Về phương diện nghiên cứu, đối mặt với tình hình nói trên, trong những năm qua,một số công trình lý luận về bản sắc văn hóa các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng với nhữngvấn đề có liên quan như
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ TÂM
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận án là trung thực Những kết luận nêu trong luận án chưa công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào.
Tác giả
Lê Thị Tâm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5 1.1 Những công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc 51.2 Những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởNam Bộ và Sóc Trăng 191.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và nhữngvấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 29Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮCVĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH SÓC TRĂNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY35
2.1 Về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 352.2 Về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 462.3 Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc ở Nam Bộ 56Chương 3 BẢN SẮC VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH SÓC TRĂNG THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 773.1 Nhận diện bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng 773.2 Thực trạng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng 1003.3 Những vấn đề đặt ra trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởtỉnh Sóc Trăng hiện nay 116Chương 4 NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY 1244.1 Quan điểm cơ bản nhằm giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay 1244.2 Giải pháp về kinh tế - xã hội nhằm giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởtỉnh Sóc Trăng hiện nay 127KẾT LUẬN 147DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bản sắc văn hóa dân tộc là sự tập hợp của những nét đặc thù, độc đáo của mỗidân tộc; tính chất thiêng liêng, cao quý của bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện ở đó Bảnsắc văn hóa nào cũng được được hình thành trong những giai đoạn nhất định của lịch
sử dân tộc, và do vậy thường được các thế hệ đi trước lưu truyền cho các thế hệ tiếptheo Với Việt Nam, qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu
có ý nghĩa to lớn và quan trọng, trong đó, bản sắc văn hóa dân tộc được khơi dậy, giữgìn và đang ngày càng phát huy giá trị to lớn của nó đối với sự phát triển đất nước.Thực tế nhiều quốc gia cho thấy, để phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước,nhân tố thúc đẩy hoàn toàn không chỉ dựa vào yếu tố kinh tế mà cần có sự kết hợp tácđộng biện chứng, hài hòa của nhiều yếu tố, trong đó văn hóa là một trong những thànhphần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia Muốn phát triển bền vững, cầngắn kết chặt chẽ, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Phát triểnbền vững văn hóa, xã hội; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triểnvăn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”[33, tr.299]
Từ góc độ triết học có thể thấy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc chính là giữ gìnnhững thế mạnh, những nét độc đáo, đặc sắc… của văn hóa, nhưng không chỉ có thế,giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc còn là giữ gìn những giá trị cốt lõi làm nên sức sốngcủa một dân tộc - điều tạo nên lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc Việt Nam là mộtquốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thốngnhất trong sự đa dạng của 54 nền văn hóa dân tộc Với tính cách là tổng thể những giátrị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong lịch sử lâu dài, sự khác biệt
về dân cư, địa hình, khí hậu, phương thức sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôngiáo… tạo nên những nét văn hóa riêng biệt của mỗi địa phương
Sóc Trăng là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có dân số và diện tíchđứng thứ 6 ở Đồng bằng sông Cửu Long Nơi đây, cộng đồng các dân tộc Kinh, Hoa,Khmer đã lựa chọn để khai hoang, lập ấp, cư trú, tồn tại và phát triển tạo ra nhiều nétđộc đáo và riêng biệt, làm giàu cho lịch sử vùng đất này
Trang 6Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế, do không được chú ý giữ gìn đúng mức,hoặc do không đứng vững trước sự tấn công ồ ạt của các hiện tượng văn hóa mới, nhiềunét văn hóa của các dân tộc nơi đây đang có nguy cơ bị mai một Làm thế nào để giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc một cách có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị, lành mạnh xã hội…đó là vấn đề đangđược đặt ra một cách cấp thiết ở Sóc Trăng hiện nay Những vấn đề nêu trên, trên thực tế
đã và đang được các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể và các tầng lớp nhân dân cácdân tộc quan tâm, có kế sách giải quyết Tuy vậy, những gì làm được thực ra vẫn là quánhỏ bé so với đòi hỏi gay gắt, khách quan và chính đáng từ thực tế Việc giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc trên phạm vi cả nước nói chung và ở tỉnh Sóc Trăng nóiriêng, do vậy, vẫn đang là một vấn đề hết sức cấp thiết
Về phương diện nghiên cứu, đối mặt với tình hình nói trên, trong những năm qua,một số công trình lý luận về bản sắc văn hóa các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng với nhữngvấn đề có liên quan như đánh giá các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị cốt lõi vàbản sắc… của văn hóa tỉnh Sóc Trăng đã được nghiên cứu và một số đã được công bố.Tuy vậy, chưa có một công trình khoa học nào đi sâu, nghiên cứu một cách chi tiết vềbản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay, nhất là từ góc độ triết học
Xuất phát từ thực tế nêu trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm luận án tiến sĩ.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Xác định những yếu tố cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc
Trăng Nghiên cứu thực trạng và trên cơ sở đó, đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm
giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong quá trình phát triển
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Tổng quan những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về văn hóa và bản sắc vănhóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa về những nét đặc thù và bản sắc văn hóa dântộc ở tỉnh Sóc Trăng truyền thống và hiện nay
- Hệ thống hóa, làm rõ những nội dung lý luận để xây dựng khung lý thuyết chonghiên cứu thực tiễn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc trăng
Trang 7- Nghiên cứu, xác định giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởtỉnh Sóc Trăng và phát hiện những vấn đề cấp bách của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong quá trình phát triển hiện nay
- Đề xuất quan điểm các giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong quá trình phát triển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tỉnh Sóc Trăng được luận án nghiên cứu chủ yếu từ khi đổi mới (cuối những năm 80) đến nay
- Không gian nghiên cứu: các địa phương tại tỉnh Sóc Trăng
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
-Luận án cũng sử dụng các Báo cáo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng,các công trình nghiên cứu ngoài triết học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phù hợp với phương pháp luận biện chứng duy vật, luận án sử dụng các phươngpháp logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp… để trình bày và phân tích, luận giải triết học
về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 8Bên cạnh việc nghiên cứu định tính, phân tích và khái quát lý luận, luận án cũngchú ý sử dụng các tài liệu văn hóa học, các dữ liệu và số liệu nghiên cứu của các báocáo chuyên môn của các ban, ngành, đoàn thể các cấp ở Trung ương và tỉnh Sóc Trăng,các nghiên cứu định lượng về văn hóa Sóc Trăng.
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án phân tích và đánh giá được thực trạng văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong thời gian qua.
Thứ hai, xác định được bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc tỉnh Sóc Trăng trên
cơ sở làm rõ đặc thù của văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng Phát hiện được những vấn
đề của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng
Thứ ba, luận án đề xuất được một số quan điểm và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lý luận, luận án hệ thống hóa và phân tích chi tiết những nội dung và những
vấn đề của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án cung cấp thêm nguồn tư liệu cho các cấp chính quyền tỉnh Sóc Trăng những tư liệu và căn cứ khoa học để quản lý và hoạch định
chính sách về văn hóa và phát triển
Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu, giảng dạy về vấn đề triết học, văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Luận án có 4 chương và 11 tiết:Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
ở tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 4: Những quan điểm và giải pháp nhằm giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
Trong những thập kỷ gần đây, trước xu thế phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa,
hội nhập quốc tế, đề tài văn hóa, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc đã thu hút
sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều chuyên gia, học giả, các nhà hoạch định chính sách,các tổ chức quốc tế, và nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau về đề tài này và đã được công bố Tiêu biểu trong số đó có các công trình sau:
Việt Nam văn hóa sử cương do Quan Hải tùng thư ấn hành năm 1938, của Đào Duy Anh là một trong những nghiên cứu sớm nhất về văn hóa Việt Nam Trong tác
phẩm, Đào Duy Anh đã nghiên cứu và trình bày hệ thống cả hai mảng văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần của người Việt từ thời cổ đến hiện đại Ngay cả cách minh định
“Văn hóa tức là sinh hoạt” ở cuốn sách này cũng cho thấy học giả Đào Duy Anh nhìn văn hóa ở thể động, không bó buộc, không khô cứng.
Tác giả Trần Ngọc Thêm, trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996), với cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc nhằm xác địnhnhững đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam Không lấy văn hóa nước ngoài làm tiêuchuẩn cho bảng giá trị của bản sắc văn hóa Việt Nam Cuốn sách được xem xét theo các thành
tố, nhưng trong mỗi thành tố, mỗi bộ phận của thành tố lại chú trọng đến tính lịch đại của nó
Trong tác phẩm, tác giả đã định nghĩa: “…Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sựtương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[119, tr.27]
Ở những phần sau tác giả có cái nhìn khá hệ thống, đi từ nhận thức về văn hóa (bản chất vũtrụ, triết lý âm dương…triết lý về thời gian của vũ trụ, về nhận thức của con người), đếnphân tích văn hóa tổ chức cộng đồng trên cơ sở văn hóa tập thể (tổ chức nông thôn, quốcgia, đô thị) và văn hóa cá nhân (tín ngưỡng, phong tục, văn hóa giao tiếp và nghệ thuậtngôn từ), trong các phạm trù cổ truyền - hiện đại, thì hiển nhiên cái hiện đại là quan trọng.Nhưng cái cổ truyền cũng quan trọng không kém, bởi không hiểu rõ quá khứ thì sẽ không
có cách ứng xử đúng với tương lai Trong cuốn sách, các tác giả đã nêu và phân tích các
Trang 10khái niệm văn hiến, văn minh về hình thái và mô hình văn hóa theo cách nhìn truyền thống vàhiện đại, những thành tố cơ bản của văn hóa, các chức năng và cấu trúc của văn hóa.v.v
Công trình Các câu hỏi về bản sắc văn hóa của Stuart Hall và Paul Du Gay, (Nxb
SAGE, Anh năm 1996) Các tác giả phân tích, lý giải vấn đề bản sắc văn hóa của cácdân tộc, chủng tộc, giai cấp trong xã hội hiện đại đang bị suy giảm; các hình thức đểnhận dạng và phân biệt giữa hiện đại và bản sắc văn hóa của các dân tộc, chủng tộc,giai cấp trong thời đại hiện nay
Tác giả Jonathan Friedman trong tác phẩm Bản sắc văn hoá và quá trình toàn cầu, (Khoa Nhân học xuất bản tại Đại học Teessude, năm 1994) Trong tác phẩm, tác
giả đã phân tích mối quan hệ giữa các quá trình toàn cầu và bản sắc của nền văn hóa;phân tích mối quan hệ giữa toàn cầu và văn hóa các địa phương
Tác giả Thomas L.Friedman trong tác phẩm Dân tộc và ranh giới (Nhà xuất bản
Trẻ 2014) Trong tác phẩm, vấn đề dân tộc tộc người được Thomas L.Friedman xemnhư là đơn vị mang văn hóa Thomas L.Friedman tập trung vào khía cạnh mang vănhóa, việc phân loại người và nhóm địa phương là thành viên của một nhóm dân tộcphải phụ thuộc vào việc họ thể hiện những đặc điểm cụ thể nào của văn hóa? nghĩa làphải có bản sắc riêng biệt Ngoài ra, Thomas L.Friedman còn nghiên cứu về Văn hóatiếp xúc và thay đổi về dân tộc và tiến hóa văn hóa
Công trình “Chính sách ngôn ngữ, văn hóa và bản sắc trong bối cảnh Châu Á”
của Amy B M Tsui và James W Tollefson (Xuất bản tại Routledge, Hoa Kỳ, 2007).Các tác giả đã phân tích vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa của các dân tộc trong bốicảnh thay đổi chính trị - xã hội ở Châu Á
Tác giả Peter Wallace Preston trong tác phẩm Chính trị, bản sắc văn hoá: Công dân và quốc gia trong một kỷ nguyên toàn cầu, (Nhà xuất bản Biddles, Anh năm 1997) Thông qua tác phẩm, tác giả đã phân tích tổng quan về bản sắc văn hóa trong
bối cảnh thay đổi về chính trị trong kỷ nguyên toàn cầu; chỉ ra sự đa dạng của văn hóatrong một môi trường toàn cầu đang thay đổi
Khi chúng ta hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường, vấn đề bản sắc văn hóa dântộc và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đã được đề cập trong các văn kiện, nghị quyết củaĐảng, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa
Trang 11học, các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa và khoa học trên cả nước Cho đến nay,nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài này đã được công bố Có thể khái quátcác công trình tiêu biểu trong số đó theo các chủ đề chính như sau:
Lý luận chung về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam:
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượngnền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với pháttriển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”[24,tr.54-55] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đượcthông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991), đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đàbản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, pháttriển năm 2011) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Văn kiện Đại hội XI đã xác định: “Xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong
đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kếtchặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc,sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”[32, tr.46-47] Hội nghị Trung ương 9 khóa
XI (tháng 5-2014), đã nhất trí ban hành nghị quyết mới về: “Xây dựng và phát triển văn
hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Tại Đại hội XII
của Đảng, khi nói về phát triển văn hóa và con người Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh việc xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tạođiều kiện để xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn; cao về trítuệ, năng lực, kỹ năng sáng tạo; khoẻ về thể chất; nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụcông dân, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật
Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài viết Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống
bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc (Tạp chí Triết học, số 4, năm 1998), đã chỉ ra
giá trị truyền thống là cốt lõi, là sức sống bên trong của một dân tộc cho dù có bị xâm lấn
Trang 12bởi văn hóa ngoại lai thì văn hóa dân tộc vẫn được gìn giữ và trường tồn cùng dân tộc.Bài viết đã kiến giải sâu sắc về giá trị văn hóa truyền thống, về bản sắc văn hóa và sứcsống mãnh liệt, trường tồn của văn hóa trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập.
Tác giả Liêu Trần Tiêu trong bài viết Giữ gìn và phát huy bản lĩnh, bản sắc dân tộc
của văn hóa (Tạp chí Di sản Văn hóa số 01, năm 2002), đã đưa ra các khái niệm đồng
nghĩa về bản sắc văn hóa của dân tộc như: “Bản sắc dân tộc”, “Bản lĩnh dân tộc”, “Màu
sắc dân tộc”, “ Sắc thái dân tộc”,“ Bản sắc dân tộc của văn hóa”, “Bản sắc văn hóa của dân tộc” Bản sắc dân tộc gắn với văn hoá và thường được biểu hiện thông qua văn hóa,
nên cũng có thể coi là bản sắc dân tộc của văn hóa Từ đó, tác giả đư ra khái niệm về bảnsắc văn hóa của dân tộc, cũng như những biểu hiện của bản sắc văn hóa của dân tộc như ýthức về cội nguồn, sự gắn kết cộng đồng, lòng khoan dung, khả năng thích ứng, sự khiêmnhường, giản dị.v.v Trong bài viết, tác giả cũng dẫn chứng về lòng yêu nước của nhândân ta thông qua các áng văn bất hủ như Nam quốc sơn hà nam đế cư, Hịch tướng sĩ haythông qua các tác phẩm của đồng chí Phạm Văn Đồng Sự gắn kết Nhà - Làng - Nước làmột cấu trúc cần được phát huy vì đây là nguồn cội của tư tưởng cộng đồng, yêu thương,
đùm bọc, hòa hợp với nhau “nước mất, nhà tan” Lòng nhân ái, khoan dung trọng nghĩa
tình là nền tảng của giá trị văn hóa Việt Nam, được thể hiện ở quan niệm về vai trò của
con người như: “Ở hiền gặp lành”; “Con dại cái mang”; “Phúc đức tại mẫu” Bản sắc dân tộc còn là tư tưởng sống nhân nghĩa, thủy chung: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả
nhớ kẻ trồng cây” là đạo lý của người Việt Nam Ngoài ra, bản sắc văn hóa dân tộc còn
đậm nét trong các hình thức biểu hiện độc đáo ở cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, ănuống, trang phục, trong nghệ thuật kiến trúc, ca dao, dân ca.v.v Tất cả những nét độc đáo
đó tuy không kỳ vĩ, lớn lao nhưng đều chứa đựng trí tuệ sâu sắc, tinh thần tự cường vớibản lĩnh và bản sắc riêng của dân tộc mình
Tác giả Hồ Sĩ Vịnh trong bài viết Bản sắc dân tộc và sự giao lưu hội nhập văn hóa.
(Tạp chí Cộng sản số 23, tháng 8-2002), đã phân tích bản sắc dân tộc ở nhiều góc độ khácnhau từ phạm trù rộng, bao quát tới kết quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nướccủa một cộng đồng người Bản sắc dân tộc còn được chú ý đến thông qua hai bình diện đờisống tinh thần và bản sắc dân tộc Bản sắc dân tộc thường trùng khít với bản sắc văn hóa dântộc Bởi vì, văn hóa có nội hàm rộng bao trùm các lĩnh vực của đời sống xã hội Ở đâu
Trang 13có con người là ở đó có văn hóa Tác giả cũng khẳng định bản sắc ở cấp độ dân tộc và sắcthái địa phương không thể là phạm trù bất biến mà là một phạm trù động, mở Bản sắc dântộc lần theo dấu chân lịch sử là quá trình đối kháng và đồng hóa, tuy nhiên bên cạnh sựđồng hóa chúng ta cũng có những yếu tố văn hóa của riêng mình thể hiện sự tự tôn, tựcường của dân tộc Trong bài viết tác giả nhận định các dòng chảy văn hóa như những đợtsóng ùa vào thị trường văn hóa dân tộc là không thể cưỡng lại được! Vậy, chúng ta phảilàm thế nào để văn hóa vừa đậm đà bản sắc vừa cởi mở, giao lưu? Tác giả đã nêu lên cácluận điểm như: văn hóa Việt Nam phải gắn với chủ nghĩa Mác - Lênin; văn hóa tiên tiến
là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội…Bài viết là cơ sở khoa học để nghiên cứu sinh tiếp tục phát triển trong luận án “ Giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay”.
Tác giả Mai Hải Oanh trong bài viết Toàn cầu hóa kinh tế và xây dựng nền văn hóa
dân tộc (Tạp chí Cộng sản số 690 tháng 9-2003), luận chứng: toàn cầu hóa là xu thế của
thế giới đương đại, lấy các quốc gia phát triển, các công ty xuyên quốc gia làm động lực
chủ yếu Xu thế toàn cầu hóa như làn sóng bao trùm toàn thế giới và ảnh hưởng tới nhiềulĩnh vực trong đời sống xã hội, trong đó có văn hóa Toàn cầu hóa góp phần tạo ra sự đadạng của văn hóa nhân loại Nó phản ánh sự đa dạng, đa sắc màu độc đáo của văn hóa, sựgặp gỡ này sẽ tạo ra sự đa sắc màu của văn minh nhân loại Nhưng mặt khác, theo tác giả,
do áp lực từ nhiều phía một số quốc gia chỉ chú ý đến vấn đề đổi mới mà có phần xem nhẹnhững di sản văn hóa truyền thống đặc biệt ở các nước xã hội chủ nghĩa, nó thông qua conđường “diễn biến hòa bình”; “tự diễn biến về văn hóa”… sự thẩm thấu này có thể côngphá mạnh mẽ về lối sống, nhân cách rồi đến tư tưởng, chính trị Về khía cạnh văn hóa, tácgiả cho rằng: “diễn biến hòa bình” thẩm thấu vào các giá trị xã hội, vào lối sống khiến conngười chạy theo lợi ích vật chất, khô cạn tình người, quay lưng lại với giá trị truyền thống
mà quên đi tấm “căn cước văn hóa dân tộc” Tác giả cũng nhấn mạnh, văn hóa chịu sự
chế ước của kinh tế và chính trị Do đó, gương mặt xã hội là sự nhất thể hóa của kinh tế văn hóa - chính trị Do vậy, ở Việt Nam xây dựng, phát triển văn hóa dân tộc, giữ vữngđộc lập dân tộc không có nghĩa là lệ thuộc vào các dân tộc khác, cũng không có nghĩa là
-chúng ta“bế quan tỏa cảng về văn hóa” Bên cạnh quá trình kế thừa còn có vấn đề tích lũy, giữ gìn, tiếp nhận các hệ giá trị văn hóa từ bên ngoài.
Trang 14Tác giả Nguyễn Khoa Điềm trong bài viết Đề cương văn hóa Việt Nam với sự
nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Tạp chí
Cộng sản số 690 tháng 9-2003), nhận định: Đảng ta luôn giành sự quan tâm đặc biệt đối
với công tác văn hóa, văn nghệ Bởi lẽ trong thời điểm đó, nhân dân ta đang sống trongngột ngạt dưới sự cai trị và bóc lột của phát xít Nhật và thực dân Pháp, một bộ phận tríthức lại hoang mang giao động Bản Đề cương văn hóa Việt Nam ra đời, đã nói lên tầmvóc chính trị tư tưởng sâu sắc của một chính đảng của giai cấp công nhân Lần đầu tiên,Đảng ta công bố quan niệm của mình về văn hóa theo quan điểm Mác - xít và đã có sứclan tỏa mạnh mẽ Hơn 70 qua, đường lối và quan điểm không ngừng được bổ sung và
hoàn thiện, với sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) “Về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã đi vào đời
sống, tạo ra sự chuyển biến nhận thức về vai trò của văn hóa Nhận xét về những đóng
góp của Đề cương văn hóa Việt Nam tác giả khẳng định: cho tới nay những đóng góp của
Đề cương văn hóa Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn,vững vàng để triển khai nhiệm vụ văn hóa trước thời cơ và thách thức hiện nay
Tác giả Trần Quốc Vượng trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã đề cập đến các
khái niệm cơ bản về văn hóa, cấu trúc và diễn trình lịch sử, không gian của văn hóaViệt Nam Tác giả nêu lên:
Sự hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam cũng khẳng định sự tồn tại của tínhcách dân tộc Việt Nam và tâm lí dân tộc; giá trị tinh thần tính cách dân tộcViệt Nam mà điển hình là tinh thần yêu nước kiên cường gắn bó với quêhương xứ sở, cụ thể là với làng, nước, với nhà, làm tế bào chung; ý thức sâusắc về bản ngã, tinh thần cố kết cộng đồng; cần cù, chịu thương, chịu khó,giỏi chịu đựng gian khổ, tình nghĩa; ứng xử linh hoạt mềm dẻo, dễ thíchnghi, hội nhập…[139, tr.15]
Tác giả Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam phân tích khái niệm
văn hóa và bản sắc văn hóa; cách tiếp cận một nền văn hóa cụ thể là văn hóa ViệtNam; bản sắc văn hóa Việt Nam là gì? văn hóa Việt Nam khác văn hóa Trung Hoa,văn hóa Pháp, văn hóa Mỹ ở những điểm nào? Phan Ngọc định nghĩa:
Trang 15Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay mộttộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này
mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhấtchứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiệnthành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựachọn của các cá nhân hay tộc người khác[103, tr.20]
Trong cuốn sách tác giả đã phân tích, đưa ra quan điểm để bảo vệ văn hóa ViệtNam trong quá trình giao lưu, hội nhập như: cách phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúcvăn hóa hiện nay, ưu thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn kinh tế thị trường những phân tích trên vô cùng quý giá, tạo cơ sở bảo vệ văn hóa Việt Nam trong quá
trình giao lưu hội nhập và, như lời tác giả: “Hy vọng những cố gắng tìm hiểu chính mình khá nghiêm túc suốt một đời sẽ giúp các bạn hiểu được chính các bạn”.
Tác giả Nguyễn Đình Tường trong bài viết Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa (Tạp chí Triết học, số 5 , tháng
5 - 2006), có những luận giải: trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hoá đã trở thành xu thế
khách quan, có tác động mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà còn ở các lĩnh vựcchính trị, xã hội và văn hoá Do vậy, văn hoá Việt Nam có cơ hội để hội nhập và giao lưuvới các nền văn hoá khác của thế giới, để làm giàu và khẳng định bản sắc của mình Song,hơn lúc nào hết, đây cũng là giai đoạn mà các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộcphải đối diện với những tác động tiêu cực rất lớn Vì vậy, đối với Việt Nam, việc nhậnthức rõ hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc
Thông qua bài viết, tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm góp phần xây dựngchiến lược giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống ở nước ta hiện nay như: tăng cườnggiáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộc cho các thế hệ trẻ;giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống phải luôn gắn liền với tăng cường giáo dụcpháp luật; xác lập bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Ở một khía cạnh khác, tác giả Phạm Duy Đức trong cuốn Phát triển văn hóa Việt
Nam giai đoạn 2011-2020 - Những vấn đề phương pháp luận (Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2010), đây là một trong những kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài khoa
Trang 16học cấp nhà nước về Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Cuốn sách có độdày hơn 300 trang, nghiên cứu những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, những quan điểm chỉ đạo cơ bản và nhiệm vụ xây dựng nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng và phát triển văn hóa Việt Namtrong những năm 2006 - 2010 Từ việc nghiên cứu những vấn đề này, các tác giả nêu lêntầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc là một yêu cầu cần thiết trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và hội nhập quốc tế Phương hướng phát triển này vừa giữ gìn và phát huy được bảnsắc và bản lĩnh văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để phát triểnkhông ngừng, đạt tới trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và thế giới Mặt khác,các tác giả cũng đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý vănhóa của Đảng và Nhà nước; chỉ rõ các mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực phát triểnkinh tế - xã hội; xây dựng văn hóa chính trị; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng vàgiải pháp có tính chất đột phá để phát triển nền văn hóa dân tộc trong thập kỷ tới Nhữngnội dung sau, tác giả đã nêu lên để xây dựng thành công nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, Đảng ta đã chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể Từ đó, các tác giả nêu lên những kếtquả của việc xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm 1986-2005, chủ trương tiếptục xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trongnhững năm 2006-2010, những thành tựu lý luận của Đảng về xây dựng và phát triển nềnvăn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ vừa qua cần được kếthừa và phát huy trong giai đoạn mới, giai đoạn 2011-2020
Cuốn sách Văn hóa Việt Nam giàu bản sắc do tác giả Nguyễn Đắc Hưng sưu tầm
và biên soạn, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010), tác giả đã giới thiệu những
lễ hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa giàu bản sắc của từng dân tộc, tạonên nét riêng biệt của nền văn hóa Việt Nam
Trong cuốn Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, của Trần Văn Giàu
(Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, tái bản 2011) Tác giả đã nghiên cứu và đưa ranhững kiến giải sâu sắc về các giá trị truyền thống, đặc thù của dân tộc Việt Nam Cuốn sáchđược chia làm 11 chương và được tác giả luận giải cụ thể về các khái niệm giá trị tinh thầntruyền thống của dân tộc, ảnh hưởng của lịch sử đối với việc phát triển các giá trị
Trang 17truyền thống, những đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần
cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa Các phạm trù được trình bày
một cách có hệ thống và khoa học với ý nghĩa giống như một “bảng giá trị tinh thần”
của người Việt Nam Những giá trị tốt đẹp trên, theo tác giả, giá trị truyền thống đãđược định hình ngay từ thời lập quốc và phát triển độc lập, không bị các yếu tố ngoạibang đồng hóa Cũng trong tác phẩm này, tác giả đã nhắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh -Con người kết tinh mọi giá trị truyền thống của dân tộc và sự kết hợp những giá trị caođẹp của nhân loại Bằng lời văn khúc triết, mạch lạc, với nền tảng kiến thức uyênbác… tác giả đã làm sáng tỏ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Namtrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Tác giả Trần Thị Minh trong cuốn Phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần
của xã hội, đã luận giải sâu sắc về phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã
hội, cuốn sách được chia làm ba chương Trong chương 1, tác giả phân tích cụ thể từngkhái niệm như: khái niệm văn hóa, khái niệm nền tảng tinh thần của xã hội Tác giả đãđịnh nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra nhằmmục đích phát triển bản thân con người và xã hội”[93, tr.22]; ở những nội dung sau, tácgiả nêu lên sự cần thiết phải phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội,thực trạng phát triển văn hóa cũng như những phương hướng và giải pháp phát triển nềnvăn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay Cuốn sách giúpngười đọc tiếp cận một cách đầy đủ về phát triển văn hóa, với tư cách nền tảng tinh thầncủa xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, để giải quyếtnhững mâu thuẫn ấy, từng bước xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc cần phải có thời gian lâu dài và cần sự chung sức của toàn xã hội.Tác giả Trần Quang Phúc trong cuốn Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (Nhà xuất bảnLao Động Xã Hội, năm 2013) Đã nghiên cứu và đưa ra những kiến giải sâu sắc về các giá trịtruyền thống, đặc thù của dân tộc Việt Nam Theo Trần Quang Phúc, văn hóa khắc họa bảnsắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng Từ
đó, có thể khẳng định, văn hóa mang bản sắc dân tộc Và, yếu tố dân tộc là yếu tố quyết địnhnhất của một nền văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc là cái “hồn”, là sức sống nội sinh, là cáithẻ căn cước của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó
Trang 18nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của dân tộc mình trong quá trìnhgiao lưu và hội nhập.
Cuốn sách được chia làm ba phần: Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận về bản sắc văn hóa dân tộc Được tác giả nêu lên những quan điểm về bản sắc văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và những suy nghĩ trong việc kế thừa, phát huy các bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới Trong phần thứ hai: Giữ gìn bản sắc băn hóa dân tộc Tác giả nêu những quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đề ra những biện pháp để giữ gìn văn
hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay Phần thứ ba: Những giá trị văn hóa cần phải giữ gìn Tác giả đi vào giới thiệu cụ thể các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và
các giá trị nghệ thuật trong nền văn hóa Việt Nam cần được phát huy, lưu giữ Từ đó,đưa ra một số biện pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc ta
Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài viết Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá (Tạp chí Triết học, số 12 năm 2013) khẳng định: các quan hệ mật thiết của truyền thống xã hội nông nghiệp xưa kia không còn đậm nét, tình cảm
không những ít được quan tâm mà ngày càng bị nghèo đi, những nghĩa cử cao đẹp sẵnsàng giúp đỡ người khác lúc sa cơ, lỡ vận ngày càng phai nhạt, đây là thực trạng đángbáo động trong xã hội ta ngày nay
Tác giả Vũ Ngọc Hoàng trong bài viết Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới (Tạp chí Cộng sản số 855 tháng 1-2014), cho
rằng: nói tới văn hóa là nói tới con người với nhân cách của họ Nhưng những năm gần đâyđạo đức xã hội, nhân cách con người có nhiều mặt xuống cấp nghiêm trọng Từ nạn cướp của,giết người đến tham nhũng, chạy chức, chạy quyền…các hiện tượng nguy hại trên không chỉdiễn ra ở cấp cơ sở mà còn ở cán bộ lãnh đạo cấp trung và cao cấp Nghiêm trọng hơn, nhâncách con người xuống cấp không chỉ ở một vài lĩnh vực mà còn diễn ra ở những nơi đáng lí raphải luôn được trang nghiêm, trong sạch (như nơi nắm cán cân công lý, bảo vệ pháp luật, nơidạy người, nơi biên soạn và tham mưu các chủ trương, chính sách cấp chiến lược…) Từ đó,tác giả chỉ ra những nguyên nhân khiến tình trạng đạo đức xã hội sút kém, đó là hệ giá trị đạođức bị đảo lộn về vị trí, thang bậc, vì tiền con người ta đã vi phạm nhân cách Tác giả chorằng để giảm bớt tình trạng trên trước tiên, cần tiếp tục nhận
Trang 19thức sâu hơn tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội Từ
đó, xác định đặc điểm của nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chữ “nhân” luôn đứng vị trí hàng đầutrong thang bậc của hệ giá trị nhân cách Ngoài ra, cũng cần bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện
hệ giá trị nhân cách con người Việt Nam mới trong thời đại Hồ Chí Minh Theo tác giả, chúng
ta cần kế thừa tối đa các giá trị truyền thống của văn hóa đạo đức Việt Nam, như “nhân,nghĩa, lễ, trí, tín …” điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thời kỳ mới Bài viết nêu lên việctiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới,nghiên cứu sinh có thể kế thừa để phân tích, làm rõ trong luận án của mình
Tác giả Phạm Duy Đức trong bài viết Thực trạng đời sống văn hóa Việt Nam qua gần
30 năm đổi mới (Tạp chí Cộng sản số 862, tháng 8-2014), đã nêu khá rõ: dưới sự lãnh đạo
của đảng cộng sản Việt Nam, qua gần 30 năm đổi mới lĩnh vực văn hóa đã thu được nhữngthành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta khôngchỉ có những thành tựu mà còn có những hạn chế nhất định Tác giả nêu lên các lĩnh vực hoạtđộng văn hóa đã được phát triển một cách tương đối đồng bộ, toàn diện, vấn đề xây dựng conngười như đạo đức, lối sống, phẩm chất, trí tuệ được chú trọng; môi trường văn hóa của đấtnước được quan tâm xây dựng; vấn đề giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc đã đạtđược nhiều kết quả to lớn Bên cạnh những thành tựu nêu trên, vẫn còn nhiều những hạn chế,yếu kém Văn hóa phát triển chưa tương xứng với kinh tế; đời sống văn hóa tinh thần ở miềnnúi, vùng sâu, hải đảo hay của công nhân các khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn Từ
đó, tác giả nêu lên những vấn đề cần phải giải quyết trong giai đoạn 2016-2020 và những nămtiếp theo như: kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin; xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam; xâydựng nền văn hóa dân chủ, kỷ cương, văn minh, sáng tạo
Tác giả Nguyễn Thị Thường trong bài viết Toàn cầu hóa từ góc nhìn văn hóa (Tạp chí
Cộng sản số 872, tháng 6-2015), đã phân tích và đưa ra quan điểm: sự dịch chuyển biên giới
về văn hóa đã tạo ra những cảm giác lo ngại, có thể trong tương lai sẽ có một nền văn hóaquốc tế xuyên bản sắc và nó cũng có thể thay thế bản sắc văn hóa dân tộc Điều này gây nên
sự bất an, lo lắng từ chủ thể các nền văn hóa Từ thực tế trên, tác giả đặt ra câu hỏi, liệu sự dunhập của văn hóa thế giới có tạo ra một bản sắc văn hóa mới và đưa đến một nền văn hóachung của thế giới hay không? hay lại xuất hiện những khó khăn, bất ổn và bản sắc dân
Trang 20tộc thì lại đánh mất? Từ đó, tác giả nhấn mạnh, toàn cầu hóa được coi như là mối đe dọa,bởi những truyền thống văn hóa cũ sẽ bị phá vỡ, những quy tắc, chuẩn mực cũ bị nghi ngờmất khả năng định hướng các hệ giá trị, thậm chí bị đảo ngược Toàn cầu hóa đặt ra nhữngthách thức hết sức nghiêm trọng, trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Từ nhữngvấn đề nêu trên, tác giả khẳng định dù thái độ của con người ra sao, toàn cầu hóa vẫn diễn
ra và chúng ta vẫn phải đón nhận để tồn tại như một quy luật tất yếu Thông qua bài viếtcủa tác giả về toàn cầu hóa từ góc nhìn văn hóa, giúp nghiên cứu sinh hiểu thêm về xuhướng phát triển chung của văn hóa nhân loại như một tất yếu, chúng ta một mặt đón nhậnnhững luồng văn hóa mới, một mặt phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình
Ở một khía cạnh khác, tác giả Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam, (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015), khẳng định tinh thần lạc quan và hài hước trong đời sống người Việt cho dù cuộc sống gặp nhiều khó
khăn Tác phẩm giúp nghiên cứu sinh hiểu rõ về hệ giá trị Việt Nam, là nguồn tài liệu
vô cùng quý giá cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án của mình
Trong số các sách, tạp chí phải kể đến: tác giả Phan Xuân Sơn trong bài viết Vấn đề văn
hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế (Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2016), đã chỉ ra: quá
trình hội nhập là một quá trình hai chiều: tuân thủ và sáng tạo, bị động và chủ động, và cuốicùng là mỗi quốc gia đều góp phần sáng tạo ra, làm giàu thêm cho văn hóa hội nhập nóichung và làm giàu thêm văn hóa dân tộc nói riêng Giao lưu và hội nhập văn hóa giữ vai tròhết sức quan trọng đối với văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc: không có một nền văn hóanào, dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu, lại có thể phát triển trong khép kín, biệt lập,tách rời với các nền văn hóa khác Nhưng hội nhập quốc tế trong tất cả các lĩnh vực kể cả vănhóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng luôn tồn tại hai mặt, tích cực và tiêu cực Mặt tíchcực, sẽ giúp cho văn hóa mỗi dân tộc (theo nghĩa quốc gia - dân tộc) luôn phát triển, tiếp nhậnđược những giá trị mới, tiến bộ của văn hóa các dân tộc khác, làm giàu thêm cho văn hóa củadân tộc mình, quảng bá được văn hóa của mình cho các dân tộc khác Tuy nhiên, mặt tiêu cựcchính là nguy cơ san bằng và đồng nhất các hệ giá trị, các chuẩn mực văn hóa dân tộc, đe dọa
và làm suy kiệt sự phong phú, khả năng sáng tạo của các nền văn hóa dân tộc, dẫn đến nguy
cơ tha hóa, vong bản, thậm chí thủ tiêu các giá trị văn hóa dân tộc Từ những vấn đề nêu trên,
tác giả đã khẳng định tính tất yếu của hội nhập và Việt Nam
Trang 21tham gia vào quá trình hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vănhóa là đòi hỏi khách quan, cho dù đó là một quá trình phức tạp; để hội nhập thànhcông, văn hóa Việt Nam cần tiếp biến những giá trị văn hóa thế giới Nhưng tiếp biếnvăn hóa thế giới như thế nào? Chúng ta thấy rằng ở cấp độ đời thường cũng như tư duychính sách đều có tranh luận, thậm chí gay gắt, xuất hiện các xu hướng “cấp tiến”,
“bảo thủ” hay “trung dung” về các giá trị văn hóa trong hội nhập
Tuy chưa thật sự rõ ràng và thuyết phục, nhưng một số nghiên cứu đã bước đầu chỉ
ra “cơ chế tiếp biến” nền văn hóa thế giới; vấn đề đặt ra, không chỉ tiếp biến văn hóa nhânloại, không chỉ “cùng lúc trở về với dân tộc nhiều hơn” mà văn hóa Việt Nam có thể đónggóp những giá trị văn hóa đặc sắc gì vào văn hóa chung của nhân loại? Văn hóa Việt Nam
có đủ tầm vóc, bản lĩnh, tự tin để tham gia định hình những giá trị chung trong văn hóahội nhập của nhân loại? Và nếu chúng ta vốn có một nền văn hóa có đủ tầm vóc, đủ bảnlĩnh thì chúng ta phải làm gì để có được điều đó? chúng ta phải làm gì để có “quyền lựcmềm” trong hệ thống quyền lực toàn cầu? các nghiên cứu cũng đã nêu lên những thànhtựu, những yếu kém và thách thức trong phát triển văn hóa Việt Nam trước yêu cầu hộinhập quốc tế; các nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp để xây dựng một nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng trong cuốn Văn hóa Việt Nam thưởng thức (Nhà xuất
bản Hà Nội năm 2018), luận giải khá thuyết phục về văn hóa Việt Nam từ thời tiền sửxuyên suốt thời gian qua các thời kỳ cổ, trung và cận đại Tuy mỗi thời kỳ do yếu tố lịch
sử của dân tộc nền văn hóa dân tộc có những đặc trưng, cấu trúc và sắc thái riêng, songxâu chuỗi lại tác giả giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về sự phát triển văn hóa dân tộc.Trong lời tựa đề tác giả viết: “Văn hóa không phải là những thuật ngữ xa lạ hay trừutượng trong đời sống của chúng ta, nó hiện diện và có sức sống mãnh liệt tại mỗi miềnquê, mỗi xóm làng, trong câu ca tiếng hát hay trong trang phục, cách ứng xử của ngườidân bản xứ Mỗi bước chân chúng ta đi, khoảng cách địa lý như gần gũi hơn nếu chúng tacảm nhận, chiêm nghiệm và hiểu về mảnh đất - con người nơi đó” Cuốn sách giúp ngườiđọc tiếp cận toàn diện về sự phát triển văn hóa dân tộc, về sức sống trường tồn của vănhóa, nó không phải là điều gì to lớn, cao sang, bác học mà nó tồn tại trong mỗi con người,trong tiếng hát, câu hò, trong lời ru của bà, của mẹ.v.v
Trang 22Tác giả Đặng Văn Hùng trong bài Giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
trong xu thế hội nhập quốc tế (Tạp chí Quản lý Nhà nước - Số 264, tháng 01 năm 2018).
Tác giả phân tích: Từ sau đại hội VI (1986), Đảng cộng sản Việt Nam đã có những đổi
mới trong định hướng phát triển đất nước Thực tiễn qua hơn 30 năm đổi mới, đã chứngminh tính đúng đắn trong quyết sách của Đảng Thông qua bài viết, tác giả cũng chỉ ra sựcần thiết của việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc
tế Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa và bản sắc văn hóa đối với sự tồn tại, phát triển của dân tộc, của đất nước Thứ hai, bản sắc văn hóa Viết Nam
đang đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức do mắt trái của nền kinh tế thị trường, toàn cầuhóa đòi hỏi chúng ta cần phải chú trọng giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.Cuối cùng trong bài viết, tác giả nêu lên một số giải pháp nhằm xây dựng và giữ gìn phát
huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế Cụ thể: Một là, rà soát, điều
chỉnh, bổ sung và quán triệt, thực hiện những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hóa một cách thiết thực Hai là, tuyên truyền,
giáo dục kết hợp với các biện pháp mạnh, xử lý nghiêm các biểu hiện xuống cấp, suy đồi,tha hóa về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và người dân Giá trị của vấn đề là đểcho từng thành viên trong tổ chức, từng người dân đều dần dần hiểu rõ về văn hóa, bản
sắc văn hóa Việt Nam Ba là, đổi mới cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước về quản lý văn hóa và các thiết chế văn hóa để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Tác giả Đinh Xuân Dũng trong bài viết Gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa
dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (Tạp chí Tuyên giáo ngày 02 tháng
12 năm 2019) Tác giả đã phân tích và đưa ra quan điểm: kết quả của toàn cầu hóa là tạo ranhững giá trị chung, là sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc Song, toàn cầu hóa không cónghĩa là tất cả các quốc gia, các dân tộc sẽ tiến tới một sự đồng nhất về mọi mặt, mà ngượclại, nếu các quốc gia không tự điều chỉnh, cùng hợp tác và đấu tranh của các quốc gia, dân tộctham gia toàn cầu hóa Nếu không cùng hợp tác và đấu tranh, không biệt gìn giữ sẽ diễn ramột quá trình mà các thế lực mạnh và đen tối sẽ lái “con tàu” toàn cầu hóa về hướng làm “thahóa”, hoặc “đồng hóa” văn hóa, làm yếu đi các giá trị văn hóa riêng, bản sắc riêng của từngdân tộc, sẽ thực hiện mưu đồ áp đặt văn hóa, biến các quốc gia khác thành lệ thuộc, tự đánhmất mình Xin lưu ý rằng, không đơn thuần chỉ là vấn đề bảo vệ, giữ
Trang 23gìn bản sắc văn hóa của từng dân tộc trước tác động của toàn cầu hóa, mà còn có nhữngvấn đề lớn hơn, sâu hơn: phát huy bản sắc dân tộc trong chính quá trình giao lưu, hợp tácvăn hóa, phát triển và tự làm giàu có mình hơn, phong phú, hiện đại hơn trong quá trìnhchủ động giao lưu và tiếp nhận, “cho” và “nhận” về mặt văn hóa Không nhận biết sâu vàbiện chứng quá trình trên sẽ dẫn tới một cách nhìn phiến diện, với khuynh hướng bảo thủcho rằng, để đối phó với toàn cầu hóa, mỗi dân tộc trong khi mở cửa, hội nhập kinh tếquốc tế, phải đóng cửa về văn hóa, “khư khư” giữ gìn, bảo vệ các bản sắc riêng của mình,không chấp nhận cả “cho” và “nhận”, vốn là một quy luật nội tại của sự tồn tại và pháttriển của mỗi nền văn hóa dân tộc Bài viết giúp chúng ta tiếp cận toàn diện về quá trình
“cho” và “nhận” đối với văn hóa một cách phù hợp trong bối cảnh hiện nay, nhằm giữ gìnphát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong chính quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa
1.2 Những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Nam Bộ và Sóc Trăng
1.2.1 Những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Nam Bộ
Tác giả Sơn Nam trong tác phẩm Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, thuần phong
mỹ tục Việt Nam, (Nhà xuất bản trẻ năm 2005), nhận định: lối sống giản dị của nhân dân
Miền Nam đang thay đổi theo xu hướng tiêu cực, nếu như trước đây trong việc lễ hỏi
người ta chỉ cần “Tặng đôi bông tai làm vật kỷ niệm” và khi không còn nghĩa vợ chồng,
người ta cũng chỉ cần trả đôi bông tai nghĩa là tình nghĩa chấm dứt, thì nay người ta tiêuxài phung phí, tiền thách cưới, vòng vàng, tài sản…chạy theo lối sống phương tây, làmmất dần đi thuần phong mỹ tục, mất dần đi bản sắc văn hóa dân tộc
Tác giả Huỳnh Quốc Thắng trong đề tài Bản sắc và giao tiếp văn hóa dân tộc (Hội thảo
khoa học Chương trình KX.03/06-10 Đề tài KX.03.14/06-10.2009), đã đề cập đến nhiều nộidung về giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Nam Bộ Trong đề tài, tác giảcho rằng Nam Bộ bao gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ không chỉ là “vùng đất mới” nhưnhiều người thường nói, mà nơi đây thực sự vốn là vùng đất đã hình thành từ lâu đời Đâytừng là nơi sinh sống của các nhóm cư dân cổ đại thuộc các nền văn hóa khảo cổ Đồng Nai,
Óc Eo hoặc thuộc các thời kỳ lịch sử của vương quốc Phù Nam, Chân Lạp với một số tộcngười bản địa đến nay vẫn còn tồn tại như Khmer, Stiêng, Mạ.v.v trước khi
Trang 24người Việt, người Hoa, người Khmer và các tộc người khác cùng đến đây lập nghiệp.
Từ đó, tác giả chỉ ra quá trình cộng cư dẫn đến hiện tượng tất yếu về giao tiếp văn hóa
đã tạo nên những đặc trưng về sắc thái văn hóa vùng Nam Bộ Cuối cùng, tác giả đúckết chính mối quan hệ giữa một bên là bản sắc văn hóa dân tộc (tộc người) được giữgìn theo một mức độ, tính chất nhất định với một bên là giao tiếp văn hóa dân tộc(quốc gia) theo một cách thức, trình độ nào đó, để tạo ra các hệ quả với những màu sắcđặc thù góp phần vào nét đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ ngày nay
Trong tác phẩm Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội, năm 2013) Tác giả Phạm
Phương Hạnh đã chỉ ra ảnh hưởng của Phật giáo đối với người Khmer Nam Bộ, ngườiKhmer ở Nam Bộ luôn gắn bó mật thiết với ngôi chùa, là nơi rèn luyện đạo đức vànhân cách con người, cũng là nơi giáo dục cho thanh niên người Khmer đạo lý làm
người Chùa cũng là nơi đồng bào Khmer tâm niệm“sống là nơi gửi thân, chết là nơi gửi xác”, và cũng là nơi tập trung những gì tinh túy nhất của đồng bào Khmer, từ kiến
trúc, nghệ thuật cho đến triết lý sống của một tộc người
Các tác giả Đoàn Trung Dũng, Võ Văn Chỉ trong bài viết Bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa Khmer Tây Nam Bộ trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (Tạp chí dân
tộc, số 167 năm 2014) Bài viết được các tác giả chia làm ba phần, trong phần một, giới
thiệu khái quát về các giá trị văn hóa người Khmer vùng Tây Nam Bộ như: nhà ở, chùachiền, trang phục và về văn hóa phi vật thể; phần hai và ba, các tác giả nêu lên tác độngcủa toàn cầu hóa đối với việc bảo tồn các giá trị văn hóa Khmer vùng Tây Nam Bộ, cũngnhư chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm gìn giữ và phát huy các giá trịvăn hóa Khmer ở Tây Nam Bộ, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong đó, tác giảnêu rõ những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát huy
và bảo tồn các giá trị văn hóa của người Khmer vùng Tây Nam Bộ, tạo chuyển biến sâusắc trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và trở thành phong trào yêu nước sâu rộng trong nhândân, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, giữ vững quốcphòng an ninh, góp phần chăm lo tốt đời sống đồng cho bào Khmer
Tuy nhiên, để làm tốt các vấn đề trên theo tác giả, Đảng và Nhà nước cần có nhữngchủ trương, chính sách như: thực hiện tốt công tác tuyên truyền trong cộng đồng người
Trang 25Khmer về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của mình; đào tạo nhân lựcnòng cốt đối với công tác bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc Khmer; đối với ngànhgiáo dục, cần tiếp tục đẩy mạnh việc đưa chương trình dạy song ngữ (tiếng Việt - tiếng
Khmer) vào tất cả các trường nơi có đồng bào dân tộc Khmer sinh sống; gắn giữ gìn,
phát huy văn hoá dân tộc Khmer với phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo mối quan hệhài hoà giữa phát triển văn hoá và kinh tế; hài hoà giữa giữ gìn và phát huy; Đảng vàNhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, chú trọng xây dựng cơ chế, chínhsách đặc thù cho việc bảo tồn và nâng cao đời sống văn hóa cho đồng bào Khmer
Luận án tiến sĩ Triết học Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người Khmer
trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay của tác giả Nguyễn Tiến Dũng (Học viện Khoa học xã
hội năm 2015), trong luận án, tác giả nhấn mạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dântộc là nhu cầu sống còn của một nền văn hóa, nhất là các nền văn hóa có bề dày truyền thống,
có những nét đặc sắc trong so sánh với các nền văn hóa khác Theo tác giả, bản sắc, một mặt
có khả năng tự duy trì trong cộng đồng của nó, nhưng mặt khác, lại có sự biến đổi theo thờigian và mang hơi thở thời đại Đây là điều tương đối phức tạp với các kế sách vĩ mô Việc tiếpthu và chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại luôn là điều cần thiết Tuy nhiên, cũng cần tránhtình trạng lóa mắt hoặc tự ti trước văn hóa của các quốc gia khác, chúng ta cần bảo tồn nhữngmặt tích cực của bản sắc văn hóa dân tộc làm cho bản sắc dân tộc ngày càng toàn vẹn Tác giảcũng chỉ ra, cộng đồng người Khmer Nam Bộ là một bộ phận cấu thành của quốc gia ViệtNam Do đó, cũng không tránh khỏi sự “xâm lấn” của các luồng văn hóa khác Để giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hóa của người Khmer trong bối cảnh toàn cầu hóa, theo tác giả cần giải
quyết một số vấn đề sau: thứ nhất, Nam Bộ là vùng văn hóa - kinh tế có ý nghĩa chiến lược về
nhiều mặt, đặc biệt về các mặt kinh tế nông nghiệp, văn hóa dân tộc và an ninh quốc gia Do
đó, an ninh vùng Nam Bộ phải được bảo đảm một cách tuyệt đối, toàn diện; thứ hai, giữ gìn
bản sắc văn hóa gắn liền với hội nhập và phát triển, do vậy cần xác định rõ những mặt nào
được phát huy, những mặt nào không thể phát huy thì có thể bảo tồn; thứ ba, văn hóa không
thể biệt lập với chính trị, kinh tế… do đó, việc gắn kết giữa kinh tế với văn hóa, văn hóa với
quốc phòng, an ninh là một yêu cầu thiết yếu; thứ tư, người Khmer Nam Bộ không đơn thuần
là một cộng đồng người với cái riêng tách biệt khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam Qua lịch
sử với nhiều thế kỷ khai hoang,
Trang 26tạo dựng cuộc sống, phát triển nét đặc thù của mình, văn hóa Khmer đã trở thành một
bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Sĩ trong bài viết Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Khmer Nam Bộ (Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2016), đã chỉ ra: Đồng bào Khmer sống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Bạc Liêu, Kiên Giang, chiếm
khoảng 7,22% dân số vùng Tây Nam Bộ Trong đó, trên 90% người Khmer là tín đồPhật giáo Nam tông, do vậy Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng rất sâu sắc trong đờisống văn hóa tinh thần của đồng bào Trong bài viết, tác giả nêu lên: Đồng bào KhmerNam Bộ có một kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng và rất độc đáo, như: ngôn ngữ,chữ viết, văn học dân gian, lễ hội, kiến trúc, văn hóa ẩm thực, nghệ thuật tạo hình, Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóacủa người Khmer Nam Bộ là yêu cầu cấp bách Để làm tốt công tác giữ gìn và pháthuy giá trị văn hóa Khmer Nam Bộ, chính quyền các địa phương đã tổ chức tốt ngàyhội Văn hoá, Thể thao và Du lịch vùng đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ; lễ hội dângian; tổ chức trưng bày triển lãm Văn hóa dân tộc Tại các địa phương: Trà Vinh, SócTrăng, Kiên Giang, Bạc Liêu…chính quyền đã quan tâm, tạo điều kiện đẩy mạnh cácloại hình nghệ thuật của người Khmer Nam Bộ, trong đó đặc biệt đầu tư cho các đoànnghệ thuật Khmer, xây dựng chương trình phục vụ bà con nhân dịp tết Bài viết cũngđưa ra một số giải pháp tiếp tục giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Khmer Nam Bộ.Nhóm tác giả Ngô Văn Lệ (Chủ biên), Phan An; Phan Thị Yến Tuyết; Nguyễn Văn
Tiệp; Phan Văn Dốp; Trần Thị Thảo, trong đề tài cấp nhà nước Đặc trưng tín ngưỡng tôn
giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân Nam Bộ Đề tài gồm nhiều chương,
trong chương 1 của đề tài, các tác giả đã giới thiệu cơ sở lý luận và tổng quan về vùng đất,con người Nam Bộ Trong chương 2 và chương 3, các tác giả khái quát và luận giải về tínngưỡng tôn giáo và đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo của cư dân Nam Bộ về sinh hoạt văn hóa vàđặc trưng sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ, đây là một vùng văn hóa có những khác biệt
so với các vùng văn hóa ở Việt Nam, sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ thể hiện rõ tínhquy luật của văn hóa Việt Nam - thống nhất trong đa dạng, bị chi phối bởi môi trường tự
nhiên Trong chương cuối Tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ
trong quá trình phát triển, các tác giả trình bày về tiến trình phát triển của tín
Trang 27ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ Đây chính là nguồn tài liệu
vô cùng quý giá giúp nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án của mình
Tác giả Sơn Nam trong cuốn Giới thiệu Sài Gòn xưa, tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu
Long (Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2018), đã miêu tả tâm trạng của những người Việt khi
tìm đến định cư ở một vùng đất mới, đó là tâm trạng của những người nghèo, thất thế…lưulạc đến “xứ sở lạ lùng”, muốn cất một căn chòi để được an cư, lạc nghiệp, ra sức khai hoang,
mở cõi, còn tương lai thì như thế nào thì chưa rõ Thông qua tác phẩm, nghiên cứu sinh biếtthêm về nguồn gốc, cuộc sống khó khăn khi đến vùng đất mới của người Việt
- Họ cùng với đồng bào Hoa, Khmer… chính là chủ nhân của bản sắc văn hóa dân tộc tạiSóc Trăng hiện nay
Tác giả Sơn Nam trong tác phẩm Đình miễu & lễ hội dân gian miền Nam (Nhà
xuất bản Trẻ, năm 2018), đã khẳng định: Miền Nam làm lai rai cũng đủ ăn, về cáchhành xử, hễ người ta ăn ở có “điệu nghệ” thì không cô độc và luôn gặp bạn tri âm, nơilàm ruộng mỗi năm một mùa, người dân quá rảnh rang để ăn uống, đờn ca vọng cổ.Điều này chứng tỏ sự khác biệt trong giao tiếp ở vùng đất mới, cũng như sự ưu đãi củathiên nhiên trong mưu sinh đã tạo ra một nét văn hóa độc đáo của cư dân nơi đây
1.2.2 Những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Sóc Trăng
Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc từ lâu đã trở thành sự quan tâm hàng đầucủa đảng, nhà nước ta và các học giả Do đó, gìn bản sắc văn hóa là lĩnh vực đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu và đã đưa vào thực hiện Tại Sóc Trăng, đã có nhiều côngtrình lớn nghiên cứu như: Bộ lịch sử Việt Nam Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ;Khảo Cứu Về tỉnh Sóc Trăng của Hội Nghiên cứu Đông Dương - Trung Quốc; PhủBiên Tạp Lục của Lê Quý Đôn; Gia Định thành thông chí; Nam Kỳ Lục Tỉnh Địa DưChí; Chuyên Khảo về tỉnh Sóc Trăng (Monographie de la Province de Sóc Trăng).v.v
Thông qua đề tài cấp tỉnh Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng, do Sơn Lương làm chủ nhiệm đề tài, năm 2005 Đề tài gồm hai phần.
Trong phần thứ 1, Khái quát về người Khmer Sóc Trăng, các tác giả nêu lên đặc điểm về dân
cư cũng như kinh tế - xã hội văn hóa vật chất, nghệ thuật, âm nhạc, các loại hình dàn nhạc,nghệ thuật múa (múa Rom vong, Rom leo, ADay, múa trong lễ cưới ), nghệ thuật
Trang 28sân khấu (Dù Kê, Rô Băm) của người Khmer Sóc Trăng Phần thứ 2, Sự hình thành và phát
triển của nghệ thuật sân khấu Dù Kê Sóc Trăng Trong chương 1 và chương 2 các tác giả đã
nêu lên sơ lược quá trình hình thành nghệ thuật sân khấu Dù Kê Sóc Trăng, từ giai đoạn đầu
1920 đến sau những năm 1975 Chương 3, Các đặc điểm trong nghệ thuật sân khấu Dù Kê
Nam Bộ, các tác giả đã nêu lên đặc điểm về nghi thức cúng tổ Dù Kê tại Sóc Trăng, nghi thức
cúng tổ Dù Kê tại gia đình, nghi thức cúng tổ Dù Kê tại điểm diễn Chương 4, Một số đặc
điểm trong nghệ thuật sân khấu Dù Kê Phần này, tác giả đã nêu lên hình thức biểu diễn, hóa
trang, vũ đạo, sân khấu cảnh trí, âm nhạc Chương 5, Cơ sở nền tảng, sự giao lưu và ảnh
hưởng từ các loại hình nghệ thuật khác Trong đó, phải kể đến sự giao lưu và ảnh hưởng từ
yếu tố nghệ thuật của người Hoa, giao lưu và ảnh hưởng từ yếu tố nghệ thuật của người Kinhđến nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Đề tài cũng nêu lên những giải pháp giữ gìn, pháthuy các giá trị của nghệ thuật sân khấu Rô Băm trong giai đoạn hiện nay
Thông qua Tập ca cổ Sóc Trăng - Tình vẫn đẹp, do Sở Văn hóa Thông tin biên tập và
phát hành năm 2005 Tập ca cổ là chủ đề hàm chứa nội dung xuyên suốt về: Tình Đảng - TìnhDân -Tình đồng đội - Tình Đoàn kết - Tình yêu quê hương - tình yêu đôi lứa luôn và “Vẫn
đẹp” như người và đất Sóc Trăng Tập ca cổ Sóc Trăng - Tình vẫn đẹp bao gồm nhiều bài hát như: Về Sóc Trăng của tác giả Trường Giang Thủy, bài hát có nhiều giai điệu Lý cái mơn, Vọng cổ, Lý Ba tri với nội dung ca ngợi miền quê yêu dấu, Sóc Trăng trong tôi là nỗi nhớ,
lắng đọng trong tim sâu nặng ân tình, gần ba thế kỷ Kinh, Hoa, Khmer đã tạo dựng giữ gìn
Bài hát, Hẹn với Sóc Trăng của tác giả Phạm Võ Đức Trung Bài hát, Điều ước dưới đêm
trăng của tác giả Trịnh Biên Bài hát, Kỷ niệm một mùa hè của tác giả Nguyễn Thị Xuân
Thu Tất cả các ca khúc đều nói lên tình yêu đối với quê hương, ca ngợi vẻ đẹp của cảnh vật
cũng như con người Sóc Trăng với tấm lòng chịu thương, chịu khó vất vả quanh năm Về
Sóc Trăng lắng nghe tình yêu Kinh, Hoa, Khmer hẹn hò giữa ngày hội vui Óoc Om Boc, mỗi xóm thôn, mỗi dòng sông đều đong đầy chiến tích Hay một Long Phú chín năm lừng lẫy chiến công đầu, một Hòa Tú anh hùng chói lọi Có thể nói, thông qua Tập ca cổ Sóc Trăng - Tình vẫn đẹp, đã truyền cảm hứng về tình đoàn kết, tình yêu quê hương qua từng câu hò, điệu
lý, khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ mai sau
Cuốn sách Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Hoa tỉnh Sóc Trăng
(1930-1975), do Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Sóc Trăng soạn thảo năm 2005 Cuốn sách có độ
Trang 29dày 220 trang, được chia làm 4 chương Chương 1, Đồng bào Hoa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giai đoạn (1930 -1945) Chương 2, Đồng bào Hoa tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp (9/1945 đến tháng 7/ 1954) Chương 3, Đồng bào Hoa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (20/7/1954 đến 30/4/1975) Chương 4, Kết luận và những kinh nghiệm Cuốn sách ghi lại những trang sử hào hùng của đồng bào người Hoa tại Sóc Trăng, ghi nhận tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất vượt
qua mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù xâm lược, làm thất bại âm mưu “Ấp chiếnlược”, “Chiến tranh đặc biệt”.v.v góp phần chiến thắng Mậu Thân 1968, cũng nhưđứng vững ở vùng địch và vùng tranh chấp Đồng bào người Hoa liên tục đấu tranh,góp phần thắng lợi trong cuộc tổng tiến công và giải phóng Sóc Trăng (1/1973 -30/4/1975) Cuốn sách giúp cho Đảng bộ tỉnh rút ra được những bài học kinh nghiệmtrong công tác dân vận, cũng như trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay
Thông qua đề tài cấp tỉnh Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Rô Băm của dân tộc Khmer
Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, do Sơn Ngọc Hoàng chủ nhiệm năm 2008, đã làm
sáng tỏ diện mạo, khái lược lịch sử, sự hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu
Rô Băm Sóc Trăng, cũng như đặc điểm của nghệ thuật sân khấu Rô Băm Sóc Trăng, đánhgiá chính xác sự đóng góp của nghệ thuật sân khấu Rô Băm của người Khmer vào khotàng nghệ thuật sân khấu chung của cả nước Đề tài cũng nêu lên giải pháp giữ gìn, pháthuy các giá trị của nghệ thuật sân khấu Dù Kê trong giai đoạn hiện nay
Tư liệu lịch sử Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Sóc Trăng, (Sở giáo dục - Đào tạo
Sóc Trăng biên soạn năm 2009), ghi lại những di tích lịch sử, đình, chùa và những địadanh nổi tiếng như Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng, Đình Hoà Tú, Đền thờ Bác - Cù LaoDung… được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, ngoài ra còn có các di tíchkhác được tỉnh công nhận như: chùa Đất Sét, Đình thần Mỹ Xuyên, chiến thắng XẻoMe… những tư liệu lịch sử cùng với các di tích lịch sử, văn hóa đã góp phần tạo nênmột diện mạo văn hóa phong phú, giàu bản sắc tại tỉnh Sóc Trăng
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy lễ hội Óoc Om Boc và Đua ghe ngo Sóc
Trăng, do Sở Văn hóa - thể thao du lịch và Viện văn hóa Việt Nam tổ chức năm 2009 Hội
thảo khoa học đã tập hợp nhiều bài viết có chất lượng về công tác Bảo tồn và phát huy lễ hộiÓoc Om Boc và Đua ghe ngo Sóc Trăng, do tập thể các nhà khoa học: Phan An, Phan
Trang 30Thị Yến Tuyết, Trịnh Công Lý, Sơn Lương gửi tới Hội thảo Trong số đó, có các bài
viết: “Phát huy và định hướng phát triển bền vững lễ hội Óoc Om Boc và Đua ghe ngo
Sóc Trăng”, “Tâm thức ứng xử với nước của người Khmer qua lễ hội lễ hội Óoc Om Boc tiếp cận sinh thái văn hóa”, “Đôi nét về đời sống sinh hoạt, văn hóa và lễ hội Óoc Om Boc và Đua ghe ngo Sóc Trăng”.v.v Hội thảo là những luận cứ khoa học cho việc nâng
lễ hội thành “Festival Óoc Om Boc và Đua ghe ngo Sóc Trăng” Mang bản sắc, thương
hiệu Sóc Trăng với quy mô, tầm vóc trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Trần Việt Hùng trong tác phẩm Lịch sử địa phương Sóc Trăng, (Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2010), khẳng định, khi thực dân Pháp xâm lược nước tanhân dân Sóc Trăng cùng với nhân dân Nam Kỳ kiên cường chống giặc ngoại xâm, thể hiệntinh thần yêu nước, bảo vệ quê hương khi bị kẻ thù xâm lược của nhân dân Sóc Trăng
Tác giả Nguyễn Quốc Ngữ - người có nhiều nghiên cứu về bản sắc văn hóa Khmer,
trong bài viết Giữ gìn bản sắc văn hóa Khmer trong trường học (tạp chí Giáo dục và Thời đại 2013) Tác giả cho rằng, Sóc Trăng là một trong những tỉnh có đông đồng bào dân tộc nhất ở
Đồng bằng Sông Cửu Long Do tính đặc thù đó, ngoài việc nâng cao chất lượng giáo dục, cácđịa phương trên còn phải quan tâm tới việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, bản sắcdân tộc Trong bài viết, tác giả nhận thấy những năm gần đây, các trường phổ thông dân tộcnội trú ở Sóc Trăng rất được quan tâm như khu ở nội trú cho học sinh, căng tin, phòng truyềnthống thông qua bài viết, tác giả ghi nhận sự quan tâm của chính quyền địa phương, cũngnhư ngành giáo dục đã phối hợp với trường Trung cấp Nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng và các nghệnhân đã mở lớp đào tạo cho giáo viên và mỗi trường một đội học sinh sử dụng các loại nhạc
cụ trên để dạy và tập huấn lại cho các em học sinh trong trường Kết quả, đến nay, hầu hết họcsinh các trường phổ thông dân tộc nội trú ở Sóc Trăng đều biết sử dụng các loại nhạc cụ vàthường xuyên biểu diễn, phục vụ vào các dịp lễ hội… ngành giáo dục cũng chọn những tácphẩm, bài hát, những điệu múa cơ bản, đặc trưng của dân tộc Khmer, các trò chơi dân gian,các phong tục tập quán để dạy cho học sinh dân tộc Bên cạnh đó, các trường còn tổ chứcnhiều hoạt động vui chơi, giải trí vào các dịp lễ, hội của đồng bào dân tộc để tuyên truyềngiáo dục học sinh hiểu về những truyền thống văn hóa đặc trưng Việc giữ gìn, phát huy cácgiá trị văn hóa truyền thống trong vùng đồng bào dân tộc đã góp phần làm cho bộ mặt giáodục ở các địa phương trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc
Trang 31Thông qua đề tài cấp tỉnh Báo cáo tổng hợp vai trò của đình, chùa trong đời sống của
người Kinh ở tỉnh Sóc Trăng, mã số12/HĐ-SKHCN-QLKHCN ngày 27/5/2011, do Lê Ngọc
