1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngành giáo dục học quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở

146 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết nghiên cứu Giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường THCS; hiện nay, trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nhà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.140114

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM MINH MỤC

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác

Hà Nội, tháng 7 năm 2020

Người viết luận văn

Cao Thị Bích Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, rèn luyện và nghiên cứu tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, với sự tận tình tâm huyết giảng dạy, quản lý, hướng dẫn tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt của các thầy, cô giáo, em đã được trang bị những kiến thức vô cùng quý báu và thực tiễn để phục vụ cho công tác Với tất cả tình cảm của mình, em xin tới Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục cùng toàn thể các thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp học lời cảm ơn chân thành nhất

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới:

PGS.TS Phạm Minh Mục người đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình hướng dẫn

em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì; các thầy cô lãnh đạo Phòng Giáo dục thành phố Việt Trì; cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh trường trung học cơ sở Nông Trang, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành luận văn nghiên cứu khoa học

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự góp ý, xây dựng của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Cao Thị Bích Thủy

Trang 5

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL Cán bộ quản lý CMHS Cha mẹ học sinh

GVCN Giáo viên chủ nhiệm GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo GDCD Giáo dục công dân GDGT Giáo dục giới tính HĐNGLL Hoạt động ngoài giờ lên lớp

PHHS Phụ huynh học sinh THCS Trung học cơ sở SKSS Sức khỏe sinh sản

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Ký hiệu các chữ viết tắt iii

Danh mục các bảng vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động GDGT cho học sinh trên thế giới 5

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS ở Việt Nam 8

1.1.3 Một số đề tài nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông ở Việt Nam 11

1.2 Giới tính và hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS 12

1.2.1 Khái niệm về giới và giới tính 12

1.2.2 Đặc điểm giới tính và phát triển giới tính của học sinh trung học cơ sở 13

1.3 Giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay 15

1.3.1 Khái niệm 15

1.3.2 Nguyên tắc của giáo dục giới tính 15

1.3.3 Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 16

1.3.4 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 17

1.3.5 Đặc điểm hoạt động giáo dục giới tính ở trường THCS 18

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 19

1.4.1 Khái niệm 19

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở cấp THCS 19

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS 27

Trang 7

1.5.1 Nhận thức về giáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính 27

1.5.2 Năng lực chuyên môn của giáo viên và cán bộ quản lý 29

1.5.3 Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông 29

1.5.4 Các yếu tố về văn hóa và phong tục tập quán 30

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NÔNG TRANG, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÖ THỌ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 32

2.1 Khái quát về phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 32

2.1.1 Vài nét về phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 32

2.1.2 Khái quát về giáo dục phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 33

2.1.3 Khái quát về trường trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì 35

2.2 Tổ chức thực hiện khảo sát 38

2.2.1 Mục đích khảo sát 38

2.2.2 Đối tượng khảo sát 38

2.2.3 Nội dung khảo sát 38

2.2.4 Mô tả quá trình khảo sát 38

2.3 Kết quả đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 39

2.3.1 Kết quả đánh giá thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS Nông Trang 39

2.3.2 Kết quả đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 52

2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ 68

2.5 Đánh giá chung 71

2.5.1 Đánh giá chung 71

2.5.2 Nguyên nhân của những hạn chế 73

Tiểu kết chương 2 75

Trang 8

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NÔNG TRANG,

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÖ THỌ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 76

3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 76

3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 76

3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 76

3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính phù hợp 76

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở Nông Trang 77

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức về giáo dục giới tính cho phụ huynh, học sinh, cán bộ giáo viên và các lực lượng tham gia công tác giáo dục giới tính 77

3.2.2 Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục giới tính cho cán bộ, giáo viên trường THCS 79

3.2.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục giới tính thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế trong nhà trường 81

3.2.4 Tăng cường chỉ đạo tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tích hợp nội dung giáo dục giới tính 84

3.2.5 Tổ chức tốt việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh 87

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 93

3.3.1 Mục đích khảo sát 93

3.3.2 Đối tượng khảo sát 93

3.3.3 Nội dung khảo sát 93

3.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 93

3.4.5 Khảo nghiệm 93

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác GDGT cho học sinh 39

Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL và giáo viên về mức độ cần thiết của hoạt động GDGT cho học sinh THCS 40

Bảng 2.3 Thái độ của học sinh với hoạt động GDGT trong trường THCS 41

Bảng 2.4 Khảo sát nhận thức của PHHS về sự cần thiết GDGT cho học sinh THCS 42

Bảng 2.5 Khảo sát về sự quan tâm của PHHS về tuổi dậy thì và việc GDGT cho con em 42

Bảng 2.6 Khảo sát nguồn cung cấp kiến thức GDGT cho PHHS nguồn cung cấp kiến thức GDGT 43

Bảng 2.7 Thực trạng mức độ thực hiện các nội dung GDGT trong trường học 44

Bảng 2.8 Thực trạng các phương pháp GDGT đã triển khai 46

Bảng 2.9 Ý kiến của đội ngũ giáo viên về các hình thức GDGT đã triển khai 47

Bảng 2.10 Khảo sát những đề nghị của học sinh về công tác GDGT 51

Bảng 2.11 Thực trạng lập kế hoạch quản lí GDGT cho học sinh 53

Bảng 2.12 Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch GDGT cho học sinh 54

Bảng 2.13 Thực trạng chỉ đạo thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục giới tính trong chương trình môn GDCD 56

Bảng 2.14 Thực trạng chỉ đạo thực hiện nội dung giáo dục giới tính trong chương trình môn Sinh học cấp THCS 57

Bảng 2.15 Thực trạng chỉ đạo GDGT thông qua HĐGDNGLL 59

Bảng 2.16 Thực trạng công tác chỉ đạo của hiệu trưởng trong việc phối hợp các lực lượng tham gia công tác GDGT học sinh THCS 62

Bảng 2.17 Thống kê hoạt động của các tổ chức, cơ quan tham gia GD kỹ năng sống 63

Bảng 2.18 Thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả GDGT của BGH và GV nhà trường 65

Bảng 2.19 Khảo sát các biện pháp quản lý việc chuẩn bài giảng dạy GDGT trên lớp và giờ GDGT trên lớp của giáo viên 66

Trang 10

Bảng 2.20 Khảo sát về việc tổ chức cho giáo viên tham gia tập huấn về vấn

đề GDGT 67 Bảng 2.21 Khảo sát về nguyên nhân của những tồn tại, khó khăn của nhà

trường khi thực hiện giáo dục giới tính 68 Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động GDGT

cho học sinh trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 94 Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GDGT cho học

sinh trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 95

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đào tạo, coi Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiều chính sách về công tác giáo dục phổ thông, phát triển toàn diện con người, trong

đó có giáo dục giới tính

Bộ GD&ĐT đã có Thông tư 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/2/2014 quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa; Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28 /8 / 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 - 2020”; Nghị định số 80/2017/NĐ-

CP ngày 17 /7 /2017 của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành

mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT

ngày 18/12/2017 Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn học đường trong trường phổ thông mà trong đó có phần giáo dục giới tính Từ đó, tạo cơ sở hành lang pháp lý triển khai tích hợp các nội dung giáo dục giới tính, phòng tránh xâm hại cho trẻ em trong các chương trình giáo dục Giáo dục giới tính giúp HS nói chung và HS cấp trung học cơ sở rèn luyện khả năng tự xử lý và giải quyết vấn đề, kỹ năng ứng dụng kiến thức giới tính vào thực tiễn cụôc sống Là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục toàn diện, xã hội đặc biệt quan tâm Học sinh trung học cơ sở (THCS) thuộc lứa tuổi thanh niên mới lớn, đây là giai đoạn phát triển về sinh lý, có nhiều thay đổi về tâm lý và tình cảm trong cuộc đời của mỗi con người nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố rất phức tạp, nên trong công tác giáo dục rất cần thiết phải chú trọng công tác giáo dục giới tính

Trường trung học cơ sở Nông Trang hiện nay đóng ở phía nam của phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Năm học 2018-2019 trường có 28 lớp với 1.243 học sinh Trong gia đình, lứa tuổi học sinh THCS còn một số em học sinh (HS) chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức Việc chỉ đạo quản lý hoạt động GDGT cho học sinh của nhà trường vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định do: nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về vấn đề này còn

Trang 12

chưa được quan tâm đúng mức, còn tâm lý e ngại; đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm

và kĩ năng tư vấn các vấn đề về giới tính cho các em học sinh còn thiếu và không được đào tạo chuyên môn; việc tổ chức các hoạt động về giáo dục giới tích còn chưa đa dạng, chưa có chiều sâu; cơ sở vật chất thiếu thốn, không có phòng riêng để

tư vấn cho học sinh về các vấn đề nhạy cảm khiến cho hoạt động giáo dục giới tính của nhà trường chưa đạt hiệu quả cao

Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho

học sinh ở trường trung học cơ sở Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay ” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục, góp

phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về giáo dục giới tính, quản lý hoạt động giáo dục giới tính và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh

3 Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS trong giai đoạn hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS;

- Nghiên cứu thực trạng về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

5 Câu hỏi nghiên cứu

1) Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở

trường THCS đã được nghiên cứu như thế nào?

Trang 13

2) Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS tại

trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ diễn ra như thế nào?

3) Cần những biện pháp quản lý nào để nâng cao hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh cấp THCS tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường THCS; hiện nay, trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nhà trường cần phải có các định hướng giáo dục và quản lý giáo dục giới tính phù hợp với sự phát triển của học sinh và bối cảnh xã hội Vì vậy, đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính phù hợp sẽ giúp học sinh có những kiến thức, kỹ năng và hành vi giới tính phù hợp và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh

- Thời gian: Nghiên cứu hồ sơ và thông tin của nhà trường trong các năm học: Từ năm học 2016-2017 đến năm học 2019-2020

- Địa bàn: Chỉ tìm hiểu thực trạng quản lý công tác giáo dục giới tính tại trường THCS Nông Trang

8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trang 14

những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở thực tiễn để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường THCS Nông Trang

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập, khảo cứu, sưu tầm các tài liệu hiện có về những nội dung đề tài nghiên cứu

9.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi đối với cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, học sinh để thu nhận thông tin về thực trạng giáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính cho học sinh THCS của trường và một số trường bạn;

- Phương pháp phỏng vấn và tọa đàm: Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu

và toàn đàm với các khách thể khảo sát nhằm bổ xung và chính xác hóa các thông tin của luận văn;

- Phương pháp quan sát: quan sát tiết dạy có nội dung GDGT (môn Sinh học, môn GDCD) và các buổi sinh hoạt ngoại khóa về GDGT của nhà trường

- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực tâm lý, giáo dục

để có được những ý kiến khách quan về thực trạng của hoạt động giáo dục giới tính, quản

lý hoạt động giáo dục giới tính và về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học

sinh ở trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại

trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động hoạt động giáo dục giới tính cho

học sinh tại trường THCS Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động GDGT cho học sinh trên thế giới

Trên thế giới, vấn đề giới tính và giáo dục giới tính được quan tâm từ rất lâu Các nhà nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính thường tuân thủ theo quan điểm tôn giáo và đạo đức của xã hội thời kỳ đó

“Tiếp theo, các vấn đề nghiên cứu giới tính được quan tâm ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nội dung nghiên cứu về giới và giới tính thời kỳ này bắt đầu được mở rộng … Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học như: J Bachocen (Thuỵ Sỹ), J Mac Lennan (Anh), E Westermach (Phần Lan), Lewis Henry Morgan (Mĩ), X.M Kovalevxki (Nga)…đã liên tục đưa ra các công trình nghiên cứu về giới và giới tính riêng của mình Trong quá trình nghiên cứu về giới tính, các ông đã gắn sự phát triển quan hệ tính dục với các dạng hôn nhân và gia đình, và gắn cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá” [27]

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên thế giới vào đầu thế kỷ XX, đi cùng theo đó là các phương tiện truyền thông đại chúng trong xã hội liên tục phát triển dưới nhiều hình thức phong phú và nhất là sự bùng nổ của vấn đề gia tăng dân số ở tất cả các quốc gia, vì vậy vấn đề GDGT được quan tâm, nhấn mạnh và nghiên cứu ngày càng nhiều Nhu cầu giáo dục giới tính được chú ý và đề cao, ở nhiều nước phương Tây và sau đó ở Mỹ, người ta tiến hành giáo dục giới tính

và nghiên cứu việc giáo dục giới tính Tình dục được các nhà nghiên cứu giới tính và

xã hội học coi như là một quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng về mọi mặt của nam và nữ, là trách nhiệm đạo đức của mọi công dân đối với sự phát triển của xã hội Nhiều nhà khoa học nghiên cứu về giới tính và GDGT cho rằng cần phải tiến hành giáo dục giới tính từ trong nhà trường trên cơ sở khoa học sinh học về cơ thể và tâm lý con người và cần giáo dục giới tính ngay từ lứa tuổi mẫu giáo

Trang 16

Sự xuất hiện của căn bệnh HIV/AIDS vào cuối thế kỷ XX trên thế giới đã mang lại một ý nghĩa khẩn cấp mới cho chủ đề giáo dục giới tính trên toàn thế giới Hoạt động giáo dục giới tính lúc này được các nhà nghiên cứu khoa học về giới tính coi như là một chiến lược cực kỳ cấp bách, liên quan trực tiếp đến vấn đề sống còn

về sức khoẻ cộng đồng của nhân loại

Ở Châu Á, các chương trình hoạt động liên quan đến giáo dục giới tính ở các nước được quan tâm nghiên cứu với những mức độ phát triển rất khác nhau Hàn Quốc, Indonesia…và một số nước đã ban hành một loạt các chính sách hệ thống về việc đưa vấn đề giới và giới tính vào giảng dạy trong các trường học

Tại Nhật Bản, Người Nhật cho rằng giai đoạn đi mẫu giáo là cơ hội tốt để dạy trẻ về giới tính, để các bé nhận thức được về vai trò giới, hiểu được sự khác biệt giữa một cậu bé và một cô bé là ở điểm nào để thiết lập ý thức tự bảo vệ Kiến thức

về sinh sản được đưa vào học từ bậc tiểu học Bộ Giáo dục Nhật Bản xuất bản tập đầu tiên của cuốn sách giáo khoa nói về cơ thể nam giới, nữ giới, các bộ phận sinh sản và kiến thức sinh sản từ bậc tiểu học Mỗi năm trẻ sẽ có từ 1-2 giờ tham dự bài giảng đặc biệt này Trẻ tiểu học sẽ học về kinh nguyệt, nguyên tắc khi mang thai, đọc những cuốn sách tranh mô tả sơ lược quá trình "tạo ra em bé" của bố mẹ Trẻ trung học sẽ học về các biện pháp tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục và các khía cạnh đạo đức Việc phổ cập giáo dục giới tính ở Nhật Bản dường như khiến các ông bố bà mẹ thoải mái hơn nhiều khi không phải lo đối mặt với những thắc mắc, băn khoăn của trẻ ở độ tuổi mới lớn nhiều tò mò

Ở Trung Quốc: Chính phủ Trung Quốc vừa ra mắt “Sáng kiến Trung Quốc lành mạnh (2019 - 2030)”, có một số yếu tố mới liên quan đến giáo dục giới tính toàn diện Để đánh dấu dịp này, UNESCO đã tổ chức một cuộc đối thoại chính sách vào ngày 21/8/2019 tại Bắc Kinh, với sự tham gia của đại diện Liên hợp quốc, các

tổ chức y tế, giáo dục, xã hội dân sự và các phương tiện truyền thông để thảo luận

về báo cáo GEM mới và tài liệu chính sách của UNESCO, “Đối mặt với sự thật: Giáo dục giới tính cần thay đổi” Josephine Sauvarin, cố vấn thanh niên của UNFPA chia sẻ rằng chương trình không chỉ nói về khía cạnh tình dục Sự thiếu hiểu biết về bình đẳng giới, sự đồng thuận và quyền lợi sẽ dẫn đến phân biệt đối xử

Trang 17

và bạo lực giới, cũng như những hệ lụy kiểu mang thai sớm và ngoài ý muốn, phá thai không an toàn, nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục…

Tại Singapore, tất cả các cấp học đều có chương trình giáo dục giới tính của Bộ giáo dục Tại cấp tiểu học, trẻ em được dạy về việc phát triển cơ thể và cách xây dựng các mối quan hệ lành mạnh Tại trung học và sau đó, học sinh được dạy về sức khỏe

và hành vi tình dục cũng như cách phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục Bộ giáo dục Singapore cũng kêu gọi giáo dục giới tính cũng phải bắt đầu từ gia đình trong đó cha mẹ giữ vai trò quan trọng

Ở Châu Âu, nhiều nước bắt đầu quan tâm đến giới tính và giáo dục giới tính Tại nước Anh, trẻ em bắt đầu được giáo dục giới tính khi còn mầm non Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc Chương trình với tên gọi “Khóa học Nhà nước yêu cầu” được áp dụng cho tất

cả học sinh tại các trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ

sở Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi Ngoài ra, Vương quốc Anh còn đang áp dụng phương pháp “giáo dục đồng cấp” Thông qua

sự phát triển của việc giáo dục giới tính vị thành niên và việc sử dụng hình ảnh tương tác, phương pháp này được áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở vị thành niên

Tại Hà Lan, theo luật, tất cả học sinh tiểu học tại Hà Lan đều được giáo dục giới tính với các trọng tâm về khác biệt giới tính và giúp trẻ phát triển kỹ năng chống

áp bức tình dục, đe dọa tình dục và lạm dụng tình dục Ineke Van der Vlugt, chuyên gia về phát triển giáo dục giới tính, nói: "Người ta thường nghĩ giáo dục giới tính là dạy về quan hệ tình dục Nhưng giới tính có nghĩa bao quát hơn nhiều bởi nó bao gồm xây dựng hình ảnh bản thân, phát triển cá tính, vai trò giới và cả việc học cách thể hiện bản thân, nói lên mong ước và các giới hạn" Trong chương trình giáo dục giới tính bắt đầu từ mẫu giáo của Hà Lan, mục tiêu các nhà giáo dục hướng tới là giúp trẻ mẫu giáo biết cách nói trả lời nếu không muốn bị đụng chạm cơ thể Với chương trình này, trẻ 7 tuổi có thể kể tên mọi bộ phận trên cơ thể, kể cả cơ quan sinh dục Và trẻ 11 tuổi

có thể thoải mái bàn luận về sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn và lạm dụng tình dục

Trong khi đó ở Mỹ, việc giáo dục giới tính lại được phân theo các cấp học Ở

Trang 18

tiểu học, các em nhỏ được thầy cô giới thiệu sơ lược về những bộ phận nhạy cảm trên

cơ thể và sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà Ở cấp trung học cơ sở trở lên, kiến thức

về giáo dục giới tính được nâng cấp lên đáng kể, trực diện và hướng dẫn chi tiết Học sinh được tìm hiểu về tình dục, giới tính, các căn bệnh truyền nhiễm, việc mang thai… Tuy nhiên, cách mà người Mỹ dạy cho trẻ em còn lồng ghép cả nội dung giáo dục tính người: Biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới Song song với việc giáo dục ở nhà trường, các bậc phụ huynh cũng luôn chia sẻ với con cái về vấn đề giới tính, tình dục một cách thẳng thắn và cởi mở Họ giải thích cặn kẽ chứ không giấu diếm Lúc đầu bọn trẻ cảm thấy khá kỳ cục và ngượng ngùng, nhưng về sau lại rất chăm chú lắng nghe Theo Hội đồng thông tin và giáo dục giới tính Mỹ, 93% người lớn được khảo sát ủng hộ giáo dục giới tính ở trường trung học phổ thông và 84% ủng hộ tại các trường trung học cơ sở Vì bằng phương pháp này, họ cảm thấy dễ dàng và thoải mái hơn khi trò chuyện với con mình về tình dục [40]

Như vậy, các nội dung nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính hiện nay ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và ban hành nhiều chính sách để thực thi Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đã đưa giáo dục giới tính thành một môn học bắt buộc trong trường phổ thông Tuy cách thức tiến hành ở mỗi quốc gia

có khác nhau song đều hướng đến mục tiêu chung là kết hợp giáo dục những hiểu biết về giới tính, tình yêu, tình dục với giáo dục ý thức trách nhiệm đối với tình yêu, giáo dục đạo đức, xây dựng gia đình tốt đẹp, lành mạnh, phòng các loại bệnh liên quan đến giới tính, hướng tới xây dựng một xã hội phát triển lành mạnh

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ xa xưa, giới tính và giáo dục giới tính ít được nhắc đến và coi như là một việc làm “cấm kị” Cho đến những năm đầu của thập kỉ 1980, vấn đề GDGT cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lâu đời trong nhân dân Rất nhiều người cảm thấy xấu hổ hay khó trình bày khi nói về vấn đề tình dục, giới tính Các thầy cô giáo, tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức

xã hội hầu như chưa được trang bị kiến thức một cách khoa học để có thể tham gia vào giáo dục hay tư vấn về các vấn đề giới tính cho học sinh, thậm chí lại có tư tưởng

Trang 19

cho là không nên nhồi nhét vào đầu óc trẻ thơ những điều không tốt Chính những quan niệm lạc hậu, bảo thủ trên đã làm cho trẻ chưa có nhiều kiến thức hiểu biết về giới tính, phải đối mặt với những nguy cơ, rủi ro, thậm chí là dẫn đến nhiều cái chết thương tâm trong quan hệ tình dục không an toàn, về sự mang thai ngoài ý muốn

Năm 1984, khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái ” thì công tác GDGT cho học sinh sinh viên được các nhà trường quan tâm hơn, tập trung cho đối tượng sinh viên các trường Đại học “Năm 1985, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về giới tính, tình yêu, tình dục, xây dựng hôn nhân gia đình của các tác giả được công bố Trong đó, nổi bật là một số tác giả: Phạm Hoàng Gia, Bùi Ngọc Oánh, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Thị Tho… nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến giới tính và giáo dục giới tính Một số công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra cho các lứa tuổi về tình bạn, tình yêu và cuộc sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành trên cả nước từ năm 1985 đến nay, bước đầu đã đặt nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu giáo dục giới tính cho thanh niên

và học sinh Những công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới phong phú

đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam, khởi nguồn cho các chương trình, chính sách liên quan đến giáo dục giới tính ở Việt Nam sau này”[27]

Từ năm 1990, ở Việt Nam đã có một số dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; giáo dục giới tính cho học sinh; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã trở thành mối quan tâm của cả xã hội, của Nhà nước, Bộ Giáo Dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh [27]

Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã phối hợp cùng Tổ chức

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) soạn thảo chương trình thực nghiệm Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống cho học sinh THCS với 9 chủ đề: Phòng

Trang 20

tránh HIV/AIDS; Phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; Phòng tránh và ứng phó với tình huống căng thẳng; Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; Quyền trẻ em; Bệnh lây qua đường tình dục; Phòng tránh ma túy; Phòng tránh thuốc lá rượu bia và sống khỏe mạnh Nội dung Chương trình thực nghiệm được đưa vào giảng dạy thí điểm ở một số trường THCS trong toàn quốc, thường sử dụng các tiết học ngoại khóa, ngoài giờ, và dạy lồng ghép vào các tiết dạy thuộc môn GDCD hoặc môn Sinh Theo chương trình mới bắt đầu thực hiện từ năm học 2003 các bài về giáo dục giới tính bắt đầu giảng dạy từ lớp 6 đến lớp 9

Một trong những vấn đề nóng của xã hội Việt Nam hiện nay là việc trẻ vị thành niên quan hệ tình dục khi chưa có những hiểu biết đầy đủ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, đặc biệt là bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Điều đó gây những hậu quả tai hại cho xã hội và ảnh hưởng đến chính tương lai của các em Có hai nhóm nguyên nhân chủ yếu phát dẫn đến các vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên trở thành vấn đề nóng hiện nay, một là nguyên nhân xuất phát từ chính lứa tuổi

vị thành niên, và một từ xã hội, môi trường của các em đang sống Về phần các em,

có một thực tế không thể không nhìn nhận, đó là sự phát triển về sinh lí và thể chất của người Việt đang ngày một cải thiện Cùng với sự đi lên của đời sống, điều kiện kinh tế, vật chất, thì hiện nay cuộc sống hoàn toàn không dễ dàng đối với trẻ vị thành niên, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay, đặc biệt đối với những trẻ không được chuẩn bị đầy đủ để đối mặt với các vấn đề đặc thù của lứa tuổi Thực trạng hiện nay đã và đang cho thấy điều đó Nếu chúng ta mong đợi trẻ vị thành niên những quyết định đúng đắn, có trách nhiệm trước những cạm bẫy và thách thức của

xã hội, chúng ta phải đảm bảo trẻ vị thành niên được cung cấp đầy đủ thông tin, kỹ năng và phương tiện để quyết định và các giá trị chúng cần tôn trọng và thực hiện Chúng ta cần nhận thức rằng đã đến lúc để đặt kế hoạch cho tương lai và chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được điều đó Để giải quyết vấn đề này, không còn cách nào khác đó là gia đình và xã hội, cần đưa giáo dục giới tính (GDGT) vào môi trường

quan trọng nhất của các em trong lứa tuổi vị thành niên: Đó là trường học

Thực tế, còn có nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục giới tính, về nội dung và phương pháp giáo dục giới tính, nhưng tất cả đều thống nhất một quan

Trang 21

niệm: cần giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ đang lớn lên Vần đề là lựa chọn nội dung cho thích hợp, xác định thời điểm bắt đầu tiến hành ở nhà trường cho phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng quốc gia, từng dân tộc

1.1.3 Một số đề tài nghiên cứu về giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông ở Việt Nam

Từ năm 1990 trở lại đây, công tác GDGT được sự quan tâm của toàn xã hội

và được nghiên cứu một cách nghiêm túc qua một số công trình sau:

- Năm 1991, đề tài nghiên cứu: “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận GDGT của thanh niên học sinh” của PGS TS Bùi Ngọc Oánh

- Năm 1994, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh THPT đối với một số nội dung GDGT” của Huỳnh Văn Sơn

- Năm 2004, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Tìm hiểu sự nhận thức và quan tâm của học sinh THPT về các vấn đề giới tính” của Nguyễn Văn Phương

- Năm 2008, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Khảo sát thực trạng nhận thức, thái

độ của học sinh THPT về một số vấn đề cơ bản của nội dung GDGT tại một số trường THPT thành phố Hà Nội” của Lê Khắc Mỹ Phượng

- Năm 2016, đề tài nghiên cứu: “Một số suy nghĩ về quan niệm tình dục của tuổi vị thành niên hiện nay đối với vấn đề tình dục” của Nguyễn Bích Điểm

- Năm 2017, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình

- Năm 2018, đề tài nghiên cứu của Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai: “Hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính trong các trường THPT trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai” do Hội Khoa học Tâm lý giáo dục chủ trì

Điểm qua các đề tài nghiên cứu, có thể nhận thấy ở lứa tuổi THPT có khá nhiều đề tài được đề cập đến Còn ở lứa tuổi học sinh THCS, hầu như chưa có đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở lứa tuổi này Chỉ có một vài bài báo của các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đăng trên Tạp chí giáo dục

Như vậy, giáo dục giới tính đã được cả thế giới và ở Việt Nam đề cập tới và nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề quản lý giáo dục giới tính chưa được quan tâm

Trang 22

nhiều, đặc biệt với học sinh THCS Trong thời gian tới, cần có những nghiên cứu

sâu hơn về vấn đề GDGT để xây dựng một nội dung GDGT riêng, cụ thể cho lứa tuổi HS THCS, vì vậy tác giả lựa chọn đề tài để nghiên cứu khai thác dưới góc độ quản lý hoạt động giáo dục giới tính trong phạm vi đơn vị trường THCS ở phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu vấn đề quản lý GDGT cho học sinh THCS và phù hợp với đặc điểm học sinh THCS

và phù hợp với bối cảnh giáo dục địa phương Với mong muốn giáo dục giới tính đang từng bước trở thành một môn học góp phần tích cực vào việc giáo dục nhân

cách toàn diện cho học sinh THCS hiện nay ở Việt Nam

1.2 Giới tính và hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS

1.2.1 Khái niệm về giới và giới tính

Theo Điều 5 của Luật Bình đẳng giới 2006, khái niệm “giới tính” và “giới” được hiểu như sau:

“Giới tính” là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ;

“Giới” là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội

Khái niệm giới và giới tính giúp ta phân biệt đặc điểm của phụ nữ và nam giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó Sự khác nhau giữa

“giới tính” và “giới”được thể hiện qua các nội dung sau:

- Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học) Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú

- Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy

dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà

xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính

Trang 23

trị,… Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy

là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới

Sự khác nhau giữa Giới tính và Giới:

giới tính nhất định và không thay

đổi theo thời gian

Con người được dạy và phải học về các vai trò giới trong quá trình trưởng thành, giao tiếp xã hội Điều này có thể thay đổi theo thời gian Giới tính của một người ở nơi nào

cũng vậy

Giới và vai trò giới khác nhau theo phong tục tập quán, theo vùng và thời gian

Khó hoặc không thay đổi được Có thể thay đổi theo thời gian

(Nguồn: Nội dung nêu trên được đề cập tại tài liệu kèm theo Quyết định 5859/QĐ-BYT ngày 18/12/2019 của Bộ Y tế)

1.2.2 Đặc điểm giới tính và phát triển giới tính của học sinh trung học cơ sở

Lứa tuổi trung học cơ sở (THCS) hay còn gọi là tuổi thiếu niên được giới hạn trong độ tuổi học sinh từ 11-15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9), Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành

và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị”…

Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn(người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này

Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động… của các em Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có

Trang 24

sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có

cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của

xã hội Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn

Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít Có những

em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập… còn quan hệ với bạn gái như trẻ con

Lứa tuổi này có sự phát triển mang tính đột biến, phát triển về mọi mặt, cả về thể lực, tâm- sinh lý; là giai đoạn quan trọng của cuộc đời con người, là giai đoạn vừa học tập kiến thức, vừa tìm hiểu các vần đế xã hội, vừa phát huy tính năng động sáng tạo để nắm bắt các thành tựu khoa học kĩ thuật nhưng đồng thời cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội; muốn thể hiện bản thân đã là người lớn, đặc biệt đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về sinh lý tuổi dạy thì Nhu cầu hướng ngoại phát triển, cùng với hoạt động học tập, giao tiếp với bạn bè và sự tác động của phương tiện thông tin đa chiều cũng tác động vào quá trình phát triển của học sinh THCS

Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng

là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành,

Trang 25

chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện

1.3 Giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay

1.3.1 Khái niệm

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực bao gồm nhiều vấn đề và rất phức tạp Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiến hành giáo dục giới tính khi các em trưởng thành, tức là ở vào thời kỳ chín muồi của giới tính

Nhiều ngành khoa học những năm gần đây đã xác nhận ý nghĩa đặc biệt quan trọng của những năm tuổi thơ đối với một đời người, như cha ông ta đã từng nói:

“dạy con từ thuở còn thơ” Những người làm cha làm mẹ trong quá trình dạy dỗ con

em mình, đều có những phút không khỏi bàng hoàng nhận ra rằng trước mắt mình đứa con không còn là một cậu bé vụng dại nữa mà đã là một vị thành niên

Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ và Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai

và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em” [33]

Từ những quan niệm trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau: Giáo dục giới tính cho lứa tuổi học sinh THCS là quá trình sư phạm, cần được sự quan tâm vào cuộc của toàn xã hội, trong đó người giáo viên và nhà trường là một kênh quan trọng và hiệu quả nhất nhằm trang bị cho các em học sinh các kiến thức và kỹ năng sống toàn diện, để giúp cho học sinh có nhận thức, hiểu biết toàn diện, thái độ đúng đắn

về giới tính và quan hệ giới tính, sự thay đổi tâm sinh lý Góp phần hình thành cho các

em có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạt động của các em vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính và biết tổ chức cuộc sống khoa học cho cá nhân các em, trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước

1.3.2 Nguyên tắc của giáo dục giới tính

Xã hội càng phát triển bao nhiêu thì nhu cầu giáo dục giới tính càng trở nên

Trang 26

cấp thiết bấy nhiêu Nhất là khi vấn nạn ấu dâm, xâm hại tình dục ở trẻ em đang được quan tâm mạnh mẽ

Do vậy, việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên là một trong những vấn

đề rất quan trọng, cấp thiết, đòi hỏi trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục phải nắm vững các nguyên tắc chung của nguyên lý giáo dục như: Tính giáo dục, tính khoa học, tính thực tiễn và tính hiệu quả…như các môn học văn hóa khác Ngoài ra, giáo dục giới tính cũng là một lĩnh vực vô cùng tế nhị và gắp nhiều khó khăn, phức tạp, nên trong quá trình giáo dục giới tính phải lưu ý một số nguyên tắc sau:

Giáo dục giới tính phải luôn gắn liền với giáo dục nhân cách, đạo đức, xây dựng thế giới quan khoa học, nếp sống sinh hoạt đúng đắn, lành mạnh, lối sống văn minh cho các em học sinh

Giáo dục giới tính trong phải kết hợp giữa ba môi trường giáo dục đó là: Gia đình, nhà trường và xã hội

Giáo dục giới tính phải được thực hiện tổng hợp, toàn diện, kết hợp khoa học của

nhiều bộ môn khoa học khác nhau: Xã hội học, thẩm mỹ, tâm lý học, sinh lý học…

Phải kết hợp việc giáo dục giới tính thông qua thực tiễn: truyền thụ những tri thức lí luận với những kiến thức thực tiễn, trong đó tập trung vào những vấn đề thực tiễn trong đời sống sinh hoạt thường ngày của các em học sinh

Giáo dục giới tính là một quá trình liên tục, nên phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, của lớp học, phải phù hợp với phong tục tập quán của mỗi vùng, miền, dân tộc, tôn giáo

1.3.3 Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

1.3.3.1 Mục tiêu giáo dục giới tính cho HS THCS

Mục tiêu của giáo dục giới tính là hình thành cho con người các phẩm chất giới tính

Giúp các em học sinh có những hiểu biết cần thiết về giới và giới tính Sống đúng với giới tính của mình, các em biết trân trọng giá trị của bản thân, từ đó biết quý trọng người khác

Giúp các em học sinh có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới, khả năng làm chủ bản thân, làm chủ quá trình sinh sản, kỹ năng lao động phù hợp với nghề nghiệp mang đặc thù giới

Trang 27

Giáo dục cho học sinh có thái độ sống tích cực, lịch sự trong quan hệ với người khác giới và tự hoàn thiện những phẩm chất thuộc giới mình

1.3.3.2 Nhiệm vụ giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức về giới tính, có thái độ, hành vi phù hợp với các vấn đề sinh lý học và giải phẫu cơ quan sinh dục, các giai đoạn phát triển sinh lý giới tính của con người, tâm lý đời sống tình dục, sự thụ tinh, sự phát triển của bào thai, các biện pháp phòng tránh thai, các hiện tượng vô sinh v.vv giáo dục nhu cầu tình dục, nhu cầu giới tính và đạo đức giới tính cho học sinh, giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản

Việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên là một vấn đề quan trọng Vấn đề này cần được sự quan tâm vào cuộc của toàn xã hội Song trường học là một kênh quan trọng và hiệu quả nhất nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức và kỹ năng sống toàn diện để các em có được sự phát triển toàn diện cân đối cả tri thức, thể chất lẫn tinh thần, góp phần xây dựng một thế hệ tương lai tự tin sẵn sàng hoà nhập sự phát triển chung của toàn thế giới

1.3.4 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở tập trung vào các vấn đề sau:

Trang bị cho các em học sinh những tri thức quan trọng và cần thiết về giới

và giới tính

Giáo dục ý thức trách nhiệm, ý thức tôn trọng của con người, biết quan tâm đến những đặc điểm giới tính của người khác trong quá trình tham gia hoạt động chung trong gia đình, nhà trường và xã hội

Giáo dục khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với người khác Biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong phạm vi quan hệ khác giới Biết tôn trọng giới nữ

Giáo dục thái độ, trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏe của người khác, ý thức về tác hại nguy hiểm do quan hệ tình dục gây nên Về căn bệnh thế kỷ lây qua đường tình dục HIV/AIDS

Trang 28

Giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên, các cơ quan sinh sản và chức năng của chúng; cuộc sống hôn nhân, mang thai và phòng tránh thai

Giáo dục đạo đức giới tính và nhu cầu giới tính, giáo dục văn hóa giao tiếp với người khác giới

Giáo dục vấn đề về dân số - kế hoạch hóa gia đình và xây dựng gia đình hạnh phúc

Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới, định kiến về giới và các biện pháp khắc phục hiện tượng vi phạm Luật Bình đẳng giới, vấn đề định kiến giới và phân biệt giới đang tồn tại hiện nay trong xã hội và trong gia đình

1.3.5 Đặc điểm hoạt động giáo dục giới tính ở trường THCS

Giáo dục giới tính ở trường THCS được thực hiện qua các con đường: hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp ngoài ra giáo dục giới tính còn được tiến hành bằng nhiều con đường khác như giáo dục truyền thông, tổ chức hoạt động xã hội vv Tuy nhiên giáo dục giới tính qua con đường dạy học

và tổ chức hoạt động giáo dục NGLL là con đường cơ bản, quan trọng nhất ở trường phổ thông Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ với nhau, bổ sung cho nhau Đặc biệt trong giáo dục giới tính những giờ học chính khoá học sinh tiếp thu được những tri thức, những chuẩn mực và hành vi trong quan hệ giới tính, và từ đó hình thành trong các em ký năng ứng xử, hiểu biết về giới, thì qua những hoạt động ngoại khoá sẽ tạo điều kiện cho sự hiểu biết đó được bộc lộ thể hiện qua hành vi ứng xử và hành vi này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ

thành những thói quen …

Trong thực tế GDGT ở trường THCS, học sinh thường phải tiếp xúc với các

"tình huống", "vấn đề" (những khó khăn cần giải quyết liên quan đến giới và giới tính); nhưng khi học tập, học sinh chỉ được dạy các theo các môn học riêng rẽ, ít có dịp luyện tập giống như trong thực tế, các năng lực đòi hỏi lồng ghép nhiều kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc các lĩnh vực khác nhau Nhiều vấn đề thực tiễn không giống như khi học, hoặc chưa có giải pháp khuôn mẫu, nên học sinh khi gặp những

Trang 29

vấn đề cụ thể về GDGT thường lúng túng, nhất là trong cách ra quyết định xử lý tình huống liên quan đến GDGT

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Trường THCS đồng thời thực hiện các nhiệm vụ giáo dục toàn diện nhân cách học sinh đó là giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính vv… Các nhiệm vụ giáo dục cần được triển khai theo kế hoạch và được tổ chức một cách khoa học và chỉ đạo sát thực, giám sát thường xuyên

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở cấp THCS

1.4.2.1 Tổ chức tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho các lực lượng sư phạm trong nhà trường, các bậc phụ huynh và các em học sinh về công tác giáo dục giới tính

GDGT trong trường học là một công việc đặc biệt nhạy cảm và sẽ gặp không

ít khó khăn Do vậy, hoạt động giáo dục giới tính phải tiến hành thường xuyên, liên tục và muốn mang lại hiệu quả cao, đòi hỏi các nhà quản lý phải nâng cao nhận thức cho các lực lượng trực tiếp làm công tác GDGT bởi vì “một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế chất lượng GDGT ở Việt Nam trong thời gian qua chính là do nhận thức của xã hội và các lực lượng trực tiếp làm công tác GDGT chưa đúng đắn, nhất là chưa hoàn toàn nhất trí với việc tiến hành GDGT cho học sinh, sinh viên, cho rằng làm như thế là vẽ đường cho hưu chạy, là làm hoen ố tâm hồn trong trắng của tuổi học trò” [15] Vì vậy, muốn quản lý hoạt động GDGT trong nhà trường đạt hiệu quả, phải bắt đầu từ công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, nêu cao ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên nhà trường, trách nhiệm của các bậc phụ huynh và trách nhiệm tự rèn luyện của chính các em học sinh

Trang 30

1.4.2.2 Lập kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Khi xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh, nhà trường THCS cần dựa trên những cơ sở sau:

Phân tích thực trạng giáo dục giới tính trong năm học Thực trạng GDGT của nhà trường được thể hiện rõ trong bảng tổng kết năm học Qua đó, nhà lãnh đạo quản lý sẽ thấy được ưu điểm và nhược điểm của công tác giáo dục giới tính, những nội dung nào còn hạn chế, từ đó xếp theo thứ tự ưu tiên từng vấn đề cấp thiết cần giải quyết ngay Hiệu trưởng cần quan tâm đến các vấn đề đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính của học sinh và những hành vi văn hóa giao tiếp phù hợp với giới tính, các nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh vv và những nội dung giáo dục tương ứng

Nhà lãnh đạo quản lý trong trường cần phải phân tích kế hoạch chung của ngành, trường, để từ đó xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính nằm trong kế hoạch chung và tổng thể đó Kế hoạch GDGT là kế hoạch cụ thể về một mặt giáo dục kỹ năng sống quan trọng của nhà trường trong chương trình giáo dục phổ thông mới

2018 hiện nay, trong đó thể hiện sự thống nhất giữa giáo dục giới tính với các mặt giáo dục khác phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường

Trong quá trình xây dựng kế hoạch GDGT, đòi hỏi nhà quản lý phải tìm hiểu các đặc điểm về kinh tế- xã hội, văn hóa truyền thống của địa phương Vì quá trình giáo dục giới tính thống nhất biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống

Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay

và các hình thức giáo dục giới tính đã triển khai để xây dựng nội dung giáo dục giới tính cho học sinh

Xác định điều kiện giáo dục như: tình trạng cơ sở vật chất, nguồn tài chính, quỹ thời gian giành cho GDGT, sự phối hợp với lực lượng GDGT trong trường và ngoài trường

Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính trong nhà trường THCS như sau:

Kế hoạch GDGT phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể

và trọng tâm trong từng thời kỳ

Trang 31

Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng tích cực trong việc dạy – học giáo dục giới tính của giáo viên và học sinh

Kế hoạch góp phần liên kết được mối quan hệ giữa mục đích GDGT, mục tiêu GDGT, nội dung GDGT, phương pháp GDGT, phương tiện GDGT, thời gian, hình thức tổ chức GDGT và các biện pháp, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết các hoạt động GDGT của nhà trường

Kế hoạch phải bao hàm và thể hiện đầy đủ được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, từ đó bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể trong hoạt động GDGT ở trường THCS

1.4.2.3 Tổ chức các nguồn lực để thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Tổ chức thực hiện việc giáo dục giới tính cho học sinh THCS có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động học tập văn hoá trong nhà trường

Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:

Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục giới tính Thảo luận trước toàn thể Hội đồng sư phạm nhà trường các biện pháp thực hiện kế hoạch hiệu quả

Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho thực hiện kế hoạch GDGT Khi tiến hành sắp xếp bố trí nhân sự cho kế hoạch GDGT, Hiệu trưởng phải nắm rõ được những phẩm chất và năng lực của từng giáo viên, thế mạnh, mặt yếu, nếu cần có thể phân công nội dung GDGT theo từng nhóm, để công tác GDGT được tiến hành một cách thuận lợi nhất

và có hiệu quả

Định rõ lịch trình, thời gian, tiến độ thực hiện GDGT Thời gian bắt đầu triển khai hoạt động GDGT trong năm học là khi nào, và thời hạn kết thúc sẽ ấn định vào lúc nào thì phù hợp Trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch GDGT, Hiệu trưởng cần tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên hoặc các cộng tác viên GDGT tham gia và phát huy cao nhất tinh thần tự giác, tích cực, để phối hợp cùng nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ GDGT

Bồi dưỡng năng lực giáo dục giới tính cho giáo viên nếu thấy cần thiết, huy động các nguồn lực ngoài trường để tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh

Trang 32

Tạo môi trường giáo dục để thu hút giáo viên và học sinh tham gia tích cực, phát huy vai trò chủ đạo của giáo viên và vai trò tự giác, tích cực, chủ động của học sinh

1.4.2.4 Chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS theo quy định của

Bộ Giáo dục

Trong nhà trường phổ thông, việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính là hoạt động mang tính chất mệnh lệnh, chỉ huy đến các bộ phận thực thi GDGT trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ cụ thể đã được phân công chi tiết trong kế hoạch GDGT để bảo đảm việc giáo giới tính được diễn ra đúng mục đích, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp cao nhất các lực lượng giáo dục để đạt hiệu quả tốt nhất trong quản lý hoạt động GDGT

Việc chỉ đạo giáo dục giới tính sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền của nhà lãnh đạo quản lý và có kỹ năng thuyết phục, tôn trọng, động viên khen thưởng, tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo trong GDGT của họ

Cụ thể việc chỉ đạo triển khai giáo dục giới tính thông qua các môn học, các hình thức giáo dục trong nhà trường như sau:

Thứ nhất, chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua các môn học như: Môn Giáo dục công dân, Sinh học vv,

Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn GV dạy GDCD, Sinh học, Ngữ văn xây dựng nội chương trình cụ thể và tổ chức thực hiện chương trình đã xây dựng thông qua các buổi học chuyên đề, các tiết học tích hợp Chương trình cần bảo đảm các nội dung sau:

Khái niệm chung về giới tính, tâm lý lứa tuổi, sự phát triển ở tuổi dậy thì, sự phát dục và cách vệ sinh cơ thể và vệ sinh bộ phận sinh dục cho học sinh

Giáo dục đạo đức giới tính cho học sinh nam, đạo đức giới tính cho học sinh

nữ, giáo dục nhu cầu giao tiếp với bạn khác giới, nhu cầu tình bạn khác giới, nhu cầu tình dục vv…

Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và cách phòng tránh bệnh lây lan qua đường tình dục, cách phòng tránh lạm dụng tình dục cho học sinh nữ

Giáo dục hành vi văn hóa ứng xử phù hợp với giới và giới tính

Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới, định kiến về giới, phân biệt giới trong xã

Trang 33

hội của Việt Nam hiện nay, trách nhiệm cá nhân, tổ chức xã hội trong thực hiện bình đẳng giới

Giáo dục bảo đảm tính lôgic: Các kiến thức về GDGT phải có mối quan hệ lôgic chặt chẽ với các kiến thức của bài học, tránh việc áp đặt, gắn ghép một cách gượng ép

Giáo dục bảo đảm tính phù hợp (tính vừa sức): Các kiến thức GDGT khi lồng ghép vào bài học phải đảm bảo phù hợp với nhận thức, trình độ, tâm lí lứa tuổi Khi dạy các kiến thức này không nên đi quá sâu vừa làm ảnh hưởng nội dung bài học, vừa kích thích tính tò mò của HS dễ dẫn đến tác dụng ngược

Thứ hai, chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Tổ chức cho HS nghe nói chuyện về các GDGT Người nói chuyện phải là những giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy GDGT, bác sĩ, chuyên gia về tâm lý, Mục đích các buổi nói chuyện là giúp các em nhận biết kiến thức sâu hơn về giới tính

Tổ chức hội thi thuyết trình, hùng biện trong phạm vi toàn trường nhằm tìm ra các tuyên truyền viên tích cực cho công tác này Hội thi này vừa tạo được không khí thi đua, tìm hiểu và sự tham gia của các thành viên trong lớp học nhằm chọn cử đại diện tham gia, vừa rèn cho các em khả năng thuyết trình, phát triển ngôn ngữ nói

Thi sáng tác tranh ảnh, viết văn, thơ, soạn kịch bản đề tài GDGT

Thi văn nghệ: múa hát, đóng kịch, kể chuyện, …

Thi hái hoa dân chủ tìm hiểu về giới tính, tâm lý lứa tuổi…Mỗi hình thức có những ưu điểm và tồn tại khác nhau, khi chỉ đạo, hiệu trưởng cần nhấn mạnh việc lực chọn hình thức nào cho phù hợp với nội dung, với tâm lý HS, với khả năng và điều kiện thực tế của trường, lớp Tất nhiên việc lực chọn phải đảm bảo các tiêu chí

cơ bản như: chuyển tải và khắc sâu được kiến thức, tác dụng GD cao, hấp dẫn và lôi cuốn tất cả HS cùng tham gia

Ngoài các hình thức GD mang đề tài phòng chống ma túy, Hiệu trưởng cũng nên quan tâm chỉ đạo GV và Đoàn, Đội tổ chức các Câu lạc bộ em yêu thích (các môn văn hoá, năng khiếu, thể dục,…), các sân chơi theo các chương trình truyền hình (chiếc nón kì diệu, vượt qua thử thách, rung chuông vàng, ), tìm hiểu khoa học, tìm hiểu văn hóa quê hương, giao lưu văn hoá, văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao, vệ sinh trường lớp, khu dân cư, Những hoạt động này sẽ thu hút sự ham mê,

Trang 34

gắn bó của các em với nhà trường, kích thích sự tìm tòi, hiểu biết, khám phá thế giới của lứa tuổi THCS

Thứ ba, chỉ đạo thực hiện giáo dục giới tính thông qua hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể cho học sinh

Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, trao đổi, thảo luận, phổ biến kinh nghiệm

về phương pháp GDGT cho học sinh; các hình thức tổ chức GD sinh động, có khả năng khắc sâu kiến thức; cách phát hiện và xử lý các tình huống, cá trong quan hệ khác giới; cách khai thác thông tin; cách quản lý thời gian biểu và thực hiện nội quy cũng như nhiệm vụ học tập của HS; cách phối hợp với các lực lượng GD khác,…

Sưu tầm, cung cấp các tài liệu liên quan đến công tác GDGT để GV tự nghiên cứu như: tài liệu cung cấp kiến thức cơ bản về GDGT; các tranh ảnh, băng hình, mẫu vật, biểu bảng, số liệu,… có liên quan; văn bản về chủ trương, đường lối, của ngành GD về công tác GDGT,… Đây là những căn cứ có tính pháp quy, là “cái gậy” chống để GV có đủ cơ sở pháp lý khi thực hiện GDGT trong nhà trường Sau

đó, Hiệu trưởng có thể tổ chức tọa đàm, hoặc yêu cầu GV viết thu hoạch

Thứ tư, chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Không có GV chuyên trách, do các kiến thức GDGT gần gũi với các bộ môn GDCD, Sinh vật và Ngữ văn nên đa số các nhà trường đều giao công tác này cho GV các bộ môn trên hoặc GV chủ nhiệm lớp đảm nhiệm Mặt khác đây là một nội dung

GD mới, tài liệu giảng dạy quá ít, GV lại chưa có nhiều kinh nghiệm cho nên quản lý việc bồi dưỡng, tập huấn CBQL, GV, NV trong trường về GDGT là công việc mà Hiệu trưởng cần quan tâm Việc bồi dưỡng này cần có kế hoạch cụ thể trong từng tháng, từng kỳ và trong cả năm và có thể thực hiện dưới nhiều hình thức như:

Phổ biến các loại văn bản chỉ đạo cấp trên, các văn bản pháp quy của Nhà nước, các tài liệu về công tác GDGT

Mời các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác GDGT (chuyên gia tâm lý, bác sĩ…) về nói chuyện cho GV nhằm giúp GV nâng cao những hiểu biết về GDGT, có thêm kĩ năng GD học sinh phù hợp với lứa tuổi các em

Về thời gian bồi dưỡng, tuỳ theo hoàn cảnh và điều kiện từng trường, Hiệu

Trang 35

trưởng sắp xếp cho phù hợp Với các văn bản chỉ đạo của cấp trên thì Hiệu trưởng cần cập nhật kịp thời nhằm bảo đảm tính thời sự của công tác này

Thứ năm, chỉ đạo phối hợp các lực lượng để giáo dục giới tính cho học sinh THCS Tham gia công tác GDGT cho học sinh không chỉ có GV mà còn rất nhiều

lực lượng GD khác ở trong và ở ngoài nhà trường Lực lượng GD ở trong nhà trường là Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh,… Lực lượng GD ngoài nhà trường bao gồm: gia đình, chính quyền địa phương, công an, Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, y tế, trung tâm văn hóa cộng đồng, Hội chữ thập đỏ, Đoàn thanh niên,…

Để công tác GDGT cho học sinh đạt hiểu quả cao thì khi phối hợp các lực lượng cần thực hiện theo nguyên tắc: cộng tác trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm

vụ, vai trò của nhau, không được làm ảnh hưởng lẫn nhau, vì nhiệm vụ GD chung

1.4.2.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Trong quản lý giáo dục giới tính việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà quản lý giáo dục mà còn có ý nghĩa đối với học sinh Vì qua kiểm tra đánh giá GDGT của giáo viên, từng em học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động GDGT của mình, khẳng định được mình trong sự hiểu biết về GDGT Từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn trong GDGT, biết tự điều chỉnh hành vi, cách xử lý các mối quan hệ

về giới và giới tính của mình cho phù hợp với yêu cầu trong thực tiễn xã hội

Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường, đặc điểm tâm

lý từng lứa tuổi thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan công bằng rõ ràng

Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra giáo dục giới tính thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế bằng hình thức dự giờ, bằng lấy ý kiến phản hồi từ học sinh, kiểm tra giáo án của giáo viên trước khi lên lớp vv…

Kiểm tra các nhiệm vụ quán triệt và tổ chức thực hiện của tổ bộ môn, sinh hoạt chuyên đề, kế hoạch chuyên môn của giáo viên

Kiểm tra công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên, giáo án tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sổ nhật ký chủ nhiệm vv…

Trang 36

1.4.2.6 Quản lý xây dựng môi trường tâm lý, môi trường cơ sở vật chất phục vụ công tác GDGT

Quản lý GDGT thông qua chương trình SGK tài liệu đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Nhà trường có kết hợp với các tổ chức, các lực lượng sư phạm trong nhà trường nhằm thực hiện tốt hoạt động giáo dục giới tính cho các em học sinh, liên tục đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục giới tính, đẩy mạnh hoạt động tự giáo dục của các em học sinh, tích cực xây dựng và cải tạo môi trường giáo dục trong các nhà trường, bồi dưỡng tri thức giới tính và nhân cách cho học sinh, tổ chức các hoạt động phù hợp cho sự phát triển của lứa tuổi học sinh THCS

Quản lý việc tổ chức thực hiện các chuyên đề GDGT như: về tình bạn, tình yêu, tuổi dậy thì, nâng cao hiểu biết về tri thức giới tính cho các em học sinh Nhà trường phải định hướng lối sống lành mạnh cho các em học sinh: giáo dục phòng chống ma túy, nâng cao nhận thức cho các em về tác hại của ma túy, phòng chống căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, phòng chống xâm hại tình dục, trang bị cho các em học sinh những thông tin chính thống, kiến thức, kỹ năng cơ bản về GDGT và phương tiện GDGT, để các em học sinh luôn có nhận thức đúng đắn và đưa ra những quyết định, quan niệm hiểu biết về giới tính, góp phần hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu biết về GDGT

Quản lý việc tổ chức hoạt động của cán bộ GDGT và phòng tư vấn học

đường trong nhà trường: các nhà trường THCS phải nhanh chóng xây dựng và đầu

tư cơ sở vật chất cho phòng tư vấn học đường của trường mình, để kịp thời tư vấn cho các em học sinh những vấn đề về tâm lý, về giới tính, tình bạn, tình yêu, tình dục, giải đáp thắc mắc về lứa tuổi dậy thì một cách hiệu quả nhất Phòng tư vấn học đường cần đặt ở vị trí thuận lợi cho học sinh, bố trí nhân sự có năng lực, trình độ, kỹ năng GDGT, am hiểu về tâm lý giới tính để sẵn sàng chia sẻ, tâm tình, đồng hành cùng các em học sinh nhà trường Nhà lãnh đạo quản lý quản lý tốt hoạt động của phòng tư vấn học đường, tổ chức phong phú các hình thức tư vấn, nội dung tư vấn GDGT phù hợp sẽ góp phần to lớn giải tỏa tâm lý cho các em học sinh, hạn chế những suy nghĩ tiêu cực về GDGT, loại bỏ những biểu hiện lệch lạc về GDGT trong tâm sinh lý của các em học sinh

Trang 37

Quản lý cơ sở vật chất của nhà trường trong hoạt động GDGT: Nhà trường phải đầu tư cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học thiết yếu cho GDGT như: sách, tài liệu, tivi, đầu máy, băng đĩa, tranh ảnh trực quan, phòng học…để đảm bảo cho công tác GDGT cho các em học sinh nhà trường diễn ra trong điều kiện thuận lợi nhất Giáo viên tham gia giảng dạy GDGT phải biết ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy GDGT, để cho học sinh hứng thú với bài giảng với các nội dung GDGT Giáo viên có thể sử dụng các phần mềm tiện ích giáo dục trên máy tính, trình chiếu để lồng ghép các đoạn video, phim ảnh minh họa về giới tính, lồng ghép các mô hình đạo cụ trực quan sinh động về GDGT vào nội dung giảng dạy, từ đó người giáo viên giáo dục cho các em học sinh trách nhiệm đối với việc học tập các

kỹ năng GDGT và rèn luyện của học sinh, phòng tránh những hậu quả đáng tiếc xảy

ra từ sự thiếu hiểu biết về giới và giới tính

Quản lý việc phối hợp GDGT với hội PHHS: Thông qua các hoạt động tư vấn, giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội PHHS về công tác GDGT, nhà trường sẽ phối hợp với hội PHHS để thông qua đó hướng dẫn, giúp đỡ các em học sinh tìm hiểu được nhiều hơn các kiến thức về giới và giới tính, từ đó giúp các

em học sinh phát triển giới tính đúng hướng, chủ động trong tình cảm, trong tình bạn và tình yêu, trong quan hệ giới tính Cha mẹ học sinh phải là “người bạn lớn”,

“người bạn đồng hành” cùng với con trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, giúp con

em mình có một vốn kiến thức phong phú về GDGT và trưởng thành một cách khỏe mạnh, trong sáng

Quản lý việc học, tự bồi dưỡng, tự giáo dục giới tính của các em học sinh: Qua các nội dung GDGT được nhà trường, gia đình…cung cấp, các em học sinh phải luôn có ý thức tự bồi dưỡng, tự tìm hiểu kiến thức về giới tính một cách khoa học, để từ đó tự hoàn thiện nhân cách của chính bản thân mình

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS

1.5.1 Nhận thức về giáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính

Về tâm sinh lý học sinh

Học sinh THCS là lứa tuổi mới lớn - vị thành niên, ở giai đoạn này các em

Trang 38

học sinh đang cơ sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm sinh lý Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em sang xu hướng phát triển thành người lớn - người trưởng thành Nên phần lớn các em đều có xu hướng tự khẳng định bản thân mình, có ý thức vươn lên làm chủ cuộc sống và làm chủ bản thân Ở giai đoạn này của các em học sinh, sự chỉ bảo, dạy dỗ, kiểm tra, kiểm soát, quản lý sát sao của người lớn (trong đó có cha mẹ và các thầy cô giáo) luôn làm các em học sinh tỏ ra khó chịu, đôi khi các em lại có biểu hiện của tâm lý chống đối Đây cũng là giai đoạn các em học sinh rất hay mơ mộng, thích nghiên cứu tìm tòi, khám phá phát hiện những điều chưa biết, những vấn đề mới mẻ của cuộc sống thường ngày

Đồng thời, ở lứa tuổi này các em cũng muốn vượt ra khỏi sự ràng buộc, chăm sóc của cha mẹ Mặt khác, ở lứa tuổi này, nhu cầu giao tiếp của các em rất lớn đặc biệt là sự giao tiếp với bạn bè khác giới Từ đó mà hình thành lên các nhóm bạn cùng sở thích, khi không có sự hướng dẫn kèm cặp của người lớn thường dẫn đến những nhận thức lệch lạc về lối sống, hành vi, quan hệ với bạn khác giới

Về phía gia đình

Hiện nay, đại đa số các gia đình đều nghiêm túc thực hiện chính sách dân số nên sinh ít con, điều kiện kinh tế của nhiều gia đình lại phát triển, nên dẫn đến một số gia đình đã nuông chiều con một cách thái quá so với bạn bè cùng trang lứa Nhiều cha mẹ

do nhận thức lệch lạc, không có tri thức về giáo dục con cái, đặc biệt là kiến thức về giáo dục giới tính, hoặc là còn e ngại, xấu hổ khi đề cập đến vấn đề giáo dục giới tính cho con trẻ Tất cả những cái đó đã tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh trong quan hệ với bạn bè và người khác giới

Về phía nhà trường

GDGT hiện nay chưa được coi là môn học chính thức trong các nhà trường

mà chủ yếu vẫn được lồng ghép ở các môn giáo dục kỹ năng sống, giáo dục công dân, sinh học… Hình thức giáo dục thì khô cứng, giáo điều, mang tính hàn lâm thiếu hấp hấp dẫn, thực trạng giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục giới tính không có kiến thức đầy đủ về giới tính, thậm chí còn đỏ mặt khi nói về những bộ phận sinh sản là khá phổ biến

Nguồn tài chính, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục giới tính là điều kiện cần

Trang 39

thiết cho tổ chức hoạt động giáo dục giới tính nếu các hoạt động giáo dục giới tính chưa được đầu tư một cách thỏa đáng trong các nhà trường thì hiệu quả giáo dục giới tính sẽ không cao, nếu nguồn tài chính dồi dào sẽ là cơ sở, động lực tổ chức có hiệu quả giáo dục giới tính trong các nhà trường

1.5.2 Năng lực chuyên môn của giáo viên và cán bộ quản lý

Một số cán bộ quản lý và giáo viên thường có những định kiến, ngại ngùng khi đề cập về vấn đề giới tính trong nhà trường, một số thầy cô cho là việc giáo dục giới tính là việc của tự nhiên, cứ từ từ lớn lên rồi học sinh, không những thế một số nhà quản lý còn sử dụng các biện pháp hành chính thái quá; sự lạm dụng quyền lực của các thầy cô giáo, nhà quản lý; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không công bằng; không xem xét vấn đề tình yêu, tình dục của vị thành niên một cách nghiêm túc, sự phối hợp giáo dục sư phạm giữa các tổ chức khác trong nhà trường không thống nhất; sự phối hợp không đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục giới tính cho học sinh

1.5.3 Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông

Sự ra đời của công nghệ thông tin là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của giáo dục Công nghệ thông tin và đặc biệt là sự phát triển của internet mở ra một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và người dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy Công nghệ thông tin thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy Với sự phát triển khoa học và công nghệ hiện nay, các em học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin văn hoá, khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới nên nhìn chung các em học sinh phát triển nhanh về nhiều mặt, có những hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội

Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông lại gây ra nhiều mặt trái đang báo động trong xã hội Hiện nay, có nhiều trang web đưa những

Trang 40

tin tức, hình ảnh, video clip đồi trụy, thậm chí đưa hình ảnh của chính bản thân lên mạng để tìm kiếm đối tượng kết bạn tình gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống của thanh niên, học sinh, thậm chí đem lại những ý tưởng lệch lạc với những hậu quả khó lường Cá em học sinh nghiện mạng online có những biểu hiện như xanh xao do thiếu ngủ, học lực yếu, sức khỏe kém sút, bị ảo tưởng …và nhiều em còn có hành vi bạo lực khi bắt chước các trò chơi trong các trò chơi game trên mạng, trong

đó có cả game “tình dục” Gần đây cũng có một số game thủ bị hoang tưởng đã chết

do tự sát trong tình trạng mất kiểm soát Đó là chứng bệnh tâm thần phân liệt thường hoang tưởng, bệnh trầm cảm Không chỉ game bạo lực, hiện nay đang xuất hiện nhiều Game những hình ảnh nhân vật ăn mặc “mát mẻ”, “nghèo nàn” Đây là vấn đề cảnh báo cho toàn xã hội cần can thiệp và ngăn chặn kịp thời vì tuổi trẻ hôm nay và mai sau, vì cuộc sống phát triển lành mạnh của chính các em học sinh

Vì vậy, nhiệm vụ của các thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác phải kịp thời nắm bắt được tình hình học sinh và con em của mình, hướng các em vào sử dụng Internet cần tiếp thu thông tin có chọn lọc và cảnh giác trước những thông tin xấu Nâng cao nhận thức đúng đắn cho các em học sinh về tính hai mặt của công nghệ thông tin để các em biết sàng lọc thông tin, biết khai thác và sử dụng thông tinh đúng và chuẩn xác phục vụ cho GDGT của bản thân các em

1.5.4 Các yếu tố về văn hóa và phong tục tập quán

Giáo dục giới tính không là một khái niệm mới trong xã hội Việt Nam, nhưng vẫn chưa được đồng bộ từ gia đình đến nhà trường và xã hội Nguyên nhân chính là giáo dục giới tính vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các yếu tố văn hóa

và phong tục tập quán

Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng bởi tâm lý phương Đông nên luôn né tránh vấn đề GD giới tính cho trẻ một cách tường tận Cha mẹ lo lắng, e sợ nói chuyện tâm lý sớm sẽ khuyến khích cho trẻ có tính tò mò nên các nội dung GD giới tính thường bị gạt ra trong sinh hoạt gia đình Vì vậy, yếu tố này chiếm 58,3% trong các yếu tố ảnh hưởng đến GD giới tính cho trẻ vị thành niên, nhất là trong lứa tuổi học sinh THCS

Ngày đăng: 23/12/2020, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w