Đây là toàn bộ bài giảng của môn học quản trị sản xuất trong công nghiệp đóng tàu thủy. Tài liệu dành cho các bạn đang học tập và nghiên cứu về kỹ thuật tàu thủy cũng như các lĩnh vực liên quan trong sản xuất và sửa chữa tàu thủy.
Trang 1ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KỸ THUẬT TÀU THỦY
TẬP BÀI GIẢNG
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT TRONG CÔNG NGHIỆP ĐÓNG TÀU THỦY
(Production Management in ship building industry)
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐÓNG
I.1 Vài nét về điều kiện địa lý tự nhiên sông – biển việt nam
I.2 Ngành đóng tầu – thuyền và vận tải thủy việt nam qua tiến trình loch
sử phát triển của đất nước 7
I.3 Thành tựu của ngành đóng tàu trong thời kỳ đổi mới cơ sở vật chất –
kỹ thuật hiện nay và định hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước 12 I.4 Vài nét về ngành đóng tàu thế giới hiện nay 14
Chương II: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KHOA HỌC QUẢN TRỊ SẢN
XUẤT
2.1 Quá trình hình thành và phát triển lý thuyết quản trị sản xuất 20
2.4 Những quyết định quan trọng nhất trong nội dung quản trị sản
5.6 Hồ sơ sửa chữa tàu, mối liên hệ giữa chủ tàu và xí nghiệp sửa
Trang 3Tóm lược 67
Chương VI: BẢO DƯỠNG VÀ GIÁM SÁT TRẠNG THÁI KỸ THUẬT ĐỘI
6.4 Kiểm tra trạng thái kỹ thuật do chủ tàu tiến hành 73
Chương VII: THÀNH PHẦN CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT, CƠ CẤU VÀ
7.1 Qúa trình sản xuất, chu kỳ sản xuất và thời hạn của quá trình sản
xuất
7.2 Tập trung chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất, cơ cấu sản
xuất của các xí nghiệp công nghiệp 77
7.3 Các giai đoạn sản xuất chính trong đóng và sửa chữa tàu 79 7.4 Cơ cấu sản xuất của các xí nghiệp đóng và sửa chữa tàu 84
7.6 Các phương pháp tổ chức sửa chữa và đóng mới tàu thuỷ 90
8.5 Lập kế hoạch tác nghiệp và quản lý theo sơ đồ mạng 107
Trang 4Tóm lược 137
Chương XII: BỘ TIÊU CHUẨN ISO 9000, ISO 14000 TRONG CÔNG NGHIỆP
12.3 Vai trò của bộ ISO 9000 trong quản lý doanh nghiệp
12.4 Ap dụng ISO 9000 tại Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình “Quản trị sản xuất trong công nghiệp đóng tầu thuỷ” gồm 12 chương
đề cập những nội dung chính sau đây:
Quá trình hình thành và phát triển ngành đóng tầu – thuyền Việt Nam
Những vấn đề cơ bản của khoa học quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất, khoa học công nghệ trong công nghiệp đóng tầu
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 và công nghiệp đóng tầu
Giáo trình này được biên soạn theo mục tiêu đào tạo của Khoa Đóng tàu và Công trình nổi Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, trang bị những kiến thức cơ bản về quản trị sản xuất cho sinh viên
Giáo trình do PGS – TSKH Đặng Hữu Phú (chủ biên), Th.S Vũ Ngọc Bích, TS Nguyễn Đức Quý và KS Lê Văn Toàn biên soạn
Các chương 1, 2, 3, 4, 10, 11 12 do PGS – TSKH Đặng Hữu Phú và KS Lê Văn Toàn biên soạn.; các chương 5, 6, 7, 8, 9 do Th.S Vũ Ngọc Bích và TS Nguyễn Đức Quý biên soạn
Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy của Khoa Đóng tàu và Công trình nổi – Trường Đại học Giao thông vận tải Tp Hồ Chí Minh, đặc biệt xin cảm ơn các phản biện: PGS – TS Trần Công Nghị, PGS – TS Nguyễn Đức Ân đã nhiệt tình đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho việc hoàn thiện bản thảo giáo trình này
Mặc dầu đã có nhiều cố gắng, song do trình độ có hạn, những người viết chắc chắn còn nhiều sai sót Rất mong đồng nghiệp và bạn đọc đóng góp thêm nhiều ý kiến để giáo trình ngày càng hoàn chỉnh, phục vụ người đọc tốt hơn Mọi phê bình, đóng góp ý kiến xin gửi về Khoa đóng tàu và công trình nổi Đại học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh
Các tácgiả
Trang 7CHƯƠNG I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐÓNG TẦU VIỆT NAM
I.1 Vài nét về điều kiện địa lý tự nhiên sông – biển Việt nam
Nước ta nằm ở Đông Nam Châu Á, trên đường giao thông hàng hải quốc tế Bờ biển trải dài từ Bắc xuống Nam với 3.260 km, trên 4.000 đảo lớn nhỏ
Việt Nam có mạng lưới sông, kênh vô cùng phong phú và đầy tiềm năng với tổng chiều dài hơn 41.900 km, trên 2360 sông, kênh, trên một trăm cửa sông, nhiều hồ, đầm, phá Các hồ chứa nước lớn là: Hòa Bình, Thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng,… Hệ thống sông ngòi tập trung ở 2 khu vực: vùng châu thổ sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam, có mật độ 0,17 – 0,19 km đường sông / km2
diện tích, thuộc loại mật độ sông cao nhất thế giới
Nước ta có nguồn tài nguyên biển rất dồi dào (dầu mỏ, động thực vật, khoáng sản,…) và tiềm năng du lịch to lớn
Sơ lược vài nét về điều kiện tự nhiên như trên cho thấy các ngành: vận tải biển, vận tải sông biển, vận tải thủy nội địa, khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản, du lịch sông nước… rất có điều kiện phát triển, đòi hỏi ngành đóng tàu và công trình nổi phải đáp ứng yêu cầu ngày một tăng
I.2 Ngành đóng tầu – thuyền và vận tải thủy Việt nam qua tiến trình lịch sử phát triển của đất nước
Thời kỳ từ dựng nước đến cách mạng tháng Tám năm 1945
Gắn với lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là sự hình thành và phát triển phương thức vận chuyển dưới nước Giữa một vùng sông nước mênh mông từ thuở xa xưa tổ tiên ta đã sớm chế tạo những con thuyền độc mộc – bằng những thân cây lớn khoét ra – đi lại trên sông hồ, ven biển đánh bắt cá, gieo trồng và thu hoạch lúa nước Trong các di chỉ khảo cổ nhất là trên hoa văn của trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ, Tây Nguyên,… đã chứng minh cho nhận định này Hoa văn trên mặt, trên tang trống khắc hình thuyền, người đội mũ lông chim đang chèo thuyền Con thuyền thô sơ, mũi cong lên, lướt trên sóng nước biểu hiện cho sự gắn bó của người dân Lạc Việt xưa với truyền thống sông nước
Khảo cổ học và dân tộc học thế giới xác nhận rằng: chiếc thuyền buồm Việt Nam xuất hiện từ thời kỳ đồ đá tại vùng châu thổ sông Hồng
Trong các sách “Thái bình ngự lão”, “ Tấn thư ”, “ Ngô thời ngoại quốc liệt truyện ” của Trung Quốc thời xưa đã kể đến “các thuyền rồng của người Việt chở nổi hàng trăm người ”, “những con thuyền nhiều buồm với hệ thống chuyển gió phức tạp có thể đi biển vào mọi lúc mọi hướng ” Từ thế kỷ thứ II cha ông ta đã đóng cả những con thuyền đi biển dài hơn 20 trượng (trên 40 m), cao hơn mặt nước từ 2 đến 3 trượng (4 đến 6 m)
Hệ thống giao thông thủy nước ta với Trung quốc và các nước phía Nam rất phát triển Sách “ An nam đô hộ phủ ” của Đường hội yến còn ghi rõ “Năm 808 Trương Chân đã sai thợ đóng hơn 400 chiếc thuyền rất lớn, mỗi chiếc 32 người chèo và 25 chiến binh ”
Sức sáng tạo vĩ đại, khai thác lợi thế sông nước của cha ông ta thể hiện trong chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo Chiến thắng này mở đầu thời kỳ phát triển độc lập và tự chủ của dân tộc Việt Nam Những dòng sông, cửa biển, thuyền bè của người Việt lập nên chiến thắng bảo vệ tổ quốc cũng bắt đầu từ thời
kỳ đó
Trang 8Trải qua nhiều năm phát triển kinh tế, các sông ngòi thường xuyên được đào vét, chỉnh tu Nhiều loại thuyền lớn đi sông, đi biển xuất hiện Sách “An nam tức sự” thời Trần còn chép lại: “… thuyền nhẹ và dài, ván mỏng, đuôi như cánh chim xuyên nắng, ba mươi người chèo, có khi đến hơn một trăm người, thuyền đi nhanh như bay” chứng tỏ kỹ thuật,
mỹ thuật đóng thuyền thời đó khá cao
Chiến thắng vĩ đại của quân dân nhà Trần năm 1288 do Trần Hưng Đạo chỉ huy đánh tan quân Mông Cổ (lần thứ 3) trên sông Bạch Đằng ngày 9/4 Lịch sử còn ghi lại : “ Cuộc chiến diễn ra từ mờ sáng đến chiều tối, quân ta tiêu diệt hoàn toàn đạo thủy quân của giặc, hơn 400 trong số 500 chiến thuyền của giặc bị vùi xuống lòng sông Bạch Đằng Các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp,… đều bị bắt sống” Sứ thần của nhà Nguyên thời đó tên
là Trần Phu tự thú: “ Mỗi khi nằm mơ thấy chuyện cũ (trận Bạch Đằng) còn kinh hồn sợ hãi” Ta có thể thấy vào giai đoạn lịch sử đó ông cha ta đã có đội chiến thuyền hùng mạnh như thế nào
Từ thế kỷ XVI, về mặt quản lý nhà nước, ở Đàng trong cũng như Đàng ngoài đều thành lập các xuởng sản xuất nhiều mặt hàng, trong đó có công việc đóng thuyền bè Chúa Nguyễn lập xưởng đóng thuyền chiến giao cho một người Bồ Đào Nha là G Cơ roa chỉ huy Ở các vùng ven biển có các xưởng đóng thuyền lớn trọng tải tới 300 – 400 tấn Các lái buôn đã dùng thuyền lớn đi biển từ Quảng Bình, Quảng Trị vào Gia Định rồi dọc sông Tiền, sông Hậu buôn bán trao đổi với những người mới vào khai khẩn ở đồng bằng sông Cửu Long
Vận tải thủy đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế sầm uất của đất nước như Kẻ Chợ (Hà Nội), phố Hiến (Hưng Yên)…
Về công nghệ đóng thuyền có thể trích dẫn một số nhận xét của người phương Tây: Năm 1717, trong “ Ký ức về An Nam ”, Tsaitinglay viết : “ Một chiếc thuyền lớn dưới bản thì làm bằng tre quét dầu dừa, chỉ có khoang thuyền là bằng ván gỗ, có những chiếc nhỏ hơn nhưng cũng làm bằng các vật liệu đó…”
Poa vơ rơ (Poivre) trong một chuyến đi công cán cho công ty Ấn Độ từ năm 1748
có ghé qua Việt Nam đã viết về con thuyền của Đàng Trong “buộc chằng bằng mây, buồm bằng gióng tre lợp lá, hình thù như cái tai Nhưng thuyền đó chạy rất tốt và chống được với gió”
Năm 1774, trong một chuyến đi Đàng Trong Poa vơ rơ và Đơ Giăng-xi-nhi tả lại:
“Những loại thuyền đó được đóng theo cách cổ truyền hàng ngàn năm không thay đổi, về mặt chắc chắn được đảm bảo lại đi nhanh Những thuyền này có đặc điểm là dưới đáy chia làm nhiều ngăn, nhiều khoang, có những tấm ván rất kín ngăn cách Do đó đỡ bị đắm và còn có một khoang để xếp hàng riêng biệt, do đó người Anh cũng chú ý thí nghiệm kiểu đóng đó”
Qua những lời viết đã trích dẫn ở trên cho chúng ta nhận xét về sự tiến triển của công nghiệp đóng thuyền và tài nghệ của cha ông ta thời đó được người nước ngoài khâm phục
Thời Tây Sơn nước ta có hàng trăm chiến thuyền hiện đại, có lẽ vì lực lượng mạnh
mẽ như vậy nên khi kéo quân ra Bắc “ thuyền chiến của vua Quang Trung để đầy sông Vị Hoàng (Nam Định) ”, mà sách “ Hoàng Lê nhất thống chí” đã ghi lại
Vào đầu thời Gia Long đã có quy định về vận tải thủy của nhà nước phong kiến, lập
cơ quan quản lý về tầu thuyền Các thuyền vận tải Nam – Bắc chia làm 9 bang, mỗi bang trên dưới 20 chiếc Các tàu thuyền của dân phải trình báo và được cấp bài chí (Thẻ bài) để nhà nước quản lý và thu thuế Năm 1827 nhà Nguyễn quy định lệ đại tu, tiểu tu cho các tàu
Trang 9Đầu năm 1839 vua Minh Mạng ra sông Hương xem chạy thử thuyền máy hơi nước đầu tiên Nhưng do sơ suất khi vận chuyển từ xưởng ra bến sông, máy hơi nước không hoạt động được nhà vua ra lệnh bắt giam các đốc công Ít lâu sau, nhà vua lại ra xem chạy thử lại, kết quả “thấy máy móc linh động, chạy đi nhanh nhẹ” nhà vua ban thưởng cho những người đóng thuyền này Tháng 10 năm ấy, thợ đóng tàu nước ta lại “ chế tạo thêm một thuyền lớn chạy bằng máy hơi nước, tính tiền hết 11.000 quan có lẻ”, vua Minh Mạng nói “ Trẫm muốn những người thợ nước ta đều học tập máy móc được tinh xảo nên không tính đến sự tổn phí tiền bạc”
Năm 1844 vua Thiệu Trị ra lệnh mua tàu nước ngoài – tàu hơi nước loại lớn, trị giá đến 280.000 quan, để cho thợ đóng thuyền nước ta học tập kỹ thuật của nước ngoài… White, đại tá hải quân Hoa Kỳ lúc đó đến Việt Nam đã viết “ Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo Họ hoàn thành công trình của mình với một kỹ thuật rất mực chính xác”
Từ giữa thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20 thực dân Pháp xâm lượt và thống trị nước ta Thấy rõ tầm quan trọng của giao thông đường thủy, Pháp đã tiến hành :
Năm 1864, xây dựng sở “Ba Son” có xưởng hàn, tiện,… để sửa chữa thuyền máy có gần một ngàn thợ
Cũng năm 1864, Pháp cho thầu khoán người Việt và người Hoa làm ở Sài Gòn một bến tàu dài 1800 mét, tàu có mớn nước 4,2 mét có thể cập bến
Hai năm sau, 1866 làm ụ sửa chữa tàu lớn để sửa chữa chiến thuyền, thương thuyền Pháp ở Viễn Đông
Sài Gòn trở thành một thương cảng, quân cảng quan trọng của Pháp
Năm 1875 Công ty đường sông Bắc kì thành lập Năm 1881, Bưu thuyền đường sông Nam kì thành lập
Năm 1902 thành lập Công ty công trình nạo vét sông
Năm 1914 Công ty vận tải thủy của Hoa Kiều thành lập họat động Sài Gòn – Nông Pênh
Năm 1927 một số tư bản bản xứ người Việt thành lập “ Công ty bảo hiểm đường biển và đường sông Nam kì”
Sau cảng Sài Gòn, Pháp tiếp tục xây dựng các cảng mới : Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Qui Nhơn,…Nhiều xí nghiệp đóng, sửa chữa tàu được xây đóng ở Hà Nội, Hải Phòng,…
Năm 1918 Sở đóng tàu Sài Gòn hạ thủy tàu trọng tải 4200 tấn
Hoạt động vận tải thủy của người Việt trong thời gian thực dân Pháp đô hộ tiêu biểu như: Nguyễn Phú Toàn, Bạch Thái Bưởi, …
Nhìn chung, trong hoàn cảnh xã hội VN thuộc Pháp, giới tư bản và tiểu chủ người Việt vẫn có vị trí khá quan trọng trong kinh doanh vận tải thủy, trong nghệ thuật đóng tàu thuyền của nước ta
Thời kì từ sau cách mạng tháng Tám 1945
Ngày 2/9/1945, tại quãng trường Ba Đình, Hồ chủ tịch, thay mặt chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” Trước đó, ngày 28/8/1945 Chính phủ lâm thời thành lập Bộ giao thông công chính Ngày 13/11/1945 Bộ thành lập “ Ủy ban quản lý thương thuyền ” Nhiệm vụ của Ủy ban được nêu rõ trong nghị định : Phụ trách việc đi lại trên sông biển, xem xét kiểm tra tàu thuyền, thi hành luật pháp trên tàu,…Nhà nước bảo hộ quyền tự do kinh doanh, khuyến khích các nhà tư sản, tiểu chủ
Trang 10tiếp tục hoạt động vận tải thủy Điều đó giúp cho xã hội nhanh chóng ổn định hoạt động kinh tế
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, chính phủ ra lệnh cho các nhà máy, xí nghiệp (trong đó có đóng – sửa tàu) sơ tán lên các vùng căn cứ Nhiều đoàn tàu, canô, sà lan ngược sông Hồng vào sông Đà, sông Lô chở vật liệu, thiết bị, máy móc lên chiến khu
