hóa tinh
thần của dân tộc Nó giống như một “mao mạch” giúp mỗi chúng ta không
ngừng phấn đấu vươn lên để hoàn thiện chính mình
Nhìn lại chặng đường phát triển của văn học, ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử ta đều thấy văn học là bộ phận của văn hóa Mỗi tác phẩm văn học ra đời đều chịu ảnh hưởng từ môi trường văn hóa, hoàn cảnh xã hội…Những sáng tác đó bao hàm rất nhiều những giá trị Văn học mở ra các quy luật của mối quan hệ giữa con người và thế giới, nhưng khác với khoa học xã hội, văn học không nghiên cứu bản thân những quy luật đó Văn học cũng không thông báo về các vấn đề xã hội bằng khái niệm, nó chỉ mang đến những thông tin rất đặc trưng thông qua phản ánh nghệ thuật nhằm phát động những rung động tình cảm trong con người, gợi cho con người suy tư, nghiền ngẫm Với khả năng đó, văn học trở thành một trong những hệ thống tín hiệu có khả năng hướng dẫn trong đời sống xã hội Như hệ thống tín hiệu, văn học không thông báo một cách đơn giản các tình huống, số phận của con người Từ xưa người ta đã nói văn học không phải phản ánh cái đang tồn tại mà phản ánh cái – có thể , hoặc văn học không phẩn ánh cái hiện thực mà là phản ánh ảo ảnh
Trang 23của hiện thực (Ch Caudwel) Mỹ học hiện đại cho rằng tác phẩm văn học đích thực mô tả con người như một thực thể xã hội trong mối quan hệ với hiện thực đời sống và cả trong mối liên hệ với triển vọng lịch sử của nhân loại Khát vọng vươn tới sự hoàn thiện của con người của con người chính là giá trị cơ bản trong tác phẩm văn học Văn học từ những tác phẩm đầu tiên
mà nhân loại gìn giữ đã thể hiện khát vọng đó, thậm chí đã thể hiện những khát vọng về sự hoàn thiện của con người cao cả đến mức cho tới bây giờ con người mới chỉ thực hiện được phần nào Chính nhờ độ căng – hay sự không tương ứng – giữa sự hoàn thiện của con người được thực hiện trong cuộc sống hằng ngày và khát vọng đó trong tác phẩm văn học mà văn học vẫn luôn có vai trò không thể thiếu đối với sự phát triển của con người và xã hội Tác phẩm văn học vừa gắn với bản chất đặc thù nghệ thuật và mang đến cho đối tượng thưởng thức một cảm nhận đúng hướng Theo thời gian, tác pẩm không phải là một phạm trù tĩnh tại Trong quá trình giao lưu tiếp biến, bên cạnh những yếu tố nội sinh được cấy trồng và giữ lại, có những yếu tố chưa phù hợp sẽ được cải biến cho phù hợp
Xuất phát từ hiện tại, soi chiếu phạm trù giá trị vào tác phẩm văn học sẽ giúp người nghiên cứu tránh được cái nhìn thiển cận trong việc bình giá những mô hình phản ánh Qua mỗi trang viết, nhà văn thể hện mọi mặt của đời sống Từ đó người đọc có cơ hội tiếp xúc với các giá trị văn hóa như ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống, thói quen,… của con người trong đó Xét trên tổng thể, văn học bao giờ cũng có mối quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực khác của đời sống Các giá trị văn hóa không được định hướng đúng thì sẽ
dẫn tới những hậu quả khôn lường Có thể nói văn học như “bộ lọc” tin cậy
để thẩm định các giá trị văn hóa Ngoài ra văn học còn có khả năng đào thải
những giá trị “phi văn hóa”
Trang 24Văn hóa và văn học đều là những hiện tượng thông tin Hoạt động phổ quát nhất ở các sinh vật bậc cao là hoạt động thông tin Nếu chúng ta nhất trí rằng văn học là một loại nghệ thuật thì nó sẽ nằm trong một chuỗi sau đây, từ phạm vi rộng đến phạm vi hẹp, cái sau lồng vào trong cái trước kiểu búp bê Nga: Thông tin – Văn hóa – Nghệ thuật – Văn học Xem xét từng khâu của của chuỗi này chúng ta thấy chúng có mối liên hệ với nhau Đầu tiên là mối quan hệ thông tin – văn hóa Thông tin là sự phản ánh hiện thực nhờ tâm lý hoặc ý thức Ở các sinh thể thuộc loại tiền tâm lý không có hoạt động thông tin, chỉ có những phản xạ thô sơ có tính tâm lý hóa và tiền sinh học đối với hiện thực một số động vật bậc thấp có phản xạ mang tính bản năng Thông tin là sự phản ánh bậc hai, tích cực (bậc một có tính năng lượng, bản năng), không tồn tại khi chủ thể mang không có sự xử lý thông tin Vậy chủ thể mang thông tin chỉ có thể là những động vật có hoạt động tâm lý và con người Cấp độ thấp của thông tin là thông tin của những module sinh học, cấp
độ cao là thông tin tinh thần – xã hội, tức là văn hóa Mọi hiện tượng văn hóa đều là thông tin, nhưng không phải mọi hiện tượng thông tin đều là văn hóa Thông tin không phải văn hóa là sự phản ánh thế giới nhờ thứ tâm lý phi ngôn ngữ, vì thế chủ thể văn hóa chỉ có thể là con người Văn hóa mang trong mình toàn bộ các hình thức hoạt động xã hội và tinh thần của con người Chỉ có các hoạt động có tính bản năng (tự nhiên) ở con người mới không nằm trong lĩnh vực văn hóa Quan hệ tiếp theo là quan hệ nghệ thuật – văn học Một trong những thành phần của văn hóa là nghệ thuật Bản chất của nghệ thuật là tính thẩm mỹ, kết quả của sự tương tác hình tượng, hình tượng nghệ thuật chỉ có thể được tạo nên từ ngôn ngữ trực tiếp hoặc tựa vào ngôn ngữ Ngôn ngữ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, tức các ký hiệu được tổ chức theo các quy tắc ngôn ngữ - lời nói (ngôn lời) Mọi tác phẩm nghệ thuật (điêu khắc, kiến trúc, hội họa, điện ảnh, âm nhạc, sân khấu, văn học…đều có tính chất ngôn ngữ
Trang 25hoặc là tác phẩm của nghệ thuật ngôn ngữ Tại sao như vậy? Vì ngôn ngữ gắn liền với tư duy, tư duy là tư duy bằng ngôn ngữ, không có tư duy ngoài ngôn ngữ Ngôn ngữ có hình thức hiển ngôn (được nói ra) và tiềm ngôn (nghĩ thầm) Các lý thuyết triết học – ngôn ngữ trên cơ sở thực nghiệm và nghiên cứu lịch sử loài người đã đi đến những kết luận như vậy Con người hình dung, phản ánh thế giới theo những mô hình, theo những nguyên tắc của hệ thống ngôn ngữ Văn hóa như vậy có tính ngôn ngữ về bản chất, tất cả các
hiện tượng văn hóa (trong đó có nghệ thuật) đều có “tính ngôn ngữ|” với
những mức độ khác nhau Chính vì thế mà trong số các nghệ thuật, ưu thế vẫn
là văn học – một thứ nghệ thuật đích thực, “thuần khiết” ngôn từ Nói như
GS Trần Đình Sử “ ngôn từ là phương tiện giao tiếp không gì cạnh tranh được” Văn học nghệ thuật phát triển cũng chính là cơ sở văn hóa phát triển
Macxim Gorki đã từng nói: Văn học là nhân học Tuy nhiên văn học
còn hun đúc và tạo nên những giá trị văn hóa khác như: Văn hóa con người bên cạnh đó văn học còn giúp con người hiểu được người khác và hiểu được chính bản thân mình Trong cuộc sống hiện đại, Thế giới đang hướng đến cuộc cách mạng 4.0 vì vậy đòi hỏi phải có một nền văn học tác động tới sự tự
ý thức hơn nữa để con người hoàn thiện mình và phát triển mình Chính văn học đã tạo ra những cuộc hành trình có ý nghĩa quyết định tới sự hoàn thiện phát triển của mỗi cá nhân Hay nói cách khác văn học tiềm ẩn các phương diện văn hóa
1.1.4 Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa là phương pháp đã xuất hiện từ lâu trên thế giới Ngay cả ở Việt Nam, cho đến thời điểm này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu văn học trên cơ sở tìm hiểu những tác động và chi phối của văn hóa được thể hiện trong đó Một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như:
Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb
Trang 26Văn hóa, Hà Nội; Đỗ Lai Thúy (1999), Từ cái nhìn văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Trần Nho Thìn (2007), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, NXB giáo dục, Hà Nội; Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học
từ mã văn hóa, NXB ĐHQG Hà Nội… đã chuyển hướng nghiên cứu từ khá
sớm và đặt các dấu mốc cũng như các tiêu chí cho việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa
Đặc tính quan trọng nhất của việc nghiên cứu tác phẩm là vấn đề quan
hệ của nó với ngữ cảnh văn hóa trong đó nó hoạt động Ngữ cảnh, trong những điều kiện xuất hiện và tồn tại tác phẩm, phản ánh phạm vi hiểu biết văn hóa của tác giả và những điều kiện trực tiếp ảnh hưởng đến yếu tố nội dung được sáng tạo ra hoặc đặt ra trong tác phẩm Khi nghiên cứu các hiện tượng văn học trong ngữ cảnh văn hóa, điều quan trong là đặt mình, sự tồn tại tinh thần của mình vào ngữ cảnh văn hóa, cùng sống trong môi trường văn hóa Khi đó, ta thấy được quan hệ biện chứng của văn học và văn hóa: tác phẩm được hiểu như hiện tượng văn hóa, còn văn hóa được hiểu như môi trường tồn tại của tác phẩm văn học Khi tác phẩm văn học nằm trong bối cảnh, nó chìm vào các đối thoại văn hóa, đối thoại giữa các ý thức Tác phẩm thể hiện như các hình thức giao tiếp được ghi lại, tách khỏi bản thân tác giả Chính trong chiều kích này, tác phẩm là hình thức giao tiếp văn hóa Tác giả tạo ra tác phẩm không phải để cho các nhà nghiên cứu hay giảng dạy văn học mà để giao tiếp với người đoc, một chủ thể khác Tác phẩm văn học do nhà văn sáng tạo ra nhưng mỗi lần lại được “ thời sự hóa” trong văn hóa đương đại nhờ sự đọc của thời đại sau, quá khứ một mặt đi vào trong văn hóa sốt dẻo đương thời, mặt khác kinh nghiệm đương thời soi chiếu quá khứ làm bộc lộ nhiều mặt hơn và đánh giá nó sâu sắc hơn Thế giới bên trong của tác phẩm nghệ thuật mang trong mình môi trường ngoài văn bản Sự giao tiếp của thế giới trong và ngoài văn bản văn học thông qua các kí hiệu được tổ chức nhằm định
Trang 27hướng cho người đọc trong việc xác lập những quan hệ tiềm tàng giữa các hình tượng trong văn bản văn học với hiện thực bên ngoài
Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, tác giả Trần Nho Thìn cho rằng “ Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa ưu tiên cho việc giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự liên tục, tính chất mở của chúng trong không gian và thời gian” [65, tr.9,10]
Cũng như giáo sư văn học người Nga, M Bakhtin, Đại học Sarasnk
cho rằng: “ Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại” [37,tr.10]
Nói tóm lại nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa cần “
vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm” và “ đặt văn học vào bối cảnh rộng lớn của văn hóa – xã hội, hoặc trong ảnh hưởng qua lại của văn học đối với những hiện tượng văn hóa xã hội khác, từ đó làm nổi bật những sắc thái văn hóa phong phú được thể hiện trong tác phẩm văn học; hoặc giải mã khám phá những phù hiệu, biểu tượng hàm ẩn muôn vàn lớp nghĩa trầm tích của văn hóa trong văn bản văn học cụ thể” [2, tr.7]
1.2 Khái lược về tiểu thuyết Nhất Linh ( 1932 -1945 )
1.2.1 Khái lược về hoàn cảnh lịch sử và tổ chức Tự lực văn đoàn
Về hoàn cảnh lịch sử, từ 1930 mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt và quyết liệt Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Cách mạng Việt Nam có một bước ngoặt quyết định Cao trào Cách mạng sôi sục khắp cả nước, trung tâm
là Nghệ Tĩnh Thực dân khủng bố điên cuồng, Cách mạng bị dìm trong bể máu
Trang 28Đây cũng là thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn thế giới tư bản (1929 – 1933) mà xứ Đông Dương thuộc địa cũng phải chịu hậu quả nặng nề
Tình hình hết sức đen tối, từ sau 1930, đời sống đô thị Việt Nam phát
triển mạnh theo hướng Âu hóa Phong trào “vui vẻ trẻ trung” và lối sống mới được khuyến khích Lúc này đội ngũ thanh niên trí thức “Tây học” đã khá
đông đảo, thay thế dần lớp Nho học để đóng vai trò chủ thể của hoạt động văn hóa mới Ý thức cá nhân bừng tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ Cái tôi cá nhân vừa có nhu cầu tự khảng định mình, muốn giải phóng khỏi sự trói buộc của văn hóa
lễ giáo truyền thống , vừa hoang mang sợ hãi trước thực tại xã hội đen tối,
cảm thấy “hết sức chán nản về những sự chính trị ồn ào, vô hiệu” [32], nên
khao khát thoát khỏi thực tế ngột ngạt, thực hiện những giấc mơ của cái tôi Trong bầu không khí đó, văn học lãng mạn bột phát rầm rộ, chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trên văn đàn Văn học hiện thực phê phán bị lấn át, song cũng bước vào thời kỳ phát triển mới, có một diện mạo và những đặc điểm mới
Tự lực văn đoàn là một tổ chức hoạt động và sáng tạo văn chương nổi lên những năm đầu của thập kỉ XX Nếu tính từ tuyên bố của Tự lực văn đoàn đăng trên Phong hóa số 87 thì văn đoàn ra đời vào ngày 2/3/1933 Hoạt động
báo chí của Tổ chức qua tờ Phong hóa được tiến hành sớm hơn Tự lực văn
đoàn gồm các thành viên Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Thê Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Tú Mỡ ( Hồ Trọng Hiếu), Trần Tiêu và Xuân Diệu Bên cạnh đó còn sự cộng tác của nhiều nghệ sĩ khác như về họa có Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường; về nhạc có Nguyễn Xuân Khoát; về kịch có Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ; về phóng sự có Trọng Lang;
về tiểu thuyết có Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Bùi Hiển; về thơ có
Đỗ Huy Nhiệm, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông Tự lực văn đoàn hướng sáng tác theo tôn chỉ gồm 10 điều
Trang 29+ Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước
+ Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội Chú ý làm cho người và cho xã hội ngày một hay hơn lên
+ Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân
và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân
+ Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam
+ Lúc nào cũng mới mẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ + Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của cuộc đời mà có tính cách bình dân, không có tính cách trưởng giả mà quý phái
+ Trọng tự do cá nhân
+ Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa
+ Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam
+ Theo một trong chín điểm này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác
Chủ trương của Tự lực văn đoàn
Về chính trị, Tổ chức Tự lực văn đoàn đả phá chính sách “chia để trị”
của thực dân Pháp Thực dân chia nước ta ra làm ba kỳ, việc chấn hưng Phật giáo, không vì Phật giáo mà cốt để gây tinh thần chia rẽ giữa người Việt theo Phật giáo với người Việt theo công giáo Đả kích chính sách trụy lạc hóa thanh niên, đả kích sự hống hách của tầng lớp quan lại, kỳ hào… Mặt khác,
Tự lực văn đoàn đòi hỏi canh tân, chống phong kiến, chống thực dân để tiến tới tinh thần dân chủ, đề cao vẻ đẹp cao quý về tinh thần vị tha của những con người họat động Cách mạng, giải phóng dân tộc
Trang 30Về xã hội, Tổ chức Tự lực văn đoàn đả phá tinh thần hương đảng, tranh chấp thủ lợn, phao câu ở chốn đình trung, đả phá óc mê tín dị đoan, đả phá chế độ đại gia đình cùng tính cách hẹp hòi của luân lý Khổng Mạnh đã bóp nghẹt tự do cá nhân (uy quyền tuyệt đối của cha mẹ, sự nô dịch phái Phụ nữ, gây nên những hủ tục ép duyên, gả bán, làm lẽ, đa thê, sự tranh chấp gia tài ), chế giễu những tập tục hủ lậu khác Bên cạnh đó, Tự lực văn đoàn kêu gọi sự
cố gắng và tham gia của lớp người mới vào sự cải thiện xã hội, ca tụng sự
nhân đạo hóa tư bản ( như đời sống của vợ chồng Hạc trong Gia đình )
Tự lực văn đoàn luôn khích lệ mọi người nhất là tầng lớp thanh niên một thái
độ quyết tâm phục vụ cho đời sống tinh thần và vật chất của giới bình dân nghèo khổ; tích cực truyền bá tinh thần vui sống để gột rửa mọi tư tưởng bi quan yếm thế do phong trào lãng mạn sướt mướt đang tràn lan trong dân chúng, nhất là trong giới thanh niên và phụ nữ
Sau cùng là “cải cách” y phục phụ nữ do Tự lực văn đoàn đề xướng với
những kiểu áo mới do họa sỹ Nguyễn Cát Tường vẽ đã thể hiện được yếu tố
xã hội và mỹ thuật
Về văn học, tổ chức Tự lực văn đoàn đả kích loại văn chương sáo và
rỗng cũ kĩ, đả kích lối văn chương “sướt mướt”, “sầu mây khóc gió” Tự lực
văn đoàn đẩy mạnh các thể văn mới như phê bình, phóng sự, tùy bút, thơ mới Lối hành văn của Tự lực văn đoàn đã uyển chuyển, trong sáng và nhẹ nhàng hơn Thế Lữ được xem là người có công đầu trong phong trào Thơ mới, đem những cái rạo rực của phương Tây vào Việt Nam thì có Xuân Diệu
và giữ được tính chất trào phúng đặc biệt Việt Nam thì có Tú Mỡ Về dịch thuật, đã bắt đầu dịch những tác phẩm nổi tiếng của phương Tây…
Nhìn chung tôn chỉ của Tự lực văn đoàn là tiến bộ khi nói đến tình cảm dân tộc trong văn chương, ý thức về tự do cá nhân và sự quan tâm đến vấn đề bình dân Đồng thời tôn chỉ cũng bộc lộ đặc điểm của một trào lưu văn học đang
Trang 31lên với nhiều hoài bão xây dựng nền văn học nước nhà và muốn đóng góp phần mình vào sự phát triển chung của xã hội
Như vậy, Tự lực văn đoàn xuất hiện và ngay từ đầu có tác động, thu hút được lòng tin cậy ở độc giả, dần chiếm vị trí quan trọng trên văn đàn công khai Có được những thành tựu ấy hẳn không phải là điều ngẫu nhiên mà có căn nguyên sâu xa từ hoàn cảnh xã hội, nhu cầu đổi mới sinh hoạt văn hóa văn nghệ của xã hội, và sự hiện diện của lớp công chúng mới ở các đô thị
1.2.2 Tiểu sử, con người nhà văn Nhất Linh
Nhất Linh người sáng lập Tổ chức Tự lực văn đoàn, là cây bút tiêu biểu của Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 Những đóng góp của Nhất Linh có ý nghĩa đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ở giai đoạn này
Nhất Linh sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906, mất ngày 7 tháng 7 năm
1963, tên thật là Nguyễn Tường Tam, quê gốc ở Quảng Nam, sinh ở phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Ông xuất thân trong một gia đình công chức gốc quan lại Thuở nhỏ học ở Hải Dương rồi ở Hà Nội Sau làm ở Sở Tài chính và bắt đầu sáng tác 1925, học ở trường Cao đẳng mỹ thuật Hà Nội Năm 1927, ông sang Pháp học Năm 1930, ông trở về nước với bằng Cử nhân khoa học Từ 1930, ông dạy học ở Trường Tư thục Thăng Long và kết bạn
với Khái Hưng Năm 1932, chủ trương báo Phong hóa đổi mới, dùng tiếng
cười trào phúng để đả kích văn hóa lễ giáo phong kiến Năm 1933, sáng lập
Tổ chức Tự lực văn đoàn, đảm nhiệm nhiều hoạt động của tổ chức này, phụ
trách nhà xuất bản Đời nay của Tự lực văn đoàn, tổ chức Hội Ánh
sáng…Nhất Linh là cây bút vào loại sáng giá của Tự lực văn đoàn Nhất Linh
vào đời văn sớm Trước 1930, có Nho phong (1926) – Nho phong đề cao nếp
sống và đạo lý của nhà Nho trong đời sống một gia đình theo nếp cổ trước
những đổi thay phức tạp của đời sống Nho phong là câu chuyện cổ, tư tưởng
Trang 32của tác giả vẫn ràng buộc theo nếp cũ Tiếp đến là Người quay tơ (1927) Ngày nay, nhắc đến Nho phong và Người quay tơ không phải ở khía cạnh
thưởng thức những áng văn chương của một thời kỳ mà chủ yếu để liên hệ, so sánh và thấy rõ sự đổi thay, tiến bộ vượt bậc của Nhất Linh ở chặng đường sau Giai đoạn thứ hai là thời kỳ Nhất Linh có những đóng góp đặc biệt, xuất phát từ sự thay đổi quan niệm về văn chương và quan niệm về con người, gây
ấn tượng rộng rãi với bạn đọc Nhất Linh viết chung với Khái Hưng tác phẩm
Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1934), Cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt
(1934) là điểm sáng của tiểu thuyết Nhất Linh cũng như của Tự lực văn đoàn
Tiếp theo là Lạnh lùng (1936), Tối tăm (Tập truyện 1936), Hai buổi chiều vàng (1937), Đôi bạn (1937) và Bướm trắng (1939) Khi phát xít Nhật vào
Đông Dương, Nhất Linh ngừng sáng tác, chuyển sang hoạt động chính trị Sau 1951, ông về vùng tạm chiếm ở miền Nam thôi không hoạt động chính
trị Sau vài tháng vào Nam mở nhà xuất bản Phượng Giang và tái bản Tự lực
văn đoàn Năm 1953, ông lên sống ở Đà Lạt và sau đó về Sài Gòn làm chủ tờ
báo Văn hóa ngày nay (11 số) Nhất Linh bị dính vào vụ đảo chính
11/11/1960 và bị chính quyền Diệm gọi ra tòa xử Nhất Linh đã uống thuốc độc tự vẫn ngày 7/7/1963 Giai đoạn cuối đời, ông viết một số tác phẩm như
Xóm cầu mới (1958), Dòng sông Thanh Thủy (1961)
Là người sáng lập Tổ chức Tự lực văn đoàn, Nhất Linh đã vận dụng những trải nghiệm mà ông du học ở Pháp để mở rộng các hoạt động xã hội khác như hoạt động xuất bản, thành lập nhà xuất bản… Bên cạnh đó, nhất Linh cũng là người phát hiện những tài năng trẻ và tạo điều kiện cho họ để họ
có cơ hội xuất hiện trên văn đàn như Tú Mỡ, Thế Lữ, Anh Thơ, Tế Hanh,
Nguyễn Bính Cũng chính Nhất Linh là người đóng vai trò “giữ nhịp”, “tạo nhịp”cho toàn bộ hoạt động của Tự lực văn đoàn, giúp cho Tự lực văn đoàn
trở thành nhóm phái văn học thành công nhất trong giai đoạn này
Trang 33Nhà nghiên cứu Trương Chính cũng đã nhận xét: “Trong Tự lực văn đoàn phải công nhận Nhất Linh là cây bút vững vàng nhất Cách bố trí truyện, cách xây dựng nhân vật, cách sử dụng cảnh vật xung quanh để làm nổi bật tâm lý nhân vật, các nhà văn trong Tự lực văn đoàn đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của ông Những lời nhận xét ấy là hoàn toàn có căn cứ vì Nhất Linh đã trải qua một chặng đường dài nỗ lực đổi thay và vượt lên mình” [6]
Nói tóm lại, trong khoảng thời gian từ 1932-1945 Nhất Linh đã làm tốt hai vai trò: vai trò trưởng nhóm Tự lực văn đoàn và vai trò là nhà văn Tác
phẩm của ông mang tính chất của một nghệ thuật vận động
1.2.3 Đặc điểm nghệ thuật và quan niệm sáng tác của Nhất Linh
Là nhà văn có ảnh hưởng nhiều từ văn học phương Tây nên Nhất Linh
cũng đã thể hiện rõ sự tiến bộ trong mỗi trang viết Về nghệ thuật, ông cũng
thể hiện rõ những ưu điểm như cách kể chuyện, tạo dựng nhân vật, phân tích tâm lý, lối hành văn…Tác giả hay quan sát, phán đoán, nặng suy nghĩ và cách diễn đạt tư tưởng thường có tính chất lý trí; người viết chủ động khi cầm bút, lời văn ngắn gọn, chặt chẽ, chính xác vừa giản dị vừa chọn lọc Một đặc sắc của Nhất Linh là đã bằng một nghệ thuật chắc chắn, hình tượng hóa những luận đề xã hội, những quan niệm trừu tượng Truyện là chuyện sống, ở mỗi câu chuyện toát lên những ý nghĩa xã hội Nội dung mỗi câu chuyện rất chân thực, dựa vào những quan sát tỉ mỉ, nhân vật sống động Nhất Linh đã có những thể nghiệm và những gì ông viết ra đều là những điều rất gần với cuộc sống Tâm sự của Nhất Linh dường như được gửi gắm qua nhân vật trong tác phẩm Qua diễn biến của truyện, bạn đọc thấy hiện ra một hiện thực sinh động Hiện thực đó có giới hạn, có mức độ Luận đề ông đưa ra không hề gò
ép hình tượng mà trái lại là hình tượng làm nổi bật luận đề, làm cho luận đề
có sức sống Văn Nhất Linh có nhiều triết lý mà không khô khan Mỗi trang viết đều là những dòng cảm xúc chân thực mà hết sức điêu luyện
Trang 34Nhất Linh là cây bút có nhiều điểm tiến bộ và là người sáng lập tổ chức
Tự lực văn đoàn Ông là một tiểu thuyết gia có khuynh hướng về cải cách và
ông thực sự quan tâm đến cải cách xã hội Quan niệm trong sáng tác của Nhất
Linh có sự thay đổi lớn, trước 1932 ông theo quan niệm của các nhà Nho: “
văn gắn với đạo”, “ văn dĩ tải đạo”; cái đẹp được đề cao… Từ khi du học ở
Pháp về ông đổi mới trong quan niệm văn chương Ông có hoài bão dùng văn chương để cải tạo xã hội theo tư tưởng dân chủ Tư sản: bênh vực và giải phóng phụ nữ, phơi bày hiện thực, chống lễ giáo phong kiến… Những tiểu thuyết có giá trị của ông xuất bản trong khoảng 1935 – 1942 đều phô bày những thực trạng xấu xa hoặc của gia đình hoặc của xã hội Việt Nam và trong các tác phẩm của ông bao giờ cũng có những nhân vật kiên tâm, gắng sức để đổi mới cho cuộc đời của mình, qua đó góp phần thay đổi xã hội
Tiểu thuyết Nhất Linh phơi bày những thực trạng xã hội, thể hiện mong muốn phá bỏ cái cũ đi và xây dựng hẳn cái mới để thế vào Ông là một tiểu thuyết gia muốn từ bỏ những cái xấu xa trong gia đình và trong xã hội Mặc
dù tiểu thuyết của ông đi từ tiểu thuyết tình cảm đến tiểu thuyết tâm lý nhưng bao trùm hơn cả Nhất Linh vẫn được đánh giá là nhà văn chuyên viết tiểu thuyết luận đề
Từ 1932, Nhất Linh đã nổi tiếng với Gánh hàng hoa; Đời mưa gió; Nắng thu; Đoạn tuyệt; Lạnh lùng; Đôi bạn; Bướm trắng… Trong Nắng thu
ông tập trung thể hiện vẻ đẹp trong trắng ngây thơ của một cô thôn nữ bị câm sống lặng lẽ trong gia đình giàu có Tình tiết truyện có những chỗ dễ dãi, song
có những trang sắc sảo, phơi bày lối sống trống rỗng nhỏ nhen của hạng thanh niên trưởng giả nhà quê và những rung cảm của người nghệ sĩ trước cảnh
đồng quê Đến Đoạn tuyệt, Lạnh lùng là những cuốn tiểu thuyết luận đề quyết
liệt tuyên chiến với lễ giáo phong kiến, những phong tục cổ hủ, đòi quyền giải phóng phụ nữ, giải phóng cá nhân Bên cạnh đó nhà văn tập trung thể hiện
Trang 35khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ sống trong gia đình nhà chồng nhiều định kiến…Quan điểm của tác giả là khá táo bạo và tiến bộ: Bênh vực quyền sống, quyền hạnh phúc, lên án những quan niệm và những thành kiến cổ hủ
chà đạp lên quyền sống của họ, chôn vùi tuổi thanh xuân trong chuỗi ngày“ lạnh lùng’’ dài dằng dặc để phần thưởng cuối cùng là tiếng thơm “ tiết hạnh”
hết sức giả dối và vô nghĩa Nhà văn đã phê phán hủ tục, lễ giáo phong kiến
để khẳng định quyền sống của cá nhân
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, Nhất Linh cùng với Hoàng Đạo, Khái Hưng lại đưa ra những luận đề cải cách xã hội Những nhân vật của ông là những nhân vật thanh niên băn khoăn, trăn trở với thời cuộc Như nhân vật
Dũng trong Đôi bạn Họ tìm cách thoát ly gia đình để có hành động lý tưởng
Tiếp đến là sự ra đời của Bướm trắng, người đọc không còn thấy những
tình yêu lãng mạn, lý tưởng, những băn khoăn mới – cũ, bình dân và xã hội
mà là sự thu hẹp có phần cực đoan vào thế giới trắng – đen sâu thẳm ẩn náu bên trong con người
Những sáng tác sau này của Nhất Linh như Xóm Cầu mới, Dòng sông thanh thủy …không được chú ý mấy vì nội dung tư tưởng cũng như quan
điểm nghệ thuật của ông không theo kịp thời đại
Như vậy tên tuổi của Nhất Linh có ảnh hưởng rất lớn với văn học, văn hóa Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám Tác phẩm của ông đã
phản ánh lập trường thái độ của một bộ phận trí thức đương thời: nêu cao lá
cờ văn hóa chống phong kiến, mà nội dung chủ yếu là chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cải lương Nhà phê bình Trương Chính cũng thừa nhận nhiều điểm
tích cực, tiến bộ trong tiểu thuyết của Nhất Linh Ông là nhà văn luôn có ý thức đổi mới với bản thân mình cũng như với văn chương nói chung Không thụ động, chờ đợi mà chủ động tham gia vào các hoạt động cải cách xã hội Nhất Linh không thuần túy là nhà văn lãng mạn, tác phẩm không khuôn theo
Trang 36vòng tình ái mà luôn muốn mở rộng ra những vấn đề xã hội với nhiều ý tưởng
tích cực Trương Chính cho rằng “ có như thế mới hiểu tại sao ông đã hấp dẫn được người đọc một cách sâu sắc trong một thời gian khá dài và sau bao biến chuyển họ vẫn giữ một cảm tưởng tốt về những tác phẩm đó” [19,
tr.80,81]
Tiểu kết chương 1
Có thể nói trong những năm đầu của thế kỷ XX, những đóng góp của
Tự lực văn đoàn nói chung và của nhà văn Nhất Linh nói riêng đã đặt nền móng cho văn học nước nhà Nhất Linh là gương mặt tiêu biểu và xuất sắc trong tổ chức Tự lực văn đoàn Nền văn học Việt Nam đã trải qua những giai đoạn phát triển khó khăn nhất nhưng với tâm huyết và tài năng các nhà văn cũng đã tìm được hướng đi mới Với những sáng tác của Nhất Linh chúng ta
thấy rõ tiểu thuyết của ông tiến hóa rất mau Từ tiểu thuyết truyền thống (Nho phong) đến tiểu thuyết luận đề (Đoạn tuyệt, Lạnh lùng), và dừng lại ở tiểu thuyết tâm lý – hiện sinh (Bướm trắng)… đã cho thấy hành trình ấy không
tịnh tiến theo trục dọc mà trong quá trình sáng tác, Nhất Linh và nhóm Tự lực văn đoàn vẫn tự điều chỉnh quan niệm và bút pháp của mình, để có những đóng góp và thành công trong nền văn học nước nhà Chính Nhất Linh là cây
viết để lại những dấu ấn riêng biệt trong lòng bạn đọc Tiếp cận Tiểu thuyết Nhất Linh dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi nhận thấy: từ những tiền đề lý
thuyết về văn hóa, về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, văn học kết tinh các giá trị văn hóa, tiểu sử con người nhà văn…đã cộng hưởng, chi phối tác động đến sự thể hiện dấu ấn văn hóa trong sáng tác của ông
Trang 37Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN BIỂU HIỆN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT NHẤT LINH ( 1932 – 1945 )
2.1 Không gian văn hóa trong tiểu thuyết Nhất Linh
Từ xưa cho đến nay, dân tộc Việt Nam ta vốn có một truyền thống văn hóa lâu đời, mang đậm đà bản sắc và phong vị quê hương Trải dài theo diện tích hình chữ S, mỗi miền quê đều có những dấu ấn văn hóa riêng biệt Tuy nhiên mỗi miền quê ấy vẫn có những nét chung trong chỉnh thể thống nhất để tạo nên văn hóa Việt Nam Vậy ta có thể hiểu không gian văn hóa là nơi ở của người Việt qua các thời kỳ Trong phạm vi không gian ấy có các sự kiện đời sống diễn ra Nhà văn sáng tác văn học cũng xuất phát từ hiện thực đời sống
Và tiểu thuyết của Nhất Linh viết ở giai đoạn 1932 -1945 cũng đã thể hiện chân thực không gian văn hóa vùng châu thổ sông Hồng Mỗi trang văn của ông đều hiện nên những khung cảnh thiên nhiên hay sinh hoạt quen thuộc nơi
nông thôn, thành thị PGS.TS Lê Thị Dục Tú đã viết “Thiên nhiên không phải
là cái bè để chở cảm giác của con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
mà còn là không gian lý tưởng của các vùng cảm giác tiềm ẩn đâu đó giãi bày” [61]
2.1.1 Không gian văn hóa nông thôn
Với mỗi vùng quê sẽ có những đặc trưng riêng theo vùng bao trùm lên cảnh vật, tạo thành bức tranh thiên nhiên muôn mầu muôn vẻ trong mỗi sáng tác của Nhất Linh Thiên nhiên làm nền tảng để câu chuyện thêm phần thi vị Mỗi đoạn văn miêu tả phong cảnh thiên nhiên ta lại cảm nhận được cái cảm giác của con người được giao cảm với thiên nhiên Đó là không gian với thiên
nhiên yên bình nơi làng quê hẻo lánh xa xa trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt: “
Ngoài kia, ánh nắng vàng buổi chiều như tiếc ngày cuối cùng của một năm, còn lảng vảng trên các ngọn đồi, chòm cây, lướt thướt trên những cánh đồng
Trang 38cỏ màu xanh già Những thôn xóm rải rác dưới chân các đồi hay bên bờ con sông trắng cong queo như bị đè nén dưới vẻ to tát của trời đất rộng rãi” Và trong Nắng thu ta lại bắt gặp không gian làng quê yên ắng với thiên nhiên bình dị mà gần gũi: “ Ngoài đường vắng lạnh không có một ai Trời đã hơi sáng hơn, vì mặt trăng vừa ra khỏi vừng mây Đêm tĩnh nên tiếng dế bên bờ
cỏ vệ đường nghe càng to, càng rõ Chốc chốc luồng gió thoảng qua, lao xao trong rặng tre khô: những rặng tre nghiêng ngả như đương vừa thở dài vừa thì thầm nói chuyện Mặt ao sáng, dưới những làn lá súng tròn, bóng tre in ngược hình rung rinh với bong những ngôi sao lấp lánh tỏ mờ” Trong Gánh hàng hoa: “ Mặt trời mọc chiếu ánh sáng rực rỡ xiên qua những cành cao vót
và mềm mại của hai cây hoàng lan bên bờ giậu” Còn với Đôi bạn: “Ánh
nắng đã xuống đến giữa sân, trên những tấm khăn bàn treo ở dây thép, bóng lũy tre rung động”
Với nhà văn Nhất Linh, bạn đọc không chỉ biết đến những không gian với thiên nhiên nguyên sơ, thuần khiết mà qua những trang viết của ông chúng ta còn biết đến thiên nhiên bao trùm lên cảnh vật, hòa gắn với cảnh vật tạo nên một bức tranh thiên nhiên muôn màu và sinh động: Đó là không gian
mùa thu với “ánh nắng thu tưng bừng reo trong vườn rộng, nhấp nhánh trên
lá cây như vui đùa với gió”, “ánh nắng sáng với những tấm lụa vàng và thắt lưng hoa lý của mấy người con gái bán lụa diễn ra một quang cảnh vui tươi
lạ thường” Cảnh đẹp nhẹ nhàng mê đắm lòng người: “gió thu thoảng qua, mùi hoa cau thơm mát nhẹ nhàng ánh thu phấp phới trên lá cây rung động, cơn gió heo may thoảng qua (Nắng thu) Bên cạnh đó ta còn nhận thấy thiên nhiên trong sáng tác của Nhất Linh cũng có phần ảm đạm, hắt hiu: “Rặng xoan tây hoa đỏ ối và cành lá rủ là hai bên đường”(Gánh hàng hoa); “một buổi chiều êm như một giấc mộng; mấy cây thông ở đầu hiên nhà đứng đợi gió, ngoài kia ánh nắng vàng buổi chiều như tiếc ngày cuối cùng của một
Trang 39năm, còn lảng vảng trên các ngọn đồi, chòm cây, lướt trên những cánh đồng
cỏ màu xanh già” (Đoạn tuyệt) Một thế giới thiên nhiên ngọt ngào mang dư
vị của cuộc sống
Không chỉ có thế, ta còn thấy cảnh sắc thiên nhiên nhuốm tâm hồn tình
cảm của con người Như nhà thơ Nguyễn Du đã từng viết “ Người buồn cảnh
có vui đâu bao giờ” Cảnh và tình hòa quyện làm một Thiên nhiên có trong
cuộc sống, số phận, tình cảm của con người Những khi tâm hồn nhân vật vui tươi độ cảm nhận về cảnh vật thiên nhiên cũng tràn đầy sinh khí Đâu đâu nhân vật cũng thấy rộn ràng sự sống Những khi tâm hồn nhân vật buồn chán
độ cảm nhận về cảnh vật thiên nhiên cũng biến đổi theo Đâu đâu ta cũng thấy
thiên nhiên buồn ảm đạm Trong Gánh hàng hoa ta dễ dàng bắt gặp một
phong cảnh thiên nhiên tươi rói, rộn ràng sức sống “Phong cảnh chiều hôm nay tuy vẫn phong cảnh ấy mà Minh ngắm thâý xanh tốt, rực rỡ bội phần: Hoa xoan tây chàng trông thấy đỏ thắm hơn, hoa hoàng lan chàng ngửi thấy thơm ngát hơn, những hoa sen trắng, đỏ nhấp nhô trên mặt nước, chàng tưởng tượng ra trăm nghìn nụ cười hàm tiếu , thiên nhiên…Những luống đất mới xới, đất vàng, rất gọn gang vuông vắn, trong lấm tấm chen chúc những cây cao mới gieo xanh non Trong lòng Minh vui sướng Minh thấy cảnh vật cũng đều đẹp đẽ tươi tốt hơn mọi ngày Hoa huệ trắng mát hơn, hoa hồng quế
đỏ thắm hơn, hoa kim liên vàng chói hơn, hoa mộc, hoa sói, hoa hoàng lan, hương thơm ngào ngạt hơn” Khung cảnh thiên nhiên đã mang bao niềm cảm
xúc của nhân nhân vật Minh, anh vui vẻ phấn khởi bởi anh đã đỗ đạt Giữa khung cảnh thiên nhiên nhân vật Dũng như được mở lòng mình để đón lấy sự
tinh tế nhất “ ánh sáng buổi chiều đều đều và êm dịu: Tiếng sáo diều ở đâu rất xa đưa lại nhẹ như hơi gió Dũng cảm thấy có một sự hòa hợp nhịp nhàng giữa cảnh chiều và lòng chàng lúc đó” (Đôi bạn) Một cõi lòng dịu nhẹ mơ hồ
trước thiên nhiên nhân vật Dũng thấy mình rất gần với thiên nhiên Chàng
Trang 40thấy lòng nhẹ nhàng, thanh thản như tiếng sáo diều vi vu Nỗi niềm của con người như gửi cả vào thiên nhiên, nhìn đâu cũng thấy mờ nhạt Từ sự hiện
hữu của :cái ao nước tù trong xanh, cây sung rễ mọc nổi trên mặt đất tựa như con rắn trăn, đã mốc thếch, khóm chuối lá to bảng màu xanh vàng như một đám tàn quạt phe phẩy theo ngọn gió …Tuyết buồn chán, rùng mình (Đời
mưa gió) Thật xót xa cho thân phận của người con gái bé nhỏ Trước thiên
nhiên thôn quê cũ kĩ, già nua khiến cho Tuyết ngẫm đến thân phận mình “ bèo dạt mây trôi” kiếp sống giang hồ Thiên nhiên đã chứa đựng những thông
điệp, nỗi niềm của nhân vật Chính thiên nhên là nơi lấp những khoảng trống, những dòng tâm sự của nhân vật
Dường như thiên nhiên, vạn vật bao quanh nhân vật với đủ sắc màu và
âm hưởng đã tạo nên những cung bậc khác nhau trong sáng tác của Nhất Linh Những cung bậc ấy chính là những cung bậc của cảm xúc con người Thiên nhiên hiện hữu trong mỗi trang văn; khi chỉ là một làn gió thoảng, một ánh trăng vàng, một nhành hoa đỏ hay cái hiu hiu của tiết trời sang thu…cũng
đủ để thể hiện sức hấp dẫn bạn đọc
Có thể nói, vẻ đẹp trong sáng tác của Nhất Linh là vẻ đẹp của thiên nhiên, của bầu không khí bao quanh nhân vật Không gian nông thôn là thiên nhiên yên bình, cuộc sống đơn giản, là những phong tục… Nơi làng quê yên bình ấy, bạn đọc dễ bắt gặp một làn gió thoảng làm bay làn tóc của cô gái quê
có nụ cười chúm chím, một cánh bướm rập rờn trong nắng mai… Trong không gian yên bình ngập tràn hương sắc của hương đồng gió nội, con người
có điều kiện để bộc bạch lòng mình Vì thế mà từ xưa cho đến nay mỗi con người chúng ta thường hay nói là về quê Về quê là về với nông thôn, nơi có một không gian văn hóa rộng Đặc biệt là được trải nghiệm cùng thiên nhiên
và cuộc sống của con người Khai thác tiểu thuyết Nhất Linh không đơn thuần khai thác thế giới nhân vật Bởi lẽ nhân vật trong sáng tác của ông luôn song