Có khoảng từ 50% đến 80% các chứng bệnh của người lao động bắt nguồn từ sựcăng thẳng; stress dẫn đến ảnh hưởng về sức khỏe và gây ra các tổn thương[52].Stress cũng là một yếu tố góp phần
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẾ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆN HUYẾT HỌC TRUYỀN MÁU TW NĂM 2019
Lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
Bác sĩ chính (hạng II)
Học viên: Nguyễn Lan Phương
Đơn vị công tác: Viện Huyết học – Truyền máu TW
Hà Nội, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
THỰC TRẠNG STRESS Ở ĐIỀU DƯỠNG VIÊN
TẠI VIỆN HUYẾT HỌC – TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 10
KẾT LUẬN 17
KHUYẾN NGHỊ 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
PHỤ LỤC 24
Trang 5Stress liên quan đến nghề nghiệp là 1 trong 10 căn bệnh và các tổn thương hàngđầu liên quan đến nghề nghiệp Rối loạn tâm lý do stress mang lại những hậu quảnghiêm trọng đến sức khỏe của người lao động, thiệt hại về kinh tế, giảm năng suất laođộng Có khoảng từ 50% đến 80% các chứng bệnh của người lao động bắt nguồn từ sựcăng thẳng; stress dẫn đến ảnh hưởng về sức khỏe và gây ra các tổn thương[52].
Stress cũng là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng chất lượng công việc kém tạinơi làm việc, tỉ lệ lao động bỏ việc và trốn việc cao, gia tăng chi phí y tế và giảm sựhài lòng trong công việc[21] Theo Khảo sát sức khỏe cộng đồng tại Canada: Sức khỏetinh thần và thể chất(2004), có 36,984 lao động người Canada báo cáo về tình trạngstress nghề nghiệp; 38.8% những đối tượng tham gia nghiên cứu trong độ tuổi từ 15đến 75 cho biết họ bị stress nhẹ trong quá trình làm việc, 25% stress ở mức tương đối
và 5.4% chịu đựng stress quá mức[30] Stress cũng liên quan đến các cấp độ căngthẳng về tâm lý bao gồm: Kiệt sức, bất mãn trong công việc, tranh chấp về tráchnhiệm, và áp lực về trách nhiệm Các bệnh lý do stress gây ra bao gồm: bệnh đườngtiêu hóa, mất ngủ, thay đổi tâm trạng, đau đầu, các mối quan hệ không hòa thuận tronggia đình và bạn bè
Điều dưỡng là một ngành nghề chịu nhiều áp lực cả trên phương diện thể chất vàtinh thần Hằng ngày, các nhân viên y tế luôn phải tiếp xúc với một loạt các tìnhhuốngcó khả năng gây căng thẳng, bao gồm các yếu tố như khối lượng công việc quámức hoặc cao làm việc theo ca kíp và lịch làm việc không cố định, thường xuyên bịthay đổi về giờ làm việc cũng như trực tăng cường, nhàm chán trong công việc.Stress
có biểu hiện làm suy giảm sức khỏe của điều dưỡng viên về thể chất lẫn tinh thần cũngnhư gây ra một số hành vi không tốt ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người bệnh
Trang 6Vấn đề sức khỏe tâm thần ở Việt Nam cũng không nắm ngoài tình hình chungcủa toàn cầu Kết quả điều tra năm 1999 – 2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bênh tâm thầnphổ biến là 15% Theo nghiên cứu của Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linhnăm 2008 có đến 45.2% điều dưỡng viên bị Stress [15] Nghiên cứu của Nguyễn Thu
Hà và cộng sự (2004) 46% có biểu hiện stress[7]
Các nghiên cứu gần đây sử dụng thang đo NSS (Nursing Stress Scale) là thang
có các yếu tố được thiết kế đặc hiệu cho các ĐDV nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quanđến nghề nghiệp gây stress ở điều dưỡng viên[13, 31, 40]
Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014 cũng đã có nghiên cứu chothấy tỷ lệ stress ở các ĐDV là 45,2%, mức độ thường xuyên và rất thường xuyênchiếm 26,6%[4] Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến stress gồmlàm thêm giờ, yêu nghề và khối lượng công việc Năm 2017 bệnh viện Nhi trung ươngđược giao tự chủ hoàn toàn nên có nhiều thay đổi về khối lượng công việc cũng nhưcác khoản thu nhập tăng thêm so với mức lương như các năm cũ Sau kết quả nghiêncứu 3 năm với một số các biện pháp can thiệp của ban lãnh đạo bệnh viện cùng với cơ
sở mới được xây dựng môi trường làm việc có nhiều thay đổi nên chúng tôi tiến hành
nghiênn cứu với đề tài: “Thực trạng stress ở điều dưỡng viên tại Viện Huyết học –
Truyền máu TW năm 2018” để tìm hiểu thực trạng stress hiện tại của ĐDV tại bệnh
viện nhằm đánh giá các biện pháp can thiệp và môi trường làm việc có tác dụng vớicác ĐDV như thế nào
Trang 7MỤC TIÊU CỦA TIỂU LUẬN
Mô tả thực trạng stress ở điều dưỡng tại Viện Huyết học – Truyền máu TW năm2018
Trang 8Chương 2.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Điều dưỡng viên
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Là điều dưỡng viên làm việc tại Viện Huyết học – Truyền máu TW
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Nghỉ phép hoặc nghỉ ốm hoặc vắng mặt trong thời gian thực hiện nghiên cứu
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Lãnh đạo đơn vi
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Phó GĐ phụ trách điều dưỡng, Lãnh đạo của phòng TCCB, phòng Điều dưỡng,chủ tịch công đoàn, bí thư đoàn thanh niên, điều dưỡng trưởng tại các Khoa chuyênmôn
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Nghỉ phép, nghỉ ốm hoặc vắng mặt trong thời gian thực hiện nghiên cứu
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07/2018 đến tháng 10/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Viện Huyết học – Truyền máu TW
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang phương pháp nghiên cứu định lượng, kếthợp định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Mẫu đối tượng gghiên cứu định lượng
* Cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ:
n: là số ĐDV cần lựa chọn tham gia nghiên cứu
p = 0,452 (là tỷ lệ ước tính ĐDV Viện Huyết học – Truyền máu TW mắc stress,ước tính theo kết quả nghiên cứu của Trần Minh Điển năm 2014 [4]
Trang 9Z = 1,96
d = 0,06 là sai số tuyệt đối
Thay các giá trị trên vào công thức ta được n = 265, cộng 10% mẫu dự phòng.Tổng số ĐDV dự kiến cần chọn là 290 người Thực tế chọn được 287 ĐDV tham gianghiên cứu
* Phương pháp chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên xác xuất theo tỷ lệ: Mẫu nghiên cứuđược chọn đảm bảo có đại diện ĐDV của tất cả các khoa chuyên môn của Viện Huyếthọc – Truyền máu TW
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
Phương pháp chọn mẫu: Đối tượng tham gia nghiên cứu định tính được chọnchủ đích
Cỡ mẫu
- Đại diện Ban Giám đốc: Phó GĐ phụ trách điều dưỡng
- Trưởng phòng điều dưỡng bệnh viện
- Điều dưỡng trưởng khoa Khám bệnh
- Điều dưỡng trưởng khoa H4
- Điều dưỡng trưởng khoa H5
- Đại diện điều dưỡng viên, gồm 20 người, chia thành 2 nhóm: Nhóm 10 ĐDV cóchỉ số điểm đánh giá stress cao và nhóm 10 ĐDV có chỉ số điểm đánh giá không cóstress
2.5 Biến số nghiên cứu
2.5.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Các biến số chính của nghiên cứu được chia thành các nhóm chủ yếu sau đây:Biến phụ thuộc: nhóm biến số đánh giá stress theo thang đo DASS21
Biến độc lập gồm các nhóm biến số:
- Nhóm biến số đánh giá các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp ảnh hưởng đến stress ởĐDV, sử dụng thang đo NSS gồm 34 yếu tố chia thành 7 nhóm
2.5.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý các phòng chức năng và điều dưỡng trưởng cácKhoa chuyên môn được thực hiện nhằm mục đích thu thập các thông tin về các yếu tố
Trang 10ảnh hưởng đến tình trạng mắc stress liên quan đến nghề nghiệp của ĐDV Các thôngtin này sẽ bổ sung cho kết quả nghiên cứu định lượng Bao gồm:
- Các thông tin về quản lý nhân sự, phân công trực, điều động điều dưỡng viêntại các khoa phòng
- Các chế độ, chính sách tuyển dụng, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, khám chữabệnh cho nhân viên y tế của bệnh viện
- Những hậu quả stress điều dưỡng gây ra như điều dưỡng phải nghỉ việc dostress, điều dưỡng có ý định bỏ việc do stress
- Các biện pháp mà bệnh viện đã và đang thực hiện nhằm giảm stress, nâng caokhả năng làm việc ở điều dưỡng viên
- Những thuận lợi, khó khăn, thách thức bệnh viện đang gặp phải trong việcphòng ngừa stress ở điều dưỡng viên
2.6 Một số khái niệm và tiêu chí đánh giá
Mắc stress liên quan đến nghề nghiệp của ĐDV được đánh giá theo thang đo
DASS 21, sử dụng 7 mục của cấu phần S (Stress) Điểm đánh giá stress được tínhbằng cách cộng điểm ở 7 câu hỏi trong nhóm S sau đó nhân với 2 Khoảng điểm thuđược từ 0 – 42 Dựa trên số điểm thu được, các mức độ stress được phân loại gồm:Không bị stress (bình thường): 0 -14 điểm
Số liệu nghiên cứu định lượng được nhập và quản lý bằng phần mền EPIDATA
Số liệu định tính được gỡ băng để tiến hành phân tích theo chủ đề và mục tiêunghiên cứu
2.7.2 Phân tích số liệu
Sử dụng SPSS 22.0 để phân tích số liệu
Các phân tích mô tả được sử dụng để mô tả tỷ lệ mắc stress ở ĐDV, mô tả cácyếu tố nguy cơ nghề nghiệp ảnh hưởng đến stress ở ĐDV, mô tả các đặc điểm nhânkhẩu học, lối sống, gia đình, và đặc điểm nghề nghiệp của ĐDV
Trang 11Các phân tích so sánh sử dụng kiểm định thống kê khi bình phương, OR để xácđịnh một số yếu tố liên quan đến thực trạng mắc stress ở ĐDV.
2.8 Sai số và các biện pháp khắc phục
Tại thời điểm thu thập số liệu sẽ có những ĐDV đang trong thời gian làm việc nên cóthể gặp các trường hợp trả lời không chính xác do vội, thiếu tập trung, thiếu thời gian.Trong phỏng vấn sâu, sai số do người được phỏng vấn trả lời không chính xác vì chưahiểu rõ câu hỏi hoặc trả lời không trung thực
2.8.2 Một số biện pháp khắc phục
Bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu Trong quá trình phát vấn luôn cónghiên cứu viên hỗ trợ giải đáp các thắc mắc của ĐDV khi cần
Thử nghiệm bộ câu hỏi và chỉnh sửa phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu.Tập huấn chi tiết, cụ thể cho các nghiên cứu viên tham gia thu thập số liệu, bao gồm cảphỏng vấn sâu
2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu này đã được Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề cương nghiên cứu cơ sở
- Nghiên cứu chỉ là tự điền phiếu để lấy thông tin và không tiến hành can thiệp
- Về phía người tham gia nghiên cứu:
+ Không tiết lộ tên người tham gia nghiên cứu: Mọi phiếu điều tra đều không ghi tênngười nghiên cứu mà chỉ mã hóa theo số
+ Khi phân tích số liệu chỉ phân tích theo tỷ lệ và số lượng và không đi sâu phân tíchmột trường hợp cụ thể nào
Trang 12Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng stress, yếu tố nguy cơ nghề nghiệp có liên quan đến stress ở điều dưỡng viên
có những đặc điểm riêng cũng như số lượng bệnh nhân đông hơn cường độ làm việclớn hơn nên có tỷ lệ stress cao hơn
3.1.2 Các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp có liên quan đến stress ở ĐDV
55.40%
42.20%
2.40%
không có nguy cơ nguy cơ thấp nguy cơ cao
Biểu đồ 2: Phân bố tỷ lệ nguy cơ của các ĐDVBiểu đồ 2 cho chúng ta thấy rằng có 44,6 % ĐDV tại Viện Huyết học – Truyềnmáu TW có yếu tố nguy cơ với các tác nhân gây stress cho DD trong đó có 2,4% ĐDV
có nguy cơ cao Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu củaWoonhwa Ko
Trang 13nhưng tỷ lệ có nguy cơ cao thì tương đương là 2,4% [34] tuy nhiên số mẫu củaWoonhwa Ko chỉ là 40 ĐDV trả lời trên 70 ĐDV được hỏi nên có thể sẽ có sai sốtrong cách chọn mẫu do những ĐDV quá bận sẽ không phản hồi phiếu điều tra
Bảng 3.2 Yếu tố chứng kiến cơn đau, cái chết của bệnh nhân (n=287)
Yếu tố nguy cơ Trung bìnhĐiểm SD Số lượng(n)Có nguy cơTỷ lệ(%)Thực hiện chăm sóc bệnh nhân
Chứng kiến kiến bệnh nhân trải
Cảm thấy bất lực khi thấy bệnh
Thấy cái chết của bệnh nhân có
là bác sĩ không có mặt khi bệnh nhân chết chỉ chiếm 7,7% Có 1,4% ĐDV bị mắc tất
cả các yếu tố nguy cơ trên trên ĐDV là một nghề không chỉ đòi hỏi trình độ chuyênmôn, kỹ năng mà nó còn đòi hỏi đạo đức, tình thương đối với mỗi bệnh nhân[5] Phảichứng kiến cơn đau đớn, cái chết bệnh nhân thường làm cho ĐDV ám ảnh, làm thayđổi suy nghĩ, cảm xúc của bản thân mỗi ĐDV và điều đó gây ra stress ở ĐDV Kết quảnghiên cứu cũng tương đồng với kết quả của Woonhwa Ko Woonhwa Ko cũng chỉ rarằng chứng kiến cái chết của bệnh nhân là yếu tố nguy cơ gây stress cao cho cácĐDV[34]
Nghe nói hoặc nói về người bệnh khả năng sẽ chết là việc phải truyền tải cácthông tin không mong muốn, Điều đó gây ra những căng thẳng và sự ám ảnh cho mỗiĐDV Theo Đỗ Mạnh Hùng điều dưỡng là nghề mà đòi hỏi tình thương, sự cảm thôngchia sẻ với những nỗi đau, mất mát của người bệnh và gia đình người bệnh[5] ĐDVnghe hoặc nói với bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về khả năng người bệnh sẽ chết
Trang 14trong nghiên cứu có mức điểm 1,96±0,7, với tỷ lệ nguy cơ ở ĐDV chiếm 17,1%.Nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của Trần Thị Ngọc Mai trong đó mức điểm là0,69±1,15[13]
Trong nghiên cứu việc ĐDV chứng kiến cái chết của bệnh nhân có mức điểm2,03 ±0,7, nghiên ncứu của chúng tôi thấp hơn so với Trần Thị Ngọc Mai với mứcđiểm trung bình là 2,37±1,69 Mức độ nguy cơ chiếm 16,0% ĐDV[13] Nghiên cứuđịnh tính cũng cho thấy việc chứng kiến cái chết thường gây ra sự ám ảnh, nỗi buồn vì
sự bất lực, điều đó có thể gây ra tâm trạng tự trách bản thân, tâm trạng buồn
Nghiên cứu cũng chỉ ra việc ĐDV thấy cái chết của bệnh nhân có mối quan hệquen biết/thân thuộc có mức điểm 1,70±0,71, nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so vớiTrần Thị Ngọc Mai với mức điểm trung bình là 1,13±1,29[13] Với tỷ lệ nguy cơ là9,41% Bệnh nhân, nhất là người quen thuộc đối với ĐDV, gây ra tâm trạng buồn hơn,
và có thể làm suy sụp tinh thần cũng như sư tự tin vào bản thân trong việc điều trịngười bệnh
Nghiên cứu việc bác sỹ không có mặt khi bệnh nhân chết có mức điểm1,53±0,69, nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với Trần Thị Ngọc Mai trong đó mứcđiểm là 1,39±1,66[13] Với tỷ lệ nguy cơ là 7,67% Công việc chăm sóc và điều trịngười bệnh thường có sự tham gia của đội ngũ e kíp bác sỹ, điều dưỡng và kỹ thuậtviên Đôi khi vì một lý do nào đó bệnh nhân suy giảm chức năng sống, sự vắng mặtcủa bác sỹ, thường gây ra những lo lắng, đôi khu là sự tuyệt vọng trong những trườnghợp bệnh nhân tử vong
Bảng 3.3 Yếu tố do thiếu sự chuẩn bị trong tiếp xúc với bệnh nhân (n=287)
Được bệnh nhân hỏi những điều mà không
Cảm giác thiếu sự chuẩn bị để giúp đỡ nhu cầu
Trang 15Yếu tố không thoải mái khi trả lời những câu hỏi của bệnh nhân có tỷ lệ nguy cơcao nhât 57/287 ĐDV tham gia nghiên cứu chiếm 19,9%, thấp nhất là yếu tố cảm giácthiếu sự chuẩn bị để giúp đỡ với những cảm xúc của gia đình người bệnh chiếm 8,7%.
Có 3,1% ĐDV mắc tất cả các yếu tố trên Theo Đỗ Mạnh Hùng hỗ trợ cảm xúc cho giađình BN bằng những lời động viên, an ủi là cần thiết giúp quá trình chăm sóc BN đượctốt hơn[5] Do vậy, sự thiếu thời gian hỗ trợ cảm xúc cho gia đình tạo nên sự khó khănhơn và căng thẳng hơn trong việc chăm sóc người bệnh Nghiên cứu của chúng tôihoàn toàn phù hợp với tác giả Đỗ Mạnh Hùng và cộng sự
Bảng 3.4 Yếu tố xung đột với bác sĩ (n=287)Yếu tố nghề nghiệp
Sợ sai sót trong điều trị người bệnh 1,99 0,62 49 17,1Tranh cãi về phương pháp điều trị
và chăm sóc bệnh nhân hầu hết đều đặt trên vai người ĐDV, do đó ĐDV và bác sỹ cónhững mâu thuẫn nhất định Mặt khác không thực hiện đầy đủ chức năng chuyên môncũng là nguyên nhân gây chỉ trích, mâu thuẫn Do đó, cần có mô tả công việc và thựchiện tốt nhiệm vụ ở mỗi cá nhân
Bảng 3.5 Yếu tố xung đột với các ĐDV khác (n=287)
Trang 16Yếu tố nghề nghiệp
Trungbình SD Số lượng(n) Tỷ lệ%
Phải luân chuyển đến các khoa
Khó khăn khi phải làm việc với
Khó khăn trong làm việc với
Nghiên cứu chỉ ra yếu tố bị luân chuyển đến các khoa khác là yếu tố nguy cơ caonhất với 84/287 ĐDV tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ 29,3% , và yếu tố bị ngườigiám sát chỉ trích có tỷ lệ thấp nhất chiếm 9,4% Chỉ có 2,4% ĐDV bị mắc tất cả cácyếu tố trên Sự xung đột với các điều dưỡng viên khác thường là do sự phân côngkhông rõ ràng, mặt khác trong nhóm làm việc đặc biệt các điều dưỡng viên được điềuđộng từ khu vực nội trú sang khoa khám bệnh, thì sự thiếu kỹ năng đón tiếp ngườibệnh cũng gây ra những tình trạng căng thẳng Mặt khác, mỗi khoa là một mảng chămsóc riêng, do đó các khoa thường ít tiếp xúc và sự kết hợp công việc thường khó khănhơn Bệnh viện cần tăng cường công tác giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm cũng như tăngcường các hoạt động giải trí, để các ĐDV có sự gắn bó hiểu biết hơn
Bảng 3.6 Yếu tố thiếu sự hỗ trợ từ lãnh đạo, đồng nghiệp (n=287)
Trung bình SD Số lượng (n) Tỷ lệ %Thiếu tiếp cận để nói thẳng thắn với
lãnh đạo về những vấn đề ở
khoa/phòng
Thiếu tiếp cận để được chia sẻ kinh
nghiệm và cảm xúc với đồng nghiệp
trong khoa
Thiếu sự tiếp cận để bày tỏ với đồng
nghiệp về cảm giác tiêu cực đối với