Thu Đông năm 1947 quân dân ta chiến thắng trên sông Lô, đánh bại 2 vạn quân Pháp Trên các sông, kênh ở miền Nam, tàu chiến giặc bị chặn đánh quyết liệt
Sở Hàng hải Nam Bộ tận dụng mọi phương tiện ghe, thuyền có trong tay, huy động thêm của nhân dân chuyển lương thực, vũ khí, bộ đội trong các căn cứ Đồng Tháp Mười, U Minh, Cà Mau để tăng cường nhịp độ tấn công giặc và đảm bảo cho đời sống vùng kháng chiến Các sở giao thông liên khu trong toàn quốc “ hết sức khuyến khích hoạt động của tư nhân về tiếp tế vận tải”, ngân hàng cho vay vốn để sửa chữa và đóng mới thuyền bè, thành lập các đội vận tải chở hàng hóa, lương thực,… trong vùng tự do
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, chúng ta đã huy động đến 11.800 chiếc tàu, thuyền lớn nhỏ tham gia vận chuyển hậu cần cho chiến dịch Vận tải đường sông kết hợp với ngành hậu cần quân đội đã “ vận chuyển 30 ngàn tấn lương thực, đạt 4 triệu rưỡi TKM”
Ơ miền Bắc trước 1975
Miền Bắc được giải phóng, chúng ta đã giành được chủ quyền và quản lý 937 km đường biển và 5442 km đường sông và cả đường biển bao la Ngành vận tải sông có khoảng 6 vạn tấn sức chở , 47 canô tàu kéo, 7600 thuyền các loại (hầu hết của tư nhân, 24 canô chở khách với 1340 chỗ, tập trung chủ yếu ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định Cảng sông duy nhất là cảng Phà đen (Hà Nội) Cơ sở sửa chữa đóng mới hầu như không có gì Tháng 8/55 Cục vận tải đường thủy được thành lập Tháng 3/1956 Công ty quốc doanh Sông – biển ra đời để quản lý các phương tiện vận tải thủy Trung Quốc đã tặng ta 2 tàu thủy “ Hòa Bình” và “ Hữu Nghị”, mỗi tàu có trọng tải 700 tấn Cảng Hải Phòng có 2 tàu cuốc hư hỏng đã được sửa chữa và được trang bị thêm 2 tàu kéo 180CV và 300CV và 10 salan với tổng trọng tải 1045T Phòng Hàng hải Nam bộ giải tán, ta đã cất giấu được nhiều phương tiện và quản lý được phương tiện tham gia chuyển quân ở Nam ra Bắc tập kết
Cục cơ khí được thành lập đảm nhận việc sửa chữa các loại phương tiện vận tải bốc xếp Ngành đóng tàu có các xưởng đóng tàu 1,2,3,4 ở Hải Phòng, xưởng cơ khí Hải Phòng,… sau này có thêm các xưởng ở Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nội,…
Giai đoạn 1955 – 1960 chúng ta đã nhập các phân đoạn, tổng đoạn của salan 200T
từ Rumani, Ba Lan về lắp ráp, nối lại
Cộng hòa dân chủ Đức giúp chúng ta 2 tàu “Đoàn Kết” và “Thống Nhất” trọng tải mỗi tầu 800 DWT ; Liên Xô giúp ta một đoàn tàu cuốc, tàu hút bùn để nạo vét các tuyến luồng, cảng biển,… Các tàu vận tải của ta đã chở hàng đến Trung Quốc, Hồng Công,…
Một sự kiện quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của ngành đóng tàu Việt Nam non trẻ là việc hoàn thành xây dựng nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, cơ sở cơ khí đóng tàu hiện đại đầu tiên ở miền Bắc vào thời gian này và nhà máy đã đóng thành công tàu “20 tháng 7” trọng tải 1000T
Năm 1961, ngành đường thủy đã trục vớt và khôi phục thành công hai tàu khách
“Đà Nẵng”, “Mỹ Tho” và đóng mới thêm 13 tàu khách
Do yêu cầu chi viện cho miền Nam, từ 10/1962 hình thành đường vận chuyển Hồ Chí Minh trên biển Trên tuyến này chúng ta đã sử dụng loại tàu “Giải phóng”, trọng tải 100T, công suất 900CV, tốc độ 13 hải lý/giờ do ta chế tạo
Trang 11Năm 1965, giải thể Cục vận tải thủy để hình thành 2 Cục chuyên ngành: Cục vận tải đường biển và Cục vận tải đường sông
Từ năm 1964 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc mà mục tiêu trước hết là đánh phá hệ thống giao thông vận tải 70 – 80% số bom đạn địch ném xuống là nhằm các mục tiêu giao thông vận tải của chúng ta Chúng ta đã nhanh chóng sắp xếp lại tổ chức cho phù hợp với thời chiến
Năm 1967 cục đường sông đã nghiên cứu và chế tạo thành công loại khí tài phá bom đặt trên mũi canô sử dụng ngay nguồn điện trên canô để phóng từ gây nổ với các loại bom từ trường do Mỹ thả
Năm 1970 – 1971 Cục đường sông thí điểm chế tạo thành công tàu đẩy (150CV) – đẩy 4 salan 120x4 thành công mở ra phương thức vận tải mới, tiên tiến ở nước ta
Sau khi hiệp định Paris (1/1973) được kí kết, lực lượng của công ty vận tải biển VN
đã có 290 tàu lớn nhỏ, tổng trọng tải 48.500 tấn và 4.000 cán bộ, thủy thủ, thuyền viên, … Tầu biển của ta đã vươn xa ra đại dương, sang đến tận Nhật Bản Trong những năm 1965 –
1975, ngành cơ khí đóng tàu của chúng ta đã:
Đóng mới, cải tạo trên 30 loại canô, tàu kéo, tàu đẩy (135CV, 150CV, 225CV, 305CV)
Sản xuất 40 loại canô du lịch, tàu khách
5 loại tàu hàng
21 phương tiện vượt sông
Đã nghiên cứu áp dụng công nghệ xi măng lưới thép (XMLT) để đóng hàng vạn tàu thuyền xi măng lưới thép, trong đó có tàu đi biển 300T
, 400CV, thuộc loại tàu lớn trên thế giới bấy giờ
Ơ miền Nam trước 1975
Tầu đi biển ( thuyền buồm) có trọng tải 100T trở lại, năm 1954 có 28.000 chiếc, tổng trọng tải 112.461T Số tàu thuyền có gắn máy (hơi nước và máy dầu) năm 1954 có
206 chiếc / 7592 tấn Thuyền gỗ 4681 chiếc / 276.235T
Trong những năm 1954 – 1975, chính quyền Sài Gòn tập trung vào chiến tranh không quan tâm đến việc mở mang, khai thác đường thủy phục vụ kinh tế Để phục vụ nhu cầu quân sự có kết hợp phục vụ dân sinh Chính quyền Sài Gòn đã xây dựng nhiều cảng: Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Phan Thiết, Qui Nhơn
Sau này thêm các tàu như Neptune Star 16.260 DWT, Jade Star 16.230 DWT, Năm 1979 thành lập Cục Đăng kiểm VN
Năm 1982 đưa tàu Định An 20 thí điểm mở tuyến vận tải pha sông biển vào đồng bằng sông Cửu Long Trong thời gian này, nhà máy sửa chữa tàu biển Phà Rừng ra đời, có khả năng sửa chữa tàu đến 15.000T Nhà máy Hạ Long đã đóng được tàu 1500DTW
Ngành đường sông phía Nam đã tiếp quản và nâng cấp các nhà máy xí nghiệp :
Trang 12CK 76 (Thanh Quang), Hiệp ân, … đóng mới salan 250 tấn, tàu kéo 150CV
Các cảng Hải Phòng, Sài Gòn, … được nâng cấp, đầu tư thêm năng lực Các cảng sông: Hà Nội, Nam Định cũng được đầu tư đáp ứng nhu cầu bốc xếp hàng hóa
I.3 Thành tựu của ngành đóng tàu trong thời kỳ đổi mới
Cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện nay và định hướng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
Thực hiện đường lối đổi mới “Đổi mới” của Đảng, ngành đóng tàu VN đã có những tiến bộ vượt bậc Chúng ta đã từng bước được sắp xếp, tổ chức, nâng cao hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp đóng tàu Năm 1986, Liên hiệp đóng tàu VN được thành lập bao gồm những nhà máy đóng tàu chủ lực của ta lúc đó : Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Hạ Long, Sông Cấm, Sông Lô, Tam Bạc,… Năm 1996 Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy VN là tổng công ty quốc gia được thành lập theo Quyết định 91 / TTG của chính phủ Tổng công
ty chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính phủ và các Bộ liên quan theo chức năng như bộ GTVT, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài chính
Sơ đồ tổ chức của TCTCNTTVN lúc mới thành lập, 1996 thể hiện ở hình vẽ 1.1 Mục tiêu của TCT đến năm 2010 là phải xây dựng và phát triển thành lực lượng nòng cốt của ngành công nghiệp đóng tàu VN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng
và an ninh của đất nước ; từng bước trở thành tập đoàn kinh tế mạnh
Nâng cao năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật của các nhà máy, xí nghiệp, đầu tư thêm
ụ, triền đà lớn, máy móc, trang thiết bị hiện đại, xây dựng thêm một số nhà máy mới, đào tạo nâng cao thêm tay nghề cho đội ngũ công nhân kỹ thuật, kể cả việc đào tạo ở ngoài nước Tăng cường liên doanh liên kết với nước ngoài, tranh thủ vốn và công nghệ của các nước tiên tiến Tiêu biểu là: nhà máy liên doanh tàu biển Hyundai – Vinashin xây dựng
1997 – 1999, có thể sửa chữa tàu đến 400.000DWT
Viện nghiên cứu thiết kế, sau này là công ty tư vấn thiết kế cũng có những bước tiến vượt bậc, tự nghiên cứu được các loại tàu đặc chủng, tàu lớn, kỹ thuật phức tạp
Công tác Đăng kiểm có nhiều tiến bộ, Đăng kiểm VN bắt đầu có tiếng nói trên diễn đàn đăng kiểm quốc tế
Nhà nước đã có chính sách phát triển đội tàu biển và công nghiệp đóng tàu biển Việt Nam Đây là vấn đề hết sức quan trọng cho việc phát triển ngành đóng tàu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Sản phẩm đóng tàu
Từ năm 1985 trở đi chúng ta đã thiết kế và đóng mới hàng lọat tàu pha sông biển
400 – 1000 T, đóng tàu cá xuất khẩu cho Liên Xô, đóng tàu 3850T, phục hồi tàu hút bùn Long Châu xa và Trần Hưng Đạo công suất tới 11.000 m3/h, tàu cao tốc 32 hải lý/giờ, tàu dầu 3500T, cần cẩu nổi 600T Năm 1998 đóng thành công tàu 6500T, đến năm 2003 –
2004 đóng tàu 12.500T, tàu container 1016 TEU (dung tích 16.200m3 ), tàu dầu 100.000 DWT, sửa chữa tàu 400.000 T Gần đây đóng tàu 53.000T xuất khẩu cho vương quốc Anh
Ngành đóng tàu Việt Nam đã cung cấp phương tiện cho ngành vận tải thủy, dầu khí, quốc phòng, đánh bắt thủy sản thực hiện nhiệm vụ của ngành mình
Theo thống kê của Cục Đăng Kiểm Việt Nam, tính đến 31/12/2002:
- Tổng số tàu sông đang họat động của cả nước là 77.988 chiếc, tổng công suất 2.798.552CV, tổng trọng tải 2.888.056T, tổng ghế khách 249.424 chổ
- Tổng số tàu biển (từ 100 GT trở lên) đang họat động của cả nước là 707 chiếc,
Trang 13Số liệu cụ thể được ghi ở bảng 1.1 và bảng 1.2
Về tổ chức quản lý ngành đóng tàu hiện nay từ TW đến cơ sở
Phát huy truyền thống đóng tàu, thuyền hàng ngàn năm của tổ tiên , tận dụng lợi thế các điều kiện địa lý tự nhiên của đất nước, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành đóng tàu (là một trong số ít ngành) đã đổi mới kịp thời triệt để , sáng tạo, phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế trong và ngòai nước , tiếp nhận kịp thời thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến ngành đóng tàu đã có tiềm lực khá lớn, thành ngành kinh
tế mũi nhọn của đất nước
Ngành đóng tàu đã hình thành tổ chức với mối quan hệ chặt chẽ, quản lý từ chính phủ Trung ương đến các Bộ, ngành liên quan, đến các tổng công ty, nhà trường, viện nghiên cứu và cơ sở sản xuất
Khái quát sơ đồ tổ chức, quản lý ngành đóng tàu Việt nam hiện nay thể hiện ở hình
- Có đội ngũ cán bộ công nhân viên đông đảo, trên 3 vạn, có trình độ tay nghề cao, trong đó trên 1000 người tốt nghiệp Đại học trở lên
- Có các cơ sở đào tạo kỹ sư và trên đại học cho ngành đóng tàu như Đại học hàng hải Hải Phòng, Đại học GTVT TPHCM, Đại học Thủy sản Nha Trang, Đại học Bách Khoa
Hà Nội, Đại học Kỹ thuật TPHCM và hàng chục trường dạy nghề đóng tàu
- Có VINASHIN là tổng công ty nhà nước với 50 xí nghiệp thành viên là lực lượng nòng cốt của công nghiệp đóng tàu Việt nam Ngòai ra còn có nhiều nhà máy xí nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thụôc các Bộ, các tổng công ty, các địa phương và tư nhân Gần đây nhà nước đã thành lập Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam với khoảng 100 đơn vị thành viên
- Có hai công ty nghiên cứu thiết kế tàu thủy, một công ty nghiên cứu thiết kế tàu cá
và hàng chục công ty thiết kế tàu thuỷ với quy mô nhỏ
- Có Cục Đăng kiểm Việt Nam (VR) với trên 600 cán bộ có trình độ cao, VR có quan hệ với 16 tổ chức Đăng kiểm quốc tế
- Giá trị tài sản cố định của các ngành đóng tàu đến hàng chục ngàn tỷ đồng Tháng 11/2005 Chính phủ đã chuyển 750 triệu USD từ phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu tiên cho VinaShin để triển khai kế hoặch đóng tàu giai đoạn 2006 – 2010
- Đã có đề án phát triển đến năm 2010, định hướng 2020, được nhà nước xác định ngành đóng tàu là một trong năm ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, tòan ngành đang phấn đấu để tương lai không xa, Việt nam trở thành một trong những cường quốc đóng tàu thế giới
I.4 Vài nét về ngành đóng tàu thế giới hiện nay
Đội tàu vận tải thế giới
Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 1990 đội tàu vận tải thế giới có tổng trọng tải khoảng 600 triệu tấn (DWT) tính cho tàu có tấn đăng ký >100 GT, 1GT = 2,83 m3
dung tích của tàu
Năm 1993, tổng trọng tải khỏang 730 triệu tấn và đến nay khỏang 850 triệu tấn Nước có đội tàu có tổng trọng tải lớn nhất là Hy lạp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc …
Trang 14Về trọng tải trung bình (TDW/ chiếc tàu) của các lọai tàu được thống kê như sau: Tàu dầu : 41.000 DWT/chiếc
Tàu hàng rời : 45.000 DWT/chiếc
Tàu hàng bách hóa : 5.000 DWT/chiếc
Tàu container :24.000 DWT/chiếc
Tàu tổng hợp :113.000 DWT/chiếc
Tàu bốc xếp ngang :7.000 DWT/chiếc
Các lọai tàu <100 GT, các lọai tàu sông, pha sông biển, tàu công trình, tàu cá, tàu khách,… có rất nhiều chưa thống kê đựơc
Đội tàu dầu chiếm tỷ lệ rất lớn , khỏang 1/3 lọai tàu chở dầu thô cực lớn có trọng tải đến 400.000 TĐW, thường chạy tuyến Trung đông – Singapore – Nhật Bản Loại tàu dầu thường đến Việt Nam có trọng tải khỏang 70.000 DWT – 100.000 DWT
Lọai tàu container lớn nhất có sức chở đến 6.000 TEU
Công nghiệp đóng tàu thế giới
Hàng năm thế giới đóng mới được khỏang 20 triệu GT, bằng 4 – 5% trọng tải đội tàu thế giới, sản lượng này mới chỉ đạt khỏang 50% công suất thiết kế của các nhà máy trên tòan thế giới
Nhật Bản và Hàn Quốc đóng trên 65% sản lượng tàu tòan thế giới và xuất khẩu là chủ yếu
Đối với lòai người thế kỷ 21 được dự báo là thế kỷ hải dương vì kinh tế hải dương (biển) rất phát triển với nhịp độ tăng trưởng 8 – 10% năm Đại dương là một kho báu
Tóm lược
Việt nam ở vị trí rất thuận lợi để phát triển vận tải thuỷ Từ xa xưa tổ tiên ta đã biết vận dụng sông biển, chế tạo những loại tàu thuyền thích hợp phục vụ xây dựng kinh tế, chiến đấu bảo vệ tổ quốc
Sau 20 năm đổi mới đến nay chúng ta đã có lực lượng phương tiện vận tải thuỷ và
cơ sở vật chất kỹ thuật đóng tàu khá phát triển Hiện tại ngành đóng tàu ở vị trí thứ 11, theo định hướng tới 2015 chúng ta sẽ giữ vị trí thứ 4 trên thế giới Chúng ta hy vọng trong tương lai gần ngành đóng tàu chúng ta sẽ là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
Có thể nói không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có biển mà cũng có tiềm
Trang 15CÂU HỎI
1 Hệ thống tổ chức, qủn lý ngành đóng tàu nước ta hiện nay như thế nào?
2 Cơ sở vật chất – kỹ thuật ngành đóng tàu Việt nam hiện nay? Định hướng của ngành là gì?
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức Tổng công ty CNTTVN năm 1996
Đóng tàu
Bến Kiền
SCTB 2 và giàn khoan
Đóng tàu
Tam bạc
Đóng tàu Sông Cấm
Vận tải Biển đông
Phá dỡ tàu cũ
KCN phá dỡ tàu cũ
XNK VT Thiết bị thủy
Kế tóan Ban kế họach đầu tư
BTC Cán bộ & L.Động
XNK VT Thiết bị thủy
Trang 16TỔNG HỢP SỐ LIỆU TÀU SÔNG ĐANG HỌAT ĐỘNG TRONG CẢ NƯỚC
CỦA ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM (Tính đến 31/12/2002)
(Chưa tính đến đội tàu, thuyền dân gian vỏ gỗ, vỏ thép, XMLT, Composite)
Bảng 1.1
Máy (CV)
Khả năng Khai thác
Tuổi bình quân
1 Tổng số tàu đang hoạt
0
0 123.005 69.274 1.866 18.787 73.039
74.552 20.484 277.597 22.742 1.145.418 kg 25.282 3.292 42.059 m3/g 188.606
15.08 11.18 15.79 11.09 19.73 7.61 13.67 38.05 10.82
4 Ngòai quốc doanh
365 2.547 9.737
658
129 2.353
1.439.212 122.034
0
0 675.844 22.455 15.979 13.378 78.498
1.526.516 125.377 779.164 61.624 3.581.232 kg 224.142 (NG) 16.868
25.124 m3/g 51.439
8.03 7.08 8.08 7.08 11.37 8.31 6.25 9.43 7.00
TỔNG HỢP SỐ LIỆU TÀU BIỂN ĐANG HOẠT ĐỘNG (Từ 100GT trở lên)
(Tính đến 31/12/2002)
Bảng 1.2
Tàu mang cấp Đăng kiểu nứơc ngòai
Tàu treo
cờ Việt Nam
1 Tổng số tàu đang hoạt động
- Số lượng tàu (Chiếc)
- Tổng dung tích (GT)
- Tổng trọng tải (DWT)
649 1.156.075 1.848.472
58 519.335 748.901
707 1.675.410 2.597.373
2 Tuổi bình quân (Năm)
- SL tàu từ 10 năm trở xuống (Chiếc)
- SL tàu lớn hơn 20 năm (Chiếc)
Trang 1717
- Tàu hàng tổng hợp (Chiếc)
-Tàu chở dầu (Chiếc)
- Tàu container (Chiếc)
- Tàu khách biển (Chiếc)
4 Theo tuyến hoạt động
- Tuyến quốc tế (Chiếc)
- Tuyến trong nước (Chiếc)
Các địa phươn
TẬP ĐOÀN
CN TT VN VINASHIN
Các đơn vị thành viên của VINASHIN
Trang 18CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KHOA HỌC QUẢN TRỊ SẢN XUẤT
2.1 Quá trình hình thành và phát triển lý thuyết quản trị sản xuất
Ngay từ năm 1776 Adam Smith và các nhà kinh tế khác đã quan tâm nghiên cứu và đặt nền móng cho các lý thuyết về quản trị sản xuất và dịch vụ
Có những sự kiện đáng quan tâm như sau:
Năm 1800 Eli Whitney đề xuất về lý luận và tiêu chuẩn hoá sản xuất và kiểm soát chất lượng
Năm 1881 W Taylor là người khai sinh ra lý thuyết quản trị lao động khoa học Ông đã xây dựng những tiêu chuẩn lựa chọn lao động, nghiên cứu việc hoạch định và lập lịch tiến độ lao động, nghiên cứu các nguồn động lực thúc đẩy người lao động tăng năng suất lao động, hợp lý hoá thao tác và định mức lao động Taylor và các đồng nghiệp của ông là những người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống những phương pháp tốt nhất cho sản xuất Ông cũng nghiên cứu về chuyên môn hoá người lao động, người quản lý, công nhân chính, công nhân phụ……
Năm 1913 H Ford và C Sorenso đã kết hợp những lý thuyết về sự chuyên môn hoá lao động để thực hiện phương pháp dây chuyền trong việc đóng gói và phân phối thịt theo đơn đặt hàng Thế là hình thành khái niệm về dây chuyền sản xuất đã ra đời
Năm 1924 W Schenhard đã nghiên cứu lý thuyết về kiểm tra chất lượng sản phẩm
Lý thuyết này được đề ra dựa vào sự kết hợp những kiến thức về toán thống kê nhằm đáp ứng nhu cầu về kiểm soát và nó đã cung cấp những nền tảng cho việc chọn mẫu thống kê
và kiểm tra chất lượng
Năm 1938 người ta bắt đầu ứng dụng Computer vào quản trị sản xuất và điều hành Năm 1957 bắt đầu ứng dụng sơ đồ PERT( Program Evaluation and Review Technique) và sau đó CPM (Critical Path Method) vào sản xuất và đã mang lại hiệu quả cao về tài chính và thời gian sản xuất
Năm 1970 người ta bắt đầu nghiên cứu nhu cầu vật tư bằng máy tính MRP (Material Requirement Planning)
Năm 1975 hệ thống nghiên cứu thiết kế bằng Computer đã hình thành (CAD)
Năm 1980 bắt đầu ứng dụng hệ thống sản xuất tự động (MAP – Implemented Manufacturing Automation Protocol)
Năm 1985 hệ thống sản xuất liên hợp bằng Computer (CIM: Computer Intergrated
+ Khoa học thông tin
Có thể biểu diễn những sự kiện nổi bật đánh dấu sự phát triển của khoa học quản trị sản xuất theo sơ đồ hình 2.1 của GS Đồng Thị Thanh Phương
Trang 19Sự phát triển trong tương lai dựa trên
cơ sở: + Khoa học quản trị + Khoa học tự nhiên + Khoa học thông tin.
1990 1985 1980 1975 1970 1965 1957 1938 1924 1913 1890 1886
1800
1776
CIM MAP CAD MRP CPM
Sơ đồ Pert Áp dụng Computer Kiểm soát chất lượng Dây chuyền
Sơ đồ Gantt Động cơ lao động Khoa học về quản trị
Tiêu chuẩn hoá
Phân công lao động
Hình 2.1 Các sự kiện nổi bật trong quá trình phát triển Khoa học Quản trị
sản xuất.
(Theo GS Đồng Thị Thanh Phương)
2.2 Khái niệm về sản xuất, quản trị sản xuất
Khái niệm về sản xuất
Trang 20Khách hàng
Hiện nay theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất (Production) được hiểu
là một quá trình(Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services)
Về thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hoá các đầu vào, biến chúng thành đầu ra (Transforms Imputs to Outputs) dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ
Có thể hình dung quá trình này như trong hình 2.2:
Cung cấp trở lại
Hình 2.2 Quá trình sản xuất Trong hình vẽ trên, người ta thấy “Khoa học và nghệ thuật quản trị doanh nghiệp” giữ vai trò rất quan trọng, nó phụ thuộc chủ yếu vào người thực hiện và thường xuyên phải được hoàn thiện, nâng cao
Có 2 loại hình doanh nghiệp là:
+ Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất
+ Doanh nghiệp tạo ra các dịch vụ
Các nhà máy, công ty đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của ngành ta thuộc loại hình doanh nghiệp 1
Các hoạt động quản trị quá trình tạo ra các sản phẩm vật chất được gọi là quản trị sản xuất
Các hoạt động quản trị quá trình tạo ra các dịch vụ gọi là quản trị điều hành hoặc quản trị tác nghiệp (Operation)
Thuật ngữ chung cho hai loại trên là quản trị sản xuất và tác nghiệp (Production and
Operation Management – POM)
Khái niệm về quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất bao gồm tất cả hoạt động liên quan đến việc quản trị các yếu tố đầu vào, tổ chức, phối hợp các yếu tố đó nhằm chuyển hoá thành các kết quả ở đầu ra là sản
vụ
QUÁ TRÌNH
Doanh nghiệp Chuyển hoá đầu vào thành đầu ra thông qua sản xuất, hoạt động tài chính và Marketing
Trang 21phẩm vật chất với hiệu quả cao nhất, đạt được lợi ích, lợi nhuận lớn nhất cho doanh nghiệp
Để tạo ra sản phẩm các doanh nghiệp phải thực hiện 3 chức năng cơ bản sau đây:
+ Marketing
+ Tiến hành sản xuất
+ Hoạt động tài chính kế toán
Theo kinh nghiệm của các doanh nghiệp Mỹ thì chi phí cho khâu sản xuất bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn Mặt khác các giải pháp tạo khả năng sinh lợi trong lĩnh vực quản trị sản xuất lớn hơn rất nhiều so với các biện pháp giảm phí tổn trong tài chính và tăng doanh số trong hoạt động tiếp thị
Như vậy chúng ta cần nghiên cứu các cơ sở khoa học, các mô hình và thuật toán nhằm giải quyết các nhiệm vụ của Quản trị sản xuất
Xem xét doanh nghiệp theo quan điểm hệ thống
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng có tính độc lập tương đối, lập thành một hệ thống (System) có các mối quan hệ bên trong và bên ngoài cũng như các hệ thống thông thường khác
Thực chất doanh nghiệp là một hệ thống chuyển hoá các đầu vào thành đầu ra dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ
Như đã nói ở trên doanh nghiệp có ba chức năng chính: Marketing, sản xuất và tài chính, kế toán nên được tổ chức thành 3 bộ phận, lập thành 3 hệ thống bộ phận có tác động tương hổ, tạo thành các mối quan hệ chủ yếu bên trong của doang nghiệp
Các nhân tố bên ngoài có tác động đến doanh nghiệpbao gồm chủ yếu hệ thống kinh
tế quốc gia, hệ thống mậu dịch quốc tế, hệ thống chính trị quốc gia và quốc tế
Những nhà quản trị nào thông hiểu được sự vận hành của những hệ thống bên trong
và bên ngoài sẽ có cơ hội trở thành các nhà quản trị giỏi, có khả năng phối hợp những mối liên hệ giữa con người với các nguồn tiềm năng vật chất, tài chính, thông tin, để làm cho hệ thống doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Với quan điểm nhìn nhận doanh nghiệp như là một hệ thống sẽ giúp chúng ta có được tầm nhìn bao quát, toàn diện về doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường hoạt động Điều đó giúp chúng ta xây dựng được những nhiệm vụ quản trị có hiệu quả, có tính khả thi để thực hiện tốt mục tiêu chiến lược chung của doanh nghiệp
Ngoài ba hệ thống bộ phận chính còn có các hệ thống phụ khác như: Hệ thống tồn kho, hệ thống vạch và điều hành lịch trình sản xuất, hệ thống duy tu, bảo quản năng lực doanh nghiệp
Như vậy trong nội bộ doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ chằng chịt cần phải điều hoà sao cho tối ưu
Mục tiêu của quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất cần đạt được bốn mục tiêu cơ bản sau đây:
Trang 22Nếu như trước nay người ta xử dụng chủ yếu hệ thống KCS (Kiểm tra chất lượng
sản phẩm) để kiểm soát chất lượng sản phẩm thì ngày nay, các kiểu kiểm soát chất lượng
toàn bộ TQM (Total quality management) được áp dụng rộng rãi, mà điển hình nhất là hệ thống đảm bảo chất lượng ISO 9000 (sẽ trình bày ở chương XII của giáo trình này)
Mục tiêu hiệu năng
Thực chất của mục tiêu này chính là làm thế nào để sử dụng và khai thác tốt nhất các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp, cụ thể là:
- Kiểm soát và giảm thiểu chi phí nguyên liệu
- Sử dụng nhiên liệu hợp lý, kiểm soát chi phí lao động
- Kiểm soát chặt chẽ sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp (Nhà
xưởng, thiết bị, phương tiện vận tải, …)
Mục tiêu dịch vụ khách hàng
Mục tiêu này nhằm thực hiện hai yêu cầu:
- Sản xuất đủ số lượng, đúng mẫu mã, chủng loại để thoã mãn nhu cầu của khách hàng
- Đảm bảo sản xuất đúng thời hạn giao hàng theo yêu cầu của khách hàng
Mục tiêu linh hoạt và thích ứng nhanh
Ngày nay môi trường kinh doanh và nhu cầu thị trường thay đổi rất nhanh, đặc biệt
là sự phát triển của khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ thay đổi có thể làm phương pháp sản xuất thay đổi hẳn và kết quả là khối lượng sản phẩm cao hơn, chí phí giảm hơn, chất lượng tốt hơn
Những sự biến động về giá cả các vật tư chiến lược (Như xăng, dầu, …) cũng như
các biến động xã hội – chính trị, …, làm cho thế giới luôn không ổn định
Trong bối cảnh đó, để tồn tại và nâng cao cạnh tranh buộc các doanh nghiệp sản xuất phải tính toán tổ chức sản xuất sao cho rất linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh
Chức năng của quản trị sản xuất
Chức năng của quản trị sản xuất bao gồm chức năng dài hạn và ngắn hạn:
a Chức năng dài hạn
- Dự báo, lựa chọn và thiết kế hệ thống sản phẩm
- Định vị trí của hệ thống sản xuất và xây dựng nhà máy
- Lựa chọn tiến trình và thiết bị sản xuất
- Thiết kế mặt bằng
- Thiết kế quá trình sản xuất
- Thiết kế công việc
b Chức năng ngắn hạn (Liên quan đến việc vận hành và kiểm soát hệ thống sản
xuất)
- Dự báo sản xuất và lập kế hoạch sản xuất
- Kiểm soát dòng nguyên vật liệu
- