1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp: trường hợp tỉnh Đồng Tháp

76 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 766,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác kiểm tra tuân thủ thuế là một trong những nhiệm vụ trong tâm của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp để hạn chế thất thu thuế doanh nghiệp. Sự tự giác thực hiện pháp luật thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chưa được cải thiện, một số doanh nghiệp đã được kiểm tra vẫn vi phạm ở các lần kiểm tra sau. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) với cỡ mẫu điều tra 144 doanh nghiệp (62 doanh nghiệp thuộc nhóm tham gia và 62 doanh nghiệp thuộc nhóm so sánh) và phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia. Tác động của hoạt động kiểm tra thuế làm giảm số tiền vi phạm thuế của doanh nghiệp trung bình là 40,49 triệu đồng/doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra thuế ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê, nghĩa là không giúp làm giảm số lần vi phạm thuế về kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp. Đề tài đề xuất các khuyến nghị gồm: tuyền truyền, phổ biến luật thuế cho doanh nghiệp; nâng cao kiến thức về thuế cho doanh nghiệp; cải cách trong công tác kiểm tra thuế; nâng cao nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm tra thuế; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra thuế; tăng cường giám sát, đôn đốc xử lý sau kiểm tra thuế; phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra thuế.

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS BÙI THỊ MAI HOÀI

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp” là công trình nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Thị Mai Hoài Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ngày 10 tháng 07 năm 2019

Tác giả

Phạm Thị Oanh

Trang 4

TÓM TẮT

Tên đề tài: Ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp

Lý do chọn đề tài: Công tác kiểm tra tuân thủ thuế là một trong những nhiệm

vụ trong tâm của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp để hạn chế thất thu thuế doanh nghiệp Vấn đề: Sự tự giác thực hiện pháp luật thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp chưa được cải thiện, một số doanh nghiệp đã được kiểm tra vẫn vi phạm

ở các lần kiểm tra sau

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng

kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) với cỡ mẫu điều tra 144 doanh nghiệp (62 doanh nghiệp thuộc nhóm tham gia và 62 doanh nghiệp thuộc nhóm so sánh) và phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia

Kết quả nghiên cứu: Tác động của hoạt động kiểm tra thuế làm giảm số tiền

vi phạm thuế của doanh nghiệp trung bình là 40,49 triệu đồng/doanh nghiệp Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra thuế ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê, nghĩa là không giúp làm giảm số lần vi phạm thuế về kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp

Kết luận và khuyến nghị: Đề tài đề xuất các khuyến nghị gồm: Tuyền truyền, phổ biến luật thuế cho doanh nghiệp; Nâng cao kiến thức về thuế cho doanh nghiệp; Cải cách trong công tác kiểm tra thuế; Nâng cao nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm tra thuế; Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra thuế; Tăng cường giám sát, đôn đốc xử lý sau kiểm tra thuế; Phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra thuế

Từ khóa: Kiểm tra thuế, tuân thủ thuế, khác biệt trong khác biệt, Đồng Tháp

Trang 5

Methods: Using quantitative research methods with Difference in differences techniques (DID) with sample size surveyed 144 enterprises (62 enterprises of the participating group and 62 enterprises of the comparison group) and in-depth interview expert method

Results: The impact of tax inspection reduces the amount of tax violation of enterprises by an average of 40.49 million VND / enterprise However, the effect of tax inspection is not statistically significant, which means that it does not help reduce the number of tax violations on tax declaration and payment by enterprises

Conclusions and implications: The thesis proposes recommendations including: Propagating and disseminating tax laws to enterprises; Improve tax knowledge for businesses; Reform in tax inspection; Improve human resources to implement tax inspection; Applying information technology to tax inspection; Strengthen supervision and urge handling after tax inspection; Coordinate with functional agencies in tax inspection

Keywords: tax inspection, Difference in differences, Dong Thap

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG BÌA

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN 1

TÓM TẮT 2

ABSTRACT 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC BẢNG 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 9

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu thực hiện đề tài, câu hỏi chính sách cần trả lời 2

1.2.1 Mục tiêu thực hiện đề tài 2

1.2.2 Câu hỏi giải pháp cần trả lời 2

1.3 Khung phân tích, đối tượng nghiên cứu, dữ liệu và cách tiếp cận 3

1.3.1 Khung phân tích 3

1.3.2 Cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu và dữ liệu 3

1.4 Bố cục của luận văn 4

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn 4

1.6 Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn 6

Chương 2 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN 7

2.1 Các khái niệm 7

2.1.1 Thuế và quản lý thuế 7

2.1.2 Tuân thủ thuế 7

2.1.3 Không tuân thủ thuế 9

2.1.4 Các mức độ tuân thủ và không tuân thủ thuế 9

2.1.5 Kiểm tra thuế 10

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp 12

Trang 7

2.2.1 Thuế suất 12

2.2.2 Tính đơn giản của việc kê khai thuế 13

2.2.3 Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế 14

2.2.4 Công tác kiểm tra thuế 14

2.2.5 Kiến thức về thuế của NNT 15

2.2.6 Nhận thức về hình phạt và phạm tội 16

2.2.7 Tình trạng tài chính của NNT 16

2.2.8 Các yếu tố liên quan đến đặc điểm doanh nghiệp 17

2.3 Khung phân tích 18

2.3.1 Khung phân tích 18

2.3.2 Mô tả và định nghĩa các biến trong khung phân tích 18

2.4 Dữ liệu nghiên cứu 22

2.5 Cách tiếp cận và kỹ thuật sử dụng để thực hiện đề tài 23

Tóm tắt Chương 2 24

Chương 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA THUẾ ĐẾN TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP 25

3.1 Thực trạng công tác quản lý thuế của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp 25

3.1.1 Công tác tổ chức trong hoạt động kiểm tra 25

3.1.2 Công tác quản lý, kiểm tra thuế doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2018 28

3.1.3 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT 31

3.1.4 Công tác quản lý và kê khai kế toán thuế 32

3.2 Tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 32

3.2.1 Số tiền thuế vi phạm, số lần vi phạm của mẫu điều tra 32

3.2.2 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm xử lý và nhóm kiểm soát 33

3.2.3 Tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 34

Tóm tắt chương 3 35

Trang 8

Chương 4 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH

SÁCH, KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 36

4.1 Nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 36

4.1.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân của kết quả đạt được 36

4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 38

4.2 Kết luận 41

4.3 Một số khuyến nghị 41

4.3.1 Tuyền truyền, phổ biến luật thuế cho doanh nghiệp 44

4.3.2 Nâng cao kiến thức về thuế cho doanh nghiệp 44

4.3.3 Cải cách trong công tác kiểm tra thuế 42

4.3.4 Nâng cao nguồn nhân lực thực hiện công tác kiểm tra thuế 42

4.3.5 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra thuế 45

4.3.6 Tăng cường giám sát, đôn đốc xử lý sau kiểm tra thuế 46

4.3.7 Phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra thuế 47

4.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: DÀN BÀI PHỎNG VẤN SÂU DOANH NGHIỆP

PHỤ LỤC 3: DÀN BÀI PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ THUẾ

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế 8

Bảng 2.2: Các chỉ số đặc trưng cho từng cấp độ tuân thủ thuế của DN 10

Bảng 2.3: Cơ cấu mẫu điều tra theo loại hình DN 19

Bảng 2.4: Cơ cấu mẫu điều tra theo ngành nghề kinh doanh 20

Bảng 2.5: Cơ cấu mẫu điều tra theo thời gian hoạt động 20

Bảng 2.6: Phân loại DN nhỏ và vừa ở Việt Nam 21

Bảng 2.7: Cơ cấu mẫu điều tra theo quy mô DN 21

Bảng 2.8: Cơ cấu mẫu điều tra theo tình trạng tài chính 22

Bảng 2.9: Cơ cấu mẫu điều tra theo kiến thức về thuế của DN 22

Bảng 3.1: Cơ cấu lực lượng kiểm tra thuế giai đoạn 2015 - 2018 26

Bảng 3.2: Tỷ lệ số thuế truy thu và phạt/ tổng thu NSNN 30

Bảng 3.3: Vi phạm thuế của các DN trong mẫu điều tra năm 2018 33

Bảng 3.4: Khác biệt giữa 2 nhóm tại thời điểm chưa thực hiện kiểm tra (năm 2015) 33

Bảng 3.5: Tác động của việc kiểm tra thuế đến số tiền thuế vi phạm 34

Bảng 3.6: Tác động của việc kiểm tra thuế đến số lần vi phạm 35

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Khung phân tích 18

Hình 2.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép 24

Hình 3.1: Các bước kiểm tra thuế 27

Hình 3.2: Tỷ lệ nộp tờ khai thuế và tỷ lệ thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế 29

Hình 3.3: Số tiền vi phạm và tiền vi phạm đã nộp vào NSNN 29

Hình 3.4: Số tiền vi phạm và tiền vi phạm đã nộp vào NSNN bình quân của 1 DN vi phạm 30

Trang 12

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Từ năm 2003, ngành thuế Việt Nam bắt đầu thực hiện cơ chế người nộp thuế (NNT) tự khai, tự nộp thuế Theo đó, NNT tự xác định số thuế phải nộp, tự nộp thuế vào ngân sách nhà nước (NSNN) trong thời hạn luật định Đồng thời, tự chịu trách nhiệm đối với việc kê khai, nộp thuế Cơ quan thuế không can thiệp trực tiếp vào việc

kê khai, nộp thuế của NNT trừ trường hợp phát hiện ra sai sót, vi phạm hoặc có dấu hiệu không tuân thủ thuế Đây là bước ngoặt chuyển sang quản lý thuế hiện đại, theo tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam theo hướng chặt chẽ, hiệu quả, thống nhất chính sách quản lý thu thuế; tạo sự đồng bộ, nâng cao tính rõ ràng, minh bạch; tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, xã hô ̣i trong công tác quản lý thuế Quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hòi tính tự giác tuân thủ pháp luật của NNT Witte và Woodbury (1983) nhận thấy rằng “xác suất của sự trót lọt trong việc không tuân thủ là yếu tố quan trọng nhất khiến cho tình trạng không tuân thủ thuế ngày càng gia tăng Trong trường hợp phạt tiền, xem như là một người hoạt động kinh tế hợp lý, tối đa hoá độ thỏa dụng của họ thông qua thực hiện phép tính nhân giữa xác suất bị phát hiện, số tiền giữ lại được nhờ trốn thuế và so sánh với số tiền phạt tiềm năng” Như vậy, nếu NNT tuân thủ thuế kém mà cơ quan thuế không thể phát hiện hành vi gian lận thuế của NNT thì cơ chế tự khai, tự nộp thuế sẽ không phát huy hiệu quả

Đồng Tháp là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Những năm qua, doanh nghiệp (DN) ở tỉnh Đồng Tháp có sự tăng trưởng nhanh về số lượng

và quy mô Tính đến hết năm 2018, tỉnh Đồng Tháp có 13.250 DN đang hoạt động Nguồn thu thuế từ khu vực DN đóng góp 39,3% trong tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh (Cục thuế tỉnh Đồng Tháp, 2018) Tuy nhiên, công tác quản lý thuế DN tại tỉnh Đồng Tháp đang đứng trước thách thức vừa phải thu đúng, thu đủ, hạn chế thất thoát thuế để có nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, vừa phải thực hiện tốt công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hỗ trợ tốt cho hoạt

Trang 13

động của DN, tạo sự bình đẳng, công bằng giữa các DN

Ngành thuế tỉnh Đồng Tháp xác định, để hạn chế thất thu thuế DN, bên cạnh các giải pháp tuyên truyền, tư vấn thuế cho DN thì tăng cường công tác kiểm tra tuân thủ thuế là một trong những nhiệm vụ trong tâm Giai đoạn 2012 - 2017, thông qua công tác kiểm tra, ngành thuế tỉnh Đồng Tháp đã phát hiện 1.213 DN gian lận thuế (chiếm 28,9% số DN trên địa bàn), kê khai sai để giảm bớt số thuế phải nộp, tăng số thuế được giảm, miễn, được hoàn với tổng số thuế phạt và truy thu là 939,7 tỷ đồng, bằng 3,5%/tổng thu NSNN

Theo Cục thuế tỉnh Đồng Tháp (2018), sự tự giác tuân thủ pháp luật thuế của

DN chưa được cải thiện, một số DN đã được kiểm tra vẫn vi phạm ở các lần kiểm tra sau Câu hỏi đặt ra là hoạt động kiểm tra của ngành thuế tỉnh Đồng Tháp có tạo được

sự ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của NNT hay không?

Cho đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế đối với

DN, nhưng chưa có đề tài nào đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra

thuế đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp: Trường hợp tỉnh Đồng Tháp” để làm

luận văn thạc sĩ

1.2 Mục tiêu thực hiện đề tài, câu hỏi chính sách cần trả lời

1.2.1 Mục tiêu thực hiện đề tài

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu 2: Tìm hiểu nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu 3: Khuyến nghị nhằm cải thiện hoạt động kiểm tra thuế để nâng cao mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

1.2.2 Câu hỏi giải pháp cần trả lời

Để đạt mục tiêu trên, luận văn tập trung trả lời các câu hỏi sau đây:

Trang 14

Hoạt động kiểm tra thuế ảnh hưởng như thế nào đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp?

Nguyên nhân dẫn đến kết quả tác động đó là gì?

Giải pháp nào có thể cải thiện tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp?

1.3 Khung phân tích, đối tượng nghiên cứu, dữ liệu và cách tiếp cận

1.3.1 Khung phân tích

Tác giả sử dụng lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của DN làm khung phân tı́ch nhằm thực hiện mục tiêu của luận văn

1.3.2 Cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu và dữ liệu

Để trả lời câu hỏi thứ nhất, tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) của phương pháp bán thí nghiệm Cụ thể, tác giả chọn 2 nhóm đối tượng nghiên cứu là những DN có điều kiện tương đồng về mọi khía cạnh, chỉ khác nhau ở chỗ một nhóm gồm những DN đã được kiểm tra thuế 2 lần, ở thời điểm năm 2015 và năm

2018 (gọi là nhóm tham gia hay còn gọi là nhóm xử lý); nhóm còn lại là những DN chỉ được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2018 mà trước đó chưa được kiểm tra thuế (gọi là nhóm so sánh hay còn gọi là nhóm kiểm soát)

Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp gồm số liệu thống kê về hoạt động kiểm tra thuế của tất cả các DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2015 - 2018; Số liệu thống kê về kiểm tra thuế của 144 DN (62 DN thuộc nhóm tham gia và 62 DN thuộc nhóm so sánh)

Để trả lời câu hỏi thứ hai, tác giả sử du ̣ng kỹ thuật phỏng vấn sâu các đối tượng

có liên quan đến công tác kiểm tra thuế DN (DN, cán bộ của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp làm công tác kiểm tra thuế DN) để tı̀m hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Trên cơ sở câu trả lời của câu hỏi thứ 2, tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện hoạt động kiểm tra thuế để nâng cao mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Trang 15

1.4 Bố cục của luận văn

Ngoài danh mu ̣c các chữ viết tắt, danh mục các bảng, hình vẽ, tài liê ̣u tham khảo

và phụ lục thì luâ ̣n văn đươ ̣c kết cấu như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Khung phân tı́ch, dữ liê ̣u và cách tiếp câ ̣n

Chương 3: Đánh giá tác đô ̣ng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của

DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Chương 4: Nguyên nhân dẫn đến kết quả tác đô ̣ng, kết luâ ̣n và một số khuyến nghị

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn

Theo hiểu biết của tác giả thì hoạt động kiểm tra thuế DN thu hút nhiều nhà nghiên cứu, tuy nhiên cho đến hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu về tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) của phương pháp bán thí nghiệm

Có thể kể tên một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

Nguyễn Chí Dũng (2009) đã phân tích vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế đối với tính tuân thủ của NNT Tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra, kiểm tra/ số DN trong vòng 1 năm; tỷ

lệ (%) độ chính xác trong phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra, kiểm tra

Lê Thị Phương Thảo (2009) phân tích thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua ba nội dung: Đăng ký thuế; kê khai, tính thuế và nộp thuế; chấp hành kế toán chứng từ, hóa đơn Kết quả cho thấy, để đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế cần tập trung vào các nội dung: Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá, lựa chọn xếp loại DN để xây dựng

kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cho phù hợp; phân cấp quản lý DN cho các chi cục thuế để chủ động trong công tác quản lý thuế

Ngô Thị Thu Hương (2011) đã kế thừa các nghiên cứu trước và đưa ra những tiêu chí đính tính, định lượng về hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế, nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội, cơ chế quản lý thuế, mô hình quản lý thuế

Trang 16

Võ Đức Chín (2011) đã đề xuất mô hình nghiến cứu các yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của DN tại tỉnh Bình Dương gồm có 6 nhóm nhân tố: (1) Đặc điểm về DN; (2) Các yếu tố về ngành kinh doanh; (3) Các yếu tố về xã hội; (4) Các yếu tố kinh tế; (5) Các yếu tố về hệ thống thuế; (6) Các yếu tố tâm lý DN Kết quả phân tích

số liệu khảo sát 200 DN bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá và hồi quy đa biến cho thấy cả 6 nhóm nhân tố đều ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của DN Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế là yếu tố kinh tế; hệ thống thuế và đặc điểm DN

Phan Thị Minh Hiền (2012) trình bày lý luận hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế với các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả kiểm tra, thanh tra tuế Hiệu quả của thanh tra, kiểm tra thuế được xác định qua các tiêu chí: số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật và công bằng xã hội

Lê Tự Cư (2012) nghiên cứu về kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục Thuế quận Hải Châu Kết quả cho thấy, công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng thực sự chưa đạt hiệu quả như yêu cầu, chưa bao quát hết các hoạt động của DN Môi trường kiểm soát thuế bị hạn chế nhiều mặt, chưa có hướng dẫn chi tiết về nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn cho cán bộ thuế làm công tác kiểm tra thuế DN

Hồ Hoàng Trường (2012) sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là công tác thanh, kiểm tra với ba biến độc lập gồm biến mối quan hệ giữa cơ quan thuế và

DN, biến cơ quan thuế và biến DN Kết quả cho thấy công tác thanh, kiểm tra thuế

có mối quan hệ tuyến tính với ba biến độc lập trên Do đó để nâng cao chất lượng công tác thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, tác giả đề xuất là phải tìm cách cải thiện các hệ số trong mô hình mà cụ thể là phải tác động vào các yếu tố Cục Thuế, DN, mối liên hệ giữa cơ quan thuế và DN

Nguyễn Diệu Thủy (2013) sử dụng số liệu thứ cấp với các phương pháp như phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích dựa trên các tiêu chí như: Quy mô của DN, loại hình DN, mức độ tuân thủ nộp thuế, tình hình kê khai, nộp thuế của DN, cơ cấu

tổ chức của DN, hiệu quả sản xuất kinh doanh, các năm đã thực hiện thanh tra, kiểm tra DN Kết quả cho thấy, công tác thanh tra, kiểm tra thuế đã góp phần nâng cao dần

Trang 17

tính tuân thủ tự giác trong việc chấp hành các chính sách thuế của NNT tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc; tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các DN thuộc các thành phần kinh

tế trên địa bàn tỉnh

Mahmoud Moeinadin và cộng sự (2014) xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế tại Iran gồm có 4 nhân tố: luật pháp, xã hội, cấu trúc hệ thống thuế, nhóm nhân tố riêng của DN Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến để phân tích số liệu khảo sát 239 DN Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến tuân thủ thuế của DN

Trần Hoàng Thành và Phạm Khánh Nam (2017) nghiên cứu về hành vi vi phạm

về thuế của các DN qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang

Mô hình hồi quy bội các yếu tố ảnh hưởng đến vi phạm thuế của DN gồm có 6 biến độc lập: Ngành nghề kinh doanh; Loại hình DN; Quy mô DN; Trình độ học vấn chủ DN/Người quản lý; Thời gian hoạt động; Bị xử phạt về thuế trong quá khứ Với kích thước mẫu là 300, kết quả cho thấy ở mức ý nghĩa 5%, vi phạm về thuế chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: Quy mô DN; Học vấn người quản lý DN; Bị xử phạt về thuế trong quá khứ

1.6 Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn

Luận văn này hướng đến mục tiêu đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, tı̀m hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả tác đô ̣ng đó Trên cơ sở tı̀m hiểu nguyên nhân, tác giả kỳ vo ̣ng sẽ đưa ra được các khuyến nghi ̣ chính sách nhằm cải thiện hoạt động kiểm tra thuế Từ đó nâng cao mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Trang 18

Chương 2 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Thuế và quản lý thuế

Theo Tổng Cục thuế (2009) thì “Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào NSNN, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng”

Luật quản lý thuế Việt Nam (2006) định nghĩa “Quản lý thuế là quá trình thực thi các chức năng đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quản lý hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về NNT, kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý

vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế”

Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã chuyển đổi cơ chế quản lý thuế

là tự khai, tự nộp Đặc điểm của cơ chế này là NNT tự tính toán số tiền thuế phải nộp

và tự nộp số tiền đó NNT phải tự chịu trách nhiệm về việc kê khai và nộp thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra công việc kê khai của NNT

2.1.2 Tuân thủ thuế

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tuân thủ thuế Alm (1991) cho rằng “Tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án” Tuân thủ thuế là mức độ NNT chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế (James và Alley, 1999) Singh (2003) cho rằng “Tuân thủ thuế là hành động của người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán đầy đủ các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành động từ cơ quan thuế”

Tuân thủ thuế theo quan điểm quản lý công bao gồm đăng ký, thông báo đến cơ

Trang 19

quan thuế về tình trạng của NNT, nộp tờ khai thuế và tuân thủ thời hạn thanh toán theo quy định (Harris, 1989; Chow, 2004) Tuân thủ thuế yêu cầu NNT phải có kiến thức đầy đủ về thuế, đạt mức độ trung thực nhất định, có khả năng hoàn thành tờ khai thuế, các hồ sơ thuế kịp thời, chính xác và đầy đủ (Sing và Bhupalan, 2001)

Theo McBarnet (2001) thì “Tuân thủ thuế được nhìn nhận theo 3 cách: tuân thủ sẵn sàng nộp thuế mà không khiếu nại; tuân thủ có điều kiện miễn cưỡng nộp tờ khai

và nộp thuế; tuân thủ có sáng tạo để giảm thiểu nghĩa vụ thuế bằng cách xác định lại thu nhập và khấu trừ các khoản chi phí theo quy định của luật thuế” Như vậy, có thể hiểu tuân thủ thuế là việc NNT nộp tờ khai, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn Tóm lại, tuân thủ thuế là một khái niệm rộng và có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, được tóm tắt tại bảng 2.1

Bảng 2.1: Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế

Tuân thủ thuế Cách tiếp cận kinh tế Cách tiếp cận hành vi

Góc độ tiếp cận

Tuân thủ 100% quy định

về thuế so với thực tế, xét trên góc độ hẹp

Tự nguyện, sẵn sàng hành động theo tinh thần và từng quy định của luật thuế, xét trên góc độ rộng hơn

tuân thủ

Dựa trên sự hợp lý về lợi ích kinh tế

Dựa trên hành vi hợp tác giữa NNT

và cơ quan thuế

(3) Tối đa hóa thu nhập và của cải cá nhân

Mỗi cá nhân không chỉ đơn thuần

là một cá thể độc lập chỉ biết tối đa

theo thái độ, niềm tin, tiêu chuẩn và vai trò khác nhau Thành công dựa trên sự hợp tác

Tuân thủ thuế Hiệu quả trong việc phân

phối nguồn lực

Hợp lý, công bằng và phạm vi tác động tích cực

Hình ảnh NNT Ích kỷ tính toán lợi ích và

thiệt hại bằng tiền “Công dân tốt”

Nguồn: James và Alley (2004)

Trang 20

2.1.3 Không tuân thủ thuế

Rất khó để phân biệt giữa hành vi “tránh thuế” tức là tận dụng những khe hở của pháp luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi “trốn thuế” tức

sự vi phạm pháp luật (Bird và Oliver, 1990) Boidman (1983) định nghĩa 3 hình thức không tuân thủ thuế: (1) Không nộp tờ khai thuế; (2) Không kê khai thu nhập trên tờ khai thuế; và (3) Giảm thu nhập chịu thuế bằng cách khai tăng các khoản miễn giảm, hay khấu trừ

Theo Kasipillai và Jabbar (2003), không tuân thủ thuế là việc không sẵn lòng tuân theo luật thuế và/hoặc khai báo không chính xác, thực hiện kê khai sai các khoản giảm trừ, miễn giảm thuế và/hoặc không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định

2.1.4 Các mức độ tuân thủ và không tuân thủ thuế

Theo Ahmed và Braithwaite (2005) thì “cấp độ hay mức độ tuân thủ thuế của

DN dựa trên mức độ sẵn sàng và khả năng thực hiện những nghĩa vụ thuế của DN Đây cũng chính là các cấp độ thể hiện mối quan hệ và thái độ của DN với cơ quan thuế, hay thể hiện mức độ chấp nhận hay từ chối các quy định của luật thuế, công cụ quản lý thu thuế Để đánh giá sự tuân thủ thuế của DN thì biến số về cấp độ (mức độ) tuân thủ là biến số đầy đủ phản ánh rõ sự tuân thủ cả về tính tự nguyện, tính đầy đủ, tính kịp thời Sự tuân thủ thuế của DN được phân theo 4 cấp độ tuân thủ như sau: Một là, cấp độ cam kết Ở cấp độ này DN cảm thấy thoải mái với hoạt động quản lý thuế, hợp tác với cơ quan thuế theo các kế hoạch quản lý thuế và tuân thủ một cách tích cực, thậm chí có thể thay mặt cơ quan thuế khuyến khích đối tượng khác tuân thủ

Hai là, chấp nhận hay hoà hợp, DN chấp nhận những yêu cầu quản lý thu thuế

và tin tưởng vào cơ quan thuế

Ba là, miễn cưỡng hay kháng cự, đó là cách tiếp cận chống đối, DN có sự đối đầu, đối nghịch với cơ quan thuế

Bốn là, từ chối, DN hoàn toàn tách khỏi sự quản lý của cơ quan thuế

DN nộp thuế ở cấp độ thứ nhất hay thứ hai nói chung là tuân thủ trong khi ở

Trang 21

nhóm đối tượng thứ ba và thứ tư thể hiện sự kháng cự và thù địch đối với nghĩa vụ thuế

Theo mô hình các cấp độ tuân thủ thuế thì đa số DN là ở cấp độ cam kết, tiếp theo là cấp độ chấp nhận, rất ít DN ở cấp độ miễn cưỡng hay từ chối Tuân thủ thuế

ở mỗi cấp độ được thể hiện qua 3 chỉ số: (1) nộp đủ; (2) đúng thời gian; (3) tự nguyện (Ahmed và Braithwaite, 2005)”

Bảng 2.2: Các chỉ số đặc trưng cho từng cấp độ tuân thủ thuế của DN

Nguồn: Ahmed và Braithwaite (2005)

Như vậy, cấp độ “cam kết” được thể hiện ở ba chỉ số đều tốt là nộp đủ, nộp đúng thời gian, tự nguyện Cấp độ “chấp nhận” được thể hiện ở hai chỉ số tốt là nộp đủ, nộp đúng thời gian Cấp độ “ miễn cưỡng” chỉ thể hiện ở một chỉ số tốt là nộp đủ Cấp độ “từ chối” thì đều không nộp

“Mô hình các cấp độ tuân thủ của Ahmed và Braithwaite (2005) chỉ đúng đối với các nước phát triển, nơi mà DN có tinh thần và đạo đức thuế cao và ít bị cản trở bởi các tác động kinh tế đến sự tuân thủ, nên không phù hợp với các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi có tinh thần thuế thấp và gánh nặng về chi phí tuân thủ quá lớn” (Học viện Tài chính, 2010)

2.1.5 Kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch phát sinh đến nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội (Tổng Cục Thuế, 2008)

Kiểm tra thuế là một trong những chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp phát hiện vi phạm pháp

Trang 22

luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho NNT luôn ý thức rằng có một hệ thống luôn giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy

họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế (Tổng Cục Thuế, 2008)

Theo Tổng Cục Thuế (2008) thì kiểm tra thuế nhằm các mục tiêu sau: (1) Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế; (2) Phát hiện những bất hợp lý, những kẽ hở trong các văn bản pháp luật thuế để kịp thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và xác lập các căn cứ hoàn thiện chính sách thuế cũng như cơ chế quản lý thuế; (3) Điều tra, xác minh để làm sáng tỏ khiếu nại về thuế, làm căn cứ cho việc xử lý kịp thời những khiếu nại về thuế

Nguyên tắc kiểm tra thuế (Tổng Cục Thuế, 2008): (1) Hoạt động kiểm tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật; (2) Hoạt động kiểm tra thuế phải chính xác, khách quan, trung thực; (3) Hoạt động kiểm tra thuế phải bảo đảm dân chủ, công khai, kịp thời; (4) Hoạt động kiểm tra thuế không làm cản trở đến hoạt động bình thường của đối tượng nộp thuế

“Để xác định được kiểm tra thuế có hiệu quả hay không thì cần phải áp dụng các tiêu chí đánh giá hiệu quả về mặt định lượng và định tính Các tiêu chí đánh giá hiệu quả là thước đo, là chuẩn mực để đánh giá tác dụng, hiệu quả kiểm tra thuế Hiện tại, vẫn chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra thuế được công nhận” (Trần Hoàng Thành và Phạm Khánh Nam, 2017)

Tuy nhiên, có thể tham khảo hệ thống 16 tiêu chí định lượng của Nguyễn Xuân Thành (2010) và 04 tiêu chí định tính mà Tổng Cục thuế (2010) xây dựng theo chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2020

Theo Nguyễn Xuân Thành (2010), “các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế của nghiệp vụ kiểm tra thuế đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việc thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ kiểm tra thuế Các tiêu chí này thường gồm: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số đối tượng kiểm tra so với kế hoạch năm; Số thuế truy thu bình quân một DN; Tỷ lệ số thuế truy thu trên tổng số thu NSNN; Tỷ lệ nợ đọng sau kiểm tra; Số tiền giảm lỗ sau kiểm tra; Số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau giảm sau kiểm tra; Số thuế được miễn giảm

Trang 23

bị loại qua kiểm tra; Chi phí kiểm tra bình quân; Tỷ lệ chi phí trên số thuế truy thu; Chỉ tiêu về thời gian kiểm tra bình quân một cuộc và tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về thời gian kiểm tra; Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua kiểm tra; Số đơn thư khiếu nại về thuế sau kiểm tra.”

Theo Tổng Cục thuế (2010), các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của hoạt động kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Bao gồm:

“Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật, có thể đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểm tra thuế qua các năm, đặc biệt

là những đối tượng đã được kiểm tra

Các hành vi vi phạm được phát hiện sau kiểm tra: qua kiểm tra đã thống kê những hành vi vi phạm chủ yếu của NNT, từ đó đúc kết kinh nghiệm để thực hiện kiểm tra tốt hơn Xu hướng tăng, giảm các hành vi vi phạm sau kiểm tra

Tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế, tạo sự công bằng cho đối tượng nộp thuế; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho đối tượng nộp thuế Đánh giá tiêu chí này dựa vào việc xem xét tỷ lệ đối tượng nộp thuế bị truy thu thuế và xử

lý vi phạm hành chính

Tác dụng phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế và tạo lòng tin của NNT Đánh giá lĩnh vực này dựa vào tiêu chí tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong kiểm tra thuế; những vụ việc vi phạm được phát hiện xử lý

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra được đánh giá theo quý, năm và được chia theo sắc thuế; hình thức kiểm tra; theo đối tượng nộp thuế và theo nội dung kiểm tra.”

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của DN

2.2.1 Thuế suất

Ảnh hưởng của thuế suất đến hành vi tuân thủ thuế của NNT đã được xác nhận trong nhiều nghiên cứu Gia tăng thuế suất có thể khuyến khích NNT trốn thuế nhiều hơn (Ali và cộng sự, 2001; Torgler, 2007) trong khi việc giảm thuế suất có thể không làm tăng mức độ tuân thủ thuế (Trivedi và cộng sự, 2004; Kirchler, 2007) KTTzi (1980) nghiên cứu về mối quan hệ giữa các mức thuế suất với việc trốn thuế tại Hoa

Trang 24

Kỳ và kết luận rằng tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa thuế suất và việc trốn thuế, nghĩa là thuế suất cao thì việc trốn thuế sẽ gia tăng

Jamaica và cộng sự (1993) nhận thấy xác suất che giấu khi khai báo và mức độ che giấu khi khai báo có liên quan đáng kể đến thuế suất Khi mức thuế suất, lợi ích

từ gian lận thuế càng lớn, vì vậy số tiền trốn thuế càng lớn Trong phạm vi một quốc gia, những NNT với thuế suất cao hơn sẽ gian lận nhiều hơn

Trong khi hầu hết nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng thuế suất tăng sẽ dẫn đến trốn thuế (Jackson và McKee, 1992; Friedland và cộng sự, 1978; Park và Hyun, 2003) thì Allingham và Sandmo (1972) cho rằng “thuế suất không có ý nghĩa đáng

kể đối với việc trốn thuế Họ đã tìm hiểu mối quan hệ giữa thu nhập thực tế, thuế suất, hình phạt và điều tra trốn thuế bằng cách sử dụng mô hình thống kê và kết luận rằng NNT có thể chọn một trong hai cách báo cáo đầy đủ thu nhập hoặc báo cáo thu nhập thấp hơn số thực tế phát sinh, bất kể thuế suất” Porcano (1988) cũng cho rằng thuế suất không tác động đến việc tuân thủ thuế của NNT

Bởi vì tác động của thuế suất đến việc tuân thủ thuế vẫn là vấn đề gây tranh cãi, McKerchar và Evans (2009) cho rằng “sự tin tưởng của NNT vào chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc chứng thực tác động của thuế suất đến hành vi tuân thủ Khi niềm tin thấp, một mức thuế suất cao có thể được xem là không công bằng và khi niềm tin cao, mức thuế suất cao như vậy có thể được xem như một khoản đóng góp cho cộng đồng”

2.2.2 Tính đơn giản của việc kê khai thuế

Theo thời gian, hệ thống thuế ở nhiều quốc gia đã phát triển ngày càng trở nên phức tạp và trở thành một nguyên nhân có thể dẫn đến không tuân thủ (Jackson và Milliron, 1986) Có quá nhiều chi tiết trong luật thuế hoặc yêu cầu tính toán quá nhiều

đã làm phức tạp hệ thống thuế Để tăng cường tuân thủ thuế thì những quy tắc này cần hướng đến tính đơn giản, dễ hiểu và rõ ràng

Clotfelter (1983) và Richarson (2006) phát hiện tính phức tạp của hệ thống thuế

có liên quan đến việc không khai báo thuế hoặc trốn thuế

Tổ chức OECD (2001) cho rằng “pháp luật thuế ở nhiều nước còn chưa chính

Trang 25

xác và chưa rõ ràng, và đây chính là mãnh đất màu mỡ cho các DN tích cực lợi dụng

để trốn hoặc tránh thuế” Điều này đặc biệt đúng ở các quốc gia đang phát triển với công tác quản lý thuế và trách nhiệm giải trình kém, thiếu văn hóa thuế và chế độ thuế phức tạp (Janscher, 1990)

Slemrod (1989) cho rằng “tờ khai thuế đơn giản và các quy định về thuế đơn giản sẽ tăng tính tuân thủ, đặc biệt đối với hệ thống tự khai tự nộp bởi vì khi đó, NNT không phải mất nhiều thời gian trong việc chứng thực tính chính xác của thu nhập tính thuế theo quy định” Việc đơn giản hóa quản lý thuế là điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tăng cường hiệu quả quản lý cũng như cắt giảm chi phí (Mohami, 2001; Bird, 1998)

2.2.3 Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế

Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế được hiểu ở góc độ cơ quan thuế có hoàn thành tốt vai trò của mình trong việc quản lý thuế cũng như hỗ trợ NNT Về mặt lý thuyết vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề bằng cách nào để đánh giá tác động hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế đến tuân thủ thuế của NNT Roth và cộng sự (1989) đề nghị để tăng tuân thủ, tối đa số thu thuế và được NNT tôn trọng, trước hết chính phủ phải xây dựng một hệ thống thuế kinh tế và khả thi Hệ thống thuế phải ngăn chặn việc trốn thuế và không được tạo ra sự không trung thực, tránh xu hướng khai thác cạn kiệt nguồn thu thuế; một mặt, hệ thống thuế phải có mối liên kết nhất định với hệ thống thuế quốc tế

Richardson (2008) khi nghiên cứu hành vi trốn thuế ở 47 quốc gia trong đó có

Mỹ, Anh, Canada, Chile và Brazil đã kết luận rằng, cơ quan thuế có tác động đáng kể đến thái độ tuân thủ thuế của NNT

2.2.4 Công tác kiểm tra thuế

Torgler và Schneider (2005) cho rằng “NNT nỗ lực tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của họ bằng cách hướng đến việc khai báo thấp thu nhập tính thuế và hưởng lợi từ phần tiết kiệm thuế tương ứng khi cơ quan thuế không phát hiện hành vi của họ” Torger (2007) cho rằng “NNT sẽ sẵn lòng thanh toán nhiều hơn, kể cả khoản tiền phạt nếu bị phát hiện gian lận thuế Các nhân tố về kinh tế liên quan đến tuân thủ thuế bao

Trang 26

gồm: thuế suất, kiểm tra thuế, và nhận thức về chi tiêu chính phủ Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên và liên tục của bất kỳ cơ quan thuế nào Tác động của kiểm tra thuế đến hành vi tuân thủ thuế của NNT có thể xem xét ở các góc độ: tỷ lệ kiểm tra, năng lực cán bộ kiểm tra và vòng lập kiểm tra”

Witte và Woodbury (1985) phát hiện mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro kiểm tra thuế và tỷ lệ tuân thủ tự nguyện Các nghiên cứu của Shanmugam (2003), Dubin (2004) đều cho rằng kiểm tra thuế có vai trò ngăn ngừa hành vi trốn thuế, nghĩa là NNT đã từng bị kiểm tra thuế bởi các cơ quan thuế thường sẽ tuân thủ thuế tốt hơn Kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng tính tuân thủ tự nguyện Kiểm tra thuế cũng có thể làm thay đổi hành vi tuân thủ thuế từ tiêu cực sang tích cực (Butler,1993) Tỷ lệ kiểm tra và tính triệt để của cuộc kiểm tra sẽ làm cho NNT thận trọng hơn trong việc khai thuế, báo cáo đầy đủ thu nhập, các khoản giảm trừ để xác định nghĩa số thuế phải nộp Ngược lại, NNT chưa từng bị kiểm tra thuế

có thể lập lại hành vi kê khai sai các khoản khấu trừ hoặc khai báo thấp thu nhập thực

tế NNT sẽ khai báo thuế đầy đủ nếu họ cho rằng họ sẽ bị kiểm tra thuế (Riahi Belkaoui, 2004; Richardson, 2008) Andreoni và cộng sự (1998) cho rằng “đối với NNT, kinh nghiệm từ những lần bị kiểm tra trước và việc tiếp tục bị quản lý từ phía

cơ quan thuế đối với hoạt động của họ có tác dụng gia tăng mức độ tuân thủ của NNT”

Eisenhauer (2008) cũng kết luận rằng “kiểm tra thuế nói chung là cách thức ngày càng trở nên quan trọng trong việc tối thiểu hóa các hành vi không tuân thủ thuế Tầm quan trọng của các chương trình kiểm tra không chỉ có ý nghĩa đối với những đối tượng nộp thuế bị kiểm tra thuế mà còn tác động đến cả các đối tượng nộp thuế còn lại”

2.2.5 Kiến thức về thuế của NNT

Kiến thức có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu khác nhau (Mohamad Ali và cộng sự, 2007) Kiến thức, quan niệm

về thuế của NNT có ảnh hưởng đến nhận thức về tính công bằng, năng lực và sự sẵn lòng tuân thủ thuế

Trang 27

Kiến thức chung về thuế có quan hệ mật thiết đến khả năng hiểu pháp luật và các quy định về thuế, từ đó tuân thủ thuế tốt hơn (Singh, 2003)

Theo Eriksen và Fallan (1996), “kiến thức về pháp luật thuế khá quan trọng đối với thái độ và sự ưu ái đối với thuế Họ cho rằng kiến thức tài chính có tương quan với thái độ thuế và hành vi về thuế có thể được cải thiện bằng một sự hiểu biết về thuế tốt hơn”

Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế thì NNT phải có đủ kiến thức để am hiểu về thuế Kiến thức thuế hoặc nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế đều có ảnh hưởng đến việc trốn thuế (Jackson và Milliron, 1986) Am hiểu chuyên sâu về thuế kết hợp với kiến thức về tài chính giúp NNT xác định được hậu quả việc làm của họ nếu trốn thuế

2.2.6 Nhận thức về hình phạt và phạm tội

Nhận thức về việc phạm tội và hình phạt khi phạm tội về thuế có tác động đến tuân thủ thuế Theo Allingham và Sandmo (1972), “tuân thủ thuế sẽ tăng khi các hình phạt có liên quan để xử lý hành vi không tuân thủ tăng Để đạt hiệu quả, hình phạt nên được áp dụng nhanh chóng và mạnh mẽ Ý nghĩ sợ hình phạt sẽ ngăn chặn hành vi trốn thuế Thiết lập một hệ thống hiệu quả xử lý hành vi trốn thuế là giải pháp quan trọng để đẩy mạnh tuân thủ thuế NNT sẽ có nhiều khả năng tuân thủ nếu hành

vi không tuân thủ tất yếu sẽ bị phạt”

Witte và Woodbury (1985) phát hiện mối quan hệ rất chặc chẽ giữa tuân thủ thuế và các biện pháp trừng phạt hình sự Grasmick và Scott (1982) nhận thấy hành

vi không tuân thủ thuế sẽ giảm đi nếu những hành vi này bị phạt nặng

2.2.7 Tình trạng tài chính của NNT

Tình hình tài chính của NNT có ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế Khi rơi vào trạng thái căng thẳng về tài chính, NNT sẽ phải đứng trước lựa chọn là ưu tiên chi tiêu cho những nhu cầu khẩn cấp (trả lương, các khoản nợ đến hạn, ) hơn là thanh toán tiền thuế Những NNT đối mặt với căng thẳng về tài chính sẽ có khuynh hướng trốn thuế nhiều hơn so với những người ít gặp khó khăn về tài chính (Mohani và Sheehan, 2004)

Trang 28

Palil (2010) cho rằng hành vi tuân thủ thuế của NNT bị ảnh hưởng bới căng thẳng tài chính Tuy nhiên, Vogel (1974), Warneryd và Walerud (1982) nhận thấy rằng những người không gặp căng thẳng tài chính cũng trốn thuế và điều trong nhiều trưởng hợp, mức độ trốn thuế của họ nghiêm trọng hơn so với những người gặp khó khăn về tài chính Vogel (1974) cho rằng tình huống này liên quan đến khía cạnh kinh

tế hơn là vấn đề tài chính của bản thân NNT

2.2.8 Các yếu tố liên quan đến đặc điểm DN

Loại hình DN: Loại hình DN có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Quyết định trốn thuế phụ thuộc vào loại hình DN Loại hình công ty có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn

so với DN tư nhân Quyết định không tuân thủ thuế ở loại hình công ty đòi hỏi phải

có sự đồng thuận từ các nhà quản lý và chủ sở hữu Trong khi đối với loại hình DN

tư nhân, quyết định không tuân thủ thuế dễ dàng được thực hiện bởi chủ sở hữu (Sandmo, 2005) Việc không tuân thủ thuế phụ thuộc vào ai là người được hưởng lợi, nhà quản lý hay chủ sở hữu Đối với công ty, lợi ích mà nhà quản lý được hưởng khi không tuân thủ thuế là không rõ ràng Trong trường hợp DN tư nhân thì chủ sở hữu

là người được hưởng lợi toàn bộ nên họ có động cơ cao hơn để không tuân thủ thuế (Sandmo, 2005)

Do vậy, DN tư nhân có xu hướng không tuân thủ thuế cao hơn so với loại hình công ty

Ngành nghề kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Ngành nghề có nhiều hoạt động trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ thì càng

có cơ hội không tuân thủ thuế cao hơn (Kimura và Ando, 2005) Từ đó có thể thấy, các DN ngành sản xuất do có liên quan đến nhiều hoạt động từ giai đoạn thiết kế, sản xuất, vận chuyển, phân phối sản phẩm cho khách hàng Trong khi ngành dịch vụ thì

có ít hoạt động hơn Do vậy, DN ngành sản xuất có xu hướng không tuân thủ thuế cao hơn ngành dịch vụ

Quy mô DN: Kích thước công ty liên quan chặt chẽ đến mức độ tuân thủ (DeLuca, và cộng sự, 2007) Theo lý thuyết lợi thế kinh tế nhờ quy mô, các DN lớn

sẽ có khả năng tham gia cao hơn vào thị trường và hoạt động tốt hơn các DN nhỏ và

Trang 29

vừa Marrelli (1984) nhận thấy rằng các DN lớn trốn thuế ít hơn so với các DN nhỏ

Hình 2.1: Khung phân tích

Nguồn: Tổng hợp lý thuyết và đề xuất của tác giả (2019)

2.3.2 Mô tả và định nghĩa các biến trong khung phân tích

2.3.2.1 Biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc trong khung phân tích là mức độ tuân thủ thuế của DN, được đo lường qua:

- Số tiền thuế vi phạm (SOTHUE): bằng tổng số thuế truy thu, số tiền giảm lỗ,

số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau giảm sau kiểm tra, số thuế được miễn

Tuân thủ thuế của doanh nghiệp

Trang 30

giảm bị loại qua kiểm tra Theo Nguyễn Xuân Thành (2010), đây là một trong những chỉ tiêu định lượng đo lường vi phạm thuế của DN

- Số lần vi phạm (SOLAN): bằng tổng số lần chậm nộp tờ khai thuế, chậm nộp quyết toán thuế, chậm nộp thuế phải nộp Đây là những hành vi vi phạm chủ yếu của NNT (Tổng Cục thuế, 2010)

2.3.2.2 Biến độc lập

Biến quan tâm chính: Đã được kiểm tra thuế hai lần (lần đầu vào năm 2015 và lần hai vào năm 2018) hay không Vì mục tiêu thứ nhất của luận văn là đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN, và tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt của phương pháp bán thí nghiệm để thực hiện đánh giá nên sẽ tiến hành xem xét 2 nhóm DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp có điều kiện tương đồng về những yếu tố còn lại trong khung phân tích (xem hình 2.1) Chỉ khác nhau là một nhóm (62 DN) được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2015, kiểm tra thuế lần hai vào năm 2018; Nhóm còn lại (62 DN) thì chỉ được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2018

Loại hình DN (LHDN): DN thuộc loại hình nào: công ty TNHH, công ty cổ phần hay DN tư nhân DN tư nhân thường hoạt động theo hình thức gia đình, chủ DN hoặc người thân kiêm nhiệm luôn công tác kế toán nên công tác kế toán không chuẩn, khả năng hiểu biết về thuế có hạn nên việc kê khai, nộp thuế có phần hạn chế Kiến thức tốt về thuế giúp tuân thủ thuế tốt hơn (Singh, 2003)

Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về loại hình DN, tác giả đã chọn mẫu với

cơ cấu như Bảng 2.3 Loại hình “Công ty”: Nhóm xử lý chiếm 52%; Nhóm so sánh chiếm 52% Loại hình “DN tư nhân”: Nhóm xử lý chiếm 48%; Nhóm so sánh chiếm

Trang 31

Nhóm kiểm soát 52% 48%

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)

Ngành nghề kinh doanh (NGANHKD): Ngành nghề có nhiều hoạt động trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ thì càng có cơ hội không tuân thủ thuế cao hơn (Kimura và Ando, 2005) Theo phân ngành kinh tế ở Việt Nam gồm: Nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, thương mại dịch vụ

Vi phạm thuế xảy ra đối với các DN thuộc mọi ngành nghề kinh doanh, nhưng mức độ có khác biệt giữa các ngành nghề (Cục thuế tỉnh Đồng Tháp, 2018) Bởi vậy,

để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về ngành nghề kinh doanh, tác giả đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.4

Thương mại dịch vụ: Nhóm xử lý chiếm 52%; Nhóm kiểm soát chiếm 48% Ngành nghề khác (công nghiệp - xây dựng; Nông, lâm, ngư nghiệp): Nhóm xử lý: chiếm 48%; Nhóm kiểm soát chiếm 52%

Bảng 2.4: Cơ cấu mẫu điều tra theo ngành nghề kinh doanh

Ngành nghề kinh doanh

Nhóm

Thương mại dịch vụ

Ngành nghề khác

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)

Thời gian hoạt động (SONAMHD): Tính bằng năm, kể từ lúc thành lập đến hết năm 2018 Khi DN hoạt động càng lâu, sự tương tác với cơ quan thuế sẽ nhiều, hiểu biết về thuế cũng nhiều hơn nên DN sẽ có ý thức tuân thủ thuế tốt hơn, số tiền bị xử

lý về thuế và số lượng hành vi vi phạm thuế cũng ít hơn Võ Đức Chín (2011)

Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về thời gian hoạt động, tác giả đã tác giả

đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.7

Bảng 2.5: Cơ cấu mẫu điều tra theo thời gian hoạt động

Thời gian hoạt động

Nhóm

5 - 10 năm

11 - 15 năm

16 - 20 năm

Trên 20 năm

Trang 32

Nhóm xử lý 39% 36% 15% 10%

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)

Quy mô của DN (QUYMO): Tiêu chí phân loại DN nhỏ và vừa căn cứ theo Quy định tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ tại Bảng 2.3 Khi quy mô càng lớn, nếu xảy ra vi phạm thuế thì số tiền vi phạm sẽ rất lớn (Trần Hoàng Thành và Phạm Khánh Nam, 2017)

Bảng 2.6: Phân loại DN nhỏ và vừa ở Việt Nam

Lĩnh vực

Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (tỷ đồng)

Số lao động (người)

200

Từ trên 20 đến 100

Từ trên 200 đến 300 Công nghiệp, xây

Trên 10 đến

200

Từ trên 20 đến 100

Từ trên 200 đến 300 Thương mại và dịch vụ ≤ 10 Trên 10 đến

50

Từ trên 10 đến 50

Từ trên 50 đến 100

Nguồn: Chính phủ (2009)

Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về quy mô DN, tác giả đã chọn mẫu với

cơ cấu như Bảng 2.6 DN nhỏ và vừa: Nhóm xử lý chiếm 64%; Nhóm kiểm soát chiếm 64% DN lớn: Nhóm xử lý chiếm 36%; Nhóm kiểm soát chiếm 36%

Bảng 2.7: Cơ cấu mẫu điều tra theo quy mô DN

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)

Tình trạng tài chính của DN (TAICHINH): Thuộc một trong hai trường hợp: Bình thường và bất thường Những NNT gặp với khó khăn về tài chính có khuynh hướng trốn thuế hơn so với những người ít gặp khó khăn về tài chính (Mohani và

Trang 33

Sheehan, 2004) Tuy nhiên, những người không gặp khó khăn về tài chính cũng trốn thuế và đôi khi là mức độ trốn thuế của họ đôi khi nghiêm trọng hơn so với những người gặp khó khăn về tài chính (Vogel, 1974)

Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về tình trạng tài chính, tác giả đã tác giả

đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.8

Bảng 2.8: Cơ cấu mẫu điều tra theo tình trạng tài chính

Thời gian hoạt động

Nhóm

Bình thường Không bình thường

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)

Kiến thức về thuế của DN (KIENTHUC): Thuộc một trong hai trường hợp: Tốt hoặc không tốt Kiến thức tốt về thuế giúp tuân thủ thuế tốt hơn (Eriksen và Fallan, 1996; Singh, 2003) Để đảm bảo tương đồng giữa 2 nhóm về kiến thức về thuế của

DN, tác giả đã tác giả đã chọn mẫu với cơ cấu như Bảng 2.9

Bảng 2.9: Cơ cấu mẫu điều tra theo kiến thức về thuế của DN

Thời gian hoạt động

Nhóm

Nguồn: Đề xuất của tác giả (2019)

2.4 Dữ liệu nghiên cứu

Để đáp ứng điều kiện của kỹ thuật khác biệt trong khác biệt của phương pháp bán thí nghiệm, đề tài chọn 62 DN làm Nhóm so sánh (Nhóm kiểm soát) có điều kiện tương đồng với 62 DN thuộc nhóm tham gia (Nhóm xử lý) - vui lòng xem phần khung phân tích ở phía trên

Thiết kế mẫu thu thập dữ liệu

Tất cả dữ liệu về nhóm xử lý và nhóm so sánh sẽ thu thập tại Cục thuế tỉnh Đồng Tháp Cách thức thu thập dữ liệu như sau:

Trang 34

(1) Bước 1: Liên hệ Cục thuế tỉnh Đồng Tháp để thông báo về mục đích và kế hoạch thu thập dữ liệu; Lập danh sách các DN thuộc nhóm bị tác động (được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2015 và kiểm tra thuế lần 2 vào năm 2018) và danh sách các

DN thuộc nhóm so sánh (những DN được kiểm tra thuế lần đầu vào năm 2018) (2) Bước 2: Tiến hành thu thập dữ liệu Dữ liệu sẽ được thu thập từ Cục thuế tỉnh Đồng Tháp, điền trực tiếp vào file đã thiết kế sẵn (file excel) gồm các thông tin

về DN (Loại hình DN, ngành nghề kinh doanh, quy mô của DN, thời gian hoạt động, tình trạng tài chính, kiến thức về thuế, số tiền thuế bị xử lý, số lần vi phạm nhằm mục đích đảm bảo sự tương đồng giữa 2 nhóm như đã trình bày ở khung phân tích Đặc biệt, thông tin về số tiền thuế bị xử lý, số lần vi phạm của DN ở thời điểm năm 2018 tác giả vừa thu thập trên cơ sở số liệu từ các báo cáo của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, vừa so sánh với các biên bản kiểm tra thuế của từng DN để đảm bảo chính xác

2.5 Cách tiếp cận và kỹ thuật sử dụng để thực hiện đề tài

Với câu hỏi thứ nhất, tác giả sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (còn gọi

là khác biệt kép) để trả lời Để áp dụng được phương pháp DID, cần phải có số liệu bảng, tức là số liệu vừa phản ánh thông tin theo thời gian vừa phản ánh thông tin chéo của đối tượng quan sát (Nguyễn Xuân Thành, 2006) Phương pháp này được thực hiện bằng cách chia các đối tượng phân tích thành hai nhóm: Nhóm tham gia (Nhóm

xử lý) và nhóm không tham gia (nhóm so sánh) Giả thuyết tối quan trọng của phương pháp DID là nếu không có kiểm tra thuế thì đầu ra của nhóm so sánh và nhóm tham gia có xu hướng biến thiên như nhau Sự khác nhau trong biến thiên theo thời gian giữa hai nhóm này là do tác động của chính sách hay chương trình mới

Hình 2.2 biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép Gọi Y là đầu ra của chính sách Gọi D là biến giả phản ánh nhóm quan sát, D = 0: Nhóm nhóm so sánh; D = 1: Nhóm tham gia Với T = 0 là khi chưa có kiểm tra thuế, T = 1 là sau khi

có kiểm tra thuế Vào thời điểm trước khi có kiểm tra thuế, đầu ra của nhóm so sánh

là Y00 (D = 0, T = 0) và đầu ra của nhóm tham gia là Y10 (D = 1, T = 0) Chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có kiểm tra thuế là Y10-Y00

Tại thời điểm sau khi áp dụng chính sách, đầu ra của nhóm so sánh là Y01 (D =

Trang 35

0, T = 1) và đầu ra của nhóm tham gia là Y11 (D = 1, T = 1) Chênh lệch đầu ra giữa hai nhóm này là Y11-Y01 Tác động của chính sách là (Y11-Y01) - (Y10-Y00)

Hình 2.2: Đồ thị biểu diễn tác động của phương pháp khác biệt kép

Nguồn: Nguyễn Xuân Thành (2006)

Đối với mục tiêu 2, nguyên nhân của kết quả ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, tác giả sử du ̣ng kỹ thuật phỏng vấn sâu các đối tượng có liên quan đến công tác kiểm tra thuế DN (DN, các cán bộ làm công tác kiểm tra thuế DN tại Cục thuế tỉnh Đồng Tháp) để để tı̀m hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả tác đô ̣ng đó là gı̀

Tóm tắt Chương 2

Chương 2 trình bày các khái niệm liên quan và lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế Trên cơ sở đó thiết lập khung phân tích Chương này cũng trình bày về dữ liệu, cách tiếp cận và kỹ thuật thực hiện đề tài

Trang 36

Chương 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA THUẾ ĐẾN TUÂN THỦ THUẾ CỦA DN TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH ĐỒNG THÁP

3.1 Thực trạng công tác quản lý thuế của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp

3.1.1 Công tác tổ chức trong hoạt động kiểm tra

Hiện tại, NNT căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của mình và tự kê khai,

tự tính số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế vào NSNN theo thời hạn quy định của pháp luật Cơ quan thuế có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn NNT hiểu và tự giác thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế; Giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế thông qua công tác thanh tra, kiểm tra về thuế Do vậy, kiểm tra thuế trở thành chức năng quan trọng trong quản lý thuế của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp

Hoạt động kiểm tra thuế tại Cục thuế đã phân định rõ nhiệm vụ của cơ quan thanh tra thuế các cấp theo hướng: Kiểm tra Cục Thuế thực hiện kiểm tra NNT theo địa bàn quản lý; hướng dẫn, chỉ đạo và hỗ trợ kiểm tra Chi Cục thuế tổ chức hoạt động kiểm tra trên địa bàn cấp huyện Hoạt động kiểm tra đối tượng nộp thuế được

tổ chức tập trung, thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp huyện

Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp xác định công tác kiểm tra thuế là nhiệm vụ hết sức quan trọng, không chỉ chống thất thu NSNN, ngăn chặn hành vi vi phạm thuế mà còn giáo dục ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế cho người dân Vì vậy, việc tăng cường đội ngũ cán bộ thuế làm công tác kiểm tra thuế rất được Ban lãnh đạo Cục Thuế quan tâm

Hệ thống kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp gồm có 01 phòng Kiểm tra thuộc Cục Thuế và 12 đội kiểm tra thuế thuộc 12 Chi Cục Thuế huyện, thị xã, thành phố Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp xác định chất lượng cán bộ kiểm tra thuế là một yếu tố quan trọng nhất Vì vậy, cán bộ làm công tác kiểm tra thuế được đào tạo khá bài bản về kế toán, chính sách thuế, Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật xử phạt vi phạm hành chính, tin học, (Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, 2018)

Trang 37

Bảng 3.1 cho thấy lực lượng làm công tác kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp

có sự tăng trưởng về số lượng cũng như chất lượng đào tạo Cụ thể:

Năm 2015, tổng số cán bộ làm công tác kiểm tra là 105 người, trong đó có 12 người trình độ cao đẳng (chiếm tỷ lệ 11,4%), 91 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ 86,7%) và 2 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 1,9%)

Bảng 3.1: Cơ cấu lực lượng kiểm tra thuế giai đoạn 2015 - 2018

Trình độ

Số lượng

Tỷ trọng (%)

Số lượng

Tỷ trọng (%)

Số lượng

Tỷ trọng (%)

Số lượng

Tỷ trọng (%)

Năm 2017, tổng số cán bộ làm công tác kiểm tra là 115 người, trong đó có 11 người trình độ cao đẳng (chiếm tỷ lệ 9,6%), 101 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ 87,8%) và 3 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 2,6%)

Năm 2018, tổng số cán bộ làm công tác kiểm tra là 120 người, trong đó có 11 người trình độ cao đẳng (chiếm tỷ lệ 9,2%), 104 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ 86,7%) và 5 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 4,2%)

Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp đã vận dụng các quy định tại Quyết định số TCT ngày 05/05/2009; Quyết định số 74/QĐ-TCT ngày 27/01/2014 và thực tế tại địa phương để lập kế hoạch kiểm tra với các bước cơ bản như Hình 3.1

460/QĐ-Bước 1: Xây dựng kế hoạch kiểm tra

Kế hoạch kiểm tra thuế do Cục Thuế tỉnh Đòng Tháp xây dựng hàng năm trên

cơ sở chỉ tiêu được Tổng Cục Thuế thuế giao hàng năm Theo đó, công tác thanh tra

Trang 38

phải đạt 1,65% tổng số DN và kiểm tra phải đạt 13,0% tổng số DN mà ngành thuế Đồng Tháp quản lý Kế hoạch kiểm tra được xây dựng căn cứ vào hệ thống 21 tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro về thuế mà ngành thuế đã xây dựng, mức độ tuân thủ pháp luật về thuế của NNT và dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ làm công tác kiểm tra thuế Các bước kiểm tra thuế được xác định hàng năm như sau (Cục thuế tỉnh Đồng Tháp, 2015):

Hình 3.1: Các bước kiểm tra thuế

Nguồn: Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp (2015)

Cơ sở sản xuất kinh doanh có dấu hiệu rủi ro về thuế: Nộp hồ sơ kê khai thuế không đầy đủ hoặc nộp hồ sơ kê khai thuế chậm; Kê khai sai sót, kê khai không trung thực, tờ khai thuế điều chỉnh nhiều lần; Không nộp đủ số thuế phải nộp theo kê khai

và thường xuyên nộp thuế chậm; Có bất thường về kê khai thuế giữa các quý, các năm với nhau; Cơ quan thuế nhiều lần nhắc nhở nhưng vẫn tái phạm

Cơ sở sản xuất kinh doanh bị lỗ liên tục trong nhiều năm liền hoặc có thuế giá trị gia tăng âm nhiều năm nhưng không đề nghị hoàn thuế

Cơ sở sản xuất kinh doanh có sự biến động lớn về doanh thu, lợi nhuận tăng giảm bất thường Cơ sở sản xuất kinh doanh nhiều năm chưa được kiểm tra thuế Cơ

sở sản xuất kinh doanh có doanh thu và số thuế nộp lớn hoặc những cơ sở sản xuất kinh doanh có khiếu nại, tố cáo

Trên cơ sở đó, chấm điểm rủi ro, Cục Thuế chọn các cơ sở sản xuất kinh doanh

để kiểm tra theo các mức độ rủi ro từ cao xuống thấp

Bước 3: Tổ chức thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế

Bước 1: Xây dựng kế hoạch kiểm tra

Bước 2: Phân tích chuyên sâu và làm các thủ tục kiểm tra

Bước 4: Báo cáo thực hiện kế hoạch và kết quả kiểm tra

Ngày đăng: 23/12/2020, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm