1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan niệm về nhân quả trong Phật giáo và mối liên hệ của nó với quan niệm của Triết học Mác-Lenin về nguyên nhân – kết quả

18 578 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả. 1. Khái niệm Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong sự vật, hiện tượng, giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định. Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiên tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng. Và để một hay nhiều nguyên nhân tạo ra kết quả cần có sự gắn kết của nguyên cớ. Nguyên cớ là điều kiện, hoàn cảnh cần để các tác động lẫn nhau của hiện tượng, sự vật tạo ra được biến đổi. 2. Tính chất Phép biện chứng duy vật của triết học Marx - Lenin khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu. • Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định. Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình. • Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi. Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực. • Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau. Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu 3. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính chất tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân. Nguyên nhân sinh ra trước kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên. Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể dẫn ra theo các hướng thuận, nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả , nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,… Ngược lại, một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả trong đó có nguyên nhân chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,… Kết quả cũng có thể tác động ngược lại đến nguyên nhân. Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện kết quả lại có ảnh hưởng tích cực đối với nguyên nhân theo 2 chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng, Ph.Ăngghen viết: “Chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối quan hệ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc lúc khác lại là kết quả, và ngược lại”. 4. Ý nghĩa phương pháp luận Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân – quả. Trong thế giới hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đổi không có nguyên nhân và ngược lại, không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định.

Trang 1

Lời mở đầu.

Trang 2

I Quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù nguyên nhân

và kết quả.

1 Khái niệm

Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong sự vật, hiện tượng, giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định

Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiên tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng

Và để một hay nhiều nguyên nhân tạo ra kết quả cần có sự gắn kết của nguyên cớ Nguyên cớ là điều kiện, hoàn cảnh cần để các tác động lẫn nhau của hiện tượng, sự vật tạo ra được biến đổi

2 Tính chất

Phép biện chứng duy vật của triết học Marx - Lenin khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu

Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của

bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người Dù con người biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu

óc mình những tác động và những biến đổi, tức là mối liên

hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên

hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình

Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và

trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không

Trang 3

có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực

Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong

những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau

Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả

do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu

3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.

Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính chất tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân

Nguyên nhân sinh ra trước kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân

Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên

Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể dẫn ra theo các hướng thuận, nghịch khác nhau

và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả , nhưng vị trí, vai

Trang 4

trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,… Ngược lại, một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả trong đó

có nguyên nhân chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,…

Kết quả cũng có thể tác động ngược lại đến nguyên nhân Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện kết quả lại có ảnh hưởng tích cực đối với nguyên nhân theo 2 chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực

Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng, Ph.Ăngghen viết: “Chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có

ý nghĩa nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối quan hệ chung của nó với toàn

bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì

ở chỗ khác hoặc lúc khác lại là kết quả, và ngược lại”

4 Ý nghĩa phương pháp luận

Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan

hệ nhân – quả Trong thế giới hiện thực không thể tồn tại những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đổi không có nguyên nhân và ngược lại, không có nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định

Trang 5

Vì mối liên hệ nhân quả phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kiết quả và ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức

và thực tiễn cần phải có cách nhìn mang tính toàn diện và lịch sử

-cụ thể trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ nhân – quả

II Quan niệm về nhân quả trong Phật giáo và mối liên hệ

của nó với quan niệm của Triết học Mác-Lenin về nguyên nhân – kết quả

1 Vài nét về Phật Giáo.

1.1 Nguồn gốc hình thành:

Phật giáo hay Đạo Phật, Đạo Bụt là một tôn giáo hoặc hệ thống triết học bao gồm một loạt các giáo lý, tư tưởng triết học cũng như tư tưởng cùng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích tự nhiên, tâm linh, bản chất sự việc, xã hội và các phương pháp thực hành, tu tập dựa trên giáo pháp (lời dạy) của một nhân vật lịch sử là Siddhārtha Gautama ( Tất-đạt-đa Cồ-đàm) và các truyền thống, tín ngưỡng được hình thành trong quá trình truyền bá, phát triển Phật giáo sau thời của Siddhārtha Gautama

Siddhārtha Gautama (phiên âm Hán – Việt là Tất-đạt-đa Cồ-đàm) hay còn gọi là Shakyamuni (phiên âm Hán – Việt là Thích-ca Mâu-ni), là một triết gia, đạo sư tâm linh người Ấn Độ sáng lập nên Phật Giáo, từng sống vào thời kì Ấn Độ cổ đại khoảng giữa thế ký 6

và 4 trước Công Nguyên Theo các bộ kinh Phật giáo truyền lại và sử

Trang 6

liệu, ông là một vương tử hoàng tộc Gautama (Cồ-Đàm) của tiểu quốc Shakya (Thích-ca) ở Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ), đã từ bỏ đời sống phú quý để tìm đạo Sau sáu năm cầu đạo, ông đạt được giác ngộ tâm linh và dành 45 năm cuối của cuộc đời mình cho việc truyền dạy giáo lý ở phía đông tiểu lục địa Ấn Độ

Phật giáo sơ khởi duy lý và vô thần, hướng con người đến nhận thức chân lý, hay còn gọi là tỉnh thức, giác ngộ Sau khi Siddhārtha Gautama qua đời thì Phật giáo bắt đầu phân hóa ra thành nhiều nhánh

và nhiều hệ tư tưởng khác nhau, với nhiều sự khác biệt, mặc dù cùng

có xuất phát từ tư tưởng của Phật giáo nguyên thủy:

- Phật giáo Nguyên thủy, còn gọi là Phật giáo Nam Tông, Phật giáo Thượng tọa, Phật giáo Tiểu thừa Đây là nhánh Phật giáo

có hệ thống kinh điển được coi là gần nhất với giáo lý nguyên thủy của đạo Phật

- Phật giáo Phát triển, còn gọi là Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Đại chúng, Phật giáo Đại thừa

- Phật giáo Chân ngôn, còn gọi là Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Mật tông, Phật giáo Kim cương thừa

Các trường phái Phật giáo khác nhau ở quan điểm về bản chất của con đường đưa đến giác ngộ để được giải thoát, tính chính thống của các bài giảng đạo và kinh điển, đặc biệt là ở phương thức tu tập

Vì hướng đến việc nhận thức đúng đắn bản ngã và thế giới khách quan nên hệ thống triết lý Phật giáo chứa đựng nhiều quan điểm bản thể luận và nhận thức luận Siêu hình học trong triết học Phật giáo đã phát triển đến một trình độ cao Phương Tây dịch giác ngộ thành khai sáng vì trong triết học phương Tây khai sáng là tự sử dụng trí tuệ của mình để nhận thức đúng đắn thế giới cũng giống như giác ngộ trong Phật giáo Cũng như Nho giáo và triết học phương Tây hiện đại, Phật

Trang 7

giáo là một hệ thống triết học mang tính khai sáng nhằm hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ

1.2 Các giáo lý cốt lõi

Những tư tưởng cơ bản của Phật-đà đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau

Vì vậy, ngày nay, có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lý hết sức phức tạp Tuy vậy các triết lý đõ vẫn dựa trên những giáo lý cốt lõi sau:

 Nhân quả và luân hồi:

- Nhân quả: Phật giáo giải thích mọi sự việc đều là sự biểu hiện của luật nhân quả Nghĩa là mọi sự việc đều là kết quả từ nguyên nhân trước đó Sự việc đó chính nó lại là một nguyên nhân của kết quả sau này Nhân quả tương tác theo luật tương ứng: nhân nào thì quả nấy Con người dù không thể thấy được toàn bộ, không thể lý giải được hoàn toàn nhân quả này thì mối quan hệ nhân quả vẫn là một quy luật tự nhiên khách quan

- Luân hồi: Luân hồi chỉ cho việc tâm thức trải qua nhiều kiếp sống Chết là hết một kiếp, tâm thức mang theo nghiệp đi tái sinh kiếp mới Hình thức của một kiếp sống là khác nhau, có thể chuyển đổi giữa các loài, các thế giới (cõi súc sinh, cõi người, cõi a-tu-la, cõi trời) Quan hệ nhân quả quyết định cách thức luân hồi, hay nói cách khác tùy nghiệp đã tạo mà sẽ luân hồi tương ứng để nhận quả Còn luân hồi là còn khổ Phật giáo chỉ

ra rằng luân hồi chỉ có thể bị phá vỡ nếu giác ngộ, nghĩa là có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử nếu biết cách "đoạn diệt" các nguyên nhân dẫn dắt luân hồi, nghĩa là không còn quan hệ nhân quả

Trang 8

 Tứ thánh đế

Cơ sở tư tưởng và cốt lõi của Phật pháp là tứ thánh đế Đây là quan điểm triết học mang tính duy lý gồm bốn chân lý giải thích bản chất của sự khổ trong luân hồi (輪回), nguyên nhân của sự khổ, và làm thế nào để giải trừ đau khổ Bốn chân lý đó là:

- Khổ đế: chân lý về sự Khổ

- Tập đế: chân lý về sự phát sinh của Khổ

- Diệt đế: chân lý về diệt khổ

- Đạo đế: chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ

Trong đó, Bát chính đạo - con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ được đề cập đến trong Đạo đế bao gồm: chính kiến, chính

tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tân, chính niệm, chính định

 Siêu hình học

Trong đạo Phật những vấn đề siêu hình không là vấn đề hệ trọng đối với những ai đang cố thực hiện cuộc thực nghiệm tâm linh Đức Phật dạy rằng điều hệ trọng nhất là phải tự tinh tiến lên để được giải thoát giác ngộ, đừng phí thì giờ và tâm lực vào những vấn đề siêu hình, ông nói: “Dù thế giới nầy là hữu hạn hay vô hạn, là hữu cùng hay vô cùng, thì điều mà chúng ta phải nhận là thực có ở giữa đời nầy, vẫn là những khổ đau sinh lão bệnh tử”

1.3 Phật Giáo trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Sự phát triển của Phật Giáo trên thế giới

Trang 9

Phật giáo có số lượng tín đồ vào khoảng 488 triệu người trên khắp thế giới trong thập niên 2010, chiếm 7% tới 8% dân số toàn thế giới

Trung Quốc là quốc gia có đông tín đồ Phật giáo nhất, khoảng

244 triệu Phật tử hay 18,2% dân số cả nước Đa phần họ theo Phật

giáo Đại Thừa, làm cho hệ phái này trở thành bộ phận đông đảo nhất

của Phật giáo Phật giáo Đại Thừa, cũng hiện diện ở các nước có văn hóa Đông Á khác, có hơn phân nửa số Phật tử trên toàn thế giới tu tập

Bộ phận lớn thứ hai trong các hệ phái Phật giáo là Phật giáo

Nam Tông, chủ yếu thu hút các tín đồ tại Đông Nam Á Bộ phận thứ

ba và cũng là nhỏ nhất của Phật giáo, Kim cương thừa, với tín đồ hầu hết ở Tây Tạng, vùng Himalaya, Mông Cổ và nhiều khu vực

ở Nga, nhưng cũng được phổ biến trên khắp thế giới

Theo báo cáo phân tích nhân khẩu học của Peter Harvey (2013):

Phật giáo phương Đông (Đại Thừa) có 360 triệu tín đồ;

Phật giáo phương Nam (Nam Tông) có 150 triệu tín đồ; và

Phật giáo phương Bắc (Kim Cương Thừa) có 18,2 triệu tín đồ.

 Bảy triệu tín đồ Phật giáo đến từ các nước bên ngoài châu Á

Các con số trên chỉ là ước tính số người chính thức theo Phật giáo (đã làm lễ Quy y tam bảo), còn số người chưa chính thức theo Phật giáo (chưa làm lễ Quy y tam bảo) nhưng có niềm tin vào Phật giáo thì còn đông hơn con số đó rất nhiều Ví dụ như tại Việt Nam và Trung Quốc, số lượng người đã làm lễ quy y tam bảo chỉ chiếm vài phần trăm dân số, nhưng số người đi chùa lễ Phật, cúng Phật tại gia, tin vào giáo lý đạo Phật thì chiếm tỷ lệ rất lớn trong xã hội

Trang 10

1.3.2 Sự phát triển của Phật Giáo tại Việt Nam

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên theo đường hải và đường bộ Những vết tích đầu tiên được được ghi nhận với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ Đầu công nguyên, Luy Lâu(Bắc Ninh) là thủ phủ của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng Các dấu tích của Phật giáo tại Việt Nam được ghi nhận qua các truyền thuyết như Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La(Ksudra) trong khoảng các năm 168-189, Phật giáo hình thành nên hệ thống tín ngưỡng thờ

Tứ Pháp

Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống trong thời nhà Đinh, nhà Tiền

Lê, nhà Lý, nhà Trần Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến đầu thế kỷ

17, Quang Trung cố gắng chấn hưng Phật giáo, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả Đến đời nhà Nguyễn, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các

Trang 11

đô thị khắp cả nước với các đóng góp quan trọng của các nhà

sư Khánh Hòa, Thiện Chiếu,

Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam Phật giáo đã cùng sinh tồn cùng dân tộc Điểm này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất nước như Đinh, Lê, Lý Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hàh hưng thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các Triều đại đó Dù được bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam Một

số tông phái Phật giáo có ảnh hưởng lớn tại Việt Nam có thể kể đến như: Thiền tông, Mật tông và Nam tông

2 Quan niệm về nhân quả trong Phật Giáo và mối liên hệ với quan niệm của Triết học Mác – Lenin về nguyên nhân – kết quả.

2.1 Nét tương đồng

2.1.1 Sự tương đồng về các phạm trù

Tương ứng với các khái niệm phạm trù nguyên nhân, nguyên cớ

và kết quả của Triết học Mác-lenin, trong quan niệm nhân quả Phật giáo có ba phạm trù cơ bản là nhân, duyên và quả, chúng có mối liên

hệ mật thiết và chuyển hóa cho nhau Với mỗi phạm trù Phật giáo lại

có sự phân tích cụ thể, thấu đáo

 Nhân:

Trang 12

Cũng giống với Triết học Mác-lenin quan niệm nguyên nhất là tác động giữa nhiều sự vật, hiện tượng cũng như tác động giữa các mặt của các sự vật, hiện tượng đó Khi nói đến Nhân, ban đầu Phật giáo thừa nhận một hệ thống trong đó các nhân đều tùy thuộc lẫn nhau, sự tùy thuộc này được gọi là duyên sinh (paticcasamuppada), nhấn mạnh rằng nhân phải được hiểu

là tổng nhân và hợp nhân Trong Kinh điển Pali và A Hàm, Phật giáo không cho rằng nếu hạt giống là nhân (hetu) và đất, mưa, ánh nắng là điều kiện (pratyaya) Bởi vì khi hạt giống được gieo xuống đồng, nó sẽ mọc nếu được cung cấp tinh hoa của đất và sự ẩm ướt Hơn nữa hạt giống phải thỏa mãn nhiều điều kiện khác như: nó phải không bị thối, bị vỡ,

bị hỏng Như vậy ở đây không phải chỉ hạt giống là nhân

mà các yếu tố vừa nêu đều là nhân và các nhân khởi lên đồng thời Cũng giống như vậy, Phật giáo quan niệm ngọn lửa của một cây đèn vào lúc canh ba là sự tiếp nối ngọn lửa của canh một Hai ngọn lửa này tạo ra một chuỗi: cái thứ nhất là nhân của cái thứ hai vì chúng có cùng tính chất, bấc

và dầu không phải là nhân mà chỉ là những cái hoạt động đồng thời với cái khác để sinh ra kết quả.

 Duyên:

Trong quan niệm của Triết học Mác-lenin, nguyên cớ chính là điều kiện, hoàn cảnh để nguyên nhân có thể dẫn đến kết quả thì trong Phật giáo các điều kiện này được gọi là duyên

Phái Nhất thiết hữu bộ là những người đầu tiên đã phân biệt giữa nhân (hetu) và duyên (pratyaya) Họ lập ra thuyết sáu nhân (năng tác nhân, câu hữu nhân, tương ứng nhân, đồng loại nhân, biến hành nhân, dị thục nhân) và cũng lập ra thuyết bốn duyên (nhân duyên,

Ngày đăng: 23/12/2020, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w