1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 4 tuổi thông qua đồng dao

149 69 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp quan sát Quan sát công tác phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi và thực trạng sử dụng đồng dao trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ tại một số trường mầm non thành

Trang 1

Nguyễn Thị Huyền Anh

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI

THÔNG QUA ĐỒNG DAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

Nguyễn Thị Huyền Anh

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI

THÔNG QUA ĐỒNG DAO

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VÕ PHAN THU HƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do tác giả tự thu thập, phân tích một cách trung thực, khách quan và chưa từng công bố ở trong bất kì nghiên cứu khoa hoc học nào khác Mọi thông tin trích

dẫn trong luân văn đã được ghi rõ nguồn gốc và được phép công bố

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các giảng viên khoa Giáo dục mầm non trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu khoa học tại trường

Tôi cũng xin được cảm ơn quý Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm TP.HCM; Ban Giám hiệu, các giáo viên đang công tác tại các trường MN Họa mi 1 (Quận 5), trường MN 19/5 Thành phố (Quận 1) và trường MN Nhật Quỳnh (Gò Vấp) đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Võ Phan Thu Hương – Giảng viên Khoa Giáo dục mầm non, trường Đại học Sài Gòn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo, các giảng viên, đồng nghiệp đang công tác tại khoa Giáo dục mầm non trường Đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện, giúp đỡ, chia sẻ và luôn động viên trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền Anh

MỤC LỤC

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục những chữ viết tắt trong đề tài

Danh mục các bảng

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA ĐỒNG DAO 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Khái niệm phát triển vốn từ 11

1.2.2 Đồng dao 14

1.2.3 Biện pháp phát triển vốn từ thông qua đồng dao 15

1.3 Vai trò của đồng dao trong quá trình giáo dục trẻ 16

1.4 Đồng dao và sự phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi 20

1.4.1 Đặc điểm đặc trưng của thể loại đồng dao 20

1.4.2 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 -4 tuổi ở trường mầm non 23

1.4.3 Đặc điểm tiếp nhận đồng dao của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi 29

1.4.4 Những tác động tích cực của đồng dao đối với việc phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 31

Tiểu kết Chương 1 33 Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỒNG DAO NHẰM PHÁT

TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI

Trang 6

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34

2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 34

2.1.1 Mục đích khảo sát 34

2.1.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian khảo sát 34

2.1.3 Nội dung khảo sát 35

2.1.4 Phương pháp khảo sát 35

2.1.5 Thời gian điều tra 36

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 36

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 – 4 tuổi trong hoạt động chăm sóc – giáo dục ở trường mầm non 36

2.2.2 Thực trạng sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 -4 tuổi ở trường mầm non 41

Tiểu kết Chương 2 46

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA ĐỒNG DAO Ở TRƯỜNG MẦM NON 47

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 47

3.1.1 Lựa chọn và sử dụng đồng dao trong quá trình phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 - 4 tuổi cần phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non nói chung và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ nói riêng 47

3.1.2 Lựa chọn và sử dụng đồng dao phải phù hợp với đặc điểm phát triển, đặc điểm vốn từ của trẻ MG 3-4 tuổi 48

3.1.3 Nguyên tắc phát triển vốn từ cho trẻ phải đảm bảo tính trực quan, cụ thể 48

3.2 Các biện pháp 49

3.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng hệ thống các bài đồng dao phù hợp mục đích phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi 49

Trang 7

3.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng phối hợp các biện pháp trực quan, dùng lời

và thực hành trong quá trình tổ chức hoạt động học, chơi với đồng

dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi 51

3.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng các trò chơi kết hợp với đồng dao nhằm củng cố, làm giàu vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi 53

3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 56

3.3.1 Tổ chức khảo sát 56

3.3.2 Kết quả khảo sát 57

3.4 Tổ chức thử nghiệm biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao tại trường mầm non 59

3.4.1 Mục đích thử nghiệm 59

3.4.2 Mẫu và thời gian thử nghiệm 59

3.4.3 Nội dung, cách thức thực hiện 59

3.4.4 Điều kiện tổ chức thử nghiệm 60

3.4.5 Tiêu chí và thang đánh giá 61

3.4.6 Cách tiến hành thử nghiệm 68

3.4.7 Kết quả thử nghiệm 68

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Mức độ cần thiết của việc PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi 36 Bảng 2.2 Quan điểm của giáo viên về mức độ cần thiết trong việc sử dụng

đồng dao nhằm PTVT cho trẻ 39 Bảng 2.3 Mục đích sử dụng đồng dao trong các hoạt động CS – GD trẻ 3 –

4 tuổi ở trường mầm non 42 Bảng 2.4 Số lượng bài đồng dao được sử dụng trong các hoạt động phát

triển vốn từ cho trẻ ở trường mầm non 44 Bảng 2.5 Những khó khăn của giáo viên trong việc sử dụng đồng dao nhằm

phát triển vốn từ cho trẻ 45 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp phát triển vốn

từ cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao 57 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp phát triển vốn từ

cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao 58 Bảng 3.3 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi cả hai nhóm TN và ĐC

trước thử nghiệm hình thành. 69 Bảng 3.4 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi cả hai nhóm trước

và sau thử nghiệm. 72 Bảng 3.5 Mức độ hứng thú của trẻ cả hai nhóm TN và nhóm ĐC sau thử

nghiệm hình thành. 75 Bảng 3.6 Điểm trung bình của các nhóm trước và sau thử nghiệm. 77 Bảng 3.7 Kiểm định kết quả thử nghiệm của các nhóm trước và sau TN 82

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ cần thiết của các loại vốn từ cần cung cấp cho trẻ 37 Biểu đồ 2.2 Biện phápPTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi 38 Biểu đồ 2.3 Tần xuất sử dụng đồng dao trong các hoạt động phát triển vốn

từ trẻ 3 – 4 tuổi ở trường mầm non 41 Biểu đồ 2.4 Mức độ sử dụng các biện pháp giáo viên dùng để dạy đồng

dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi trong trường mầm non 43 Biểu đồ 3.1 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ MG 3 - 4 tuổi cả hai nhóm

TN và ĐC trước thử nghiệm 71 Biểu đồ 3.2 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ MG 3 - 4 tuổi cả hai nhóm

TN và ĐC sau thử nghiệm hình thành 73 Biểu đồ 3.3 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi ở nhóm TN

trước và sau thử nghiệm 78 Biểu đồ 3.4 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ MG 3 - 4 tuổi ở nhóm ĐC

trước và sau thử nghiệm 80

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ nói đặc biệt quan trọng đối với trẻ trong việc tạo các mối quan hệ

xã hội và kiểm soát hành vi của bản thân Song vốn từ là một trong những thành tố quan trọng, là chất liệu cơ bản của ngôn ngữ Đối với trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi, lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để giúp trẻ dễ dàng giao tiếp với những người xung quanh, đồng thời giải quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển trí tuệ Đặc điểm nổi bật của trẻ mẫu giáo là khả năng nắm bắt nghĩa của từ gắn liền với sự phát triển nhận thức tư duy Đó là quá trình phát triển liên tục, lâu dài cùng với các hoạt động giao tiếp Do đó, phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ giúp cho tư duy của trẻ phát triển mà còn là phương tiện

để giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhân cách - đạo đức Tác giả Đinh Hồng Thái cũng đã khẳng định: “Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất” [27]

Vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ như thế nào cho hiệu quả bền vững là nhiệm

vụ hàng đầu của giáo viên mầm non Dạy trẻ một cách cứng nhắc, ồ ạt là một phương pháp giáo dục không phù hợp đối với trẻ mẫu giáo, trẻ không tiếp thu vì trẻ vừa học vừa chơi Dó đó, đề tài nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ, tìm ra biện pháp hiệu quả đề trẻ nhớ lâu, bền vững thông qua nguồn ngữ điệu đồng dao hoàn toàn phù hợp với trẻ mẫu giáo

Ở trường mầm non hiện nay, việc giáo dục ngôn ngữ nói chung và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nói riêng rất được quan tâm thông qua các hoạt động với nhiều phương tiện khác nhau Việc sử dụng đồng dao trong các hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mầm non vẫn được tổ chức thường xuyên Tuy nhiên, việc tận dụng kho tàng đồng dao như một phương tiện nhằm cung cấp vốn từ cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động giáo dục ngôn ngữ vẫn chưa được các giáo viên thực hiện một cách

có hiệu quả

Trang 12

Với những lý do nêu trên, đề tài: “Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu

giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao” được lựa chọn nghiên cứu nhằm xây dựng các

biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo một cách hiệu quả và bền vững thông qua kho tàng đồng dao Việt Nam

Quá trình giáo dục nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao

4 Giả thuyết khoa học

Phát triển vốn từ là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ MN nói chung và trẻ MG 3-4 tuổi Đồng dao là thể loại gần gũi với trẻ thơ, đã được sử dụng khá phổ biến ở trường MN, song việc sử dụng đồng dao như một phương tiện phát triển vốn từ cho trẻ vẫn chưa được quan tâm thích đáng, việc

sử dụng đồng dao chưa hỗ trợ nhiều cho nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ Nếu xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận khoa học, tin cậy; tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 ở trường MN, sẽ xây dựng được các biện pháp phù hợp, giúp giáo viên MN dễ dàng sử dụng đồng dao trong việc phát triển vốn từ cho trẻ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề làm cơ sở lý luận cho đề tài

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng việc sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 – 4 tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

5.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao; tổ chức khảo sát, thử nghiệm nhằm bước đầu đánh giá hiệu quả của các biện pháp đề xuất

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại một số trường mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực: nội thành, ngoại thành và ven thành phố

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng khung lý luận của đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát công tác phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi và thực trạng sử dụng đồng dao trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ tại một số trường mầm non thành phố Hồ Chí Minh nhằm hỗ trợ cho quá trình thực nghiệm

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng phiếu hỏi thu thập ý kiến của giáo viên mầm non trực tiếp dạy trẻ 3 –

4 tuổi nhằm tìm hiểu về thực trạng phát triển vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi ; thực trạng giáo viên mầm non sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 -4 tuổi

7.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nhằm kiểm nghiệm một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua đồng dao và đánh giá hiệu quả của những biện pháp đó

7.2.4 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý các số liệu thu thập được trong điều tra bằng phương pháp thống kê toán học

8 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống cơ sở lý luận về việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao

Trang 14

- Xây dựng một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua đồng dao

- Bộ sưu tập các bài đồng dao và mục đích sử dụng; bộ câu hỏi sử dụng đồng dao nhằm PTVT cho trẻ và bộ trò chơi – đồng dao nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi

Trang 15

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là một bộ phận quan trọng trong giáo dục học mầm non, đặc biệt là phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo được xem là một trong những nhiệm vụ cơ bản trong việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ Cùng với sự hình thành

và phát triển của khoa học giáo dục mầm non, ngày càng có nhiều các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau: tâm lý học, xã hội học, giáo dục học… quan tâm và tham gia nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Với những quan điểm khác nhau, các nhà khoa học nghiên cứu ở các lứa tuổi khác nhau và các góc

độ khác nhau

Theo Nguyễn Đức Dân dẫn trong tác phẩm “Ngôn ngữ học: khuynh hướng – lĩnh vực – khái niệm”, trường phái ngôn ngữ học miêu tả Mỹ bắt đầu từ L.Bloomfield

với công trình nổi tiếng “Language” – 1933 được xây dựng trên thuyết hành vi trong

tâm lý học của J B Watson Quan điểm ngôn ngữ học của ông cho rằng “mọi hành

vi ngôn ngữ của con người đều tùy thuộc vào những chuỗi nguyên nhân và hậu quả

có kích thích có phản ứng”, ngôn ngữ của trẻ được “hình thành thông qua sự bắt chước” [35]

Nhà giáo dục học người Nga - E.I.Tikhêva (1867 – 1943) đã mất rất nhiều năm cho việc nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo

một cách có hệ thống Tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ trẻ em (dưới tuổi đến trường phổ thông)” là một thành tựu to lớn cho nền GDMN nói chung và cho sự nghiệp phát triển NN của trẻ MG nói riêng Bà cho rằng để mở rộng vốn từ cho trẻ không có con đường nào khác ngoài con đường kinh nghiệm và quan sát bởi lẽ ứng với một từ là

một khái niệm, một biểu tượng Do đó, các phương pháp để giúp trẻ phát triển NN

Trang 16

dễ dàng nhất là phương pháp trực quan bao gồm tham quan, quan sát vật thật, tranh ảnh, đọc thơ, kể chuyện v.v và biện pháp sử dụng trò chơi Thông qua việc làm quen với vật thể và các đặc tính của nó rồi nhân đó cho các em nhớ những từ chỉ vật thể

và đặc tính của nó [30] Theo E.I.Tikhêva, việc mở rộng khối lượng từ cho các em trước hết là từ - biểu tượng chứ không phải là từ - âm thanh Vì vậy càng cung cấp cho trẻ nhiều biểu tượng bao nhiêu thì NN của trẻ càng phát triển bấy nhiêu

Tiếp tục kế thừa và phát triển công trình của bà, các nhà giáo dục trên thế giới bắt đầu quan tâm, nghiên cứu về các đặc điểm về vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp theo từng lứa tuổi và bước đầu xây dựng những phương pháp, biện pháp cho từng nhiệm vụ trong quá trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ như A Xôkhina với tác phẩm “Phát triển lời nói cho trẻ mẫu giáo”, M M Kônxôva với “Dạy trẻ nói trước tuổi học”

Mối quan hệ giữa đặc điểm phát triển ngôn ngữ và đặc điểm giao tiếp của trẻ mầm non được tác giả E Smirnôva đề cập đến trong bài viết “Phát trển lời nói cho trẻ - Nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên” Tác giả cho rằng trẻ lĩnh hội các chuẩn mực ngôn ngữ, tiếp thu và mở rộng vốn từ thông qua việc giao tiếp với người lớn Tuy nhiên, những từ ngữ trẻ nghe thấy có thể trở nên thụ động và không bao giờ được sử dụng Chính việc giao tiếp với bạn giúp cho vốn từ thụ động của trẻ trở nên tích cực thông qua những tình huống cụ thể nhất định

Theo Chomsky (1965) và một số tác giả khác cho rằng trẻ có khả năng lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh Quá trình lĩnh hội ngôn ngữ phát triển một cách hiệu quả trong suốt những năm đầu đời của trẻ với tốc độ khá nhanh, vốn từ vựng mà trẻ tiếp nhận gia tăng từ 5 – 10 từ đến khoảng 24 tháng tuổi, mặc dù ngay tại thời điểm ấy trẻ chỉ mới nói được vài từ có nghĩa Nhiều vấn đề khác liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi đã được đề cập trong quyển “Trẻ em và thế giới của chúng ta” do Đỗ Thanh Hương dịch của tác giả Kak – Hai – Nơdich

Phân tích về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, nhà tâm lý học Thụy Sĩ, Jean Piaget cho rằng ngôn ngữ và tư duy có sự tác động qua lại lẫn nhau, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đi từ lời nói có tính cá nhân đến lời nói có tính xã hội [4] Theo Piaget, những thao tác vận động của trẻ là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển

Trang 17

của tư duy và ngôn ngữ Có thể thấy, ông đề cao vai trò của các hành động thực tiễn đối với sự phát triển tư duy của trẻ Tuy nhiên, đóng góp to lớn của ông trong việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ đó là J Piaget cho ngôn ngữ của trẻ ở thời kì đầu có tính “duy kỉ”, là thứ ngôn ngữ mang tính cá nhân và dần dần mới được “xã hội hóa” Đồng quan điểm với J Piaget, nghiên cứu về việc hình thành và phát triển lời

nói, nhà tâm lí học người Nga L.S Vygotski (1896-1934) cũng đã xác định rằng tư duy và ngôn ngữ tuy có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau nhưng chúng không đồng nhất, giữa chúng có sự độc lập tương đối [4] Nhưng trong phát sinh lời nói cá thể,

L.S.Vygotski cho rằng ngôn ngữ của trẻ ngay từ đầu đã mang tính “xã hội” Ông đề cao vai trò của ngôn ngữ trong quá trình phát triển tư duy của trẻ Thuyết “Vùng phát triển gần nhất”, giáo dục đảm bảo việc đi trước và đón đầu sự phát triển của trẻ là một trong những đóng góp quan trọng cho ngành giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ cho trẻ MN nói riêng

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về vấn đề phát triển NN đã được quan tâm từ rất lâu Điển hình là những nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Huy Cẩn, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái, Hà Nguyễn Kim Giang, Lã Thị Bắc Lý, Lê Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thu Thủy, Ngô Thị Thái Sơn ; trong những năm gần đây đã xuất hiện những luận án tiến sĩ về lĩnh vực nghiên cứu này của các tác giả Lưu Thị Lan, Võ Phan Thu Hương, Hồ Lam Hồng, Trần Nguyễn Nguyên Hân

Tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của Nguyễn

Xuân Khoa đề cập đến một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là những nội dung PTVT cho trẻ từ 3 – 6 tuổi Theo ông, việc mở rộng vốn từ cho trẻ cần phải có một hệ thống các phương pháp, biện pháp để phát triển từ ngữ cho trẻ MG ở trường mầm non

Dựa trên những thành tựu nghiên cứu trước đây và cập nhật những kết quả nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này, tác giả Đinh Hồng Thái đã cho thấy vai trò

của việc phát triển NN đối với sự phát triển của trẻ trong giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” Trong nội dung hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ

Trang 18

mẫu giáo, tác giả yêu cầu cần nắm vững những đặc điểm, nhiệm vụ, mội dung và những biện pháp, hình thức phát triển vốn từ cho trẻ MG ở từng độ tuổi

Trong bài viết “Mở rộng vốn từ và dạy học nghĩa từ cho học sinh tiểu học” của

tác giả Vũ Thị Ân trên tạp chí khoa học trường ĐHSP TP HCM bàn về việc mở rộng vốn từ trong sự tích hợp với việc dạy học nghĩa từ, tác giả cho rằng “quá trình phát

triển ngôn ngữ của trẻ nói chung là một quá trình liên tục, từ đơn giản đến phức tạp”, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và “sự lĩnh hội về từ vựng – một đơn vị ngôn ngữ nằm trong quy luật ấy” Vì vậy, tác giả nhận định việc “vận dụng linh hoạt các cách thức cụ thể với thao tác đơn giản trong mở rộng vốn từ và dạy nghĩa của từ là những vấn đề mà giáo viên cần quan tâm một cách thường xuyên, liên tục và tích hợp trong dạy học các môn học khác nói chung” [1]

TPVH được nhiều tác giả cho rằng có ý nghĩa trong việc giáo dục trẻ Với những

tác phẩm: “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ” của Nguyễn Thu Thủy, giáo trình “Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học” của Ngô Thị Thái Sơn, giáo trình “Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học” của Lã Thị Bắc Lý và Lê Thị Ánh Tuyết các tác giả đã cho thấy văn học có vai trò quan trọng trong việc góp phần mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh, đồng thời góp phần phát triển năng lực trí tuệ Có thể nói rằng, quá trình lĩnh hội và tiếp nhận TPVH cũng giúp trẻ phát triển khả năng nghe, nói và phát triển vốn từ cả

về số lượng và chất lượng [24]

Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang trong “Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” đã khái quát những nét đặc trưng trong việc tiếp

nhận văn học của trẻ mẫu giáo, những nguyên tắc, hình thức, phương pháp cơ bản

tổ chức hoạt động làm quen với TPVH, trong đó có đề cập đến việc tổ chức hoạt động dạy trẻ học ca dao, tục ngữ, đồng dao

Có thể nhận thấy rằng, phát triển NN cho trẻ mẫu giáo là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết ở trường mầm non hiện nay thông qua những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học từ trước đến nay Đồng thời, các công trình đóng góp đã khái quát những đặc điểm, nguyên tắc, sử dụng đa dạng các phương tiện và vận dụng hệ

Trang 19

thống những phương pháp, biện pháp hiệu quả trong việc giáo dục NN nói chung và PTVT cho trẻ mẫu giáo nói riêng

Lịch sử nghiên cứu về thể loại đồng dao đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Có thể nói Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những tác giả nghiên cứu và sưu tầm đồng dao sớm nhất ngay từ năm 1943, ông đã đưa ra định nghĩa, bản chất đặc trưng

của thể loại đồng dao, trong bài viết Trẻ con hát trẻ con chơi, ông không dùng thuật

ngữ “đồng dao” mà gọi là “Trẻ con hát trẻ con chơi”

Năm 1968, Dương Quảng Hàm cũng đã bàn về thể loại đồng dao trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” và đồng nhất với Nguyễn Văn Vĩnh “đồng dao là các bài

hát trẻ con”

Năm 1969, tác giả Doãn Quốc Sỹ cũng đã đăng tải những nghiên cứu về đồng

dao trong “Ca dao nhi đồng” Tác giả không chỉ đưa ra định nghĩa về đồng dao mà

còn đưa ra cách phân loại đồng dao dựa trên nội dung phản ánh và hình thức thể hiện Theo tác giả, đồng dao phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau và bao gồm nhiều thể loại như ca dao, tục ngữ, câu đố… của cả tác giả dân gian lẫn có tên

Chỉ từ sau cách mạng tháng Tám 1945, đồng dao mới được để ý hơn Sau sưu

tầm của Vũ Ngọc Phan, cuốn “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam – Văn học dân gian”

(1972) đã in 17 trang dành cho hai mục: Hát vui chơi trẻ em và Hát ru em [22, tr 293]

277-Có những nghiên cứu tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu một bài đồng dao cụ thể, như

trong bài viết “Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh đăng

trên Tạp chí Văn học số 4 (1977), tác giả chủ yếu nghiên cứu về ý nghĩa lịch sử của

bài đồng dao “Chi chi chành chành” [11]

Công trình tập thể của Viện Văn hóa dân gian – “Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt” đi sâu phân loại và đánh giá khá đầy đủ về đồng dao và trò chơi trẻ em

người Việt Công trình được các tác giả tập hợp và hệ thống lại các bài đồng dao từ

39 quyển sách cũng như các bài nghiên cứu về đồng dao được công bố trên các tạp chí, sách báo Chỉ riêng số lượng đồng dao cổ đã lên đến 577 bài [15]

Trang 20

Năm 1997, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra cuốn “Đồng dao Việt Nam” (tái bản

lần hai năm 2004) đã giới thiệu 176 bài đồng dao và chia thành năm chủ đề lớn (Trần Gia Linh, Tái bản lần 2 năm 2004) Đến năm 2007, tác giả Trần Gia Linh tuyển chọn

và giới thiệu trong quyển “Kho tàng đồng dao Việt Nam” gồm 279 bài đồng dao

được biên soạn trước đó với sáu chủ đề lớn: đồng dao về thiên nhiên, đất nước; đồng dao với trò chơi của tuổi thơ; đồng dao – những bài ca tập làm người lao động; đồng dao – cái nhìn ngộ nghĩnh của trẻ thơ; đồng dao – những câu đó lý thú và cuối cùng

Trong bài viết “Bước đầu tìm hiểu đồng dao trong hệ thống nghiên cứu thơ cho nhi đồng”, Lã Thị Bắc Lý cũng dựa trên sự khảo sát về nhịp điệu, tiết tấu cũng như

việc phân tích nội dung, rút ra ý nghĩa quan trọng của đồng dao Từ đây tác giả cho rằng cần phổ biến rộng rãi những bài đồng dao truyền thống cho các em, đồng thời phải dựa trên nền cũ để sáng tác thêm nhiều đồng dao mới cho các em [16]

Liên quan đến vấn đề sử dụng đồng dao như thế nào trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã đề cập trong bài viết “Đồng dao – nhìn từ góc độ dạy tiếng” một cách rõ ràng và khái quát “dạy tiếng kết hợp với trò chơi, với học hát là cách dạy phù hợp với tâm lý lứa tuổi, phù hợp với trình độ, gây được hứng thú, không làm cho trẻ khó chịu, mệt mỏi” Điều đáng lưu ý là tác giả cho rằng, thông qua đồng dao việc dạy từ gắn với dạy câu và qua hệ thống từ vựng mà phát triển tri thức vốn sống

Ngoài ra, luận văn thạc sĩ “Thể loại đồng dao ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn

Thị Mười đã tìm hiểu về những đặc điểm thể loại đồng dao Việt Nam, tình hình thực trạng sử dụng đồng dao ở một số trường mầm non Tác giả cho rằng đây là thể loại

có triển vọng trong việc giáo dục trẻ mầm non

Trang 21

Có thể nói, những công trình này đã thể hiện sự quan tâm rất lớn đến việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ và thể loại đồng dao dành cho trẻ nhỏ Có những nghiên cứu

đi sâu tìm hiểu những đặc trưng ngôn ngữ của đồng dao, phân loại đồng dao thành những mảng nội dung lớn, nhưng vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể về việc sử dụng đồng dao trong giáo dục trẻ MN, đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ cho trẻ MG 3-

4 tuổi

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm phát triển vốn từ

1.2.1.1 Từ trong hệ thống ngôn ngữ

Các nhà khoa học đứng trên nhiều phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa

ra những định nghĩa khác nhau về “từ” trong một ngôn ngữ Xem xét trên phương diện ngôn ngữ học, “từ” có sự phối hợp về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa được chấp nhận hơn cả

Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra một

số định nghĩa về từ tiếng Việt như sau:

Theo Nguyễn Thiện Giáp, từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời” [9]

Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa

hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [23]

Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã có quan

niệm chung về từ tiếng Việt, đó là: Từ là đơn vị cơ bản nhưng cũng là thành phần

có cấu tạo phức tạp trong hệ thống tiếng Việt, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững và hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, được vận dụng một cách sáng tạo để tạo nên câu

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ bắt đầu từ việc trẻ học và nhớ từng từ riêng lẻ,

từ là đơn vị ngôn ngữ tồn tại độc lập, có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ, là một chỉnh thể bao gồm hai mặt, mặt biểu hiện (âm thanh) và mặt được biểu hiện (ý nghĩa) Vì vậy, việc trẻ lĩnh hội từ ngữ có nghĩa là trẻ cần phải lĩnh hội được cả hai mặt nói trên Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học Đây cũng là một trong những khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài

Trang 22

nghiên cứu Nếu vỏ âm thanh được hiểu là hình thức biểu hiện bên ngoài của từ thì nghĩa chính là những thuộc tính căn bản bên trong từ biểu hiện sự vật, hiện tượng đó

Vì vậy, dạy trẻ 3-4 tuổi hiểu nghĩa của từ chính là dạy trẻ gọi tên và đặc điểm tính chất của đồ vật, hiện tượng quen thuộc xung quanh trẻ

1.2.1.2 Vốn từ

Tìm hiểu định nghĩa về vốn từ, các nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra nhiều

cách định nghĩa khác nhau: mỗi con người có được một ngôn ngữ nào đó chính là ở

họ đã có được những tập hợp từ hay nói cách khác là họ có một vốn từ vựng của một ngôn ngữ

Luận án tiến sĩ “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh tiểu học” mặc dù nghiên cứu vấn đề của học sinh tiểu học nhưng trong mối liên hệ với

ngôn ngữ học, tác giả Lê Hữu Tĩnh có đề cập đến vốn từ vựng của cá nhân là toàn

bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được cá nhân lưu giữ trong trí óc và được cá nhân sử dụng trong giao tiếp [31]

Thông qua các nghiên cứu, các nhà khoa học đều có quan điểm chung về vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ cố định của ngôn ngữ đó”

Vốn từ mà mỗi cá thể trong cộng đồng ngôn ngữ đó có được phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức và kinh nghiệm lịch sử- văn hóa – xã hội của mỗi cá nhân Vốn từ của mỗi cá nhân luôn thay đổi và phát triển theo độ tuổi, môi trường sống và những hoạt động của cá nhân ấy Vì thế, khi phát triển vốn từ cho trẻ cần gắn liền với việc phát triển trí tuệ và nhận thức của trẻ

Nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non, Đinh Hồng Thái cho rằng vốn từ của trẻ MN là “tập hợp các từ cần thiết đủ để trẻ giao tiếp được với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức ban đầu” [27]

Như vậy, trong giáo dục ngôn ngữ cho trẻ, vốn từ được hiểu là số lượng từ hay tập hợp các từ cần thiết được trẻ ghi nhớ và sử dụng trong giao tiếp cũng như để tiếp thu các tri thức ban đầu

1.2.1.3 Phát triển

Trang 23

Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự gia tăng thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật hiện tượng; đồng thời,

nó cũng xem sự phát triển của quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp

Tuy nhiên, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Sự phát triển chính là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập

Theo tác giả Hoàng Phê phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [23]

từ là phải nắm được cả mặt âm và mặt nghĩa của từ đó

Phát triển vốn từ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi vì từ là đơn vị

có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt: âm thanh và ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt

có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau

Đối với trẻ mẫu giáo, những từ trẻ hiểu nhưng không nói được, nói được mà không hiểu được, dùng từ chưa chính xác hay sai nghĩa trong ngữ cảnh giao tiếp là

từ thụ động Vốn từ tích cực - những từ trẻ hiểu và sử dụng được trong giao tiếp ít hơn vốn từ thụ động [27] Vì vậy, việc giúp trẻ tiếp nhận và sử dụng vốn từ một cách tích cực là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục ngôn ngữ

Nói cách khác, phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo là cung cấp cho trẻ vốn từ

Trang 24

cần thiết về những gì có ở xung quanh, liên quan đến cuộc sống cá nhân của trẻ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp

Đồng dao cũng được hiểu là những bài hát truyền miệng của trẻ em lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên Vốn là những sáng tác dân gian không rõ tên tác giả, về sau từ vần điệu của loại hình này, một số người sáng tác những bài thơ cho trẻ em hát có tên tác giả, cũng được các nhà nghiên cứu gọi là đồng dao [15]

Riêng tác giả Vũ Tiến Phúc trong “Việt Nam văn học giảng minh” cho rằng

“Đồng dao là những câu ca dao theo thể thơ lục bát hay những câu hát 3 chữ, 4 chữ,

5 chữ… do trẻ em ca hát, chơi đùa với nhau Có những câu rất ngây thơ nghĩa lý vừa

đủ dạy những hiểu biết tầm thường… Nhưng bên cạnh những kiến thức sơ đẳng ấy còn có những câu liên quan đến thời thế lịch sử” [29, 105-109]

Tác giả Nguyễn Văn Vĩnh không dùng thuật ngữ “đồng dao” mà gọi là “Trẻ con hát trẻ con chơi”, theo ông, những “câu hát trẻ con” bao gồm những câu vừa hát vừa chơi, sau là những câu hát không phải có cuộc chơi và tiếp nữa là đến những câu hát ru trẻ ngủ [34]

Bài nói chuyện “Đồng dao với trẻ thơ” trên VTV2 (2001), Nguyễn Ánh Tuyết

phát biểu “đồng dao là những câu vè, ngắn gọn có vần điệu, nhịp điệu được trẻ con thích và hát trong khi chơi, trong sinh hoạt cộng đồng”

Theo Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” cho biết “đồng

Trang 25

dao là các bài hát trẻ con” với nghĩa của từ “dao là bài hát không có chương khúc” Trong định nghĩa này ông không xác định rõ đồng dao thuộc thể loại văn học dân gian nào và gồm những loại tác phẩm nào [10]

Trong lời mở đầu tập “Ca dao nhi đồng”, Doãn Quốc Sỹ xác định đồng dao là

ca dao nhi đồng Tuy nhiên trong quá trình phân loại đồng dao, tác giả lại chia chúng làm nhiều lĩnh vực khác nhau, thuộc diện rộng: những bài hát luân lý, những bài hát vui chơi, những bài hát nói về nếp sống nông nghiệp và tập tục xưa, những bài hát với trò chơi trẻ con, câu đố Như vậy, tuy gọi là “ca dao nhi đồng” nhưng lại trải rộng thêm nhiều thể loại như ca dao, tục ngữ, câu đố… của cả tác giả dân gian lẫn có tên [25]

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đồng dao được hiểu là những câu ca dao theo thể thơ lục bát hay những câu hát 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ… do trẻ em ca hát, chơi đùa với nhau; là những câu vè, ngắn gọn có vần điệu, nhịp điệu được trẻ con thích

và hát trong khi chơi, trong sinh hoạt cộng đồng

1.2.3 Biện pháp phát triển vốn từ thông qua đồng dao

- Biện pháp: Theo Từ điển Tâm lí học, biện pháp là “cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [7] Theo Từ điển Tiếng Việt “biện pháp là cách làm, cách

giải quyết một vấn đề cụ thể” [23] Như vậy, trong mối quan hệ với quá trình giáo

dục, biện pháp được xem là những tác động sư phạm của giáo viên nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục

- Biện pháp phát triển vốn từ: dựa trên những định nghĩa cơ bản về “biện pháp”,

có thể hiểu “biện pháp phát triển vốn từ là những cách thức, những tác động sư phạm của giáo viên nhằm cung cấp những vốn từ cần thiết về những gì có ở xung quanh, liên quan đến cuộc sống cá nhân của trẻ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp”

- Biện pháp phát triển vốn từ thông qua đồng dao: được hiểu là những cách thức sử dụng đồng dao nhằm cung cấp cho trẻ vốn từ ngữ cần thiết trong giao tiếp

và liên quan đến cuộc sống xung quanh trẻ

Trang 26

1.3 Vai trò của đồng dao trong quá trình giáo dục trẻ

“Đồng dao Việt Nam” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân cho rằng bằng phương thức “chơi mà học, học mà chơi”, đồng dao có chức năng giáo dục trẻ em một cách nhẹ nhàng và sinh động Tức là nói đến tác dụng chung trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ Xét tác dụng cụ thể, những lời hát đồng dao giáo dục các em trong quan hệ với thiên nhiên, xã hội, trước hết là trong môi trường hoạt động vui chơi của trẻ, qua đó rèn luyện ngôn ngữ, tiếp xúc với nhiều từ ngữ mới [6]

Thể loại đồng dao mang đến cho những hiểu biết về đời sống con người, những giá trị văn hóa được cộng đồng thừa nhận và thực hiện từ thế hệ này sang thế hệ khác Đối với trẻ, những ấn tượng từ những hình ảnh, âm thanh ngôn ngữ và nhịp điệu sẽ tạo dấu ấn trong tâm hồn các em Bản chất của trẻ vốn giàu xúc cảm nên trẻ có thể cảm nhận được mọi vẻ đẹp trong thiên nhiên và trong cuộc sống Đồng dao là nền tảng giúp trẻ xác lập được mối quan hệ tích cực với môi trường xung quanh

Trong giáo dục mầm non, đồng dao đã thực hiện nhiều chức năng, trong đó

chức năng nhận thức có vị trí quan trọng hàng đầu Đồng dao cung cấp những khái

niệm đầu tiên về sự vật hiện tượng - những kiến thức đơn giản đầu tiên về thế giới

xung quanh trẻ [19] Cùng với việc phát triển nhận thức, đồng dao còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc cung cấp vốn từ gọi tên, mô tả đặc điểm, chức năng của các sự vật quen thuộc:

“Trời mưa lâm râm

Cây trâm có trái

Con gái có duyên

Đồng tiền có lỗ

Bánh ổ thì ngon

Tôm càng thì béo

Cái kéo thơ may

Cái cày làm ruộng Cái xuổng đắp bờ Cái lờ thả cá Cái ná bắn chim Cái kim may áo…”

[6, 260]

Có những bài đồng dao nội dung chằng liên quan gì nhau, có những câu chẳng

có ý nghĩa gì mới với người lớn nhưng lại là bài học nhận thức, là mẫu ngôn ngữ cho trẻ học nói:

Trang 27

“…Đòn gánh có mấu

Củ ấu có sừng

Bánh chưng có lá

Con cá có vây Ông thầy có sách Đào ngạch có dao…” [14, 156] Nhiều bài đồng dao còn là bài học dạy trẻ làm toán theo con đường cụ thể hóa

rất phù hợp với tư duy trực quan – hình ảnh của các em, mỗi con số tương ứng với một

hình ảnh [19] Các bài Đếm sao, Đếm ông tát bể, đào sông… là những bài dạy đếm

cho trẻ Khái niệm về số lượng qua những lần hát vui chơi sẽ đến với trẻ một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không nặng nề như một bài học, bên cạnh kiến thức toán học đầu đời, những bài đồng dao này cũng là nguồn cung cấp, làm giàu vốn từ về lĩnh vực này cho trẻ

Đến với đồng dao, trẻ được xây dựng những ý thức đầu tiên về lao động nghề nghiệp Đôi khi chỉ là vài câu hát gợi lên những hành động lao động sơ đẳng:

“…Tay dệt vải

Tay vãi rau

Tay buông câu

Tay chặt củi

Tay đắp núi

Tay đào sông”

[Phụ lục 3, P15]

Trang 28

Những nghề nghiệp truyền thống qua đồng dao cũng đã góp thêm vào vốn kiến thức đầu tiên của trẻ:

“Dích dích dắc dắc

Khung cửi mắc vo

Xâu go từng sợi

Chân mẹ đạp vội Chân mẹ đạp vàng…”

[14,85]

Đồng dao bước đầu đưa trẻ đến với một số quy luật cơ bản về tự nhiên – xã hội Từ ngữ của những bài đồng dao thật đơn sơ, nhưng nó nêu lên một sự thật hiển nhiên trong thế giới loài vật: “hai chân trước đi trước, hai chân sau theo sau”, với

sự to lớn kì dị, ngộ nghĩnh… con voi cùng với câu hát đồng dao đã trở thành bạn của những đứa trẻ Đi từ những sự việc quen thuộc, gần gũi, đồng dao dần dần đưa trẻ đến với những vần đề xã hội có ý nghĩa hơn, rèn luyện cho trẻ những thói quen và hành vi văn hóa trong xã hội [19] Những câu nói “nựng” thường mang ý nghĩa giáo dục đối với trẻ:

“Chìa la chìa lít

Bà cho ăn quit

Bà đánh đau tay Chắp tay lạy bà”

Nó lấy mất cưa Lấy gì mà kéo”

[14, 62]

Trang 29

Với vai trò đồng dao là phương tiện để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trước hết,

đồng dao là bài tập rèn luyện ngữ âm cho trẻ [19] Nhằm giúp trẻ nghe rõ cách cấu

âm của một số yếu tố ngôn ngữ, người lớn bắt chước hòa theo cách phát âm của trẻ bằng cách thêm vào một số tiếng đệm tạo ra một ngữ mở đầu cho các bài đồng dao

như: túng phình tùng phang, chè la chè lít, nu nan nu nống, dung dăng dung dẻ, sên sển sền sên, xu xoa xu xuýt, quặc quặc quạc quạc, rì rì rà rà… Qua tác phẩm “Giáo

dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ” của tác giả Nguyễn Thu Thủy đã đưa ra một số

ý kiến về đồng dao và khẳng định đồng dao có tác dụng tốt trong việc rèn luyện bộ máy phát âm của trẻ, giúp trẻ cảm nhận được nhịp điệu, gợi cho trẻ cảm xúc vui tươi phù hợp với tâm hồn và cuộc sống của trẻ [28]

Dựa trên đặc trưng: đồng dao phản ánh sự vật, hiện tượng bằng phương pháp liệt kê, đồng dao thật sự là một kho từ vựng phong phú, đa dạng về số lượng và từ loại, đặc biệt là vốn từ định danh Đối với trẻ nhỏ, đồng dao giúp trẻ dễ nhận biết những từ gọi tên, chức năng, hoạt động,… của các sự vật hiện tượng quen thuộc với môi trường sống của trẻ, những từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi với đời sống, sinh hoạt hàng ngày của trẻ; điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lý của trẻ MG [6]

“Con gà cụ tác lá chanh Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng”

[Xem phụ lục 3, P15]

Ngoài ra, đồng dao còn thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ [6] Nội dung đồng

dao thường phản ánh thế giới xung quanh trẻ và chính nhờ có vui chơi mà trẻ hiểu sâu sắc hơn cuộc sống xung quanh Vui chơi với tư cách là hoạt động thực tiễn, giúp trẻ hiểu chính xác các biểu tượng về sự vật, sự việc Trong lúc chơi, trẻ có thể biến các khái niệm trong lời đồng dao thành các hành động vui chơi

“Kéo cưa lừa xẻ Ông thợ nào khỏe

Trang 30

Về ăn cơm vua Ông thợ nào thua

Về bú tí mẹ…”

[14, 62]

Trong lúc đọc đồng dao, trẻ ngồi từng đôi đối diện nhau, nắm tay nhau, làm động tác kéo cưa theo nhịp bài đồng dao Qua hành động chơi, khái niệm về hai người cầm hai đầu cưa xẻ gỗ sẽ hiện ra Bên cạnh đó, trẻ còn học cách trao đổi tư tưởng, cách thỏa thuận, cách thương lượng cùng nhau Vì thế ngôn ngữ đóng vai trò

to lớn trong khi trẻ dùng đồng dao để vui chơi và ngược lại, vui chơi cùng đồng dao tạo cơ hội, môi trường thuận lợi cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻ

Theo nhà giáo dục Nguyễn Thụy Anh, đồng dao kết hợp với trò chơi còn là phương tiện giúp bố mẹ giao tiếp với con và dạy con kỹ năng sống Bố mẹ/người lớn

có thể qua đó để dạy con (đếm, phân biệt màu sắc, phát triển vốn từ vựng, tạo sự nhạy cảm với ngôn ngữ, dạy trẻ những giá trị sống như đoàn kết, hợp tác, chia sẻ, tạo sự khéo léo trong hành động chân tay…), cũng có thể qua đó mà hiểu con (con đang quan tâm đến điều gì, con thích gì, ghét gì, cách phản ứng của con đối với một

số sự việc thông qua trò chơi, nhu cầu của con…) từ đó mà tìm ra tiếng nói chung, cách tiếp cận con tốt nhất để có thể thật sự làm bạn cùng con

Tóm lại, đồng dao có những đóng góp quan trọng để thực hiện chức năng nhận thức, chức năng giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non Với những chức năng và những nhiệm vụ nêu trên, đồng dao giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ em người Việt

1.4 Đồng dao và sự phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi

1.4.1 Đặc điểm đặc trưng của thể loại đồng dao

1.4.1.1 Nội dung phản ánh

Nội dung các bài đồng dao thường là vô nghĩa, hoặc ý nghĩa rời rạc, đang nói chuyện này lại nhảy sang chuyện khác; điều này khiến đồng dao thiếu tính nhất quán, giá trị nội dung phản ánh không cao; song lại phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi – trí tưởng tượng tự do, bay bổng của trẻ, do vậy có sức thu hút trẻ em mãnh liệt

Trang 31

Trong đồng dao, nội dung phản ánh là cái đẹp, sự phong phú của thiên nhiên, từ đó

cung cấp cho trẻ những khái niệm đầu tiên về thiên nhiên, xã hội và con người Thế

giới xung quanh phản ánh trong đồng dao là thế giới vừa rất quen thuộc, vừa rất mới

lạ, kích thích sự háo hức tìm tòi, khám phá của trẻ

Tóm lại, đồng dao chứa đựng một thế giới tự nhiên mà trẻ mẫu giáo luôn tò mò, khám phá và một xã hội với những mối quan hệ giữa người và người mà trẻ luôn khao khát được trải nghiệm

1.4.1.2 Đặc điểm nghệ thuật

Phép trùng lặp là đặc trưng nổi bật của đồng dao, từ ngôn từ, điệu thức đến

hành động kèm theo đều có sự lặp đi lặp lại mang tính chu kỳ; gây thích thú cho trẻ

em khi hát và chơi Các bài đồng dao như: Chi chi chành chành, Nu na nu nống, Lúa ngô là cô đậu nành, … trẻ lặp đi lặp lại bài đồng dao trong quá trình đọc và chơi,

gần như không có điểm dừng, trẻ chỉ dừng đọc, dừng chơi khi đã thỏa mãn nhu cầu chơi

Bút pháp: đồng dao sử dụng thể thơ 2, 3, 4 và 5 tiếng, thể thơ lục bát truyền

thống:

Cái mốt Cái mái Con trai Con hến …

Tay dệt vải Tay vãi rau Tay buông câu…;

Trang 32

Cái tôm cái tép đi đưa bà còng …

[Sưu tầm]

Tuy nhiên, thể thơ 4, 5 tiếng là thể thơ phổ biến nhất trong đồng dao Những câu thơ ngắn, sinh động rất phù hợp đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em, trẻ dễ nhớ, dễ thuộc đồng thời dễ kết hợp với những trò chơi dân gian

Cấu trúc phổ biến trong đồng dao là cấu trúc vòng tròn, thể hiện trong câu, đoạn

hay cả bài, cả tổ hợp, như Chi chi chành chành, Chồng lộng chồng cà, Chuyền thẻ,

Tính vần, tính nhịp trong đồng dao: do phổ biến là thể thơ 2,3,4,5 tiếng, đa phần

các bài đồng dao đều có vần lưng và vần chân tạo nên sự cân đối, nhịp nhàng Nhịp trong đồng dao có nhịp chẵn, nhịp lẻ và cả nhịp chẵn lẻ phối hợp Nhịp trong đồng dao 3 tiếng chủ yếu là nhịp ½, nhịp trong đồng dao 4 tiếng là nhịp 2/2- loại nhịp rất phổ biến, còn đồng dao 6 tiếng thuần túy là nhịp 2/2/2 [6] Nhịp trong đồng dao có cấu trúc gần với nhịp thở và phù hợp với thanh âm của các từ ngữ trong câu, bài đồng dao Tính vần tính nhịp đã tạo ra sự liền mạch xuyên suốt khiến cho đồng dao khi đọc lên có vần có nhịp như hát; trẻ đọc đi đọc lại bài đồng dao vẫn cảm thấy hào hứng, thích thú

Câu trong đồng dao ngắn và có nhiều nhịp nghỉ, tạo nên sự đều đặn, thuận miệng giúp trẻ có thể đọc liên tục hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần, vừa có tác dụng thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa giúp củng cố nội dung, ghi nhớ nội dung, sự kiện và từ ngữ được sử dụng trong bài

1.4.1.3 Đặc điểm về ngôn ngữ

Ngôn ngữ trong đồng dao giản dị, mộc mạc, vô tư, hồn nhiên, vui tươi, phù

hợp cách nói cách nghĩ của trẻ em Đó là ngôn ngữ gồm những từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi với đời sống, sinh hoạt hàng ngày của trẻ [6]

Úp lá khoai Mười hai chong chóng Đứa mặc áo trắng Đứa mặc áo xanh

Trang 33

1.4.1.4 Hình thức và môi trường diễn xướng của đồng dao

Đồng dao thường kèm theo động tác, các trò chơi Trẻ em thường đọc đồng dao khi chơi, đồng dao có tác dụng giữ nhịp cho trò chơi Khi chơi, khi đọc đồng dao, trẻ

có thể chơi một mình, nhưng thường là chơi theo nhóm Ví dụ các trò chơi theo nhóm

kết hợp đồng dao: Nu na nu nống, Rồng rắn lên mây, Chi chi chành chành, Lộn cầu vồng, Chuyền thẻ, … Thông qua trò chơi kết hợp đồng dao, giúp trẻ nhận biết thế

giới xung quanh; làm quen với những tình huống và kỹ năng ứng xử trong xã hội Trong quá trình chơi, trẻ được học lẫn nhau, rèn luyện khả năng hoạt động tập thể, vui chơi cùng bạn bè và được bộc lộ cảm xúc và giao tiếp với bạn bè cùng chơi qua

đó mọi năng lực của trẻ được kích thích phát triển, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ

1.4.2 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 -4 tuổi ở trường mầm

Trang 34

non

1.4.2.1 Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ MG 3 -4 tuổi

Nhà giáo dục người Nga, E.I.Tikheeva là người đầu tiên đưa việc phát triển vốn

từ thành vấn đề nghiên cứu riêng Theo bà phải dạy trẻ hiểu nội dung những từ mà trẻ lĩnh hội, phải mở rộng vốn từ cho trẻ bằng các từ cụ thể, các từ phù hợp với nội dung nhận thức của trẻ Đó là những từ chỉ tên gọi của các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ [30] Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cho rằng, việc phát triển vốn từ phải dựa trên cơ sở làm quen môi trường xung quanh, từ sự hiểu biết cuộc sống gần gũi tới những khái niệm mang tính chất xã hội, những sự kiện của đất nước [12]

Cần cung cấp cho trẻ những từ ngữ về cuộc sống riêng hay những từ vựng gắn

với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ, đây là vốn từ ngữ phản ánh cuộc sống sinh hoạt, gắn với các hoạt động và môi trường mà trẻ được làm quen, tiếp xúc hàng

ngày nên có tần số và tỉ lệ cao hơn Việc cung cấp cho trẻ vốn từ ngữ phản ánh cuộc sống xã hội chính là cho trẻ làm quen với môi trường xã hội Trẻ cần có sự hiểu biết

về những việc làm của người lớn, trước hết là tên gọi những công việc, nghề nghiệp quen thuộc xung quanh trẻ, sau đó là những hoạt động lao động trẻ vẫn chưa có cơ hội tiếp xúc hay những thói quen văn hóa ẩm thực (tên gọi món ăn, nguyên liệu, thao

tác thực hiện…) Những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên là một trong những nhóm từ

quan trọng cần cung cấp cho trẻ như tên gọi của một số loại quả, ví dụ: quýt, cam, chuối, hồng, ổi,… tên gọi các loại rau, củ: mùi, hành, tía tô và một số loại xà lách, cải, su hào,… Cho trẻ gọi tên những động vật như gà, vịt, ngan; chó, mèo, lợn; trâu,

bò, ngựa; chuồn chuồn, bươm bướm… Cung cấp cho trẻ những động từ chỉ sự vận động của các loài vật, ví dụ: trâu, bò, lợn… đi; ếch, thỏ… nhảy; cua, kiến, rắn… bò; chim, gà… mổ (thóc); trâu, bò… gặm (cỏ) Cho trẻ tìm hiểu về các hiện tượng thiên nhiên nghĩa là cung cấp cho trẻ những từ ngữ liên quan đến thời tiết, mặt trời, mặt trăng, nắng, mưa… đó là cả một thế giới bí ẩn đối với trẻ

Trong Chương trình Giáo dục mầm non được Bộ GD&ĐT ban hành theo thông

tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 và thông tư số 28/2006/TT-BGDĐT ngày

Trang 35

30/12/2016, nội dung phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi đã được xác định cụ thể [2]:

- Nói rõ các tiếng

- Sử dụng được các từ thông dụng chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm …

- Sử dụng được câu đơn, câu ghép

Gọi tên những sự vật, hành động chính là hình thức đầu tiên để trẻ bắt đầu làm quen và nhận thức những đối tượng trong thế giới xung quanh Vì vậy việc PTVT cho trẻ không chỉ thực hiện mục tiêu giáo dục ngôn ngữ mà còn tác động động tích cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ

1.4.2.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi

Ngôn ngữ của trẻ ở lứa tuổi này phát triển rất nhanh, đặc biệt là vốn từ của trẻ Đây được xem là giai đoạn vàng của quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ, xét về cả tốc độ tích lũy và số lượng từ tích cực mà trẻ được tiếp nhận

 Vốn từ xét về mặt số lượng

Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề vốn từ của trẻ, nhưng rất khó có thể đưa được số lượng từ vựng chính xác mà trẻ ở độ tuổi này tích lũy được Tuy nhiên, một số nhà khoa học đã có những nghiên cứu có giá trị về vấn đề này, cụ thể về số lượng từ trẻ tích lũy tăng lên một cách đáng kể chiếm 107%, nhưng ở lứa tuổi từ 4 đến 6 tuổi sự tăng lên về số lượng từ cuối năm tuổi so với đầu năm tuổi của trẻ ít chênh lệch hơn [13] Trong một nghiên cứu khác, tác giả cũng đã chỉ ra rằng vốn từ của trẻ tăng gấp năm lần so với lứa tuổi trước đó Trẻ có khả năng sử dụng trung bình khoảng 1000 từ [20] Vốn từ của trẻ từ tháng thứ 6 đến cuối năm thứ hai có thể đạt đến 600 từ, và đến năm thứ ba, trẻ đã có thể sử dụng 1300 từ Ở trẻ 4 tuổi số lượng

từ trẻ có được vào khoảng từ 1900 đến 2000 từ, trẻ 5 tuổi có thể sử dụng được 2500 đến 2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000 đến 4000 từ [12] Từ những con số thống

kê theo từng độ tuổi, có thể nhận thấy tốc độ gia tăng vốn từ của trẻ mầm non là rất nhanh, đặc biệt là giai đoạn từ năm thứ ba đến cuối năm 4 tuổi, số lượng trung bình mỗi năm có thể lên đến 700 từ và giảm dần ở những năm kế tiếp Các nhà nghiên

Trang 36

cứu gọi đó là “thời kì phát cảm ngôn ngữ” của trẻ, do đây là giai đoạn đứa trẻ có thể tiếp nhận được vốn từ vựng nhiều nhất, với tốc độ nhanh nhất và chất lượng nhất

 Vốn từ xét về mặt cơ cấu loại từ

Các từ mà trẻ sử dụng có thể phân chia một cách ước lệ như sau: 60% là danh

từ, 20% là động từ, 10% là danh từ riêng và 10% là các loại từ khác như tính từ, đại

từ [20] Hay nói cách khác, xét về từ loại, hầu hết xuất hiện ở độ tuổi này là danh từ, động từ, còn tính từ và các từ loại khác trẻ còn ít sử dụng Giai đoạn 3 – 4 tuổi, về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ, trong đó tỉ lệ danh từ và động từ cao hơn những loại từ khác

 Khả năng lĩnh hội ý nghĩa của từ

Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm bắt được những từ mang ý nghĩa cụ thể như những từ chỉ tên gọi các đồ vật trong gia đình (bát, đĩa, bàn ghế…), tên gọi động vật, thực vật (lợn, chó, gà, vịt, cây chuối, quả na…)[12, 136-137] Có thể thấy được sự nhận biết của trẻ ở giai đoạn này chủ yếu là các đồ vật, hành động và những hiện tượng thiên nhiên quen thuộc, gần gũi xung quanh trẻ, do đó vốn từ của trẻ phần lớn

là danh từ, động từ chỉ tên gọi sự vật, hiện tượng, hành động Trẻ lĩnh hội ý nghĩa của tính từ khó hơn danh từ Do đó, cần chú ý đến tỷ lệ các từ loại khác nhau khi dạy cho trẻ, chọn lựa loại từ phù hợp với lứa tuổi

Trẻ 3 – 4 tuổi NN của trẻ phát triển theo lối tư duy mang tính chất cụ thể trực quan, trình độ khái quát còn hạn chế, nên trẻ chỉ dựa vào đặc điểm bên ngoài hoặc dựa vào kinh nghiệm cụ thể của bản thân Để có được bước phát triển nhảy vọt này trẻ đã qua một bước chuyển tiếp từ lời nói bắt chước đến việc trẻ hiểu dần các từ ngữ

đó liên quan đến các sự vật, hành động trong sinh hoạt của trẻ [13]

Như vậy, vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi tuy hạn chế về mặt cơ cấu từ loại, song dựa vào những đặc điểm trên, đây là giai đoạn giúp trẻ có thể tích lũy và lĩnh hội số lượng lớn vốn từ ngữ liên quan đến những sự vật, sự việc, hành động và hiện tượng quen thuộc, gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ một cách hiệu quả Nói cách khác, PTVT cho trẻ trong giai đoạn này là hoàn toàn phù hợp và mang tính khả thi

1.4.2.3 Phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi

Trang 37

Đối với việc phát triển vốn từ, theo E.I.Tikheeva vốn từ của trẻ phát triển bằng con đường trực quan cụ thể vì mỗi từ ngữ gắn với biểu tượng trực quan phải được thu nhận bằng thị giác, phải được phát thành âm và để mỗi từ đó ghi sâu vào trí nhớ phải được lặp đi, lặp lại nhiều lần bằng thính giác và trong ý thức của trẻ [30] Việc tích lũy và lĩnh hội vốn từ ngữ cần thiết là cơ sở để giúp trẻ có khả năng sử dụng linh hoạt vốn từ đó vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Từ đó, giáo viên có những phương tiện, biện pháp phù hợp để thực hiện những nhiệm vụ PTVT cho trẻ mẫu giáo một cách hiệu quả

Do nội dung phát triển vốn từ cho trẻ rất đa dạng và phong phú, nhưng lại gần gũi và quen thuộc với cuộc sống của trẻ, nên cần lựa chọn các phương pháp, biện pháp phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ Có thể sử dụng các phương pháp cơ bản sau:

Hướng dẫn trẻ quan sát trong các hoạt động PTVT

Cho trẻ quan sát vật thật, đồ chơi: Dạy trẻ quan sát là dạy trẻ biết xem xét, phân tích, so sánh để tìm ra những đặc điểm, thuộc tính của đối tượng quan sát, về các mối quan hệ của nó với môi trường xung quanh Trong quá trình quan sát, các giác quan được huy động (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ…) Quá trình hướng dẫn trẻ quan sát là quá trình có mục đích, có kế hoạch, thứ tự đi từ sự phân tích mặt này đến

sự phân tích mặt khác, vừa đưa ra từ mới, vừa củng cố từ cũ

Muốn học nói, trước hết trẻ phải được nghe, được nhìn người khác nói Trẻ

em nghe và phân biệt các âm khác nhau, nhìn các cử động, quan sát khẩu hình môi, miệng của người lớn nói chuyện và bắt chước dần dần Chính vì vậy khi dạy trẻ nói, người lớn phải ngồi đối diện với trẻ, và trò chuyện với trẻ để trẻ có thể nhìn thẳng vào mặt, vào môi, vào thái độ, tình cảm…của người cùng nói chuyện Chính vì vậy

mà ngay từ nhỏ, gia đình, nhà trẻ cần chú ý bảo vệ và rèn luyện cơ quan thính giác,

bộ máy phát âm của trẻ Tạo điều kiện và khuyến khích trẻ phát âm và nói, điều đó

có tác dụng nhất định đến qua trình phát triển lời nói của trẻ

Xem tranh ảnh, đồ dung trực quan là hoạt động mà trẻ có thể quaan sát những đặc điểm thuộc tính của đối tượng – là những sự vật, hiện tượng gần gũi, quen thuộc

Trang 38

với trẻ, để từ đó trẻ có thể gọi tên đối tượng một cách chính xác Khi miêu tả các bức tranh, hình ảnh hay vật thật trẻ vừa được tiếp thu thêm những từ mới đồng thời huy động cả vốn từ cũ Có thể sử dụng các tranh vẽ kết hợp cho trẻ quan sát và đàm thoại theo nội dung bức tranh để cho trẻ hiểu được từ, đặc biệt là các từ khái niệm…

Sử dụng biện pháp đàm thoại, trò chuyện để phát triển vốn từ cho trẻ

Trong quá trình tổ chức hoạt động, cô có thể trò chuyện với trẻ, qua đó cô “nói mẫu” để trẻ nghe cách phát âm chuẩn của cô và trẻ nói lại cho chính xác

Trong thời gian trò chuyện cùng trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được sử dụng từ đã biết, chú ý củng cố vốn từ cho trẻ Ví dụ: Khi trò chuyện với trẻ về các loại hoa, có thể hướng dẫn trẻ dùng các từ thơm phức, thơm ngào ngạt…

Cho trẻ quan sát kết hợp với lời giải thích hoặc sử dụng lời kể của cô để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ một cách chính xác Ví dụ: Khi quan sát bể cá, trẻ sẽ thấy và nói được các từ cá quẫy đuôi, ngoi lên, lặn xuống, đớp mồi…

Đối với trẻ 3 – 4 tuổi, trong giao tiếp tự do, cô có thể sử dụng câu đố để củng

cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ hiểu rõ ý nghĩa của từ Cũng ở dạng đố, cô

có thể tổ chức dưới dạng trò chơi Ví dụ: Quả gì cong cong Xếp thành một nải/ Nải xếp thành buồng /Khi chín vàng thơm/ Ăn ngon ngọt lắm? (Quả chuối) Ở câu đố này, trẻ sẽ học được các từ cong cong, nải, buồng, vàng thơm, ngon ngọt

Sử dụng trò chơi để phát triển vốn từ cho trẻ:

Trong khi trẻ chơi, bằng cách đưa thêm đồ chơi, nội dung chơi vào cho trẻ để đưa thêm từ mới cho trẻ làm quen, chú ý cách dùng từ và sửa sai cho trẻ Ví dụ: Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề Gia đình, cô giáo đưa thêm đồ chơi như quần

áo, bàn là (bàn ủi)… và gợi ý trẻ biết các thao tác giặt, vò vắt, phơi, ủi…áo quần

Cô tăng cường tổ chức các trò chơi với từ, nội dung chơi phong phú hơn so với trẻ 2-3 tuổi Ví dụ: Trò chơi Hãy kể đủ 3 thứ (trẻ phải kể 3 thứ có tên gọi không trùng với bạn khác)

Sử dụng các trò chơi học tập

Trang 39

Cô giáo sử dụng các trò chơi học tập cho trẻ chơi Trong khi chơi, trẻ sẽ được phát triển khả năng khái quát hoá, giúp trẻ hiểu nghĩa khái quát của từ, biết sử dụng đúng những từ ngữ đó đồng thời phát triển tư duy cho trẻ

Phát triển vốn từ cho trẻ là một nội dung quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ Nó là cơ sở thành lập câu và phát triển ngôn ngữ mạch lạc Việc phát triển vốn

từ phải được thực hiện trong tất cả các hình thức dạy nói cho trẻ và phải có kế hoạch

cụ thể trong từng ngày, từng tuần

1.4.3 Đặc điểm tiếp nhận đồng dao của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian, mang những nét đặc trưng của một tác phẩm văn học Do đó, việc tiếp nhận đồng dao của trẻ cũng dựa trên cơ sơ trẻ tiếp nhận những tác phẩm văn học khác

Trước hết, hứng thú văn học của trẻ lứa tuổi mẫu giáo một mặt được tạo điều kiện bởi những cái gần gũi, quen thuộc với trẻ, mặt khác là sự tìm kiếm những nội dung xa xôi, ngược hẳn so với thực tế cuộc sống đem đến những ngạc nhiên, bất ngờ [8] Trẻ MG 3 – 4 bắt đầu xuất hiện những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi mẫu giáo nhưng vẫn còn ảnh hưởng bởi hoạt động chủ đạo của thời kì trước Trẻ luôn có nhu cầu khám phá đối tượng mới, khả năng tri giác vẫn phát triển mạnh và luôn tò mò về thế giới xung quanh Ở giai đoạn này, hành động của trẻ vẫn gắn trực tiếp với đối tượng cụ thể Vì vậy, những bài đồng dao kể vật, kể việc với đặc trưng ngôn ngữ gồm những từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày của trẻ rất phù hợp với trẻ lứa tuổi này

Trẻ từ 2 tuổi rất nhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu thể hiện trong tác phẩm, cho

nên những bài thơ, câu chuyện giàu âm thanh, nhịp điệu, thể hiện nội dung cụ thể, gần gũi với nhịp sống của trẻ có ý nghĩa rất lớn đối với việc hiểu từ ngữ, cảm nhận ngôn ngữ nghệ thuật của trẻ Và trẻ có thể nhắc lại rất đúng những từ được phát âm [8] Sự nhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu của trẻ ở độ tuổi này chính là điều kiện thuận lợi để các nhà giáo dục tận dụng đồng dao như một phương tiện hiệu quả để rèn luyện, bồi dưỡng tiếng nói cho trẻ thông qua việc phát triển khả năng ngôn ngữ

và cụ thể là PTVT cho trẻ Những câu đồng dao ngắn gọn tạo nên ngữ điệu đơn giản,

Trang 40

giúp trẻ dễ tiếp thu hơn thì việc chọn lọc ngôn từ dễ dàng hơn Vần trong đồng dao khiến cho bài đồng dao kéo dài bao nhiêu câu cũng đủ sức tạo hứng thú cho trẻ Sự kết nối giữa các loại vần chân và vần lưng tạo ra những móc xích chặt chẽ làm cho trẻ dễ thuộc, dễ gợi lại những câu tiếp theo Cũng vì thế mà nhiều bài đồng dao đã mãi trong trí nhớ của nhiều người trong suốt cuộc đời Nhịp 2/2 được cho là loại nhịp phổ biến và vượt trội nhất trong các loại nhịp có mặt trong đồng dao Vì đó chính là với nhịp tim, nhịp thở và nhịp nghỉ sinh lý của trẻ Do đó, đồng dao rất phù hợp với tâm sinh lý của trẻ Vì thế, việc tiếp nhận đồng dao sẽ trở nên dễ dàng hơn nữa đối với trẻ lứa tuổi này

Trong việc rèn luyện khả năng tiếp thu văn học của trẻ, sự nhắc đi nhắc lại giữ một vai trò quan trọng Nét đặc biệt ở trẻ là chúng sẵn sàng nghe nhiều lần một câu chuyện, một văn bản văn học mà chúng đã biết Thậm chí những sự kiện mà chúng

đã biết trước không làm giảm sự hứng thú đi chút nào Trẻ em rất thích những tác phẩm trong đó sự lặp lại được dùng như một phương tiện nghệ thuật Thí dụ lặp lại

âm thanh, lặp lại khổ thơ…[8] Điều này, trong đồng thể hiện rất rõ với lối nói vòng tròn hay còn gọi là “kết cấu vòng tròn” Đây là cách gây ấn tượng cho trẻ bởi số lượng từ lặp đi lặp lại rất nhiều như trong bài “chuồn chuồn có cánh thì bay” Kết cấu vòng tròn tạo cho trẻ hứng thú khi đọc cũng như khi chơi, trẻ chơi liên tục vì lời hát gắn với trò chơi không bao giờ kết thúc Đây vừa là lối hát vui, vừa củng cố từ vựng vì được lặp đi lặp lại nhiều lần phù hợp với tâm lý trẻ

Hầu hết trẻ tiếp nhận văn học phụ thuộc vào sự lớn khôn và kinh nghiệm sống của bản thân [8] Trẻ có khả năng nếm trải, trải nghiệm, thỏa mãn cả trong những

tác phẩm mà trong đó không có nhân vật cụ thể Khi đó, đồng dao gắn với trò chơi

là nơi để trẻ thể hiện bản thân và trải nghiệm những hoạt động xã hội

Ở trường mầm non, trẻ tiếp nhận văn học là nhờ vào việc đọc, kể tác phẩm của

cô giáo trên lớp hoặc trong các nhóm Vì thế, việc tiếp nhận văn học của trẻ mang

tính tập thể Về cơ bản, môi trường diễn xướng đồng dao đã mang tính chất tập thể

Ứng dụng trò chơi – đồng dao, trẻ sử dụng đồng dao có lời kết hợp trò chơi dân gian, trong quá trình hát và chơi, yêu cầu trẻ phải thực hiện theo nhóm Do đó, đồng dao

Ngày đăng: 23/12/2020, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w