Chương XXV khái quát sự phát triển của âm nhạc thính phòng - giao hưởng trong giai đoạn 1975 đến nay; Giới thiệu tác phẩm và đôi điều về ngôn ngữ âm nhạc: Hình thức và thể loại, chủ đề n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
NHẠC VIỆN TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN ĐINH LĂNG
PHONG CÁCH SÁNG TÁC KHÍ NHẠC CỦA 3 NHẠC SĨ: QUANG HẢI, NGUYỄN VĂN NAM, CA LÊ THUẦN
Ngành: Âm nhạc học
Mã số ngành: 62 21 02 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ÂM NHẠC HỌC
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI: NHẠC VIỆN TP HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tạ Quang Đông
Phản biện độc lập 1:
Phản biện độc lập 2:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại Nhạc viện TP Hồ Chí Minh, vào hồi… giờ…, ngày … tháng … năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Nhạc viện TP Hồ Chí Minh
Trang 3CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1 Bài báo Ảnh hưởng của hợp âm ba và hoà âm công năng trong xây dựng giai điệu, in trong nội san Âm nhạc học, nhạc viện TP HCM,
số 11 năm 2017
2 Bài báo Kỹ thuật kết hợp bè trong tác phẩm tranh giao hưởng “Dáng đứng Việt Nam” của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, in trong tạp chí Văn hoá
học, số 3 (43) năm 2019
3 Bài báo Chủ đề trong các bản giao hưởng của Nguyễn Văn Nam, in
trong tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 424, tháng 10 năm 2019
Trang 4Ba nhạc sĩ có độ tuổi gần bằng nhau, cùng sinh ra ở khu vực miền tây Nam Bộ, sống trong cùng một thời điểm và có chung hoàn cảnh lịch sử, đều được cử đi du học về âm nhạc chuyên nghiệp ở Nga (Liên Xô cũ), rồi sau đó
về Việt Nam và cùng sống, làm việc tại TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên, mỗi nhạc sĩ đều có một số phận khác nhau, cá tính và phong cách sáng tác cũng khác nhau thể hiện qua những đặc điểm riêng trong âm nhạc, ảnh hưởng không ít tới những thế hệ nhạc sĩ trẻ sau này
Tìm hiểu phong cách sáng tác của mỗi nhạc sĩ là để thấy rõ hơn chân dung của từng tác giả, những giá trị nghệ thuật họ đã đạt được, từ đó phát huy truyền thống và khuyến khích những sáng tạo mới, độc đáo cho thế hệ trẻ, làm cho nền âm nhạc thính phòng - giao hưởng Việt Nam trở nên ngày càng phong phú Đó chính là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài luận án là:
“Phong cách sáng tác khí nhạc của 3 nhạc sĩ: Quang Hải, Nguyễn Văn Nam và Ca Lê Thuần”
2 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu trong nước có liên quan đến khí nhạc Việt Nam,
sự hình thành và phát triển Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu về đặc điểm âm nhạc hoặc thủ pháp sáng tác khí nhạc của các nhạc sĩ
Những nghiên cứu theo hướng lịch sử âm nhạc:
Trước tiên phải kể đến là Âm nhạc mới Việt Nam - tiến trình và thành tựu
Đây là công trình đồ sộ gồm 3 phần, 28 chương, 1000 trang của nhóm biên soạn gồm PGS.TS Tú Ngọc, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, TS Vũ Tụ Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên, do Viện âm nhạc xuất bản năm 2000 Cuốn sách là một công trình chuyên luận mang tính lịch sử, tổng kết toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam Theo đó, âm nhạc thính phòng và giao hưởng được xác định hình thành vào khoảng cuối
Trang 5miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước và trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1954-1975) Chương XIX đã khái quát quá trình hình thành
và phát triển của âm nhạc thính phòng và giao hưởng Việt Nam; Giới thiệu một số tác phẩm và đặc trưng âm nhạc của các tác phẩm khí nhạc Việt Nam giai đoạn 1945-1975 Chương XXV khái quát sự phát triển của âm nhạc thính phòng - giao hưởng trong giai đoạn 1975 đến nay; Giới thiệu tác phẩm và đôi điều về ngôn ngữ âm nhạc: Hình thức và thể loại, chủ đề nội dung, chất liệu chủ đề âm nhạc, hoà âm và phức điệu, thủ pháp phối khí Vì công trình mang tính chất lịch sử, nên về mặt nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ âm nhạc chỉ dừng ở mức giới thiệu sơ lược trên diện rộng
Công trình thứ hai cũng mang tính lịch sử âm nhạc là Âm nhạc thính
phòng – giao hưởng Việt Nam, sự hình thành và phát triển, tác phẩm, tác
giả của PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, do Viện âm nhạc xuất bản năm 2001
Công trình gồm 3 chương, 420 trang Ở đây, tác giả tập trung sâu hơn về hai yếu tố đó là sự phát triển của Hình thức và Thể loại qua một số tác phẩm tiêu biểu thuộc dòng âm nhạc thính phòng - giao hưởng Việt Nam, sơ lược về chủ đề, hình tượng và đôi nét về tính chất âm nhạc Trong Chương III “Đôi nét về đặc trưng âm nhạc của âm nhạc thính phòng - giao hưởng VN” tác giả
viết: “chúng tôi chỉ xin nêu lên đôi nét về đặc trưng âm nhạc thông qua chất
liệu của chủ đề biểu hiện hình tượng âm nhạc… công trình này không có ý
đi sâu, chỉ phác thảo đôi nét có tính chấm phá, có giá trị thay thế cho những nhận định ban đầu về những sáng tạo của các nhà sáng tác ”
Công trình thứ ba là Tổng tập Âm nhạc Việt Nam- Tác giả- tác phẩm với
1040 trang do Viện Âm nhạc xuất bản năm 2010, GS Trọng Bằng chủ biên Công trình đã giới thiệu khái quát về tiểu sử, quá trình hoạt động và các tác phẩm tiêu biểu của 61 nhạc sĩ thuộc giai đoạn đầu của nền nhạc mới Việt Nam Trong đó, phần viết về nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam gồm 28 trang (Nguyễn Thị Minh Châu viết) và nhạc sĩ Ca Lê Thuần gồm 22 trang (Phạm
Tú Hương viết)
Bên cạnh công trình sách, còn có những luận án Tiến sĩ nghiên cứu về đề
tài này như: Nhạc giao hưởng Việt Nam - một tiến trình lịch sử của Nguyễn Thế Tuân (Hà Nội, 2006), và Sự hình thành và phát triển âm nhạc giao
hưởng việt nam và một số vấn đề biểu diễn dàn nhạc giao hưởng của Ngô
Hoàng Linh (Hà Nội, 2008)
Trong luận án của Nguyễn Thế Tuân có đoạn tác giả viết: “Bản luận án
này tiếp cận âm nhạc giao hưởng Việt Nam ở góc độ lịch sử trên một bình diện rộng có liên quan đến các lĩnh vực khác như Văn hoá âm nhạc, Mỹ học
âm nhạc, Xã hội học âm nhạc vv…việc phân tích các đặc điểm âm nhạc không phải mục đích chính của luận án, tuy nhiên nó lại là điều cần thiết để chứng minh cho các đặc điểm của âm nhạc giao hưởng Việt Nam khác với
Trang 6triển của âm nhạc giao hưởng Việt Nam trên tiến trình lịch sử.” Thực tế nội
dung nghiên cứu của luận án không ngoài việc tổng hợp bối cảnh lịch sử của giao hưởng Việt Nam, những đặc điểm âm nhạc như nội dung, đề tài, thể loại, hình thức và phương pháp xây dựng chủ đề mà tác giả phân tích không
có gì mới hơn những đánh giá đã được PGS.TS Nguyễn Thị Nhung nêu ra
trong cuốn Âm nhạc thính phòng - giao hưởng Việt Nam, sự hình thành và
phát triển, tác phẩm, tác giả Trong luận án Tiến sĩ của Ngô Hoàng Linh,
mục tiêu nghiên cứu của luận văn do tác giả viết là “những biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng nghệ thuật biểu diễn…” do vậy mà các kết quả nghiên
cứu không nói nhiều về đặc điểm âm nhạc
Những nghiên cứu theo hướng phân tích đặc điểm âm nhạc:
Năm 2007, Nhà xuất bản âm nhạc lần đầu tiên xuất bản một cuốn sách viết về một nhạc sĩ thuộc dòng nhạc thính phòng giao hưởng Việt Nam Đó
là cuốn Giao hưởng một đời người của Nguyễn Thị Minh Châu Cuốn sách
mang mầu sắc của một tiểu thuyết danh nhân, lồng vào đó là những phân tích âm nhạc khá tỉ mỉ theo lối miêu tả cảm xúc Cùng với những cảm nhận
âm nhạc của cá nhân của người viết, và phong cách diễn giải âm nhạc thành lời văn, tác giả giúp cho những người ngoài ngành âm nhạc có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với loại hình âm nhạc đồ sộ và phức tạp này – những bản giao hưởng Những phân tích ở đây cũng vừa đủ để giới thiệu khái quát
về nội dung tám bản giao hưởng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam, hiểu được cuộc sống, tính cách, tình cảm của nhạc sĩ, hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm Tuy nhiên, nó chưa đủ để đánh giá về mặt học thuật, chưa phân tích
tỷ mỉ các thủ pháp sáng tác
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thiếu Hoa (Hà Nội 2009) Âm nhạc giao
hưởng Nga – Xô viết và sự ảnh hưởng đối với lĩnh vực âm nhạc giao hưởng Việt Nam Tác giả có phân tích hai tác phẩm của nhạc sĩ Việt Nam, một là Giao hưởng số 5 của nhạc sĩ Nguyễn Văn nam, và hai là Rhapsody “Việt Nam” của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân Mục đích chính của luận án là: “nhằm giới thiệu lĩnh vực âm nhạc giao hưởng nga – Xô viết, nghiên cứu và phân tích những tác phẩm nổi bật của các nhạc sĩ Nga – Xô viết lỗi lạc, nêu ra những ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với lĩnh vực âm nhạc giao hưởng Việt Nam.”
Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong âm nhạc thế kỷ XX, là công trình
nghiên cứu thuộc lĩnh vực lý thuyết của Phạm Phương Hoa gồm 3 chương:
I Sự hình thành và phát triển các khuynh hướng âm nhạc trong bối cảnh lịch
sử thế kỷ 20; II Những đổi mới trong ngôn ngữ âm nhạc thế giới thế kỷ 20; III Đặc điểm âm nhạc trong tác phẩm khí nhạc của các nhạc sĩ Việt Nam
Ở chương III, Tác giả tổng hợp một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu bao gồm nguồn chất liệu để xây dựng chủ đề, cách sử dụng chồng âm, một vài thủ
Trang 7pháp phức điệu, một số luật nhịp không phổ biến, cách phối khí thêm nhạc
cụ dân tộc…mà các nhạc sĩ Việt Nam đã sử dụng trong tác phẩm
Luận văn Thạc sĩ: Vận dụng cách viết giao hưởng nhiều chương của
phương Tây trong giao hưởng nhiều chương Việt Nam của Trương Quỳnh
Như (Hà Nội, 2004); Tìm hiểu ngôn ngữ âm nhạc trong vũ kịch Ngọc trai đỏ
của nhạc sĩ Ca Lê Thuần của Trần Hoàng Thị Ái Cầm (Hồ Chí Minh, 2006); Các tác phẩm giao hưởng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam của Nguyễn Thị
Thiều Hương (Hà Nội, 2010)
Luận văn tốt nghiệp Đại học: Tìm hiểu ngôn ngữ âm nhạc của nhạc sĩ
Nguyễn Văn Nam qua bản giao hưởng số 6 của Nguyễn Thị Thư Nhường
(Hồ Chí Minh, 2000); một số thủ pháp hoà âm trong vũ kịch “Ngọc trai đỏ”
của nhạc sĩ Ca Lê Thuần của Nguyễn Minh Quý (Hồ Chí Minh, 2004); Tính dân tộc và hiện đại trong tác phẩm giao hưởng số 5 “Mẹ Việt Nam” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam của Võ Thế Nam (Hồ Chí Minh, 2004); Opera
“Người giữ cồn” của nhạc sĩ Ca Lê Thuần của Nguyễn Thị Ngọc Dung (Hồ
Chí Minh, 2012)
Các luận văn đã thể hiện sự nghiêm túc trong nghiên cứu, dựa trên cơ sở
lý thuyết là những kiến thức đã được học tại trường Các nghiên cứu chủ yếu phát hiện những thủ pháp sáng tác được các nhạc sĩ tiếp thu từ âm nhạc cổ điển phương Tây, sử dụng trong tác phẩm Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm sáng tạo riêng trong âm nhạc của từng tác giả chưa được quan tâm nhiều
Thông qua các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến lĩnh vực nhạc giao hưởng thính phòng, chúng tôi cũng thu nhận được nhiều kết quả
bổ ích Phần nhiều xoay quanh các thủ pháp sáng tác như cấu trúc hình thức
và xây dựng chủ đề; một số tài liệu phân tích về hoà âm, phức điệu, phối khí… Tuy nhiên, do nhiều mục đích nghiên cứu khác nhau nên kết luận của các nghiên cứu chưa thể xác định được phong cách sáng tác riêng của từng
tác giả
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính là: Xác định phong cách sáng tác của các nhạc sĩ thông
qua các tác phẩm cho khí nhạc, để thấy được sự khác biệt của mỗi người, dấu ấn tài năng cũng như những cống hiến của họ cho nền âm nhạc “Bác học” của nước nhà
Mục tiêu cụ thể là: Phát hiện những đặc điểm riêng, nổi bật trong cách
lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện của âm nhạc mà các tác giả đã dùng để miêu tả, xây dựng hình tượng nội dung của tác phẩm
Trang 84 Đối tượng, phạm vi, tài liệu nghiên cứu
Luận án lựa chọn nghiên cứu các tác phẩm khí nhạc của ba nhạc sĩ: Quang Hải, Nguyễn Văn Nam và Ca Lê Thuần Đây là những “cây đại thụ” của âm nhạc Việt Nam, đại diện cho khu vực phía Nam, đi đầu trong thể loại âm nhạc thính phòng và giao hưởng
Trong khối lượng lớn tác phẩm của ba nhạc sĩ trên, chúng tôi chỉ lựa chọn phân tích những tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng Bởi vì chính ở những tác phẩm này chúng ta có thể thấy được sự tập trung nhất của những
kỹ năng, thủ pháp sáng tác, thể hiện tâm hồn và trí lực của một nhạc sĩ Chúng tôi cũng không có ý định liệt kê tất cả các thủ pháp sáng tác được sử dụng trong tác phẩm, mà chỉ tập trung vào những đặc điểm nổi bật của từng nhạc sĩ nhằm tìm ra phong cách riêng của họ
Tài liệu dùng để phân tích là những tổng phổ giấy do các tác giả cung cấp, bên cạnh đó là âm thanh của một số bản nhạc có được từ các buổi biểu diễn (số lượng này rất ít vì điều kiện dàn dựng một tác phẩm cho dàn nhạc còn khó khăn) Do điều kiện bị thất lạc, nên chúng tôi có thể không tập hợp được đầy đủ tác phẩm của các nhạc sĩ
Trong luận án có sử dụng một số ví dụ âm nhạc từ tác phẩm của các nhạc
sử âm nhạc Việt nam
Luận án đứng từ góc nhìn của người sáng tác, phân tích các yếu tố hình thành tác phẩm âm nhạc theo trình tự từ chi tiết tới tổng thể Bắt đầu từ sự hình thành của giai điệu cho tới sự kết hợp của nhiều bè, tổ chức thời gian
và các yếu tố khác Khác với cách phân tích phổ biến hiện nay chuyên sâu
về các thủ pháp riêng biệt
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo để giảng dạy bộ môn sáng tác tại các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp cũng như các trường văn hóa nghệ thuật trong cả nước, các môn lý thuyết âm nhạc và cho các công trình liên quan
Nghiên cứu phong cách sáng tác khí nhạc góp phần động viên và giúp các nhạc sĩ trẻ có những kinh nghiệm định hướng phong cách riêng của mình
Trang 96 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính sử dụng trong luận án là phân tích và tổng hợp
Âm nhạc bao gồm nhiều phương thức biểu hiện phức tạp, đòi hỏi phân tích
từ chi tiết đến tổng thể tác phẩm, tổng hợp các kết quả để rút ra kết luận
Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh, được sử dụng để tìm những
đặc điểm tương đồng và cá biệt của từng tác giả trong việc sử dụng các phương tiện biểu hiện của âm nhạc; so sánh với những nhạc sĩ mẫu mực của âm nhạc thính phòng giao hưởng phương Tây
Một số thao tác thống kê được sử dụng để thống kê những phương tiện
biểu hiện của âm nhạc mà các tác giả hay sử dụng như tốc độ, loại nhịp, giọng điệu…để tìm thói quen hoặc sở thích của tác giả
Bên cạnh việc nghiên cứu tài liệu để kế thừa những thành tựu mà các đồng nghiệp đi trước đã đạt được, chúng tôi đã tham dự các buổi chuyên đề
về âm nhạc, các buổi biểu diễn âm nhạc; đồng thời có các cuộc phỏng vấn các tác giả trong sáng tác âm nhạc và các nghệ sĩ biểu diễn Các cơ sở lý thuyết của âm nhạc phương Tây như hòa âm, đối vị, tính năng nhạc cụ… được sử dụng trong việc phân tích tác phẩm
7 Bố cục của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án được chia làm 4 chương:
Chương 1 (23 trang) Cơ sở lý thuyết, bao gồm 1) Phong cách: phong cách
sống – làm việc; phong cách nghệ thuật văn học, mỹ thuật, âm nhạc; 2) Một
số định nghĩa, khái niệm về âm nhạc: âm nhạc, thanh nhạc - khí nhạc, giai
điệu chủ đề, âm nhạc nhiều bè và yếu tố thời gian trong âm nhạc; 3) Điệu
thức ngũ cung Việt Nam; 4) Sơ lược về dàn nhạc giao hưởng
Chương 2 (25 trang) Đặc điểm trong xây dựng giai điệu chủ đề, bao gồm
1) Ảnh hưởng của hoà âm và các điệu thức phương Tây; 2) Xây dựng giai
điệu từ điệu thức ngũ cung Việt Nam: điệu thức ngũ cung thuần tuý, điệu
thức ngũ cung kết hợp với hoà âm phương Tây; 3) Xây dựng giai điệu từ
thanh điệu tiếng Việt và một số đặc điểm riêng khác
Chương 3 (49 trang) Các thủ pháp kết hợp nhiều bè, bao gồm 1) Kết hợp
theo lối chủ điệu: kết hợp chiều dọc và các loại chồng âm hợp âm, sử dụng
chuyển điệu và các vòng kết; 2) Kết hợp theo lối phức điệu: đối vị tương phản, đối vị mô phỏng; 3) Kết hợp đồng thời phức điệu và chủ điệu; 4) Sử
dụng và kết hợp nhạc cụ
Chương 4 (24 trang) Tổ chức thời gian của âm nhạc, bao gồm 1) Tốc độ,
loại nhịp, nhịp biến đổi; 2) Đảo phách và đa tầng nhịp điệu; 3) Cấu trúc hình thức và thể loại
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 PHONG CÁCH
ra định nghĩa riêng của mình về phong cách sáng tác âm nhạc của một nhạc
sĩ như sau: Phong cách sáng tác của một nhạc sĩ chính là những nét riêng
của tác giả được thể hiện thông qua các đặc điểm trong việc lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện của âm nhạc, dùng để miêu tả, xây dựng hình tượng nội dung của tác phẩm Phong cách có nổi bật hay không phụ thuộc vào những sáng tạo vượt ra ngoài khuôn phép cố định và không giống với những gì đã có trước đó Phong cách mang tính cá nhân của mỗi nhạc
sĩ thể hiện tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan của họ
1.2 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM VỀ ÂM NHẠC
1.2.1 Âm nhạc
Từ nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau trên thế giới, chúng tôi rút ra một khái niệm chung nhất dùng làm kim chỉ nam cho các nghiên cứu trong
luận án: “Âm nhạc là quá trình vận động, kết hợp của các âm thanh được
chọn lựa theo cảm xúc, bị chi phối bởi những chuẩn mực khác nhau về thẩm mỹ Các âm thanh này được diễn ra theo một trật tự cấu trúc nhất định, trong một không gian và thời gian cụ thể.”
1.2.2 Khí nhạc, thanh nhạc
Trong phạm vi nhỏ, thanh nhạc bao gồm nhiều thể loại như: ca khúc, liên
ca khúc, hợp ca, hợp xướng, thanh xướng kịch, nhạc kịch Khí nhạc bao gồm: các loại tiểu phẩm cho nhạc cụ độc tấu, hoà tấu, bản sonate, concerto cho nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc, hoà tấu thính phòng, giao hưởng, nhạc cho vũ
kịch, nhạc kịch…
Trang 111.2.3 Giai điệu chủ đề
Các nhạc sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc đều đồng ý rằng giai điệu là yếu
tố đầu tiên quan trọng trong việc diễn đạt một hình tượng nội dung của tác phẩm Giai điệu biểu hiện đặc điểm của cá nhân từng nhạc sĩ, ngoài ra còn
bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như lịch sử, địa lý và văn hoá từng vùng
1.2.4 Âm nhạc nhiều bè
Âm nhạc nhiều bè là nghệ thuật của sự kết hợp nhiều đường nét giai điệu với nhau, đã có từ hàng chục thế kỷ nay trong cả âm nhạc dân gian lẫn chuyên nghiệp Âm nhạc chuyên nghiệp phương Tây hay còn gọi là âm nhạc Hàn lâm (Academic Music), hình thành từ âm nhạc nhà thờ ở một số nước Châu
Âu như: Anh, Italia, Hà lan… sau đó đã phát triển mạnh mẽ qua nhiều thời
kỳ, lan rộng khắp toàn cầu Lý thuyết âm nhạc Hàn lâm phân chia âm nhạc nhiều bè thành bốn hình thức trình bầy: Phức điệu, Phân điệu, Chủ điệu và Hoà điệu Nhưng trong đó đáng chú ý nhất là Phức điệu và Chủ điệu, hai hình thức trình bầy có tổ chức chặt chẽ với những nguyên tắc thống nhất cao dựa trên những tiêu chuẩn thẩm mỹ nhất định trong từng thời kỳ
1.2.5 Thời gian trong âm nhạc
Chúng ta đều biết rằng âm nhạc là môn nghệ thuật sử dụng âm thanh Những âm thanh này được sắp xếp lần lượt hoặc chồng lên nhau, nối tiếp vang lên theo thời gian Yếu tố thời gian được sắp xếp sử dụng như thế nào cũng ảnh hướng rất lớn tới nội dung, hình tượng tác phẩm Âm nhạc được trình bày và phát triển qua những khoảng thời gian hợp lý để phản ánh những cấu trúc khác nhau, tạo nên những hình thức âm nhạc khác nhau Grosvenor
Cooper và Leonard B Meyer đã viết trong tài liệu The rhythmic structure of
music: “Ba dạng thức cơ bản của sự tổ chức thời gian có thể phân biệt được
Đó là Phách, Tiết nhịp, và Tiết tấu”
1.2.5.1 Phách
1.2.5.2 Tiết nhịp, loại nhịp
1.2.5.3 Tiết tấu, nhịp điệu
1.2.5.4 Cấu trúc hình thức
1.3 ĐIỆU THỨC NGŨ CUNG VIỆT NAM
Tổng hợp một số nghiên cứu về thang âm, điệu thức cổ truyền Việt Nam của Hoàng Kiều, Lư Nhất Vũ, Nguyễn Thuỵ Loan…, có 5 điệu thức ngũ cung được sử dụng phổ biến Trong đó, 4 điệu thức có cấu trúc quãng gần
giống với các điệu thức ngũ cung trong âm nhạc Trung Hoa: điệu Bắc (có cấu trúc quãng giống điệu Chuỷ), điệu Ai hay Nam Ai (có cấu trúc quãng
Trang 12Thương), điệu Huỳnh (có cấu trúc quãng giống điệu Cung) Điệu thức thứ năm là Oán - đây là điệu thức đặc trưng, xuất hiện sau này trong âm nhạc
Tài tử và Cải lương Nam Bộ
1.4 SƠ LƯỢC VỀ DÀN NHẠC GIAO HƯỞNG
Giới thiệu đôi nét về sự hình thành biên chế các bộ nhạc cụ trong dàn nhạc được sử dụng qua các thời kỳ, từ Cổ điển đến Hiện đại trong âm nhạc chuyên nghiệp phương Tây
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Các định nghĩa, khái niệm ở chương này được lựa chọn sử dụng làm cơ
sở cho các nghiên cứu của luận án
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TRONG XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ 2.1 ẢNH HƯỞNG CỦA HOÀ ÂM VÀ CÁC ĐIỆU THỨC PHƯƠNG TÂY
Nhạc sĩ Quang Hải là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của hoà âm phương Tây Trong các giai điệu do ông sáng tác thường bám sát hoặc xoay quanh những âm ổn định của điệu thức trưởng – thứ
Ví dụ 2.2: Quang Hải – Ký ức Hồ Chí Minh, Ch II (nhịp 1 – 7)
Nhạc sĩ Ca Lê Thuần cũng chịu ảnh hưởng của hoà âm trong giai điệu, tuy nhiên ông sử dụng thêm nhiều âm ngoài hợp âm làm cho giai điệu uyển chuyển mềm mại hơn Ông còn dùng hoà âm để củng cố cấu trúc cho giai
điệu Trong ví dụ 2.8 chúng ta có thể thấy hoà âm phần đệm T-D-T trong ba
ô nhịp đầu đã hỗ trợ tính ổn định và không ổn định của giai điệu
Ví dụ 2.8: Ca Lê Thuần – Piano concertino (nhịp 26 – 31)
Trang 13Nhạc sĩ Ca Lê thuần thích sử dụng các hợp âm thứ đặt cạnh nhau với tương quan quãng ba Ông còn tạo ra một vòng chuyển các quãng ba thứ liên tục và sau bốn lần chuyển thì trở lại điệu tính ban đầu Âm điệu của giai điệu
bị chi phối bởi điệu tính chuyển đến trong từng ô nhịp
Ví dụ 2.9: Ca Lê Thuần - Người giữ cồn (nhịp 8 – 12)
Ảnh hưởng phong cách hoà âm thế kỷ 19, nhạc sĩ Ca Lê Thuần cũng có những giai điệu sử dụng đan xen giữa hai màu sắc trưởng thứ, mang tính chất suy tư chậm rãi Ngoài ra ông còn sử dụng điệu thức bán cung hoặc toàn cung cho những chủ đề mang tính chất căng thẳng, kịch tính
2.2 XÂY DỰNG GIAI ĐIỆU TỪ ĐIỆU THỨC NGŨ CUNG VIỆT NAM
2.2.1 Điệu thức ngũ cung thuần tuý
Khác với nhạc sĩ Quang Hải và Ca Lê Thuần, nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam xây dựng giai điệu chủ yếu từ các điệu thức ngũ cung Việt Nam mà không
hề biểu hiện sự ảnh hưởng của hoà âm lên âm điệu Các âm điệu được phát triển dựa trên những thủ pháp phát triển gần với giai điệu của dân ca Việt
Nam: Đơn, Biến, Lặp, Đảo và Phỏng Trong ví dụ 2.15 chúng ta thấy A –
A1 là lặp; A1 – A2 là biến; A2 – A3 là biến; A2 – A4 là biến; A4 – A5 là lặp; A5 – A6 là phỏng; B – B1 là phỏng
Ví dụ 2.15: Nguyễn Văn Nam – Symphony số 1, Ch II (nhịp 4 – 15)
Âm nhạc trong các bản giao hưởng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam phần lớn có nhịp độ chậm, giai điệu ngân nga tự do mang tính chất kể lể, tự sự giống như những điệu Hò của sông nước Nam Bộ Càng về sau từ giao hưởng
số 5 trở đi, nhịp độ chậm càng nhiều hơn Các giai điệu trở nên dài, bình ổn,