1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Quản trị kinh doanh: Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Trường hợp

27 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 705,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tìm hiểu mối quan hệ giữa công nghệ thông tin, quản lý tinh gọn và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa trên kết quả xác định mối quan hệ giữa các thành phần này, nghiên cứu sẽ đưa ra các hàm ý quản trị tương ứng nhằm hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp để cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

VĂN HỮU QUANG NHẬT

ẢNH HƯỞNG CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ QUẢN LÝ TINH GỌN ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ NGÀNH: 9340101

Đồng Nai, năm 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Lạc Hồng

Người hướng dẫn khoa học:

1 HD1: PGS TS HUỲNH ĐỨC LỘNG

2 HD2: TS NGUYỄN THANH LÂM

Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp trường chấm luận án cấp Trường họp tại vào lúc ……….giờ………ngày…………tháng…………năm………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Trường đại học Lạc Hồng

- Thư viện Quốc gia

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Bối cảnh nghiên cứu

QLTG trở thành một định hướng quản lý quan trọng, đóng vai trò như một giải pháp hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn trong điều kiện hạn hẹp tài nguyên Các phương pháp sản xuất tinh gọn sử dụng một số kỹ thuật như Just In Time (JIT), cải tiến liên tục, giảm thời gian và hàng tồn kho, cải tiến quy trình và loại bỏ chất thải để cải thiện sự hài lòng của khách hàng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, và tính linh hoạt của tổ chức (Garza-Reyes, 2015) Các nghiên cứu trước khẳng định mối quan hệ tích cực của QLTG đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nhiều khía cạnh khác nhau Công nghệ hiện đang được phổ biến rộng rãi đến tất cả các cấp tổ chức (Nordin

và Othman, 2014) Nhiều nghiên cứu đã nhận định rằng kết quả hoạt động kinh doanh bền vững của doanh nghiệp nên được giải quyết thông qua một quá trình điều chỉnh liên tục, có thể được tạo điều kiện bởi các khả năng thích nghi (Eikelenboom và de Jong, 2019) vốn có thể được tạo nên dựa vào việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất, kinh doanh

Đồng thời, trong bối cảnh của nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập vào khu vực và thế giới, các lý thuyết về phát triển kinh tế nói chung và quản trị nói riêng có những đặc điểm riêng Đặc biệt là bối cảnh khủng hoảng Covid - 19, những đổi thay sau khủng hoảng y tế, dãn cách xã hội, vai trò của CNTT trong kết nối sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quản trị điều hành doanh nghiệp có sự thay đổi và phát triển nhanh chóng trong giai đoạn vừa qua, sản xuẩt từ quy mô lớn sang quy mô nhỏ, linh hoạt, từ tập trung quy mô lớn sang phân tán tận dụng ưu thế cạnh tranh ở từng mắt xích của chuỗi giá trị, của quy trình sản xuất kinh doanh trên quy mô toàn cầu Tuy nhiên, quản trị điều hành của các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và Tp Hồ Chí Minh nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, ứng dụng CNTT trong kết nối, điều

Trang 4

hành và quan điểm sản xuất tinh gọn vẫn chưa phổ biến dẫn tới hiệu quả hoạt động, tính bền vững của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập Với những lý do thực tiễn và lý luận đó, tác giả thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của mối quan

hệ giữa công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể được trình bày tiếp theo sau đây

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tìm hiểu mối quan hệ giữa CNTT, QLTG và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Dựa trên kết quả xác định mối quan hệ giữa các thành phần này, nghiên cứu sẽ đưa ra các hàm ý quản trị tương ứng nhằm hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp để cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Dựa trên mục tiêu tổng quát, nghiên cứu xác định các mục tiêu cụ thể như sau:

- Xác định vai trò của công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Xác định thành phần và các nhân tố ảnh hưởng đến của công nghệ thông tin, quản lý tinh gọn

- Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa vào CNTT và QLTG

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã được đặt ra, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu tương ứng Cụ thể như sau:

- Vai trò của công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào?

Trang 5

- Các nhân tố tác động của công nghệ thông tin, quản lý tinh gọn là những nhân tố nào?

- Những hàm ý quản trị nào là phù hợp để các doanh nghiệp có thể dựa cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh thống qua công nghệ thông tin

và quản lý tinh gọn?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm: Kết quả hoạt động kinh doanh, Công nghệ thông tin, Quản lý tinh gọn và mối quan hệ giữa các nhân tố này

1.4.2 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát để thực hiện quá trình thu thập thông tin nghiên cứu định lượng cụ thể là: Quản lý đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Phạm vi thời gian của luận án được bắt đầu từ 2017 đến 2020

1.4.3.3 Phạm vi nội dung của các vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu giới hạn khái niệm kết quả hoạt động kinh doanh là cảm nhận, nhận định chủ quan của nhà quản lý về kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khái niệm QLTG được giới hạn ở mức độ ứng dụng các phương pháp tinh gọn vào quản lý doanh nghiệp Nghiên cứu giới hạn đánh giá khái niệm CNTT của doanh nghiệp là mức độ ứng dụng CNTT tổng quát trong doanh nghiệp và không hướng đến việc đánh giá mức độ ứng dụng hay triển khai một hệ thống CNTT cụ thể nào

Trang 6

Với góc độ tiếp cận khái niệm CNTT và QLTG như đã đề cập là các hệ thống công nghệ mới áp dụng vào doanh nghiệp, các nhân tố tác động đến CNTT và QLTG được giới hạn trong các nhân tố độc lập của lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phù hợp được lựa chọn và sử dụng trong nghiên cứu này

là phương pháp hỗn hợp Kết hợp định tính và định lượng trong quy trình nghiên cứu sẽ phát huy thế mạnh, đồng thời hạn chế khuyết điểm của từng phương pháp trong quy trình nghiên cứu

1.6 Đóng góp của nghiên cứu

1.6.1 Đóng góp lý luận của nghiên cứu

Hướng tiếp cận mới với khái niệm quản lý tinh gọn

Với hướng tiếp cận tinh gọn trong sản xuất, quản lý tinh gọn tập trung vào việc giảm chi phí, giảm hao phí (Womack và ctg, 1990; Martı´nez-Jurado

và Moyano-Fuentes, 2014) Hướng tiếp cận dịch vụ đối với khái niệm này lại tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ với chi phí không đổi (Shah và Ward, 2003; Shah và Ward, 2007) Luận án đưa ra khái niệm quản lý tinh gọn mới, kết hợp cả hai hướng tiếp cận bổ khuyết cho sự hạn chế vầ mặt lý thuyết này

Hướng tiếp cận mới với khái niệm công nghệ thông tin

Trong khi đa số nghiên cứu về CNTT thường thực hiện nghiên cứu trường hợp đối với một ứng dụng một hệ thống thông tin hoặc một hệ thống thông tin cụ thể, ghiên cứu tập trung nghiên cứu CNTT trong doanh nghiệp ở khía cạnh mức độ mức độ ứng dụng CNTT tổng quát

Xác định các điều kiện thuận lợi để ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp

Xác định hai thành phần mới của nhân tố điều kiện thuận lợi, nghiên cứu cũng bổ sung hai thành phần tương ứng cho thang đo nhân tố này Cụ thể

Trang 7

là bổ sung mục hỏi “CBNV sẵn lòng sử dụng các ứng dụng CNTT cho công việc” và “Quản lý cấp cao cam kết thực hiện mục tiêu tin học hóa tổ chức” Đây là bổ sung, đóng góp quan trọng của luận án về mặt lý thuyết

Ứng dụng lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) nhằm xác định các nhân tố tác động đến quản lý tinh gọn

Thông qua việc khẳng định quan điểm của luận án về khái niệm công nghệ, và quản lý tinh gọn đã trình bày, nghiên cứu đồng thời khẳng định quan điểm nhìn nhận quản lý tinh gọn như một công nghệ được sử dụng vào mục đích quản lý Hướng tiếp cận này tạo tiền đề để luận án vận dụng lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), vốn được sử dụng làm cơ sở để xác định các nhân tố tác động đến công nghệ thông tin, nhằm xác đinh các tiền tố của quản lý tinh gọn

Đánh giá đồng thời vai trò của công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

việc xem xét một cách đồng thời hai nhân tố công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn trong một tổng thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện Luận án xác định được vai trò cũng như cơ chế ảnh hưởng của hai nhân tố đến kết quả của doanh nghiệp, đạt được đóng góp quan trọng của luận án đối với khoa học

1.6.2 Đóng góp thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu xác định được các nhân tố tác động cũng như mức

độ tác động của các nhân tố này đến CNTT và QLTG, sự tác động tích cực của QLTG và CNTT đến kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp được tìm thấy trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam cũng là một vấn đề mang tính chất thực tế

Nghiên cứu đồng thời xác định được các điều kiện để áp dụng CNTT Dựa vào đó, các doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị, xác định các yếu tố cần thiết để việc triển khai các ứng dụng trên nền CNTT vào hoạt động quản lý

Trang 8

nhằm nâng cao kết quả, đặc biệt trong bối cảnh QLTG Các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xây dựng các chính sách, chiến lược liên quan đến công tác quản lý, ứng dụng CNTT nhằm cải thiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.7 Kết cấu của luận án

Nội dung chính của luận án được bố cục thành 5 chương riêng biệt Các chương cụ thể được trình bày như sau:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Trang 9

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.1.1 Tổng kết các nghiên cứu về quản lý tinh gọn

Nhìn chung, các nghiên cứu về QLTG mà tác giả thực hiện khảo cứu tập trung vào mối quan hệ tính cực của QLTG đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, QLTG được nhắc đến như một phương pháp, chiến lược cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nghiên cứu đánh giá mức

độ triển khai QLTG ở những mức độ khác nhau dựa trên quan điểm và quan điểm tiếp cận Tuy nhiên ít có nghiên cứu khai thác các nhân tố ảnh hưởng, hỗ trợ QLTG

2.1.2 Tổng kết các nghiên cứu về công nghệ thông tin

Vai trò của các ứng dụng CNTT trong quản lý và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đã được khẳng định trong từng bối cảnh nghiên cứu Đối với mỗi bối cảnh, CNTT lại được đại diện bởi một hệ thống/công nghệ khác nhau Mặt khác các ứng dụng quản lý doanh nghiệp dựa trên nền tảng CNTT là rất đa dạng trên mọi lĩnh vực quản ly Sự rời rạc và thiếu tập trung trong cách tiếp cận này không tạo nên được một hệ thống lý thuyết mang tính phổ phát về vai trò cũng như tác động của CNTT đối với doanh nghiệp đây là một khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy

2.1.3 Tổng hợp các giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo về các nhân tố tác động của công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn

Tổng quan về các nghiên cứu trước đối với các tiền tố được xác định bởi lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ, các nhân tố được các định trong

mô hình liên quan và có ảnh hưởng đến việc chấp nhận và sử dụng công nghệ mới của người dùng chủ yếu tập trung vào các hệ thống CNTT Nói cách khác,

lý thuyết UTAUT được sử dụng nhiều trong bối cảnh nghiên cứu liên quan đến CNTT, do đó các hệ thống công nghệ khác chưa được kiểm chứng với mô hình

Trang 10

này Điều này khiến khái niệm về công nghệ, ở một khía cạnh nào đó trở nên gắn liền và mặc định trở thành CNTT Việc mở rộng các loại hình công nghệ khác trong nghiên cứu mô hình này là cần thiết để mở rộng phạm vi áp dụng

mô hình và giải thích, làm sáng tỏ hơn vai trò của các nhân tố vốn đã được khẳng định nhiều trong lý thuyết đối với những loại hình công nghệ khác Trong bối cảnh nghiên cứu, QLTG cũng được xem là một loại hình công nghệ quản lý, điều này làm cơ sở để thiết lập giả thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố của mô hình UTAUT đối với loại hình quản lý này

2.2 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu

Trong bối cảnh nghiên cứu vai trò của CNTT đối với QLTG, các hệ thống CNTT được xem là một thành phần của thang đo tinh gọn trong nhiều trường hợp Ngược lại, tồn tại những quan điểm đề xuất xem xét các ứng dụng trên nền tảng CNTT như là một phương pháp tinh gọn mới Nhìn ở góc độ tổng quan, các phương pháp tinh gọn trong giai đoạn hiện tại đang chuyển dần từ những triết lý đơn thuần như cải tiến liên tục, sản xuất tế bào, 6 Sigma… sang việc ứng dụng các phương pháp quản lý bằng hệ thống thông tin

Ngược lại, bản chất của việc xây dựng các hệ thống thông tin phức tạp vốn xuất phát từ việc tối ưu hóa quy trình, lưu trữ dữ liệu và loại bỏ các bước

dư thừa trong quy trình vận hành, vốn là một phần của triết lý tinh gọn Vai trò cũng như tính chất của hai phương pháp quản lý nhìn ở phương diện này đang

có những điểm tương đồng Sự đan xen giữ hai khái niệm này đặt ra những nghi vấn về vai trò cũng như các mối quan hệ của QLTG với các nhân tố khác liệu có tương đồng với vai trò và các mối quan hệ của CNTT hay không Đây

là một khoảng trống nghiên cứu lớn cần được lấp đầy Các tiền tố tác động đến công nghệ thông tin cũng cần được xem xét trong mối quan hệ với QLTG khi xem xét phương pháp quản lý này như một loại hình công nghệ mới có thể áp dụng trong doanh nghiệp

Trang 11

Mặt khác, CNTT thường được đưa vào nghiên cứu ở mức độ áp dụng CNTT tổng quát, các thành phần chi tiết của mảng công nghệ này chưa thực sự được quan tâm khai thác Các thành phần khác như ứng dụng, giải pháp, hệ thống, khoa học dữ liệu… chưa thực sự được quan tâm Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm tập trung giải quyết vai trò của CNTT đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong khi bản chất của công nghệ là hỗ trợ cho hoạt động quản lý để tạo lực đẩy, gây sức ép đến kết quả, hiệu quả và hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp Đây là mối quan hệ gián tiếp của công nghệ đến kết quả hoạt động kinh doanh thông qua quản lý doanh nghiệp nói chung

và QLTG nói riêng mà vẫn chưa được nhiều nghiên cứu quan tâm, cần được kiểm nghiệm bằng các nghiên cứu trong tương lai

2.3 Các khái niệm nghiên cứu liên quan đến luận án

2.3.1 Khái niệm kết quả hoạt động kinh doanh

Trong luận án này, định nghĩa về kết quả hoạt động kinh doanh được

sử dụng là quan điểm của Zin và Manaf (2019) và Ahmad và Seet (2009) do phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Theo đó, kết quả hoạt động kinh doanh được hiểu là một tập hợp các chỉ tiêu và thủ tục đánh giá làm cơ sở giúp cho nhà quản lý theo đuổi các mục tiêu mà tổ chức đã đăt ra Kết quả hoạt động kinh doanh được đo lường thông qua cảm nhận/ đánh giá chủ quan và dựa trên hai tiêu chí tài chính và phi tài chính

2.3.2 Quản lý tinh gọn

Luận án đưa ra quan điểm về quản lý tinh gọn chính là các nguyên tắc

và phương pháp quản lý tốt nhất được sử dụng để thực hiện triết lý tinh gọn và tạo được sự đồng thuận trong một tổ chức đối với triết lý này Từ đó việc đánh giá QLTG sẽ dựa trên các tiêu chí liên quan đến mức độ tinh gọn cũng như định hướng tinh gọn mà tổ chức đang theo đuổi

Trang 12

2.3.3 Công nghệ thông tin

Workforce (1998) cho rằng CNTT là nghiên cứu, thiết kế, phát triển, triển khai, hỗ trợ hoặc quản lý các hệ thống thông tin dựa trên máy tính, đặc biệt là các ứng dụng phần mềm và phần cứng máy tính Trong bối cảnh nghiên cứu, khái niệm CNTT được sử dụng để đánh giá ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp đồng quan điểm với phương pháp tiếp cận của Melián-Alzola (2020) Theo đó, CNTT trong doanh nghiệp bao gồm hai thành phần là năng lực CNTT

và công dụng của ứng dụng CNTT được sử dụng

2.3.4 Điều kiện thuận lợi

Điều kiện thuận lợi đóng vai trò là một nhân tố quan trọng giúp dự đoán hành vi thực tế sử dụng sử dụng công nghệ của con người (Isaac và các tác giả, 2019)

Trang 13

2.4 Giả thuyết nghiên cứu

Bảng 1: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu

H1

Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh

nghiệp tăng hay giảm sẽ làm kết quả hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp tăng hay giảm theo

(+)

H2

Mức độ áp dụng các phương pháp quản lý tinh gọn trong

doanh nghiệp tăng hay giảm thì sẽ làm kết quả hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp tăng hay giảm theo (+)

H3

Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh

nghiệp tăng hay giảm sẽ làm mức độ áp dụng các

phương pháp quản lý tinh gọn trong doanh nghiệp tăng

hay giảm theo

(+)

H4

Các điều kiện thuận lợi tăng hay giảm sẽ làm mức độ

ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp tăng

hay giảm theo

(+)

H5

Kỳ vọng kết quả tăng hay giảm sẽ làm mức độ áp dụng

các phương pháp quản lý tinh gọn trong doanh nghiệp

H6

Kỳ vọng nỗ lực tăng hay giảm sẽ làm mức độ áp dụng

các phương pháp quản lý tinh gọn trong doanh nghiệp

H7

Ảnh hưởng xã hội tăng hay giảm sẽ làm mức độ áp dụng

các phương pháp quản lý tinh gọn trong doanh nghiệp

tăng hay giảm theo

(+)

(Nguồn: Tác giả đề xuất)

2.5 Mô hình nghiên cứu

Hình 21: Mô hình nghiên cứu đề xuất

(Nguồn: tác giả đề xuất)

Ngày đăng: 24/12/2020, 09:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm