Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Bích Đào
Thái Nguyên - 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Có được kết quả này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu tại trường Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y đã truyền đạt cho em những kiến thức
về lý thuyết và thực hành trong suốt thời gian học ở trường để em có những kiến thức nền tảng phục vụ cho công việc thực tập, cũng như công việc thực tế của em sau khi ra trường
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn nhiệt
tình của cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Bích Đào, người đã trực tiếp hướng
dẫn em thực hiện thành công khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trại về sự hợp tác, giúp đỡ để em theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm
cơ sở cho khóa luận này
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để khoá luận tốt nghiệp của em đạt được kết quả tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Nông Phương Loan
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất của trại 5
Bảng 3.1 Lịch phun thuốc sát trùng của trại 30
Bảng 3.2 Lịch phòng vắc xin của trại 34
Bảng 4.1.Kết quả tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm 2016 –T11/ 2018 36
Bảng 4.2 Kết quả công việc đạt được trong thời gian thực tập tại trại 37
Bảng 4.3 Tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại 37
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 38
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 39
Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn 40
Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái và lợn con theo mẹ 41
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại 42
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh ở lợn con 43
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập 4
2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 5
2.2 Những hiểu biết về quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 7
2.2.1 Chăn nuôi lợn nái sinh sản 7
2.2.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 10
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 13
2.2.4 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 16
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 22
2.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29
3.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 29
3.3 Nội dung tiến hành 29
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 29
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29
Số con sống đến cai sữa 29
Số con sơ sinh 29
3.4.2 Phương pháp áp dụng quy trình vệ sinh, phòng bệnh tại trại 30
3.4.3 Phương pháp thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 31
3.4.4 Phương pháp thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 34
Trang 63.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại qua 3 năm 2016-T11/ 2018 36
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 36
4.2.1.Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc đàn lợn tại trại 36
4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 39
4.3.1 Công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 39
4.3.2 Công tác phòng bệnh cho đàn lợn 40
4.4 Công tác chẩn đoán bệnh và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ 41
4.5 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại 42
4.5.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 42
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo lợn mẹ tại trại 43
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 7là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ, cho ngành công nghiệp chế biến Các sản phẩm chăn nuôi ngày càng nhiều và đa dạng nhờ việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi
Chăn nuôi lợn là nghề đang được Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm
và đầu tư về công tác giống, thức ăn, thú y Chất lượng đàn lợn không ngừng được cải thiện với mục đích đưa ngành chăn nuôi lợn trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển nông nghiệp nói chung
Sự hiệu quả trong chăn nuôi lợn và mang lại lợi ích kinh tế nhanh nhất, lớn nhất đó chính là mô hình chăn nuôi công nghiệp ở các trang trại, xí nghiệp Đi cùng với lợi ích kinh tế là nhiều khó khăn xuất hiện, trong đó có tình hình dịch bệnh đe dọa trực tiếp đến lợi ích kinh tế và nhiều lợi ích khác
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản
là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Đối với lợn nái nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp nên tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do khả năng thích nghi của đàn lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của
Trang 8giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập em đã tiến hành thực hiện chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản
và lợn con theo me tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Thực hiện được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại
- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại
- Đánh giá tình hình mắc bệnh của lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại
- Xác định được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại có hiệu quả cao
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam Trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ và được cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình và khí hậu
Về địa hình: huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hòa Bình và miền Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km Nằm ở phần phía Nam dãy núi Ba Vì, phía Đông giáp huyện Chương Mỹ và huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Phía Nam giáp huyện Kim Bôi và huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội Huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du - nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng Địa hình đồi núi thấp có độ cao khoảng 200 - 400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên
Về khí hậu: huyện Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 - 23,30C Lượng mưa bình quân từ 1.520,7 - 2.255,6 mm/năm, do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên huyện có thể phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng theo hướng tập đoàn Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực nước biển là 251 m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây Bắc xuông Đông Nam, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi tây bắc Bắc Bộ Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động Có nhiều khe suối,
hồ tự nhiên, hồ nhân tạo đan xen tạo nên cảnh sắc thơ mộng
Trang 10Trên địa bàn huyện Lương Sơn có những danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo
cổ hàng năm thu hút một lượng đáng kể khách du lịch như hang Trầm, hang Rổng, hang Tằm, hang Trâu, mái đá Diềm, núi Vua Bà
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập
2.1.2.1 Về cơ sở vật chất:
Trang trại có tổng diện tích 6 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 3 ha Diện tích còn lại là đồi núi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân Hiện nay, trại có hơn 1275 con lợn nái, 21 con lợn đực giống, được phân bố ở 3 chuồng đẻ (1A, 1B; 2A, 2B; 3A, 3B), 2 chuồng bầu (bầu 1 - chứa cả đực giống, bầu 2, 1 chuồng cách ly) Chuồng nuôi dược xây dựng theo hướng Đông - Nam, Tây - Bắc, đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 6 dãy chuồng chạy dài Trong đó, đó có 3 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2 chuồng nhỏ với 58 ô chuồng sàn Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với mỗi ô chuồng có 500 ô kiểu chuồng cũi sắt Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Mùa hè
có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại
- Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân
+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ các trang thiết bị, máy móc phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,…, những vật dụng cá nhân cũng được trại chuẩn bị như: kem đánh răng, xà phòng, dầu gội, xà bông tắm,…, trại còn đầu tư thêm khu giải trí cho công nhân và sinh viên sau giờ làm việc như: bóng chuyền,…
+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)
+ Khu nhà bếp rộng rãi, sạch sẽ và hợp vệ sinh
+ Nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại
2.1.2.1 Về nhân sự:
Trang 11Trại gồm có 30 người trong đó có:
+ 1 quản lý
+ 2 kỹ sư chính của công ty
+ 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)
2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
2.1.3.1 Đối tượng sản xuất
Trang trại chăn nuôi Ngô Thị Hồng Gấm chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp giống lợn là Landrace - Yorkshire Lợn sau khi sinh 21 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.3.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của bà Ngô Thị Hồng Gấm là một trong những trang trại có quy mô công nghiệp, với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất của trại
6 Lợn con chết và loại sau sinh (%) 7,7 8,2 6,8
(Nguồn: Bộ phận kỹ thuật trại)
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số lợn đực giống từ năm 2016 là 19 con, tới năm 2018 tăng lên 21 con Số lợn
Trang 12nái hậu bị từ năm 2016 là 137 nái, tới năm 2018 tăng lên 160 nái Số lợn nái sinh sản năm 2016 là 1153 nái, tới năm 2018 tăng lên 1275 nái Tỷ lệ phối đậu thai từ 85,63% (năm 2016) tăng lên 89,60% (năm 2018) Số lợn con cai sữa tăng lên, năm
2016 là 29520 con, nửa năm 2018 đã đạt 33254 con
Điều đó cho thấy tình hình chăn nuôi của trang trại khá ổn định và không ngừng tăng lên về số lượng đầu nái cũng như số lượng lợn con được xuất đi trong 1 năm Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại
đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi của bà Ngô Thị Hồng Gấm là một điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay
2.1.3.3 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Thuận lợi:
+ Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn của
các ngành, các cấp có liên quan như UBND xã Hợp Thanh, Trạm thú y huyện Lương Sơn tạo điều kiện cho sự phát triển của trại
+ Trại được xây dựng trên một quả đồi nên cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do
đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
+ Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu, chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất
Trang 13+ Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao
+ Thời điểm cuối năm 2016 đến nay, giá lợn giảm thấp khiến trang trại gặp
nhiều khó khăn hơn
2.2 Những hiểu biết về quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
2.2.1 Chăn nuôi lợn nái sinh sản
2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có
tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn
có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để
có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
- Quy trình chăm sóc
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó
là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Theo Trần Thanh Vân và cs (2004) [20], ô úm rất
Trang 14quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biết những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những ngày mùa đông Ngoài ra, úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng vào trong ô úm cho lợn con ăn lúc 4 – 5 ngày tuổi) Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm : 1,2m 1,5m Ô úm cọ rửa sạch, phun sát trùng và để trống
từ 3 – 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [23], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi
3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy
ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ
Theo Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004) [14], trong quá trình nuôi con, lợn
nái được cho ăn như sau:
Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 - 2
- 3 kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày + Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Trang 15Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con) Số bữa ăn trên ngày:
2 (sáng và chiều) Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5
kg thức ăn/ngày Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng
ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và sc (2004) [20], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20 oC, độ ẩm 70 - 75%
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trong những giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ và khối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại Do vậy việc áp dụng các biện pháp để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ là rất quan trọng Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu phải nắm được quy luật tiết sữa và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái, từ đó đề ra biện pháp kỹ thuật có hiệu quả
Sinh lý tiết sữa
Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do
có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có bể sữa nên lợn
Trang 16nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa bất kỳ lúc nào vì vậy lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh giữ vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào trong máu, kích tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái tiết sữa Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau, những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những
vú ở phần sau
Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con có thể
từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt
ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh, lợn con bú từ 20 - 25 lần trên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra
2.2.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
Theo Võ Trọng Hốt và cs (2007) [9], lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời
kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp
* Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Trang 17Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa
đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên
dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ
lệ chết
* Thời kỳ 3 tuần tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập ăn sớm cho lợn con
* Thời kỳ ngay sau khi cai sữa
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu
tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp Chú ý trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau:
+ Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
+ Bổ sung sắt cho lợn con
+ Tập cho lợn con ăn sớm
2.2.2.1 Cho bú sữa đầu
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng globulin mà
Trang 18sữa thường không có Ngoài ra, Mg2+ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg2+ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao
2.2.2.2 Bổ sung sắt cho lợn con
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [12], những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn
được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt
Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở giai đoạn 1- 20 ngày tuổi cần 7 - 16 mg/ngày hoặc 21 mg/kg tăng trọng Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 – 30% lượng sắt cơ thể cần, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 100 -
200 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con
ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm
200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên bổ sung sắt một lần
Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng Hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong
2.2.2.3 Tập cho lợn con ăn sớm
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [12], mục đích của việc cho lợn con ăn sớm
là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau
3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách dạ dày tiết
ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
Trang 19Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)
Theo Võ Trọng Hốt và cs (2007) [9], nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn cả ngày tránh cho lợn con gặm lung tung Lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm, vệ sinh sạch sẽ
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.3.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [19], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Trang 20Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5%
hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô
và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và sc (2012) [8], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…)
đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.3.2.Điều trị bệnh
Trang 21Theo Nguyễn Bá Hiên và cs 2012 [8], nguyên tắc để điều trị bệnh là:
+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [8], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, tần số hô hấp, trạng thái phân, nước tiểu để, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh kịp thời
xử lý Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
Trang 22+ Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh
có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị
và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, nước sinh lý…
2.2.4 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
đủ các khoáng chất, vitamin, cân đối chất đạm, chất xơ chúng ta có thể bổ sung chế phẩm sinh học vì thường trong chế phẩm chứa đầy đủ và cân bằng các chất khoáng vi lượng, đa lượng, men, vitamin, acid amin sẽ làm cho lợn mẹ tăng sức đề
kháng
Trang 23+ Do xương chậu hẹp bẩm sinh, do thai quá to vì chế độ ăn uống cho lợn nái khi có chửa không đúng quy trình kỹ thuật Khi lợn chửa bị sốt cao do mắc các bệnh
truyền nhiễm đã điều trị trong thời gian khá dài
+ Do lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ quá thấp trong thời gian đẻ Do lợn nái bị liệt 1/3 thân sau; nơi đẻ, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật hoặc chưa phù hợp và do đẻ ngược thai
Triệu chứng:
+ Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được
+ Cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi
+ Nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt)
Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi thò tay vào thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to
Biện pháp can thiệp:
+ Trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần tiêm oxytocin 20- 50UI/ 1con nái, có thể tiêm vào tĩnh mạch là tốt nhất
+ Trường hợp không có kết quả, cần can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai ra
+ Sau khi can thiệp xong, cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng, dùng các loại kháng sinh chống viêm tử cung, âm đạo: ampicillin 10 mg/ kg trọng lượng, ngày tiêm 2 lần; ampi-kana 15 mg/ kg trọng lượng/ngày; genta-tylo 2 ml/ 10
kg trọng lượng; gentamycin 4% tiêm 1 ml/ 6 kg trọng lượng và lincomycin 10% tiêm 1 ml/ 10 kg trọng lượng Dùng các loại thuốc bổ để tăng sức đề kháng cho lợn như vitamin E, b-complex, vitamin E, C, B1
2.2.4.2 Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái
đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm
Trang 24Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, Trần Ngọc Bích và cs (2016) [2], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [15], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc viêm tử cung: Mùa Hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa Đông 46,05%, mùa Thu 43,70%
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm thử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [21]
Trang 25Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái, nếu không được chữa
trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Các thể viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], triệu chứng viêm tử cung thể hiện
qua 3 thể viêm:
- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có màu trắng hoặc xám
và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ
- Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ và
có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt
Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung
bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm
mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm
lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu nâu và có mùi
thối khắm Con vật rất đau, kèm triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử
cung mất hẳn
Biện pháp điều trị
Sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái,
điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao: streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000 UI,
dung dịch KMnO4 1% 40 ml + VTM C (Smith và cs, 1995) [30]
Popkov (1999) [18], đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo
cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu
Streptomycin: 0,25 g,
Penicillin: 500.000 UI,
Dung dịch MgSO4 1% 40 ml + VTM C
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, dùng rửa không sâu (qua ống thông) trong âm
đạo bằng dung dịch nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000 Đối với lợn
nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo
từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ
Đối với lợn nái sau khi đẻ, sảy thai và viêm nặng: thụt rửa tử cung bằng dung
dịch Iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngày đầu và thụt
Trang 26rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ Sau khi thụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml nước sinh lý) hay bơm 4 g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày liên tiếp vào tử cung Đồng thời tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1 lần) nhiều lần trong ngày để
tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài Tiêm kháng sinh phổ rộng chống viêm như: tetramycin LA, amoxi 15% 3 lần liên tiếp mỗi lần cách nhau 48 giờ Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như: urotropin giúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các thuốc kháng viêm: ketovet,…
2.2.4.3 Bệnh viêm vú
Nguyên nhân
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes (Christensen và cs, 2007) [26]
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ
mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm
như: E.coli, Streptococus, Staphylococus, Klebsiella…(Đỗ Duy Hùng, 2011) [10]
+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú
+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm
+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
Triệu chứng
Biểu hiện tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy
số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái
Trang 27cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
Thực hiện phòng bệnh: vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng
dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn
mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Đỗ Duy Hùng, 2011) [10]
2.2.4.4 Bệnh sót nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
* Nguyên nhân: Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [24],
nguyên nhân của bệnh sót nhau là do: sau khi đẻ tử cung co bóp yếu, trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo của nhau