Thạch chủ nhiệm, năm 2014 Nhóm tác giả nêu lên khái quát nguồn gốc lịch sử và quá trìnhxây dựng đình, chùa người Kinh ở Sóc Trăng Trong đề tài, các tác giả cũng nghiên cứunguồn gốc lịch sử đình, chùa của người Kinh tỉnh Sóc Trăng Các tác giả nhận định đình, chùacủa người Kinh phản ánh sự phức hợp văn hóa của các dân tộc Kinh - Hoa - Khmer tại vùngđất Sóc Trăng Đề tài cũng chỉ ra, đình, chùa người Kinh ở Sóc Trăng phản ánh tinh thần hàihòa của các tôn giáo Nho - Phật - Đạo Thông qua đó, đề tài nghiên cứu quá trình xây dựngđình, chùa người Kinh ở Sóc Trăng cũng như nghiên cứu và làm sáng tỏ nghệ thuật kiến trúcđình, chùa và các thiết chế tổ chức đình, chùa, lễ hội Trong đề tài, các tác giả cũng làm sáng
tỏ vai trò của đình, chùa trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng, kinh tế, xã hội của người Kinh ởtỉnh Sóc Trăng và mối quan hệ giữa đình, chùa với hệ thống quản lý Khai thác các giá trị củađình, chùa người Kinh trong phát triển du lịch ở tỉnh Sóc Trăng Cuối cùng trong đề tài, nhómtác giả đưa ra những phương hướng, giải pháp cũng như những kết luận và kiến nghị đối vớichính quyền địa phương Cụ thể, cần phải giữ gìn và phát huy những mặt tích cực, đồng thờingăn ngừa những mặt tiêu cực trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và sinh hoạtđình, chùa nói riêng Thông qua đó, vừa giữ gìn, vừa phát huy được các giá trị của đình, chùatrong văn hóa, tâm linh người dân Sóc Trăng
Tuần lễ Văn hóa Campuchia tại Việt Nam diễn ra từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 11năm 2015, với các hoạt động tập trung chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh SócTrăng, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam phối hợp Bộ Văn hóa Nghệ thuậtVương quốc Campuchia tổ chức nhằm giới thiệu những nét độc đáo, cổ truyền của nghệthuật Campuchia trên đất nước Việt Nam, qua đó góp phần tăng cường sự đoàn kết, hữunghị truyền thống giữa Việt Nam - Campuchia Mặc dù hoạt động chỉ nằm trong các hoạtđộng của Tuần lễ Văn hóa Campuchia tại Việt Nam và không có văn bản ghi nhớ về hợptác văn hóa giữa Việt Nam - Campuchia cũng như giữa Campuchia với Sóc Trăng Song,hoạt động góp phần tăng cường sự đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam -Campuchia Sự kiện cũng cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc nói chung và ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng
Trang 32Tác giả Lâm Nhân, Trần Văn Út trong cuốn Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh
Sóc Trăng, (Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015) Quyển sách
gồm 8 chương, chương 1, các tác giả nêu lên Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên
cứu tỉnh Sóc Trăng như: điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Sóc
Trăng Trong chương 2, các tác giả đề cập tới Ngữ văn truyền miệng và nghệ thuật trình
diễn dân gian các dân tộc tỉnh Sóc Trăng Trong phần này, có các nội dung chính về nghệ
thuật trình diễn dân gian, về hạt nhân văn hóa trong nghệ thuật trình diễn dân gian Trong chương 3, Tập quán xã hội các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng, các tác giả nghiên cứu về tập quán xã hội của người Kinh, người Hoa và người Khmer tỉnh Sóc Trăng Chương 4, các tác giả đề cập tới Tín ngưỡng, tôn giáo các dân tộc tỉnh Sóc Trăng Cụ thể, các tác giả
nghiên cứu về tín ngưỡng các tộc người tỉnh Sóc Trăng, các thiết chế, tôn giáo tại địaphương cũng như mức độ đáp ứng của các tôn giáo cũng như nhu cầu của người dân trên
địa bàn tỉnh Sóc Trăng Trong chương 5, Nghi lễ vòng đời của các dân tộc tỉnh Sóc
Trăng Các tác giả đã nghiên cứu về các nghi lễ chủ yếu như: nghi lễ sinh nở, cưới hỏi,
cũng như mức độ, địa điểm thực hành nghi lễ vòng đời của người dân trên địa bàn tỉnh
Trong chương 6, Lễ hội truyền thống các dân tộc tinh Sóc Trăng Trong phần này, các tác giả chủ yếu nghiên cứu về lễ hội của người Kinh, người Hoa và người Khmer trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Trong chương 7, Nghi thức dân gian và các lễ hội thủ công truyền thống,
các tác giả nghiên cứu về nghi thức dân gian và nghề cổ truyền tại Sóc Trăng Cuối cùng,
chương 8, các tác giả đã nêu lên Những kiến nghị và giải pháp bảo tồn và phát huy các
giá trị vật thể, phi vật thể tại tỉnh Sóc Trăng Quyển sách là những tư liệu quan trọng cho
nghiên cứu sinh tham khảo trong luận án của mình.
Tác giả Trần Minh Thương trong tác phẩm Văn hóa dân gian phi vật thể của người Khmer Sóc Trăng (Nhà xuất bản Mỹ Thuật ấn hành năm 2016), khẳng định, Phật giáo đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người Khmer Sóc Trăng, Phật giáo
cũng đã trở thành giá đỡ về mặt tinh thần, giúp đồng bào Khmer thoát khỏi nỗi đau vềthể xác Tác giả chỉ ra ý nghĩa lớn nhất của việc đi tu báo hiếu không phải để người tutrở thành Phật mà để thành người…việc đi tu là để người thanh niên có đủ đạo đức,sau khi xuất tu trở thành công dân sống có ích cho xã hội
Trang 33Tác giả Phan Thuận trong bài viết Sóc Trăng thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục trong cộng đồng Phật giáo Nam tông Khmer (Tạp chí Cộng sản tháng 2 năm 2017), đã chỉ ra: tín đồ phật tử Phật giáo Nam Tông chiếm một tỷ lệ khá cao so với
tổng số lượng tín đồ các tôn giáo khác trên toàn tỉnh Sóc Trăng, các tín đồ cũng cónhững nét sinh hoạt văn hóa khác hơn so với các tín đồ phật tử Phật giáo Nam Tông ởkhu vực đồng bằng sông Cửu Long Thông qua bài viết, tác giả đã chỉ ra: những nămqua Sóc Trăng đã quan tâm, xây dựng và phát triển tốt những chính sách về văn hóa,giáo dục trong cộng đồng phật giáo Nam Tông và đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnhSóc Trăng Nhờ vậy, đã góp phần nâng cao trình độ học vấn, phát huy các giá trị vănhóa truyền thống trong đồng bào Khmer Điều đó đã tạo nên một sắc thái văn hóa đặctrưng của Sóc Trăng trong bối cảnh toàn cầu hóa về văn hóa, nhất là khi các giá trị vănhóa truyền thống ngày càng bị lu mờ, quên lãng đáng báo động
Cuốn sách Nghi lễ trong gia đình ở Sóc Trăng, của các tác giả Trần Minh Thương
và Bùi Túy Phượng (Nhà xuất bản Mỹ Thuật ấn hành) Cuốn sách nằm trong dự án:
“Công bố và phổ biến tài sản văn hóa – văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam” Nghi lễtrong gia đình chính là một hình thức biểu hiện của văn hóa phi vật thể, cùng với văn họcdân gian, trò chơi dân gian, nghi lễ trong gia đình có vai trò quan trọng trong việc thể hiệnnét đặc sắc của văn hóa dân gian Sóc Trăng Nghiên cứu nghi lễ trong gia đình kinh, Hoa,Khmer Sóc Trăng như: nghi lễ vòng đời, nuôi dạy con cái, cưới xin, tang ma, cầu an, lễtết, lao động sản xuất, văn hóa ẩm thực, nghệ thuật kiến trúc, thờ cúng thần linh sẽ chỉ rađược những bản sắc văn hóa của đồng bào Nghi lễ trong gia đình ở Sóc Trăng được hìnhthành từ rất lâu, nó thể hiện khát vọng chinh phục vùng đất mới cũng như thế giới quan,nhân sinh quan của đồng bào các dân tộc nơi đây
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công
bố và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
1.3.1 Đánh giá kết quả đạt được của các công trình đã nghiên cứu
Có thể nói, khi nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc Tác giả nhận thấy nguồn tư liệu vô cùng phong phú Các chuyên gia, nhàkhoa học đã có những công trình nghiên cứu công phu, sâu sắc và có giá trị khoa học cao
Trang 34Với mạch logic này, chúng tôi kế thừa làm tư liệu quý giá để phát triển luận án củamình bao gồm:
Những công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa các dân tộc Các tác giả
đã phân tích, lý giải vấn đề bản sắc văn hóa của các dân tộc, trong xã hội hiện đại đang bịsuy giảm Một số tác giả còn nghiên cứu bản sắc văn hóa với cách tiếp cận hệ thống - cấutrúc nhằm xác định những đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam, không lấy văn hóanước ngoài làm tiêu chuẩn Nhiều tác giả nghiên cứu bản sắc dân tộc ở phạm trù rộng,tĩnh Các tác giả khẳng định, dòng chảy văn hóa như những đợt sóng không ngừng, vì vậy
chúng ta cần “gạn đục khơi trong” giữ lại những gì tinh túy cho dân tộc Nói đến bản sắc
văn hóa là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử Do
đó, các tác giả chỉ rõ, giá trị truyền thống là cốt lõi, là sức sống bên trong của một dân tộccho dù có bị xâm lấn bởi văn hóa ngoại lai thì văn hóa dân tộc vẫn được gìn giữ và trườngtồn cùng dân tộc Ngoài ra, một số tác giả còn nghiên cứu sự xuống cấp về đạo đức, sựđảo lộn các giá trị đạo đức Từ đó, các tác giả chỉ ra nguyên nhân cũng như những giảipháp làm giảm sự xuống cấp về đạo đức trong giai đoạn hiện nay
Chúng tôi nhận thấy hầu hết các chuyên gia, các nhà khoa học đều khẳng định cácgiá trị của văn hóa đối với sự phát triển của mỗi dân tộc, nhất là trong thời kỳ cách mạngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Nhiều tác giả cho rằng, toàn cầu hóa vừa là thời
cơ cũng vừa là thách thức cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta
mở cửa đón nhận đồng thời kế thừa, phát huy văn hóa nội sinh Toàn cầu hóa cũng là xuthế của thế giới đương đại góp phần tạo ra sự đa dạng về văn hóa Do đó, chúng ta không
nên “bế quan tỏa cảng” mà cần kế thừa, tiếp thu tích lũy hệ giá trị bên ngoài.
Toàn cầu hóa về kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra ở mọiquốc gia, tình hình đó đặt nền văn hóa của mỗi dân tộc trước những biến động lớn Nhiềutác giả nêu lên những mặt tiêu cực như: sự bất công, phi lý trong đời sống giữa các quốcgia, giữa các tầng lớp xã hội trong một quốc gia, nguy cơ thất nghiệp… toàn cầu hóa làmột thách thức đối với suy nghĩ… chứ không phải là một việc, một giá trị đơn thuần Qua
đó, tác giả cũng khẳng định sự kế thừa, hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa là hai mặt củatính hiện đại Chưa bao giờ môi trường văn hóa ở Việt Nam lại phong phú và đa dạng, lạinăng động và tích cực, có nhiều cơ hội và thách thức…như hiện nay
Trang 35Bên cạnh đó, nhiều tác giả cho rằng, giữ gìn không đồng nghĩa với giữ lại tất cảnhững gì của quá khứ mà cái gì hợp lý thì nên giữ, những gì tốt đẹp thì chúng ta nên hộinhập Nhiều tác giả đưa ra quan điểm muốn giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam thì việc giữgìn phải được thực hiện thường xuyên, đồng bộ và cần có sự quan tâm của mọi cấp, mọingành, địa phương Từ những luận điểm nêu trên có thể nhận thấy, bản sắc văn hóa dântộc Sóc Trăng có những điểm chung của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Tuy nhiên,đời sống tinh thần của xã hội có mối quan hệ biện chứng với đời sống vật chất, do cácđiều kiện tồn tại xã hội như: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tựnhiên - hoàn cảnh địa lý và dân cư đã hình thành nên bản sắc văn hóa có những nét đặcthù, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Ngoài ra, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một nhu cầu bức thiếtcũng được thể hiện rõ nét trong các bài báo, các luận án, các cuộc hội thảo chuyên sâu về vănhóa Nhiều ý kiến đã luận giải khá thuyết phục về bản sắc văn hóa Việt Nam từ thời tiền sửxuyên suốt thời gian qua các thời kỳ cổ, trung và cận đại Tuy mỗi thời kỳ do yếu tố lịch sửcủa dân tộc nền văn hóa dân tộc có những đặc trưng, cấu trúc và sắc thái riêng biệt, song xâuchuỗi lại các tác giả giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về sự phát triển văn hóa dân tộc Cónhững bài viết đã kiến giải sâu sắc về giá trị văn hóa truyền thống, về bản sắc văn hóa và sứcsống mãnh liệt của văn hóa trong hoàn cảnh đất nước ngày càng hội nhập
Những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở ViệtNam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng Các công trình nghiên cứu đã ghi nhận, thờigian qua, Sóc Trăng đã quan tâm, xây dựng và phát triển tốt những chính sách về văn hóa,giáo dục trong cộng đồng phật giáo Nam tông và đồng bào Khmer cũng như các dân tộcchủ yếu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng khác như dân tộc Kinh và dân tộc Hoa Những côngtrình nghiên cứu cũng đã đề cập đến nhiều nội dung về giữ gìn và phát huy các giá trị vănhóa truyền thống Sóc Trăng Ngoài ra, một số đề tài còn nghiên cứu về đặc trưng tínngưỡng tôn giáo, tình yêu quê hương, tinh thần đấu tranh bất khuất bảo vệ quê hương, bảo
vệ Tổ quốc của nhân dân Sóc Trăng Một số đề tài cũng nghiên cứu về sinh hoạt văn hóacủa các cộng đồng cư dân Sóc Trăng, các tác giả đã làm sáng tỏ về tiến trình phát triển củatín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Sóc Trăng
Trang 36Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu một số hội thảo, hội nghị, cũng như các vănbản liên quan đến giải pháp giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở Nam Bộ nói chung và Sóc
Trăng nói riêng Các văn bản đều khẳng định: “Bản sắc văn hóa tạo nên sự khác biệt giữa
các quốc gia và các nhóm dân tộc Gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa góp phần tạo thêm sức mạnh cho quốc gia, dân tộc” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW), “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.v.v
Tuy nhiên, các nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa, giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay không nhiều Chủ yếu chỉ nghiên cứu
về văn hóa về bản sắc dân tộc nói chung, về bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như vaitrò của toàn cầu hóa tới văn hóa, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởNam Bộ cũng như những giải pháp mang tính chiến lược chứ chưa có tính cụ thể Hơnnữa, các tác giả nghiên cứu, phân tích,… phần đông ở góc độ văn hóa, văn hóa học,dân tộc, dân tộc học hay những nghiên cứu liên ngành chứ ít có nghiên cứu nào thật sự
chuyên sâu về góc độ triết học, các học giả nghiên cứu về Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Sóc Trăng từ góc độ triết học lại càng không có.
Ngoài ra, các nghiên cứu về văn hóa, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởtỉnh Sóc Trăng của các tác giả cũng chưa làm sáng tỏ về tinh thần yêu quê hương, đấtnước của cộng đồng dân tộc Sóc Trăng, ý thức cố kết cộng đồng Kinh - Khmer - Hoatrong văn hóa Sóc Trăng, lòng nhân ái, tinh thần nghĩa hiệp, trọng đạo lý trong văn hóaSóc Trăng, tinh thần giản dị, bộc trực, thẳng thắn trong ứng xử của cộng đồng dân tộcSóc Trăng, tinh thần lạc quan, nhìn cuộc sống đầy ý nghĩa trong văn hóa Sóc Trăng cũng như thực trạng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh SócTrăng, hay nêu ra những vấn đề đặt ra, những nguyên nhân trong việc giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay và những giải pháp nhằm giữgìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay Đây chính là vấn đềcòn bỏ ngỏ mà chúng tôi cần nghiên cứu, làm sáng tỏ và đưa ra những giải pháp về
vấn đề: “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay”.
Trang 371.3.2 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả, luận án tiếp tục triển khai,nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ các khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Thứ hai, thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng và những vấn đề đặt ra.
Thứ ba, những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay (thuộc vùng Tây Nam Bộ Việt Nam), thấy được những điểm chung trong cộng đồng văn hóa Việt Nam và cũng làm sáng tỏ sự khác biệt bản sắc văn hóa các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay Từ đó, tác giả đưa
ra những giải pháp nhằm giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Khi nghiên cứu những tài liệu liên quan đến luận án, chúng tôi nhận thấy nhữngtài liệu liên quan đến luận án là vô cùng phong phú, đa dạng giúp ích rất nhiều khi tácgiả thực hiện luận án của mình
Đã có rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa, giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc Một số tác giả với cách tiếp cận văn hóa, bản sắc văn hóa dưới dạng hệ thống -cấu trúc nhằm xác định những đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam Không lấy văn hóanước ngoài làm tiêu chuẩn cho bảng giá trị của bản sắc văn hóa Việt Nam Một số tác giả lại
đề cập bản sắc văn hóa dưới dạng tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới, hoặc phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, đã luận giải sâu sắc về phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội
Ngoài ra, đã có những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ởNam Bộ nói chung và những công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc ở Sóc Trăng nói riêng Như: Đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của
các cộng đồng cư dân Nam Bộ; Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Khmer Nam Bộ; Tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ trong quá trình phát triển Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Rô Băm của dân tộc Khmer Nam
Trang 38Bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng; Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Sóc Trăng; Báo cáo tổng hợp vai trò của đình, chùa trong đời sống của người Kinh ở tỉnh Sóc Trăng Tuy
nhiên, những nghiên cứu trên chỉ xoay quanh các khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa, giátrị truyền thống, toàn cầu hóa kinh tế và xây dựng nền văn hóa dân tộc…chứ chưa làm
sáng tỏ về Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Sóc Trăng hiện nay từ góc độ triết học Do vậy, khi nghiên cứu đề tài Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở
Sóc Trăng hiện nay chúng tôi nỗ lực làm sáng tỏ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Sóc Trăng hiện nay dưới hệ quy chiếu của các nguyên lý, quy luật và các phạm trù
triết học về một vùng văn hóa cụ thể của đất nước Từ đó thấy được những thành tố chính
tạo nên một vùng văn hóa là gì? những thành tố chính tạo nên sự khác biệt nét văn hóa làgì? nhận diện bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng là gì? cũng như nhữnggiải pháp cho vấn đề nghiên cứu sinh đang nghiên cứu
Về mặt lý luận, chúng tôi không tham vọng xây dựng một hệ thống lý luận văn hóa,bản sắc văn hóa hoàn thiện hay có những sáng tạo nhảy vọt mà chỉ học hỏi, kế thừa cáchọc giả đi trước những quan điểm, những khái niệm…phù hợp coi đó là công cụ thiết yếucho nghiên cứu của mình Từ việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam tới các quan điểmcủa Đảng về văn hóa cũng như tồn tại xã hội của vùng đất Sóc Trăng dẫn đến sự phongphú, đa dạng trong nét đặc thù và bản sắc văn hóa nơi đây Từ đó cũng thấy được, ngoàinhững yếu tố tốt đẹp, được coi là bản sắc riêng cần được giữ gìn, phát huy và trân trọnggóp phần làm phong phú nền văn hóa Sóc Trăng Ngoài ra, cũng cần nhìn nhận bản sắcvăn hóa đang dần bị phai mờ, biến dạng bởi những yếu tố văn hóa ngoại lai Chúng ta cần
tỉnh táo để “gạn đục khơi trong”, sao cho văn hóa vừa có tính dân tộc khoa học và đại chúng, góp phần làm cho văn hóa Sóc Trăng nói riêng cũng như văn hóa Việt Nam nói
chung vừa phong phú, đa dạng vừa đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 39Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở TỈNH SÓC TRĂNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
2.1 Về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
2 1.1 Về văn hóa
Ở phương Đông thời kỳ cổ đại, từ “văn hóa” đã có mặt trong đời sống ngôn ngữ
Trung Quốc từ rất sớm Theo Hán tự thì Văn: đẹp; Hóa: trở thành, biến cải Văn hóa:
làm cho cái gì đó trở nên có giá trị
Ở phương Tây cổ đại, thuật ngữ Cultural được tìm thấy trong tác phẩm của Ciceron
(106-43Tr.CN), Philosophiae est anima coluerunt - triết học là gieo trồng linh hồn “Cần
phải rèn luyện và vun xới trí tuệ như người nông dân vun xới đất đai” Về sau, từ này
chuyển nghĩa nói về tính chất khai trí, tính chất có giáo dục, có học vấn của bản thân conngười Như vậy, trong quan niệm của phương Tây cổ đại, văn hóa là sự giáo dục làmphong phú tinh thần, trí tuệ của con người
Định nghĩa của Edward Burrwett Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy, xuất bản ở
Luân Đôn năm 1871, được xem là định nghĩa đầu tiên có tính kinh điển về văn hóa: “Văn
hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tínngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác
được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” (Huyền Giang dịch,
trong Văn hóa nguyên thủy, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội năm 2001, tr.13) Trong
định nghĩa trên, khái niệm văn hóa đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống con
người và xã hội, nó hàm chứa một phức thể các thành tựu, các giá trị mà con người với tưcách là thành viên của xã hội đạt được, bao trùm trên nhiều lĩnh vực
Trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, quan niệm về “văn hóa” không chỉ là mốiquan hệ với tự nhiên của con người mà còn là bản chất lao động xã hội của mỗi cá nhân,
“hành vi lịch sử đầu tiên” Văn hóa là khái niệm phản ánh tổng thể, sự thể hiện ra và sự pháthuy những năng lực bản chất người, trong tất cả các dạng thứ tồn tại hoạt động của con người
và là sự phản ánh tổng thể các hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá
Trang 40trình thực tiễn - lịch sử - xã hội của mình Ph.Ăngghen viết: “Mỗi bước tiến lên trêncon đường văn hoá lại là một bước tiến tới tự do”[85, tr.164] Nói văn hóa là nói tới
con người, nói tới việc phát huy “những năng lực bản chất” của con người nhằm hoàn
thiện con người và hoàn thiện xã hội
Năm 1982, UNESCO - tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên HợpQuốc, đã tổ chức Hội nghị các quốc gia UNESCO ở Mexico về chính sách văn hóa vàcông bố “Tuyên ngôn” trong đó văn hóa đã được thống nhất định nghĩa như sau:
Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúccảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội Văn hóa baogồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại
- being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng Vănhóa đem lại cho con người khả năng suy xét (Reflect-phản tư) về bản thân.Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt - conngười, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờvăn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình làmột phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bảnthân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nênnhững công trình vượt qua cả giới hạn của bản thân [147]
Ngày nay, tất cả các quốc gia thuộc Liên Hợp Quốc đều tán đồng và lấy địnhnghĩa này làm cơ sở để thảo luận và quyết định những vấn đề về văn hóa Theo địnhnghĩa, khái niệm văn hóa được đề cập tới theo ba cấp độ khác nhau Ở mức đơn giảnnhất, văn hóa được xem là văn học và nghệ thuật Phức tạp hơn, ngoài văn học và nghệthuật, văn hóa còn bao gồm cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị,truyền thống và đức tin của con người, tức là hệ thống các giá trị tinh thần của conngười hay một nhóm người trong xã hội Ở phạm vi bao quát nhất, văn hóa bao gồmnhững giá trị vật chất và tinh thần của một xã hội hay một nhóm xã hội Như vậy, vănhóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung, những giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra - văn hóa là chìa khóa của sự phát triển
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều định nghĩa cho khái niệm văn hóa được đề xuất Ngay từ đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa: