1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại hoàng văn châu, thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh

61 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khu chăn nuôi lợn nái sinh sản được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 1200 nái với các giống sản xuất như: Landrace, Yorshire, Duroc được nhập từ nước ngoài về có giá trị kinh tế cao

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÌNH THỊ HỒNG CHƯƠNG

Tên đề tài:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN

VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI HOÀNG VĂN CHÂU, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và bạn bè Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thu Trang người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập, giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Đồng thời, cho tôi gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên trại lợn của Công ty TNHH Minh Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã tạo kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tại cơ sở

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành tốt quá trình thực tập

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 01 năm 2019

Sinh viên

Nình Thị Hồng Chương

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn của trại Hoàng Văn Châu qua 3 năm (2016 - T11/2018) 5

Bảng 2.2 Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 12

Bảng 2.3 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 14

Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn của lợn nái 34

Bảng 3.2 Lịch khử trùng tại cơ sở 36

Bảng 3.3 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 37

Bảng 4.1 Kết quả số lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 39

Bảng 4.2 Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái 40

Bảng 4.3 Kết quả khử trùng tại cơ sở 42

Bảng 4.4 Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh trên đàn lợn nái 45

Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh trên đàn lợn con 47

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện hộ lý trên đàn lợn nái và lợn con 49

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Ý nghĩa

Cs Cộng sự ĐVT Đơn vị tính

LMLM Lở mồm long móng NLTĐ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Điều kiện khí hậu 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4

2.1.5 Thuận lợi, khó khăn 6

2.2 Tổng quan tài liệu về chăm sóc, nuôi dưỡng và một số bệnh thường gặp ở lợn nái 7

2.2.1 Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái 7

2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con theo mẹ 19

2.2.3 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 29

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32

3.1 Đối tượng 32

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

Trang 6

3.3 Nội dung tiến hành 32

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32

3.4.2 Phương pháp theo dõi 33

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con 39

4.2 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại cơ sở 40

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại cơ sở 41

4.4 Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại 42

4.4.1 Kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh cho lợn nái trong thời gian thực tập 45 4.4.2 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con trong thời gian thực tập 47

4.5 Kết quả thực hiện các công tác khác 47

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam Lợn được xếp đứng ở vị trí hàng đầu trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc biệt nữa là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là một trong những nguồn đem lại thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Trước xu thế ấy, chăn nuôi lợn muốn đứng vững và phát triển được phải sản xuất ra sản phẩm an toàn sức khỏe người tiêu dùng nhưng vẫn phải đảm bảo cạnh tranh khu vực và thế giới về tiêu chí ngon, rẻ và an toàn nếu không sẽ mất chỗ đứng ngay ở thị trường trong nước chứ đừng nghĩ đến xuất khẩu Để đáp ứng nhu cầu đó ngoài những yếu tố về con giống, thức ăn, chế

độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý thì công tác thú y cần được chú trọng và hạn chế bệnh tật, nâng cao chất lượng chăn nuôi

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái

là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta

để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng

Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:

“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Hoàng Văn Châu, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”

Trang 8

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu

- Nắm được tình hình chăn nuôi tại công ty TNHH Minh Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản

- Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh trên đàn lợn và hiệu quả điều trị bệnh

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Vận dụng các kiến thức đã học được vào thực tiễn sản xuất đồng thời học tập bổ sung thêm kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi chuồng kín

tại cơ sở

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

* Vị trí địa lý

Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 271,95 km², với chiều dài bờ biển gần 50 km Phía Đông giáp thành phố Cẩm Phả, phía Tây giáp thị xã Quảng Yên, phía Bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía Nam là vịnh Hạ Long

Trại lợn Hoàng Văn Châu là trại gia công của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam Trang trại được xây dựng trên địa bàn phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có địa hình khá phức tạp, đồi núi cao nằm sâu trong khu vực khai thác than, xa khu dân cư, với tổng diện tích khoảng 150 ha, sử dụng 8 ha

2.1.2 Điều kiện khí hậu

Thành phố Hạ Long là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa thuộc vùng khí hậu ven biển, với 2 mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè

- Nhiệt độ: Trung bình hằng năm là 23,7°C Mùa đông thường bắt đầu

từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình là 16,7°C Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 28,6°C

- Lượng mưa: Trung bình một năm của Hạ Long là 1832 mm, phân bố không đều theo 2 mùa Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 Mùa đông là mùa khô, ít mưa, lượng mưa ít nhất

là tháng 12 và tháng 1

Trang 10

- Độ ẩm: Không khí trung bình hằng năm là 84% Đồng thời khí hậu ở

Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt

- Chế độ gió mùa: Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 - 4 đợt Mùa

hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam Tốc độ gió trung bình năm là 3 - 3,4 m/s

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu tổ chức của trại như sau:

- 01 chủ trại, 01 quản lý trại, 01 thủ kho, 01 kế toán, 03 kỹ thuật trại của công ty CP, 01 quản lý kỹ thuật hỗ trợ của công ty CP

- 22 công nhân khu vực nuôi lợn nái, 08 công nhân khu vực nuôi lợn hậu bị, 05 sinh viên thực tập tại trang trại

- 02 thợ điện nước, 02 đầu bếp phục vụ ăn uống, 01 bảo vệ

2.1.4 Cơ sở vật chất của trại

- Trang trại có tổng diện tích khoảng 150 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây ăn quả, ao hồ

- Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn nái sinh sản và chăn nuôi lợn hậu bị

- Khu chăn nuôi lợn nái sinh sản được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 1200 nái với các giống sản xuất như: Landrace, Yorshire, Duroc được nhập từ nước ngoài về có giá trị kinh tế cao, có khả năng đề kháng cao, tạo ra con giống tốt, sức sản xuất cao

- Khu chăn nuôi lợn hậu bị có 8 dãy chuồng, mỗi 1 chuồng gồm 20 ô chuồng, số lợn mỗi chuồng từ 550 đến 700 con, luôn duy trì số lượng lợn trong khoảng 4500 đến 5000 lợn

- Một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, kho thuốc, kho vật tư thiết bị điện và cơ khí, phòng pha tinh, phòng khử trùng

Trang 11

* Cơ cấu đàn lợn nái bao gồm: nái hậu bị, nái kiểm định và nái cơ bản

Nái hậu bị là nái từ sau khi cai sữa được chọn để làm giống, nuôi cho đến khi phối giống lần đầu có chửa (tuổi chọn lợn để làm giống thường chọn

ở tuần tuổi 21) Thời gian nuôi từ 60 ngày tuổi cho đến khi lợn nái động dục

và cho phối giống lần đầu có chửa là thời gian nuôi nái hậu bị Thời gian nuôi hậu bị dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, sự thành thục về tính dục và thể vóc của từng giống Đây là bước khởi đầu để nuôi lợn nái sinh sản vì vậy nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đàn nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi sau này Quy mô đàn lợn nái tại cơ sở ở mức lớn là trại lợn cụ kỵ sản xuất ra lợn ông bà để cung cấp giống sản xuất cho toàn bộ trang trại tại miền bắc thuộc chi nhánh công ty CP Việt Nam nên nái hậu bị được chọn để làm giống rất nhiều Khi lợn nái có vấn đề bị loại thải sẽ có lợn để thay thế

Tổng quan đàn lợn tại cơ sở qua 3 năm được thể hiện qua bảng 2.1:

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn của trại Hoàng Văn Châu qua 3 năm

Trang 12

2.1.5 Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi

- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường

giao thông

- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh

thần trách nhiệm cao trong công việc

- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.Trang trại liên kết với công ty CP nên chủ động được nguồn thức ăn, thuốc điều trị

* Khó khăn

- Giá cả thị trường luôn biến động, giá thịt lợn giảm xuống mức thấp

nhất trong lịch sử ngành chăn nuôi khiến doanh nghiệp thua lỗ

- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa

bệnh cao

- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng

cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại

Trang 13

2.2 Tổng quan tài liệu về chăm sóc, nuôi dưỡng và một số bệnh thường gặp ở lợn nái

2.2.1 Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái

Kỹ thuật cơ bản trong việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của một trang trại chính vì vậy phải thực hiện rất nghiêm ngặt, tỉ mỉ và chính xác mới đạt được năng suất cao Để tăng năng suất chung của toàn trại cần làm tăng tỉ lệ đẻ, tăng số con/1nái/năm, đồng thời cần làm giảm tỉ lệ loại thải, tỉ lệ chết nái, chết con Do đó, quy trình kỹ thuật tốt cần phải đáp ứng được 3 mục tiêu là: Con giống tốt; quản lý, chăm sóc tốt

và phòng, trị bệnh nghiêm ngặt

* Giống: Muốn chọn được con giống có chất lượng tốt thì từ khi sinh ra cho đến lúc chọn giống lợn phải đạt khối lượng > 80 kg Lợn phải được nuôi dưỡng trong điều kiện tốt, thức ăn chất lượng cao để lợn bộc lộ hết tiềm năng

di truyền của giống Tiến hành chọn giống theo các chỉ tiêu: ADG (bình quân tăng khối lượng/ngày), FCR (hệ số chuyển đổi thức ăn), BF (độ dầy mỡ lưng)

- Chọn bộ phận sinh dục: Có số vú từ 12 đến 16 vú, cân đối, khoảng cách giữ các vú đều lộ rõ, không có vú lép, kẹ Hai hàng vú cách đều nhau từng núm to đều, trơn, tròn bóng, hồng, chỉ chọn lợn hậu bị có vú 1 hoặc 2 tầng

- Lợn đực giống: 2 dịch hoàn to đều, không treo cao, không trễ thấp Da dịch hoàn trơn nhẵn, không quá bóng và cũng không nhăn nheo, phụ dịch hoàn nổi rõ thể hiện tính hăng Bao quy đầu to vừa, không tịt

- Lợn hậu bị: Âm môn hình trái tim (quả đào), xuôi không hất lên, âm môn to, mẩy, không đầu thừa của niệu quản

* Xác định tuổi và khối lượng phối giống lần đầu: Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Ký (2003) [2], thì tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu

Trang 14

nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 8 tháng khi đạt 65 - 80 kg, các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

* Xác định lợn lên giống (động dục): Khi lợn lên giống sẽ xuất hiện

các biểu hiện khác thường như: Bồn chồn, đứng nằm không yên, có thể cắn phá chuồng, một số con bỏ ăn, ăn ít, quay đầu, có biểu hiện nghe ngóng … Đặc biệt cơ quan sinh dục biểu hiện rất rõ:

- Những ngày đầu: Âm hộ sưng to, đỏ gấp 2 - 3 lần bình thường, niêm mạc đỏ, có dịch nhày

- Những ngày sau: Dịch đặc dính ở ngày thứ 3 Lúc này âm hộ héo chuyển dần từ màu đỏ sang màu mận chín, niêm mạc ít sưng hơn

- Để kiểm tra cũng như để kích thích lợn động dục, tăng sự hưng phấn

và hiệu quả của phối giống, hàng ngày ta nên cho lợn đực làm việc (chú ý nên

sử dụng các lợn đực từ 2 tuổi trở lên) hoặc dùng lợn đực thí tình Bằng cách cho lợn đực đi qua các khu vực nhốt lợn hậu bị hoặc lợn nái khô theo lịch: 2 lần/ ngày, mỗi lần 30 - 45 phút

- Khi lợn cái có những biểu hiện như đái dắt, đứng im (đứng chôn chân), tai dựng ngược, đuôi vắt lệch sang 1 phía, sờ vào hoặc ngồi lên lưng lợn - lợn không có bất kì phản ứng gì thì đây là thời điểm phối giống thích hợp nhất, hoặc nếu kiểm tra bằng mắt thường thấy âm hộ của lợn héo dần, chuyển sang màu mận chín, dịch tiết ra từ âm đạo đặc dính (vắt thành võng) thì gieo tinh vào thời điểm này sẽ đem lại kết quả cao Thời điểm phối: khi lợn nái còn chịu đực (còn mê ì), thì còn rụng trứng và còn phối giống, số lần phối có thể lên tới 3 - 4 lần

- Cơ chế động dục: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], cơ chế động dục của lợn nái: khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, pheromone của con đực và các kích

Trang 15

thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH (Folliculin-Stimulating Hormone), làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005) [13]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước chịu đực: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone oestrogen Thay đổi của đường sinh dục: tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

+ Giai đoạn chịu đực: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều oestrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau chịu đực: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên và dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi,

Trang 16

yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị

cho chu kỳ động dục tiếp theo

* Chế độ dinh dưỡng

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: Dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng

của vitamin

- Nhu cầu năng lượng

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: Gluxit chiếm

70 - 80%, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp

- Ảnh hưởng của khoáng chất

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa

- Ảnh hưởng của vitamin

Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 và một số loại vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt

+ Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non

Trang 17

+ Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ

+ Thiếu vitamin E: Lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục

Đặc biệt lợn nái mang thai nếu thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con, là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất sinh sản, hiệu quả chăn nuôi

- Nhu cầu về protein

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể Tuy nhiên, việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan, hay chính xác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu

* Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa

- Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [28]: Cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho lợn nái có chửa để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với lợn nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân

để tiếp tục lớn thêm

+ Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: Đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn

+ Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)

Giai đoạn chửa kì I: Cho ăn thức ăn 566SF

Trang 18

Giai đoạn chửa kì II: Từ 84 - 100 ngày cho ăn thức ăn 566SF, từ 100 -

114 ngày cho ăn thức ăn 567SF

+ Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: Nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh

+ Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15oC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

+ Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá

đu đủ do dễ gây sảy thai

+ Cho lợn uống nước tự do

Lợn nái chửa được ăn loại thức ăn 566SF, 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như trong bảng sau:

Bảng 2.2 Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu

Loại lợn Loại cám Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp

(Kg/con/ngày)

tuần

Từ 5-12 tuần

Từ 13 tuần Từ 15 tuần Nái hậu bị mang thai 566SF 2,0 1,8 2,0 2,5 - 567SF Nái dạ mang thai 566SF 2,5 1,8 3,0 3,5 - 567SF

- Chăm sóc lợn nái chửa

+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống

+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không

Trang 19

+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng

+ Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa ra nhiều khi lợn sinh con Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vazolin

- Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu

vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ cho uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho

Trang 20

lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn

đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon

để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

Bảng 2.3 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ

3 ngày 1,0 1,0 1,0 3 1,0 1,0 0,5 2,5 Trước đẻ

2 ngày 1,0 1,0 0,5 2,5 1,0 0,5 0,5 2,0 Trước đẻ

1 ngày 1,0 0,5 0,5 2,0 0.5 0,5 0,5 1,5 Ngày đẻ 0,5 0,5 0,5 1,5 0,5 0,3 0,2 1,0 Sau đẻ 1 ngày 0,5 0,5 0,5 1,5 0,5 0,5 0,5 1,5 Sau đẻ 2 ngày 1,0 1,0 1,0 3,0 1,0 0,5 0,5 2,0 Sau đẻ 3 ngày 1,5 1,0 1,5 4,0 1,0 1,0 1,0 3,0 Sau đẻ 4 ngày 2 1,0 2,0 5,0 1,0 1,0 2,0 4,0 Sau đẻ 5 ngày 2,5 1,0 3,0 6,5 2,0 1,0 2,0 5,0

(Nguồn: Kỹ thuật trại Hà Minh Châu cung cấp) Qua bảng 2.3 thì chúng ta đã biết được cách chăm sóc cũng như khẩu

phần ăn cho lợn nái cơ bản và nái hậu bị, trước khi đẻ không nên cho nái chửa

ăn quá nhiều tránh hiện tượng khó đẻ hay lãng phí thức ăn

Trang 21

- 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng nái đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn

bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng nái đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô

úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô

úm cho lợn con lúc 3 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 m x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

Trang 22

* Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con

Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin

Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất,

hư hỏng

Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng qui định như NLTĐ 3100 kcal/kg, protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0%, phốt pho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

Trang 23

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3: cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 20oC, độ ẩm 70 - 75%

Trang 24

* Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục của lợn con giai đoạn theo mẹ

Đối với lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻ mạnh

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [9] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn con trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc,

mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ

*Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa

Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn, bấm nanh

- Lợn con 1 - 3 ngày tuổi được cắt số tai, cắt đuôi và tiêm Fe - Dextran

- B12 10%, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy

- Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng

- Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực

- Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam

Trang 25

- Lợn con được 10 - 21 ngày tuổi tiêm vắc xin Mycoplasma

- Lợn con được 21 - 25 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn con

- Lợn con được 28 - 35 ngày tuổi tiêm phòng vắc xin dịch tả

* Phòng trừ bệnh tổng hợp: Định kỳ vệ sinh sát trùng chuồng trại,

đảm bảo khô ráo, sạch sẽ, thông thoáng Phun khử trùng chuồng trại với chu

kỳ phun 1 - 2 lần/tuần; kỹ thuật phun: phun sương, phun vào lúc ấm và khô nhất trong ngày (2 - 3 giờ chiều) Kiểm soát nội ngoại ký sinh trùng và thực hiện nghiêm ngặt chương trình phòng vắc xin cho lợn

2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con theo mẹ

2.2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản

a Bệnh viêm tử cung

Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau

* Viêm cổ tử cung (Cervitis)

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3] cho biết cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm, tròn không có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

Cổ tử cung luôn đóng chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về

kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [3]

Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua

âm đạo thấy cổ tử cung mở đường kính từ 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 2003) [10]

Trang 26

* Viêm tử cung

Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [18] cho biết, hầu hết lợn nái can thiệp bằng tay sau khi đẻ đều mắc bệnh viêm tử cung (96,47%), trong khi đó lợn không có sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung

là 69,06%

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003) [10]

Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3] thì viêm tử cung chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

-Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung

Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị sây sát, tổn

thương, vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella,

Brucella, trùng roi xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt

khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây ra viêm nội mạc tử cung

- Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch

Trang 27

quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám (Nguyễn Văn Thanh, 2003) [10]

Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung

mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau

- Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng

Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ,

uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm

Trang 28

hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng

Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

* Một số nguyên nhân gây viêm tử cung

Lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển

Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung

b Bệnh viêm vú (Mastitis)

* Đặc điểm: Viêm vú là một bệnh thường xảy ra đối với lợn nái, với

biểu hiện một hoặc nhiều bầu vú sưng, nóng, đau có khi thành u, cục làm lợn đau đớn, bệnh có thể gây chết lợn nái và làm chết lợn con do thiếu sữa

* Nguyên nhân

Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,

Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú Một

trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con

không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như:

E.coli, Staphylococcus, Klebsiella spp (Nguyễn Như Pho 2002) [8]

Trang 29

Theo Christensen R.V và cs (2007) [17], khi nghiên cứu về mô học và

vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là

Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

Theo Trương Lăng (2000) [4] cho biết: Lợn con mới đẻ có răng nanh

mà không bấm khi bú làm sây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trường cho vi trùng sinh sản nhiều Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm Hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá, thức ăn khó tiêu hoặc cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

* Triệu chứng

Sau khi đẻ 1 - 2 ngày thấy vú sưng đỏ, lợn mẹ ăn ít hoặc bỏ ăn Vú viêm không cho sữa, đầu vú sưng nóng, sờ lợn có phản ứng đau, không cho con bú, đàn con thiếu sữa gầy yếu nhanh chóng và kêu rít nhiều Sốt cao 40 -

42 °C, sữa vú viêm chứa mủ màu xanh, lợn cợn, lắc thấy vẩn đục, để ra gió có mùi hôi Nếu không điều trị kịp thời vú sẽ cứng gây viêm kinh niên không cho sữa Khi viêm ban đầu chỉ một vú viêm, không chữa trị sẽ lây sang vú khác (Trương Lăng, 2000) [4]

Bình thường viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có con đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [14], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào có cảm giác đau

Viêm vú được chia thành các thể: viêm thanh dịch, viêm cata, viêm Fibrin, viêm cata có mủ, viêm áp xe, viêm thể plegemol, viêm có máu

* Hậu quả

Hậu quả của bệnh viêm vú cũng rất nặng nề Nếu viêm vú ở thể nhẹ, điều trị kịp thời thì nái nuôi con vẫn bị giảm lượng sữa, còn nếu nặng ở dạng

Trang 30

vú hoại tử thì phần lớn các tổ chức ở tuyến vú bị hoại tử do các vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập qua vết thương, nếu bị huyết nhiễm trùng hay huyết nhiễm

mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] thì lợn nái mất sữa sau khi đẻ kế phát từ viêm vú, viêm tử cung Do khi viêm cơ thể mẹ thường hay bị sốt 2 - 3 ngày liên tục, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu dinh dưỡng ở đường tiêu hóa bị giảm, dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế ảnh hưởng đến các lứa đẻ tiếp theo

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002) [7] thì khi con vật

bị viêm vú sẽ dẫn đến các biến chứng sau:

- Teo đầu vú: Phần lớn tế bào tuyến vú bị tổn thương, cơ năng tiết sữa không thể hồi phục được Thể tích thùy vú bị bệnh nhỏ hơn vú bình thường Tuy các tuyến vú không nhất thiết phải có hiện tượng xơ cứng rõ rệt, nhưng khả năng tiết sữa của chúng đã giảm, thậm chí là mất hẳn Hiện tượng này chính là hiện tượng teo đầu vú Sau khi bị teo, các thùy vú lành phải tiết sữa

bù cho thùy vú bệnh nên chúng phát triển nhiều hơn

- Bầu vú bị xơ cứng: Tổ chức liên kết tăng sinh và trở thành rắn, còn tổ chức của bản thân tuyến vú lại teo đi

- Bầu vú bị hoại tử: Các tổ chức của bầu vú bị thối loét và phân giải

* Chẩn đoán bệnh viêm vú

- Dựa vào triệu chứng lâm sàng: Bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú sưng đỏ, khi xoa bầu vú thấy có cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy hiểm cho con vật, đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm úp

và cho con bú ít, lợn con bú ít sẽ kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…

Ngày đăng: 23/12/2020, 22:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w