Trò chơi đóng vai theo chủ đề là phương tiện giáo dục hiệu quả, luôn tạo ra nhiều cơ hội để trẻ phát triển về mọi mặt, giúp trẻ được tự thể hiện mình, thể hiện sựsáng tạo và làm quen với
Trang 1GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hoàng Phương Thảo
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hoàng Phương Thảo
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ
BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HUỲNH VĂN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các
số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu nàykhông trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Phòng Đào tạo, Khoa Giáo dục mầm non, Thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy cô, đặc biệt là PGS.TS Huỳnh Văn Sơn, người hướng dẫn khoa học đã dành rất nhiều thời gian tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên của các lớp 5 – 6 tuổi của các trường Mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại trường.
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ cho tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 3 năm 2018
Học viên
Nguyễn Hoàng Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 9
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về giáo dục KN TBVBT 9
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về giáo dục KN TBVBT 12
1.2 Lý luận về giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ tại trường mầm non 16
1.2.1 Các vấn đề lý luận về KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi 16
1.2.2 Đặc điểm tâm lý trẻ 5 – 6 tuổi liên quan đến KN TBVBT 21
1.2.3 Trò chơi đóng vai theo chủ đề 30
1.2.4 Giáo dục kỹ năng TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 40
1.2.5 Biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ tại trường mầm non 47
1.2.6 Tiêu chí và thang đánh giá KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi trong TC ĐVTCĐ 49 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 54
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 55
2.1 Khái quát điều tra thực trạng 55
2.1.1 Mục đích khảo sát 55
2.1.2 Nhiệm vụ khảo sát thực trạng 55
2.1.3 Phương pháp và đối tượng khảo sát 55
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ ở các trường MN 60
2.2.1 Thực trạng biểu hiện KNTBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ ở
Trang 6các trường MN 60
2.2.2 Thực trạng giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ ở các trường MN 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 83
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 84
3.1 Những định hướng đề xuất biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 84
3.1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 84
3.1.2 Cơ sở thực tiễn về giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 85
3.1.3 Những yêu cầu xác lập biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 85
3.2 Một số biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
88 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 98
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 98
3.4.3 Mô tả cách thức tiến hành 98
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC 108
Trang 7GVMN Giáo viên mầm non
HĐVC Hoạt động vui chơi
TC ĐVTCĐ Trò chơi đóng vai theo chủ đề
TD TQSĐ Tư duy trực quan sơ đồ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi 49
Bảng 1.2 Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 51
Bảng 2.1 Bảng phương pháp và đối tượng khảo sát 58
Bảng 2.2 Khái quát thông tin về đối tượng khảo sát 59
Bảng 2.3 Kết quả biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi 61
Bảng 2.4 Biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi theo từng nhóm kỹ năng 63
Bảng 2.5 So sánh biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi các trường Công lập và ngoài Công lập 67
Bảng 2.6 Mức độ cần thiết của các nội dung giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường MN 68
Bảng 2.7 Kết quả thực hiện các nội dung giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN 70
Bảng 2.8 Hình thức giáo viên sử dụng giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi 72 Bảng 2.9 Hình thức giáo viên sử dụng giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động vui chơi trong lớp 73
Bảng 2.10 Kết quả giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ 76
Bảng 2.11 Nguyên nhân dẫn đến một số KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi chưa được hình thành trong TC ĐVTCĐ 78
Bảng 2.12 Đánh giá các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ của GVMN 80
Bảng 2.13 Đánh giá các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 thông qua TC ĐVTCĐ của GVMN 80
Bảng 3.1 Quy ước điểm trung bình (ĐTB) với thang đo các mức độ đánh giá 98
Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá của giáo viên về tính cần thiết của các biện pháp 99
Bảng 3.3 Ý kiến của giáo viên về tính khả thi của các biện pháp 100
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đánh giá chung mức độ biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi 65Biểu đồ 2.2 Đánh giá chung mức độ biểu hiện KN TBVBT theo từng tiêu chí 65Biểu đồ 2.3 Hình thức GVMN sử dụng giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Học để biết; học để làm; học để tồn tại; và học để chung sống” trong bản báo cáonổi tiếng của Jacques Delors là mục tiêu nền tảng trong nền giáo dục thế kỷ XXI [31].Trong cuộc sống hiện nay, chúng ta nhận thấy bản thân mỗi con người, nhất là trẻ nhỏmuốn hòa nhập, muốn tồn tại đều cần trang bị các kỹ năng sống (KNS) cần thiết như
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thíchnghi, kỹ năng tự bảo vệ bản thân… Xã hội hiện đại mang đến cho cuộc sống con ngườinhiều tiện ích, sự thoải mái nhưng cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm, đặc biệt là đốivới con trẻ mầm non [51] Nếu bản thân trẻ không có những kiến thức, kỹ năng cầnthiết để biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứngphó, để vượt qua những thách thức, khó khăn mà hành động theo cảm tính thì rất dễgặp trở ngại, rủi ro trong cuộc sống Chính vì vậy, việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bảnthân (KN TBVBT) cho trẻ là hết sức quan trọng và cần thiết Khi người lớn trang bịcho trẻ ngay từ khi còn thơ bé KN TBVBT sẽ giúp trẻ tự biết chăm sóc và bảo vệ bảnthân tránh khỏi những nguy hiểm Từ đó, trẻ có thể hoà nhập nhanh với cuộc sốngxung quanh, biết cách phát triển các mối quan hệ với bạn bè, mọi người xung quanh,với thiên nhiên và học hỏi, làm giàu có thêm vốn kiến thức, kinh nghiệm cũng như các
kỹ năng của bản thân Ngược lại nếu trẻ thiếu các KN TBVBT cần thiết, trẻ sẽ khótránh khỏi những lúng túng, sai phạm thậm chí gặp nguy hiểm khi phải giải quyết cáctình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày
Thống kê gần đây nhất trong bản báo cáo tổng hợp về phòng chống tai nạn thươngtích trẻ em Việt Nam của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) cho thấy bỏng,ngã, ngộ độc, động vật cắn, tai nạn giao thông, ngạt, đuối nước, điện giật là nhữngnguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trung bình 8.000 trẻ em Việt Nam mỗi năm[52] Điều này càng làm minh chứng rõ rệt về sự cấp thiết cần trang bị cho trẻ các kỹnăng (KN) cần thiết để ứng phó, xử lý các tình huống nguy hiểm gặp phải cũng như bảo
vệ chính bản thân mình
Trang 11Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
có nhiệm vụ đặt nền móng cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân cách conngười mới Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kì đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đạihóa đất nước và xu hướng phát triển của thời đại [19, tr45] Giáo dục trong những nămđầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triểnnăng lực của trẻ Trẻ nhỏ học tập từ nhiều môi trường khác nhau, trẻ học ở gia đình,bạn bè và môi tường xung quanh Trong đó, một môi trường vô cùng cần thiết để trẻhọc tập chính là trường mầm non - nơi chuẩn bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng nềntảng, đồng thời hình thành hứng thú đối với việc học tập, tăng khả năng sẵn sàng bướcvào giai đoạn giáo dục phổ thông Các nội dung chăm sóc – giáo dục được tổ chứclồng ghép với nhiều hình thức hoạt động đa dạng Trong đó, hoạt động vui chơi(HĐVC) mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề (TC ĐVTCĐ) chính là hoạtđộng chủ đạo của trẻ mẫu giáo, là hoạt động được trẻ đón nhận một cách hứng thú vàtích cực nhất Trò chơi đóng vai theo chủ đề là phương tiện giáo dục hiệu quả, luôn tạo
ra nhiều cơ hội để trẻ phát triển về mọi mặt, giúp trẻ được tự thể hiện mình, thể hiện sựsáng tạo và làm quen với xã hội người lớn, học hỏi cách ứng xử và giao tiếp xã hội.Qua đó, trẻ cũng học hỏi được những kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ bản thân trongnhững tình huống nguy hiểm trong cuộc sống hàng ngày nhanh chóng và dễ dàng Đócũng chính là cách thức quan trọng chúng ta có thể giúp trẻ 5 – 6 tuổi hình thành kỹnăng tự bảo vệ bản thân tại các trường mầm non
Những đánh giá ban đầu cho thấy việc giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non chưa đồng bộ và thống nhất [2] Có thực trạng khi tổ chức hoạt động vui chơi trong đó có TC ĐVTCĐ, giáo viên chưa chú trọng hình thành những
KN sống và trí tưởng tượng cho trẻ [56] Còn ở một góc độ khác, với những nội dung dạy trẻ 5 – 6 tuổi kỹ năng tự bảo vệ bản thân, nhận biết một số tình huống, nguy cơ không an toàn và cách xử lý, phòng tránh thì giáo viên thường giáo dục trẻ bằng nhữnglời trò chuyện, hoặc dặn dò nhắc nhở đơn giản thông qua nội dung các bài thơ, câu chuyện, bài hát có nội dung giáo dục dạy trẻ [57]
Trang 12Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo
vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” để tiến hànhnghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ ở một số trường mầm non tại TP HCM
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xác định được thực trạng giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục KNTBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP HCM, từ đó đề xuất vàtiến hành áp dụng một số biện pháp phù hợp thì có thể giúp trẻ 5 – 6 tuổi hình thành
KN TBVBT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về: KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi, trò chơi đóngvai theo chủ đề, giáo dục KN TBVBT thông qua TC ĐVTCĐ, biện pháp giáo dục KNTBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
Trang 135.2 Xác định thực trạng giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục KN TBVBT chotrẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ ở một số trường mầm non tại TP HCM.
5.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua
TC ĐVTCĐ
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Địa bàn nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại một số trường mầm non ở quận 3, quận 6, quận 8tại TP HCM
6.2 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài đề cập đến các biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua
TC ĐVTCĐ trong hoạt động vui chơi ở một số trường mầm non tại TP HCM
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm cấu trúc xây dựng cơ sở lý luận và khung lý luận như kháiniệm kỹ năng, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân, giáo dục kỹ năng tự bảo vệbản thân, trò chơi, trò chơi đóng vai theo chủ đề, vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ
đề trong việc giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi, giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 –
6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ, biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thôngqua TC ĐVTCĐ (bảng câu hỏi, ý kiến chuyên gia), từ đó xác định các thao tác nghiêncứu gồm: nghiên cứu lý luận, bảng đánh giá, bình luận đề tài và xác lập đề xuất cácbiện pháp
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Trong khoảng thời gian gần đây, báo chí và các phương tiện thông tin đưa tin vềcác hiện tượng trẻ mầm non bị tai nạn, bắt cóc, xâm hại trên cả nước và ở TP HCM
Trang 14Thực trạng xã hội có nhiều mối nguy hiểm luôn rình rập, nhất là trẻ nhỏ đang là mốiquan tâm của các bậc phụ huynh, cha mẹ, cộng đồng và trên hết là những trăn trở củacác quản lý, giáo viên ngành Giáo dục, trở thành những cơ sở thực tiễn của đề tài.Trong đó ở các trường mầm non (MN), việc triển khai giảng dạy KN TBVBT chotrẻ mầm non chưa đồng bộ và triệt để, các nội dung giảng dạy các trường mầm nonchưa thống nhất và các phương pháp giảng dạy còn tập trung diễn giải, trò chuyện vớitrẻ là chính Các em khó hình thành KN TBVBT thuần thục và vận dụng kỹ năng nàyvào xử lý các tình huống thực tế trong cuộc sống Vì vậy việc tìm hiểu thực trạng giáodục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi và đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng nàycho trẻ thông qua TC ĐVTCĐ ở một số trường MN tại TP HCM là đáp ứng yêu cầuthực tiễn đang đề ra.
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để hệthống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Mục tiêu: Làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu “Biện pháp giáo dục kỹ năng TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ”
- Nội dung: Hệ thống hoá cơ sở lý luận từ các tài liệu lý luận và công trình nghiêncứu có liên quan đến biện pháp giáo dục kỹ năng TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua
TC ĐVTCĐ
- Đối tượng: Sách, báo, các tạp chí khoa học và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Cách thức: Đọc và tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài Phân tích và tổng hợp các tài liệu nhằm xây dựng khung cơ sở lí luận cho đề tàicũng như các định hướng cho công cụ nghiên cứu
7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 15- Mục tiêu: Đánh giá thực trạng biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi trong TCĐVTCĐ; xác định mức độ nhận thức của giáo viên về giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6tuổi thông qua TC ĐVTCĐ; xác định các biện pháp mà giáo viên đã thực hiện nhằm giáodục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi trong TC ĐVTCĐ Khảo sát tính cần thiết và tính khảthi của các biện pháp tác động nhằm giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua
- Khách thể khảo sát bảng hỏi: Giáo viên mầm non
- Cách thức: Gửi bảng hỏi cho từng người và thu trực tiếp
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Mục tiêu: Thu thập thông tin về biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi, làm rõthêm những ý kiến của giáo viên; xác định thực trạng các biện pháp mà giáo viên đã thựchiện nhằm giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ làm cơ sở đềxuất một số biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
- Nội dung: Những biểu hiện về KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi, những biện phápgiáo viên đã thực hiện để giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ
- Đối tượng: Giáo viên mầm non, trẻ lớp lá và Ban giám hiệu
- Cách thức: Phỏng vấn trực tiếp, ghi chép, thu âm
7.2.2.3 Phương pháp quan sát
- Mục tiêu: Xác định mức độ biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi trong TCĐVTCĐ, xác định những biện pháp giáo viên sử dụng nhằm giáo dục KN TBVBT chotrẻ 5 – 6 tuổi trong TC ĐVTCĐ
6
Trang 16- Nội dung: TC ĐVTCĐ ở trường mầm non, biểu hiện KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổitrong TC ĐVTCĐ, biện pháp giáo viên sử dụng nhằm giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6tuổi trong TC ĐVTCĐ.
- Đối tượng: Hoạt động của trẻ, hoạt động của giáo viên
- Cách thức: Chụp hình, thu âm hoạt động của trẻ, ghi chép để làm tư liệu nghiên cứu
7.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (hồ sơ của giáo viên)
- Mục tiêu:
Thu thập và tìm hiểu, phân tích các hồ sơ giảng dạy của giáo viên mầm non: kếhoạch năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần và các kế hoạch ngày… để thu thập thêmcác thông tin về việc soạn giảng, cách tổ chức thực hiện và đánh giá các hoạt động trênthực tế của các giáo viên, bổ sung kết quả cho thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệbản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi
- Nội dung: Nội dung, hình thức giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi
- Đối tượng: Kế hoạch năm học của giáo viên mầm non
- Cách thức: Xem trực tiếp, ghi chép để làm tư liệu nghiên cứu
7.3 Phương pháp thống kê toán học
- Mục tiêu: Tìm ra kết quả của quá trình khảo sát thực trạng, kiểm tra kết quả của quá trình thử nghiệm và khảo sát tính khả thi của các biện pháp
- Nội dung: Xử lý, phân tích thông tin thu được từ bảng hỏi, phiếu điều tra, ghi chép
- Đối tượng: Dữ liệu, thông tin định lượng từ các dữ liệu thống kê đã khảo sát
- Cách thức: Dùng phần mềm Excel
8 Đóng góp mới của đề tài:
Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa kiến thức về các biện pháp giáo dục
KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại trường MN
Trang 17Về mặt thực tiễn, đề tài giúp giáo viên GDMN có góc nhìn cụ thể về các biện phápgiáo viên sử dụng nhằm giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường MN tại
TP HCM, đề xuất một vài biện pháp giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thôngqua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các trường MN
9 Cấu trúc của đề tài:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ
5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Chương 3: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ BẢN THÂN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO
CHỦ ĐỀ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông
qua TC ĐVTCĐ
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về giáo dục KN TBVBT
Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân là vấn đề được chú trọng trong các chươngtrình giáo dục kỹ năng sống tại quốc gia trên thế giới Ở lứa tuổi mầm non, trẻ em vôcùng hiếu động, tò mò, muốn khám phá mọi thứ trong thế giới xung quanh Tuy nhiêntrẻ chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm sống, khả năng nhận thức thế giới của trẻlại rất hạn hẹp Chính vì thế, trẻ thường dễ gặp những nguy hiểm, trẻ cần được trang bịmột số kỹ năng tự bảo vệ bản thân mình Trải qua quá trình phát triển của lịch sử giáodục trên thế giới và nước ta, nhiều nhà Tâm lý học và Giáo dục học đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu mang giá trị lý luận và thực tiễn về hoạt động giáo dục kỹ năng
tự bảo vệ bản thân
a Nghiên cứu vấn đề giáo dục KN TBVBT
Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em khẳng định: “Vì chưa đạt đến sựtrưởng thành về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt,trước cũng như sau chào đời Các bậc cha mẹ là người chịu trách nhiệm chính trong việcnuôi nấng và giáo dục con cái của mình Không ai được phép làm tổn hại đến trẻ em.Nghĩa vụ của chúng ta là tôn trọng và bảo vệ các em Không ai được ngược đãi trẻ em trai
và gái về mặt thể chất, bằng ngôn ngữ hoặc tình cảm, kể cả cha mẹ, thầy cô giáo haynhững người chăm sóc trẻ Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ con cái của mình tránh mọinguy cơ xâm hại tình dục dưới mọi hình thức khác nhau Không một ai, kể cả cha mẹ đẻ,cha mẹ nuôi, anh em, họ hàng, thầy cô, hàng xóm hay những
Trang 19người xa lạ, có thể lạm dụng và xâm hại trẻ em về mặt tình dục Lạm dụng tình dục trẻ
em là một tội ác Nếu cha mẹ hay những người có trách nhiệm chăm sóc các em nhậnthấy những điều đó mà không báo cho các nhà chức trách thì bị coi là kẻ đồngphạm”[21] Rõ ràng thực tế cho thấy cần nhìn nhận trẻ em cần được chăm sóc, yêuthương, bảo vệ và trên hết các em cũng cần được trao dồi các kỹ năng cơ bản để có thể
tự bảo vệ bản thân mình
Từ những thập niên 80 của thế kỷ XX, những nghiên cứu về giáo dục kỹ năng tựbảo vệ bắt đầu được quan tâm Người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này là Gilbert J.Botvin là chuyên gia về sức khỏe cộng đồng, chuyên gia cao cấp về Tâm lý học,Trưởng khoa Phát triển kỹ năng sống thuộc trường Đại học Cornell, Mỹ Từ năm
1979, ông và các cộng sự đã lập nên một chương trình giáo dục kỹ năng sống cho giớitrẻ từ 17-19 tuổi Lúc đó, kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho người học cũng được quantâm Một chương trình được lập ra nhằm giúp người học có khả năng từ chối những lời
rủ rê sử dụng chất gây nghiện, nâng cao sự tự khẳng định bản thân, kỹ năng ra quyếtđịnh và tư duy phê phán [15]
Trong dự án về “Trẻ em và môi trường gia đình” (1990-1995) của UNESCO phốihợp cùng với UNICEF và WHO tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa sống còntrong thời đại ngày nay như dinh dưỡng, kích thích trẻ phát triển toàn diện, cách nuôidạy trẻ an toàn trong hoàn cảnh loạn lạc, các vấn đề về trẻ khuyết tật, về giáo dục tiềnhọc đường bằng cách huy động mọi lực lượng và tài nguyên cả hiện đại lẫn cổ truyền
để cải thiện những năng lực và tiện nghi cho trẻ UNESCO tìm cách góp lâu dài và cóhiệu quả để giúp trẻ phát triển và tự tin vào đời [2]
Bên cạnh đó, cũng có các đầu sách, báo nghiên cứu về kỹ năng tự bảo vệ bản thân:Tuyển tập “Những câu chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình” năm 2010 của tácgiả Bạch Băng cùng các đồng tác giả giúp trẻ nhận thức được tầm quan trọng của việc
tự bảo vệ bản thân thông qua các câu chuyện diễn ra trong chính cuộc sống thườngngày của trẻ nhỏ ở độ tuổi mầm non, qua đó trẻ học cách tự bảo vệ bản thân trướcnhững tai nạn bất ngờ [5] Hay trong tác phẩm “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình” củatác giả Yoon Yeo Hong được nhà xuất bản Thông tin và truyền thông dịch và xuất bảnnăm 2011 đã trình bày các tình huống thiết thực, kết hợp đan xen giữa lý thuyết và
Trang 20thực hành, giúp trẻ nhận biết các mối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàncho bản thân cũng như việc đưa ra những hướng dẫn trẻ cách xử lý hoặc thoát khỏinguy hiểm trong những tình huống bất ngờ [21].
Tiếp đến, đề tài: “Teaching personal safety skills to young children” (Phương phápdạy kỹ năng an toàn cho trẻ nhỏ) của tác giả Sandy K Wurtele và Julie Sarno Owensthuộc khoa Tâm lý, Đại học Colorado tại Colorado Springs, CO, Mỹ Công trình đãnghiên cứu trên 406 trẻ mẫu giáo nhằm xác định mức độ kỹ năng an toàn cá nhân,phòng chống lạm dụng tình dục ở trẻ từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao kỹ năng antoàn cá nhân cho trẻ [26]
Trong những năm gần đây, “Quy tắc đồ lót” của Tổ chức chuyên bảo vệ trẻ emNSPCC của Anh nhằm ngăn ngừa tình trạng bạo lực tình dục trẻ em với những bài học
về tránh xâm hại bản thân qua những bài học hết sức đơn giản và ngắn gọn nhằm giúpcha mẹ giải thích cho con cái về những bộ phận trên cơ thể mà người khác không đượcđụng chạm vào, cách phản ứng và hướng dẫn trẻ cách tìm sự giúp đỡ
b Nghiên cứu vấn đề giáo dục KN TBVBT cho trẻ thông qua trò chơi
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều học thuyết về trò chơi xuất hiện Các nhàtâm lý học, giáo dục học: A N Leonchiep; Đ B Enconhin; N K CrupxKaia; A P.Uxova; A V Daporozet; L X Vugotxky; A X Macarenco; A I XororoKiala… đãkhẳng định hoạt động chơi chính là một phương tiện vô cùng hữu hiệu trong giáo dụcnhân cách cho trẻ Các nhà nghiên cứu Xô Viết đã đưa ra cách nhìn mới về bản chất xãhội trong trò chơi trẻ em Họ đều khẳng định: trò chơi – đặc biệt là TC ĐVTCĐ có vaitrò quan trọng hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo, là một hình thức hoạt động chủyếu hình thành hành vi xã hội của bản thân trẻ, hình thành thái độ của trẻ đối với cuộcsống, là phương tiện kích thích trẻ thực hiện các hành động thực tiễn và là phương tiệncủng cố sự hợp tác cần thiết ở trẻ
Tác giả A X Macarenco đã viết, trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng đối với trẻ
Ý nghĩa này chẳng khác gì ý nghĩa của sự hoạt động, sự làm việc và phục vụ đối vớingười lớn Ông nhìn nhận trò chơi ở nhiều khía cạnh khác nhau và trước tiên là trongviệc chuẩn bị cho đứa trẻ bước vào cuộc sống, vào hoạt động lao động “Trò chơi có ýnghĩa lớn trong cuộc sống của đứa trẻ, tương tự như hoạt động, công việc có ý nghĩa
Trang 21quan trọng đối với người lớn Đứa trẻ qua trò chơi như thế nào nó sẽ như thế trongcông việc sau này khi lớn lên Cho nên giáo dục con người hoạt động tương lai trướchết phải đi từ trò chơi” [37].
Vào năm 2012, đề tài “Giáo dục các kỹ năng an toàn cho trẻ mẫu giáo” của cácgiảng viên trường Đại học Sư phạm Ulianov đã đưa ra những nhận định: Báo cáo đáng
sợ của tội phạm đối với trẻ em đã chứng minh về sự thụ động của trẻ khi đối mặt với
sự nguy hiểm [2] Nhiệm vụ chính của giáo viên và phụ huynh là lựa chọn các nộidung, biện pháp và hình thức giáo dục phù hợp với sự hiểu biết của trẻ Qua đó, có thểđem đến cho trẻ kiến thức cơ bản về tự bảo vệ bản thân và dạy cho trẻ cách phòngtránh những mối đe doạ, sự nguy hiểm trong thực tế, cách xử lý các tình huống bất ngờnếu trẻ gặp phải để tự bảo vệ mình Biện pháp trò chơi được lựa chọn đầu tiên để tiếnhành giáo dục hình thành các kỹ năng an toàn của trẻ An toàn cho trẻ em trong độ tuổimẫu giáo có thể là một chủ đề chơi trong các trường mầm non ở Cộng hòa Liên BangNga Trong trò chơi, trẻ em sẽ được học những mẫu hành vi tự tin để xử lý tình huốngnguy hiểm Trước khi chơi, trẻ em cần phải nói về tình huống nguy hiểm với nhữngđứa trẻ khác, phân tích lựa chọn hành vi đúng để không dẫn đến một hậu quả đáng tiếc[2] Do đó, việc giáo dục KN TBVBT cho trẻ mẫu giáo là rất quan trọng và thiết thựcnhằm giúp trẻ ứng phó với những tình huống xảy ra trong thực tế cuộc sống với nhiều rủi
ro và nguy hiểm Trên bình diện chung, các nghiên cứu trên thế giới tập trung tìm hiểu về
lý luận và định hướng ứng dụng trong thực tiễn
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về giáo dục KN TBVBT
Trong thời gian gần đây, KN TBVBT là một trong những thuật ngữ được nhắc đếnnhiều trong các bài báo, bài viết với thông điệp trẻ em cần biết cách tự bảo vệ bảnthân, từ chối không đi theo người lạ, không nhận quà bánh từ người lạ, biết cách xử lýkhi bị lạc cha mẹ hay chống lại bạo hành, xâm hại tình dục Rõ ràng KN TBVBT có ýnghĩa quan trọng và cần thiết cho mọi người đặc biệt là trẻ em, nó trở thành vấn đềđược cả ngành giáo dục và xã hội quan tâm Việc giáo dục KN TBVBT là một vấn đềđang được chú trọng và có nhiều đề án, chương trình giáo dục triển khai nhằm gópphần bảo vệ trẻ, tạo ra sự an toàn và phát triển cho trẻ
Trang 22Trong nghị quyết 161 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về các chính sách pháttriển GDMN có quy định Điều 3 về xây dựng và đổi mới chương trình chăm sócGDMN Trong chương trình giáo dục đã chú ý đến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầmnon thông qua các tình huống đặt ra hàng ngày, qua truyện kể và qua trò chơi Trongnghị quyết này vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ 5 – 6tuổi không chỉ như một mục tiêu giáo dục mà còn như một nhiệm vụ giáo dục cụ thể,cần thiết, vì trẻ mẫu giáo lớn đã hình thành cơ sở ban đầu của hành vi, tính cách vànhân cách, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không chì vì mục đích bảo vệ sức khỏe,
mà còn nhằm giáo dục hình thành nhân cách, tình cảm đạo đức và chuẩn bị tâm thế tốtcho trẻ trước khi bước vào trường phổ thông [52]
Giáo dục KN TBVBT cũng được đề cập, triển khai thực hiện trong chương trìnhkhung của Việt Nam thông qua Thông tư 28/ 2016/ TT-BGDĐT ngày 30/12/2016 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trìnhGDMN ban hành kèm theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/07/2009 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong chương trình khung GDMN của nước ta cónhiều mục tiêu về giáo dục KN TBVBT Tuy nhiên các mục tiêu này được lồng ghéptrải dài trong các mục tiêu thuộc các lĩnh vực khác nhau: giáo dục thể chất, giáo dụcngôn ngữ, giáo dục nhận thức, giáo dục thẩm mĩ và giáo dục tình cảm xã hội [12]
Theo thông tư 23/2010/TT-BGDĐT đã ban hành và chỉ thị thực hiện “Bộ chuẩn trẻ
5 tuổi” Nội dung Bộ chuẩn trẻ 5 tuổi gồm 28 chuẩn, 120 chỉ số trong đó có chuẩn cụ
thế cho tất cả các lĩnh vực phát triển của trẻ Mục tiêu và nội dung chuẩn về phát triển
KN TBVBT của trẻ cũng được tích hợp trong chuẩn thứ 6 “Trẻ có hiểu biết và thựchành an toàn cá nhân” với các chỉ số từ 21 đến 26 [10]
Dự án: “Giáo dục phòng tránh tai nạn bom mìn cho học sinh tiểu học” được tiếnhành với sự phối hợp giữa Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Trị với Tổ chức Cứu trợ
- Phát triển Mỹ Cathilic Relief Services Dự án giúp các trường tiểu học trong khu vựctiếp nhận kỹ năng để thực hành và tuyên truyền các thông điệp giáo dục phòng tránh bommìn và đối xử thân ái với người khuyết tật đến cộng đồng [7]
Trong chương trình “Bạn hữu trẻ em” được thực hiện trong khuôn khổ Chươngtrình hợp tác quốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010 - 2016 có
Trang 23sự kết hợp các chương trình giáo dục, phát triển và sống còn của trẻ em, bảo vệ trẻ em
và chính sách xã hội của UNICEF hỗ trợ cung cấp các dich vu lồng ghép cho trẻ em ởĐồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh,giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích chotrẻ, “Kỹ năng từ chối - nói không” với những cám dỗ của cuộc sống; trang bị cho trènhững kỹ năng tự bảo vệ mình trước những nguy cơnhư ma túy, lạm dụng tình dục,bóc lột sức lao động, biết làm chủ chính mình, kỹ nâng nhận thức và quản lý cảm xúc,
kỹ năng điều hành sinh hoạt nhóm [45]
Bộ Giáo dục đã phối hợp với Ngành Công An, Ủy ban An toàn giao thông quốc giađưa ra “Chương trình giảng dạy thí điểm và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu luật antoàn giao thông” cho trẻ em các trường từ mẫu giáo đến trung học phổ thông để trang
bị những kiến thức ban đầu về luật giao thông Tuy nhiên, điểm hạn chế của chươngtrình này mới chủ yếu đưa ra các thông điệp về an toàn mà chưa chú trọng sử dụng cácphương pháp giáo dục làm thay đổi hành vi người học [7]
Theo tác giả Phan Tú Anh thì KN TBVBT là một trong những kỹ năng quan trọngcủa con người, đặc biệt là trẻ em Việc giáo dục kỹ năng này đều được nhìn nhận làcần thiết, nhưng thực trạng tổ chức thực hiện chưa được đồng bộ tại các trường mầmnon, giáo viên còn sử dụng chủ yếu biện pháp trò chuyện, dùng lời giải thích và các
kỹ năng tập trung ở ba chủ đề lớn: an toàn ở gia đình, an toàn nơi công cộng và antoàn giao thông [2]
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, trường mầm non và các trang mạng xã hộirất hay nhắc đến quy tắc 5 ngón tay Dựa vào bàn tay, cha mẹ và giáo viên tập cho trẻ xácđịnh 5 nhóm người con cần chú ý tương tác với 5 ngón tay Từ đó, trẻ có thể giúp mìnhtránh khỏi bị lạm dụng tình dục Ngón cái - gần mình nhất tượng trưng cho những ngườithân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột - bé có thể ôm hôn mọingười hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm rửakhi bé còn nhỏ Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàngcủa gia đình Những người này có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa Ngón giữa -người quen như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ - bé có thể bắt tay chào hỏi họ Ngón áp út
- gặp người mới gặp lần đầu, các bé có thể dừng lại ở
Trang 24mức vẫy tay chào Ngón út - ngón tay xa bé nhất thể hiện cho những người hoàn toàn
xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an, bé hoàn toàn có thể
bỏ chạy, hét to để thông báo với mọi người xung quanh [57]
Bên cạnh đó, nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề trò chơi, đặc biệt là TC ĐVTCĐđối với trẻ 5- 6 tuổi như Lê Minh Thuận nghiên cứu: “Trò chơi phân vai theo chủ đề
và việc hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo” Nguyễn Ánh Tuyết nghiên cứu về: “Tổchức hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi” và “Trò chơi trẻ em” Ngoài ra, vấn đề này cònđược đề cập trong các đề tài khoa học, các bài viết Điển hình với bài viết: “Quyềnđược vui chơi, thông tin của trẻ em trong con mắt người nghiên cứu tâm lý học” (Tạpchí tâm lý học số 7 tháng 10 năm 2001 của tác giả Lê Thị Hồng Nga) Tác giả đãkhẳng định hoạt động vui chơi và tìm kiếm thông tin của trẻ mẫu giáo là “con đường”
cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
Tác giả Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa chỉ ra rằng, ảnh hưởng của trò chơitới sự phát triển nhân cách của đứa trẻ thể hiện ở chỗ, thông qua trò chơi, trẻ tìm hiểuhành vi và những mối quan hệ qua lại giữa người lớn mà đứa trẻ coi là mẫu mực đốivới hành vi của nó Qua trò chơi, đứa trẻ rèn luyện được những kỹ xảo giao tiếp cơbản, những phẩm chất cần thiết để tiếp xúc với các bạn cùng tuổi Để gây hứng thúcho bạn chơi, đứa trẻ phải biết phục tùng các quy tắc chứa đựng trong vai chơi mà nó
đã nhận cho mình [37]
Nhìn chung, ở Việt Nam có nhiều chương trình, dự án giáo dục và nhiều tác giảquan tâm đến vấn đề giáo dục KN TBVBT; qua đó đã góp phần giúp các bậc phụhuynh, các nhà giáo dục và đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên nhận thức KN TBVBT
là cần thiết đối với trẻ em và bước đầu giáo dục hình thành kỹ năng này Tuy nhiên,các chương trình giáo dục trẻ KN TBVBT cho trẻ em còn diễn ra chưa đồng bộ, thờigian thực hiện ngắn, không thường xuyên Có thể nói cho đến nay vẫn chưa có côngtrình nào nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của TC ĐVTCĐ đến sự phát triển KNTBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 251.2 Lý luận về giáo dục KN TBVBT cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua TC ĐVTCĐ tại trường mầm non
1.2.1 Các vấn đề lý luận về KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi
- Theo tác giả V A Kruteski trong quyển Tâm lý học năm 1980, cho rằng:“Kỹ năng
là các phương thức thực hiện hoạt động- cái mà con người lĩnh hội được”.
- A G Kovaliov thì nhấn mạnh: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [22].
Các tác giả này cho rằng kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện hành độngphù hợp với mục đích và điều kiện hành động con người đã nắm vững, muốn thực hiệnđược hành động con người phải có tri thức về hành động Cụ thể, phải hiểu được mụcđích, cách thức và phương tiện, điều kiện hành động Khi con người nắm được các trithức về hành động, thực hiện hành động theo các yêu cầu khác nhau của thực tiễn, tức
là đã có kỹ năng hành động Mức độ thành thạo của kỹ năng phụ thuộc vào mức độnắm vững tri thức về hành động và sử dụng chúng vào hoạt động thực tiễn
Quan điểm thứ hai: Xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người.
- Theo quan điểm của K K Platônôp: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay là các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ”
[44]
Trang 26- N D Levitov quan niệm rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [44].
- Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm
vụ tương ứng” [13].
- Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt
kỹ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con người” [36].
- Tác giả Đặng Thành Hưng (2013): Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện
tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học tâm lý, xã hội khác của cá nhân (chủ thể của kỹ năng đó) như nhu cầu tình cảm, ý chí,tính tích cực cá nhân, giá trị bên trong,
-Như vậy có thể nhận thấy theo các tác giả ở quan điểm thứ hai thì kỹ năng nghiêng
về khả năng của con người để thực hiện các công việc hay giải quyết vấn đề đã baohàm cả quan điểm thứ nhất của các tác giả cho rằng kỹ năng là kỹ thuật hành động, bởi
vì khi con người giải quyết các vấn đề thì cần nhiều tri thức lẫn kỹ thuật hành động
Kỹ năng được hiểu theo quan điểm này vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo.Nhờ có tính mềm dẻo mà con người có tính sáng tạo trong hoạt động thực tiễn Do đó,
từ các quan điểm trên chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm một cách linh hoạt để để giải quyết vấn đề một cách hợp lí trong những điều kiện phù hợp.
b Sự hình thành và phát triển kỹ năng
- Theo P Ia Galperin và các đồng sự của ông cho rằng cơ chế hình thành tri thức và
kỹ năng chính là cơ chế hình thành hành động trí óc qua 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thiết lập cơ sở định hướng hành động
Giai đoạn 2: Hành động với đồ vật hay vật chất hóa
Trang 27 Giai đoạn 3: Hành động ngôn ngữ bên ngoài
Giai đoạn 4: Hành động với lời nói thầm
Giai đoạn 5: Hành động trong trí óc
- Theo tác giả Trần Quốc Thành cho rằng để hình thành kỹ năng cần trải qua ba giai đoạn bao gồm:
Giai đoạn nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động
Giai đoạn quan sát mẫu và làm theo mẫu
Giai đoạn tập luyện để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt mục đích đã đặt ra [35]
- Dựa vào cách phân loại các giai đoạn hình thành kỹ năng của tác giả Hoàng ThịOanh, với trẻ 5 – 6 tuổi để hình thành kỹ năng nói chung và kỹ năng tự bảo vệ nói riêngcần trải qua các giai đoạn:
Giai đoạn nhận thức: là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành kỹ năng.
Giai đoạn này rất quan trọng vì để hành động có hiệu quả con người phải thực hiện vànắm được những điều kiện cần thiết của hành động đó Ở giai đoạn này, người lớn hoặcGVMN hướng dẫn trẻ nắm được lý thuyết hành động, nhận thức đầy đủ mục đích, cáchthức, điều kiện hành động chứ chưa hành động thực sự
Giai đoạn làm thử: là giai đoạn trẻ bắt đầu hành động Lúc này, trẻ hoàn toàn
có thể làm theo mẫu trên cơ sở nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức điều kiện hànhđộng hoặc trẻ có thể hành động theo hiểu biết của mình Ở giai đoạn này, hành động củatrẻ vẫn còn nhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành động cố thể đạt ở mức độ thấphoặc không đạt kết quả
Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành: là giai đoạn trẻ đã có thể hành động
độc lập, ít sai sót, các hành động tự bảo vệ thực hiện thuần thục hơn, hành động đạt kếtquả trong những điều kiện quen thuộc
18
Trang 28 Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: là giai đoạn trẻ thực hiện hành động tự
bảo vệ có kết quả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những
hoàn cảnh mới, các thao tác thuần thục, các hành động đã có sự sáng tạo [31] Tronggiới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi lựa chọn quan điểm của tác giả Trần QuốcThành để xem xét các giai đoạn hình thành kỹ năng Từ ban đầu, giáo viên phải giúptrẻ nhận thức được mục đích, vai trò và những vấn đề cơ bản của việc luyện tập kỹnăng trong các hoạt động giờ học, hoạt động sinh hoạt, đầu giờ chơi Tiếp đến, trongquá trình tổ chức cho trẻ chơi TC ĐVTCĐ, giáo viên phải làm thao tác mẫu cho trẻquan sát, hướng dẫn trẻ cách thực hiện và cuối cùng cho trẻ tập luyện để hình thành
kỹ năng dù rằng cách tổ chức thật nhẹ nhàng và khéo léo
1.2.1.2 Kỹ năng sống
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thíchứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thứccủa cuộc sống hàng ngày [2]
- Theo Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúpthay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về khảnăng tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng [2]
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) chorằng: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng vàtham gia vào cuộc sống hàng ngày” Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
Học để biết, gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả, ; Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, ; Học để sống với người khác, gồm các
kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm, gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm
vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm, [2]
- Kỹ năng sống còn có nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năngphân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó (UNICEF,Thái Lan: 1995) Ngoài ra, “kỹ năng sống” còn có nghĩa là khả năng
19
Trang 29ứng phó với các tình huống nguy cơ để dự phòng đối với các vấn đề sức khỏe.(UNAIDS: 1997) [11].
- Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng
mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử
dụng đề xử lý những vấn đề thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người.Tóm lại, kỹ năng sống là khả năng con người vận dụng kiến thức, kinh nghiệm bảnthân để phân tích, nhận diện và xử lý các tình huống nguy cơ xảy ra trong cuộc sốngnhằm giúp cá nhân tự bảo vệ bản thân và phát triển trong xã hội
1.2.1.3 Kỹ năng tự bảo vệ bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi
a Khái niệm KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi
- Theo từ điển Tiếng Việt từ “Bảo vệ bản thân” có nghĩa là: Tự che chở, tự bảo vệ
lấy mình, tự mình giữ lấy mình, chống lại sự xâm hại của kẻ khác [43]
- Ngoài những thuật ngữ nêu trên, đôi khi chúng ta còn được nghe đến thuật ngữ
“giữ an toàn” Theo tác giả Yayne Dendhire, trong bộ sách Healthy Habits của nhà xuất
bản giáo dục Macmillan tại Úc đã đưa ra khái niệm về giữ an toàn (safety) như sau: “Giữ
an toàn là tránh khỏi những nguy hại, khỏi những mối nguy hiếm như bị tổn thương về thể xác hoặc tinh thần” [49].
Như vậy, “giữ an toàn” và “tự bảo vệ bản thân” đều cùng mục đích là đem lại sự antoàn cho một cá nhân nào đó Vì vậy, chúng tôi cho rằng:
“Kỹ năng tự bảo vệ bản thân là khả năng con người vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của cá nhân để nhận diện đồng thời biết cách ứng phó được trước các tình huống bất ngờ, những hoàn cảnh nguy hiểm có thể xảy đến để tự bảo vệ bản thân
được an toàn” Nói cách khác, “Kỹ năng tự bảo vệ bản thân của trẻ 5 – 6 tuổi là khả năng trẻ vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của trẻ để nhận diện đồng thời biết cách ứng phó được trước các tình huống bất ngờ, những hoàn cảnh nguy hiểm xảy đến để tự bảo vệ bản thân được an toàn”.
b Các giai đoạn hình thành KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi
- Như đã đề cập ở phần “Sự hình thành và phát triển kỹ năng”, rèn luyện KN
Trang 30TBVBT bao gồm các giai đoạn:
Giai đoạn nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động:Nhận thức được những vấn đề về nguy cơ, hậu quả không an toàn, biện pháp bảo vệ bảnthân
Giai đoạn quan sát mẫu và làm theo mẫu: Quan sát mẫu của người lớn, của bạn
bè và làm theo mẫu đã quan sát
Giai đoạn tập luyện để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiệnhành động nhằm đạt mục đích đã đặt ra: Tập luyện các hành động ứng xử nếu gặp cáctình huống nguy hiểm, khẩn cấp…
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, việc giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi giúp trẻ hìnhthành KN TBVBT cần trải qua ba giai đoạn, đi từ giai đoạn 1 là giúp trẻ hiểu đượcmục đích, các vấn đề căn bản về KN TBVBT; tiếp đến là giai đoạn 2 giáo viên thựchiện thao tác mẫu, hướng dẫn mẫu cho trẻ xử lý tình huống nguy hiểm và cuối cùng làgiai đoạn 3 cho trẻ được luyện tập để hình thành kỹ năng
1.2.2 Đặc điểm tâm lý trẻ 5 – 6 tuổi liên quan đến KN TBVBT
1.2.2.1 Một vài đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi
a Đặc điểm chú ý của trẻ 5 – 6 tuổi
Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ đã được phát triển, trẻ biết hướng ý thức của mìnhvào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ Trẻ có khả năngchú ý có chủ định từ 37 - 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thíchđược sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2 – 3 đốitượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động
Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển tốt Sự phân tán chú ý ởtrẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng chi phối Ở giaiđoạn này ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ đã chú ý nhiều Từ âm thanh bên ngoài, trẻbiết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong óc trẻ [39]
Trang 31Như vậy, với khả năng chú ý có chủ định, trẻ 5 – 6 tuổi có thể tập trung lắng nghe,quan sát, qua đó giúp giáo viên giáo dục KN TBVBT cho trẻ một cách đầy đủ, hiệuquả và chính xác hơn Giáo viên cũng cần lựa chọn phương pháp hướng dẫn phù hợp,lựa chọn nội dung, hoạt động về KN TBVBT hấp dẫn, sinh động để tập trung sự chú ýcủa trẻ.
b Trí nhớ
Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ (4 –
5 tuổi) và phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) do hoạt động của trẻ ngày càngphức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao Loại ghi nhớ có chủđịnh của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc
- Trí nhớ vận động: Trẻ có thể dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ dẫn của ngườilớn vẫn có ý nghĩa Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít có những độngtác thừa của cơ thể
- Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ hình ảnh đặc biệt phát triển Trẻ nhớ những bức tranh màtrẻ đã vẽ, nhớ phong cảnh mà trẻ đã tham quan Biểu tượng thế giới xung quanh ở trẻ đãgắn kết với nhau, mang tính sinh động và hấp dẫn
- Trí nhớ từ ngữ logic: Vốn tri thức, biểu tượng và những khái niệm ban đầu về thếgiới xung quanh, đòi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn ngữ, điều này giúp trẻ phát triền trí nhớ
từ ngữ logic
- Trí nhớ cảm xúc: Trẻ nhớ những cảm xúc vui buồn mà trẻ đã trải qua Trí nhớ cảmxúc là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phong phú và tinh tế Sự hồitưởng có liên quan đến tự ý thức của trẻ Trong hồi tưởng của trẻ có những
điều liên quan đến những thời điểm quan trọng trong cuộc đời đứa trẻ và trong quan hệ với người khác Trí nhớ tác động đến quá trình hình thành nhân cách [39] Trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng ghi nhớ chủ định là nền tảng giúp trẻ hình thành và rènluyện KN TBVBT, trẻ vẫn nhớ máy móc nên giáo viên cần tổ chức rèn luyện KNTBVBT nhiều lần để giúp trẻ ghi nhớ, giải thích cho trẻ hiểu lợi ích việc tự bảo vệ bảnthân để trẻ hiểu và từ đó ghi nhớ tốt hơn Giáo viên cần xây dựng nội dung về KN
Trang 32TBVBT thông qua hình ảnh gần gũi, dễ hiểu, kết hợp dùng lời giải thích và cho trẻ luyện tập hình thành KN TBVBT.
Tư duy trực quan sơ đồ (TD TQSĐ): Là một bước phát triển trong tư duy của trẻ 5
– 6 tuổi, TD TQSĐ là tư duy hình tượng được thực hiện với các hình ảnh đã được sơ đồhoá Trẻ sử dụng hình tượng (ký hiệu của sự vật, hiện tượng) để giải quyết nhiệm vụ bàitoán, cụ thể trẻ có khả năng đọc hiểu hình vẽ, sơ đồ của sự vật, hiện tượng; dùng sơ đồđường đi Dựa vào những kinh nghiệm đã có, trẻ có khả năng kí mã sơ đồ TD
TQSĐ giúp trẻ lĩnh hội những tri thức ở trình độ khái quát, qua đó có thể giúp trẻ đọchiểu các sơ đồ thoát hiểm hay biển báo chỉ dẫn trong cuộc sống
Song song đó, ở trẻ hình thành những yếu tố của tư duy lôgic: Trẻ 5 – 6 tuổi đã biết
sử dụng khá thành thục các vật thay thế và phát triển tốt chức năng ký hiệu của ý thức.Trẻ 5 – 6 tuổi bắt đầu hiểu và hành động với các chữ số, các ký hiệu toán học [39]
d Tưởng tượng
Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ Tuổi mẫu giáo là tuổi
mà nhiều trẻ rất hay tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, giàu màusắc xúc cảm và đôi khi phi hiện thực
Đầu tuổi mẫu giáo, tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủđịnh Tưởng tượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn Tưởng tượng
có chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch và thựchiện ý tưởng ấy ở cuối tuổi Trẻ biết tưởng tượng theo mục đích, nhiệm vụ đặt ra chohoạt động Lúc này, trẻ 5 – 6 tuổi có khả năng tưởng tượng thầm trong đầu, không cần
Trang 33chỗ dựa trực quan ở bên ngoài Tưởng tượng sáng tạo dần được phát triển, tưởngtượng của trẻ có tính độc lập cao và có sáng kiến [39].
Do vậy, khi tiến hành các bài tập hay tham gia TC ĐVTCĐ với các tình huống giảđịnh về KN TBVBT, yêu cầu trẻ đóng vai các nhân vật trong tình huống thì trẻ hoàntoàn có khả năng thực hiện được
Các hình thức ngôn ngữ của trẻ ở tuổi này có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tínhbiểu cảm của ngôn ngữ được phát triển Đứa trẻ nắm được quy luật của tiếng mẹ đẻ,học cách sắp xếp những ý nghĩ của mình một cách logic, chặt chẽ Ngôn ngữ trở thànhcông cụ của tư duy và phương tiện của nhận thức
Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển biểu hiện trong sự hiểu các tácphẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người lớn Chức năng lập kếhoạch của ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các nhiệm vụ thực hành và nhiệm
vụ trí tuệ
Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo trở thành hoạt động đặc biệt dưới các hình thức như: sựlắng nghe, đàm thoại, thảo luận và kể chuyện Hoàn thiện quá trình phát triền ngữ âm,xuất hiện những tiền đề nắm vững ngữ pháp [26]
Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng: Nắm vững ngữ âm và ngữđiệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ, trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung chongôn ngữ nói; vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển [41] Ngôn ngữ phát triển là tiền đềgiúp trẻ lĩnh hội kiến thức, cách thực hiện KN TBVBT một cách trọn vẹn, chính xáckhi quan sát giáo viên làm mẫu Giáo viên chú ý làm mẫu, sử dụng tranh ảnh, đồ dùngkết hợp dùng lời để xây dựng mối quan hệ trực tiếp giữa ngôn ngữ và KN TBVBT cầntruyền đạt cho trẻ giúp trẻ hiểu từ, mở rộng vốn từ và nhận biết về KN TBVBT
f Một số đặc điểm của nhân cách
Sự phát triển của các động cơ hành vi
Ở tuổi này những động cơ “xã hội” bắt đầu chiếm vị trí ngày càng lớn trong số cácđộng cơ đạo đức Lúc này, trẻ đã hiểu rằng những hành vi của chúng có thể mang lại lợiích cho những người khác và chúng bắt đầu thực hiện những công việc vì người
Trang 34khác theo sáng kiến của riêng mình Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo trở nên đadạng: động cơ muốn tự khẳng định mình, động cơ muốn nhận thức, muốn khám pháthế giới xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xã hội cần phải quan tâm đến nộidung động cơ và cần phát huy động cơ tích cục, ngăn chặn động cơ tiêu cực Ở lứa tuổinày bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ Đó là một cấutạo tâm lý mới trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo Trong mỗi công việc trẻđều có một hệ thống thứ bậc động cơ thúc đẩy.
Ở trẻ bắt đầu hình thành tính chủ định trong hoạt động tâm lý: Đến cuối tuổi mẫugiáo, trẻ đã có thể chủ động điều khiển hành vi của mình, xuất hiện ý chí Trẻ cũng đã bắtđầu điều khiển hoạt động tâm lý của mình từ chỗ không chủ định đến chủ định Cuối tuổimẫu giáo hành động ý chí ngày càng tăng và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong “Bức tranhhành vi” của trẻ nếu được giáo dục tốt
Ở lứa tuổi này, hành vi của trẻ tương đối xác định Nếu động cơ xã hội chiếm ưuthế thì trẻ sẽ thực hiện những hành vi mang tính đạo đức tốt đẹp Ngược lại, nếu động cơnhằm thỏa mãn quyền lợi riêng tư chiếm ưu thế thì trong nhiều trường hợp trẻ sẽ hànhđộng nhằm tìm kiếm những quyền lợi cá nhân ích kỷ, dẫn đến những vi phạm về chuẩnmực đạo đức xã hội Do vậy, cần phải tạo ra những tình huống để gợi lên những hành viđạo đức tốt đẹp [39]
Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo lớn đã trở nên nhiều màu sắc, hệ thống thứ bậcđộng cơ và tính chủ định trong tâm lý khiến toàn bộ hành vi của trẻ theo một xu hướngnhất định, hành vi của trẻ là hành vi mang tính xã hội rõ rệt Đây là đặc điểm giáo viêncần chú ý khi giáo dục KN TBVBT cho trẻ, giáo viên phải quan tâm giáo dục trẻ động
cơ bảo vệ bản thân trước, để từ đó có thể khẳng định bản thân, tích cực nhận thức haykhám phá thế giới xung quanh
Sự hình thành ý thức
Đến cuối tuổi mẫu giáo thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Đếnlúc này trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những ngườixung quanh đối xử với mình ra sao và tại sao mình có hành động này hay hành độngkhác, những mối nguy hiểm xung quanh và cách ứng phó như thế nào Ý thức bản ngã
Trang 35của trẻ được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình,
về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng hay khiếm khuyết.Trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giámột cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để noi gương những người tốt, việc tốt Đó làđiều kiện để trẻ nỗ lực rèn luyện những KN TBVBT chưa thành thạo
Sự tự ý thức của trẻ còn thể hiện trong việc trẻ nhận ra mình là trai hay gái và cónhững hành vi ứng xử phù hợp với giới tính của mình Qua đó cũng giúp bản thân mỗitrẻ nhận biết về đặc điểm cơ thể bản thân, những “vùng cấm”, nhận ra mối nguy hạikhi bạn khác giới hay người khác có hành động không phù hợp, tổn hại đến trẻ
Ý thức bản ngã được xác định giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mìnhphù hợp với chuẩn mực xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội, trẻ biết thực hiện
KN TBVBT một cách thuần thục, chính xác [39] Nói cách khác, cần tác động tích cực
để có thể giúp trẻ phát triển KN TBVBT
1.2.2.2 Một số biểu hiện về KN TBVBT của trẻ 5 – 6 tuổi
Giai đoạn từ 4 đến 12 tuổi có thể coi là giai đoạn mà trẻ dễ gặp phải nhiều mốinguy hiểm nhất Bởi ở giai đoạn này, trẻ thích khám phá nhưng lại chưa có những kỹnăng cơ bản để tìm hiểu thế giới [51] Đây cũng là đặc trưng về tâm lý cần chú ý củalứa tuổi này liên quan đến việc tự bảo vệ bản thân
Các nguy cơ không an toàn là những yếu tố tiềm ẩn không phải trẻ nhỏ nào cũng cóthể nhận ra và biết hết về chúng Chỉ thông qua các hoạt động giáo dục, trẻ mới đượchình thành khả năng nhận biết và phòng tránh Trẻ em nhận thức thế giới không chỉbằng việc nghe những lời giảng giải mà trẻ học thông qua quá trình chúng hoạt động.Thông qua hoạt động, trẻ tìm hiểu về thế giới xung quanh, với mỗi kinh nghiệm mới,nhận thức của trẻ mở mang thêm và sẽ hiểu thêm về thế giới quanh mình từ đó có cáchhoạt động phù hợp Vai trò của hoạt động đối với sự tồn tại và phát triển của loàingười đã trở thành điều hiển nhiên được thừa nhận [54] Hoạt động luôn có mục đích
cụ thể và gắn với đối tượng, phương tiện nào đó Với trẻ nhỏ, giáo dục trẻ thông quacác hoạt động khác nhau là việc làm có ý nghĩa và hiệu quả của nó đã được thực tiễnchứng minh bởi nó giúp trẻ rèn luyện các kỹ năng vận động cũng như kỹ năng nhậnthức qua việc đặt ra các mục tiêu, thao tác với các đối tượng đa dạng…
Trang 36Bên cạnh đó, với tác động có chủ đích và được tổ chức một cách toàn diện của cácnhà giáo dục; với sự phát triển bình thường về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em đều có thểnhận biết các nội dung kiến thức về các nguy cơ không an toàn và có thể thực hiện cáchành vi phù hợp nhằm giải quyết được nhiệm vụ mà vẫn đảm bảo an toàn.
Trẻ 5 – 6 tuổi thường bắt chước theo các hành vi và thói quen của những ngườixung quanh Kỹ năng bảo vệ bản thân của trẻ vì vậy trước tiên sẽ được hình thành mộtcách tự nhiên từ những thói quen tích cực, lành mạnh trong sinh hoạt hằng ngày ở nhàtrường và gia đình như rửa tay trước khi ăn, đánh răng trước khi ngủ, không dùngchung các vật dụng cá nhân, uống nhiều nước, ăn sáng đều đặn, ngồi đúng tư thế, tậpthể dục thường xuyên Do đó, nếu muốn dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân thì trướchết người lớn cần thực hành để trẻ quan sát, học hỏi
Càng lớn, trẻ càng có nguy cơ phải đối mặt nhiều tình huống với mức độ nguyhiểm cao hơn như bị xâm hại, bị cướp giật, bị lạm dụng Chính vì vậy, bên cạnh việcgiúp trẻ hình thành thói quen và kỹ năng cần thiết để bảo vệ bản thân, người lớn cầnđồng hành và chia sẻ với trẻ về những mối nguy hiểm có thể gặp phải trong gia đình,trong trường học và ở ngoài xã hội phù hợp với lứa tuổi của trẻ Những kỹ năng vàthông tin này sẽ là hành trang giúp trẻ cảm thấy tự tin, luôn sẵn sàng đối diện và vượtqua các mối nguy hiểm trong cuộc sống
a Nguy cơ với các đồ vật không an toàn
Các đồ vật này với những tính năng sử dụng riêng sẽ có cấu tạo và phương thứchoạt động để đáp ứng tôt nhất yêu cầu đặt ra Vì vậy nguy cơ không an toàn có thể docấu tạo của các đồ vật đã có những đặc điểm có nguy cơ như vật sắc, nhọn (dao, kéo,dĩa, tuốc lơ vít, tăm, bút, kim…); vật nhám, ráp (giấy nhám, đá …); vật có răng cưa;vật có điện (ổ điện, quạt tích điện, đèn tích điện); vật có độ đàn hồi cao (dây chun, lòxo…); vật chứa đồ nóng (phích, ấm ủ…) Thêm vào đó là người sử dụng không đúngcách hoặc sắp xếp đồ vật không hợp lý sẽ làm gia tăng nguy cơ và biến những nguy cơ
đó thành tai nạn thực sự Ví dụ: chiếc phích đựng nước nóng bản thân nó không gâynguy hiểm gì cho người sử dụng nhưng nếu bất cẩn đậy nắp phích không chắc, khi
Trang 37người sử dụng cầm vào phần nắp này có thể làm rơi phích và gây bỏng hoặc bị thương
do mảnh vỡ nào bắn vào
Trẻ 5 – 6 tuổi với khả năng tư duy hình tượng hình thành và phát triển cho phép trẻnhận thức về bản chất, đặc tính của các sự vật hiện tượng, mối quan hệ giữa các đốitượng và sự việc và khả năng điều khiển hành động tốt hơn Vì thế, có thể dạy cho trẻnhận biết về các đặc điểm của sự vật hiện tượng gần gũi quanh trẻ, mối quan hệ giữaviệc làm và kết quả Với những kiến thức đó dẫn dắt để trẻ biết cách hoạt động chophù hợp đặc điểm của đối tượng, tránh những hậu quả xấu xảy ra
b Nguy cơ ở môi trường bên ngoài
Trong quá trình tương tác với cuộc sống, trẻ có nguy cơ không an toàn (bị lạc, bịbắt cóc, bị xô đẩy ngã, tai nạn) khi ở những nơi đông đúc như ở chợ, công viên, khugiải trí, đường xá… Những nơi vắng vẻ cũng không hẳn an toàn cho trẻ bởi trẻ có thể
bị bắt cóc, bị xâm hại hoặc trẻ gặp nạn nhưng không có người giúp đỡ kịp thời Trẻ cónguy cơ không an toàn khi ở những địa điểm lao động như công trường, xí nghiệp, cơ
sở gia công sản xuất… Thậm chí ngay tại gia đình ở những nơi mọi người làm việcbận rộn cũng tiềm ẩn nguy cơ cho trẻ, ví dụ khu vực bếp nấu, nơi đang thu dọn vệsinh Những nơi trẻ có nguy cơ bị tai nạn do ngạt, đuối nước như ao hồ, sông suối,cống, nhà tắm, những nơi có bể hoặc thùng chứa nước không có nắp đậy Những nơinuôi thú, nơi có nhiều động vật nuôi thả rông, vùng cây cối rậm rạp, nơi tối tăm ẩmthấp cũng chứa đựng nguy cơ bị các loại động vật tấn công trẻ
Tùy địa bàn sinh sống của từng vùng, mức độ nguy cơ của từng loại địa điểm vớitrẻ sẽ khác nhau, ví dụ với trẻ em sống ở vùng rừng núi nguy cơ bị các loài động vật(rắn, ong…) tấn công sẽ nhiều hơn trẻ em vùng thành phố Vì vậy, hướng dẫn trẻ nhậnbiết về các nguy cơ không an toàn ở những địa điểm khác nhau và cách phòng tránh làtương đối phức tạp do nhiều khi trẻ khó lường hết các vấn đề có thể xảy ra Hơn nữa,những tình huống lại rất đa dạng không phải lúc nào cũng xảy ra trong khuôn viêntrường lớp Nhưng trẻ càng lớn nhu cầu hoạt động phải mở rộng dần, do đó việc dạytrẻ nhận biết và phòng tránh nguy cơ không an toàn từ các địa điểm càng cần thiết và
Trang 38đòi hỏi người lớn phải có biện pháp, hình thức giáo dục phù hợp để trẻ có thể đượctrang bị cả về kiến thức và khả năng xử lý tình huống nhằm bảo vệ an toàn cho chínhmình.
c Nguy cơ với các hành động – việc làm cụ thể
Tính hiếu động của trẻ thôi thúc trẻ thường hoạt động với các đối tượng khác nhauđặc biệt là với những đối tượng tạo cho trẻ sự hứng thú Trong quá trình đó, trẻ cónhiều nguy cơ gặp phải bất trắc Cụ thể ở những hình thức hoạt động khác nhau, nguy
cơ trẻ có thể gặp phải:
- Khi hoạt động ngoài trời: Trẻ leo trèo, chạy nhảy trên đường phố, xô đẩy lẫn nhau
- Khi vui chơi: Trẻ chơi các trò chơi, đồ chơi không đúng cách (cho đồ chơi vàomồm, tai, mũi; dùng đồ chơi đập vào người vào mặt bạn; đẩy, ngáng bạn khi chơi…)
- Trong sinh hoạt hàng ngày: Trẻ tự ý ăn uống các đồ ăn lạ (hoặc những thứ trẻ cho
là đồ ăn), trẻ vừa ăn vừa cười đùa, trẻ càng không được bắt chước người lớn hút thửthuốc lá, không lại gần người hút thuốc lá, đến những nơi đông người phải đeo khẩutrang
Mức độ trẻ gặp nguy cơ tai nạn trong các hoạt động này chủ yếu phụ thuộc vào vốnkiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động của trẻ Để trẻ tránh được những tai nạnđáng tiếc, ngoài việc cung cấp các kiến thức cần thiết về các hành vi không an toàn,cần rèn trẻ trong nhiều hoạt động khác nhau của cuộc sống hằng ngày và thông qua cáctình huống cụ thể, đa dạng
d Nguy cơ với người lạ, xung quanh
Để tránh trường hợp trẻ bị dụ dỗ vì tưởng là người quen, người lớn cần dạy trẻkhông được tin lời người không quen biết, kể cả người nhận là bạn của bố mẹ, thậmchí biết cả tên bố mẹ và con Trong trường hợp nhận ra họ là hàng xóm hay ngườiquen, hãy quay vào trường báo cho cô giáo, người thân để xác minh [53]
Trẻ nhỏ nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng rất thích được cho quà, thích ăn bánhkẹo Để đề phòng những món quà, bánh, kẹo đó có tẩm thuốc mê, bé ngửi hoặc ăn vào
29
Trang 39sẽ bị trúng độc, người lớn nên dạy bé không nhận bất kỳ món đồ nào người lạ cho.Phải từ chối khéo léo rằng “Bố mẹ con không cho phép nhận” hoặc “Con không ănnhững thứ này được” Sau đó hãy tìm đến chỗ có người lớn hoặc chú bảo vệ để tránh
bị người kia tiếp tục dụ dỗ Trong trường hợp người đó cứ bám theo ép bé ăn hay bắtlên xe, phải quẫy đạp và hét thật to để mọi người đến cứu
e Nguy cơ với các tình huống khẩn cấp
Trẻ 5 – 6 tuổi vẫn có thể bắt gặp các tình huống nguy hiểm và khẩn cấp như cháy,
bị lạc, xâm hại cơ thể… Trong những trường hợp này trẻ cần được trang bị một sốkiến thức, kỹ năng cơ bản để nhận biết và xử lý một cách hợp lý giúp trẻ bảo vệ bảnthân Việc dặn dò, giáo dục trẻ trong các tình huống khẩn cấp là yêu cầu rất quan trọngcần đảm bảo:
- Nếu trẻ bị lạc ở trung tâm mua sắm hay khu vui chơi, sau khi đứng tại chỗ chờ mộtlúc lâu không thấy bố mẹ, trẻ phải đến nói với các chú bảo vệ hoặc cô bán hàng nhờthông báo lên loa, hoặc ngoan ngoãn đứng ngay chỗ bị lạc chờ bố mẹ đến đón
- Nếu như trẻ gặp cháy thì phải tìm cách thoát khỏi chỗ cháy, gọi người đến giúp hoặcphải gọi ngay đến số điện thoại của bố mẹ, số điện thoại cứu hỏa 114 Trẻ cũng cần đượcngười lớn giáo dục không được nghịch điện, lửa dễ gây cháy
- Trẻ em cần nhận diện đâu là hành vi không an toàn trên cơ thể, đâu là vùng cấm kỵhay riêng tư khi tiếp xúc với người khác [37] Nếu trẻ bị người khác tấn công, có hànhđộng sờ mó, đụng chạm vào những “vùng cấm” trên cơ thể, trẻ phải kêu cứu, tìm cáchchạy nhanh thoát thân và phải kể lại cho bố mẹ người thân nghe Người lớn cũng có thểgiúp sức, cùng trẻ thực hiện các hoạt động này, thể hiện sự gắn kết, góp phần hình thành
KN TBVBT, phòng chống xâm hại cho trẻ
1.2.3 Trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.2.3.1 Trò chơi
a Định nghĩa trò chơi
Có nhiều quan niệm khác nhau về trò chơi Trò chơi được xem như một hiện tượngliên quan đến thời gian rảnh rỗi và sự giải trí của con người do chịu ảnh hưởng của sựphát triển tôn giáo – văn hóa – kinh tế và xã hội của nhân loại
Trang 40J Piaget cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọngđối với sự phát triển trí tuệ Hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất chotrẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sựphát triển trí tuệ của trẻ [16] Theo Piaget, có ba loại trò chơi chính lần lượt xuất hiệntrong quá trình phát triển của trẻ Đó là: trò chơi hành động chức năng, trò chơi tượngtrưng (bao gồm trò chơi mô phỏng và trò chơi xây dựng) và sau cùng là TC ĐVTCĐ.Đến nay, cách phân loại này vẫn còn có ý nghĩa đối với việc tổ chức chơi cho trẻ ở các
độ tuổi khác nhau Trong đó, TC ĐVTCĐ có ý nghĩa lớn đối với trẻ mẫu giáo Qua tròchơi này trẻ được thỏa mãn nhu cầu giao lưu với các bạn cùng nhóm chơi và tạo ra sựthoải mái trong đời sống tinh thần
Với tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhautương đối xa [23] Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợpquy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặctính thách thức đối với người tham gia Hai là những thứ công việc được tổ chức vàtiến hành dưới hình thức chơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếpbằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi
Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết kế,nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy,trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắcchính là phương tiện tổ chức tập hợp đó
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hiểu trò chơi của trẻ em là một hình thức hoạt động vui chơi của trẻ trong một điều kiện nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lý nhất định; trò chơi của trẻ em luôn hướng đến sự tái tạo, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của loài người Đây là thuật ngữ được sử dụng để làm cơ sở nghiên cứu.
b Phân loại trò chơi
Hiện nay, trò chơi cho trẻ mẫu giáo rất đa dạng, phong phú Có nhiều cách phânloại trò chơi khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi đề cập đến cách phân loại có trongchương trình mẫu giáo hiện hành ở nước ta, trò chơi của trẻ mẫu giáo gồm 3 nhóm:
- Nhóm trò chơi sáng tạo:
Trò chơi đóng vai theo chủ đề (phản ánh sinh hoạt)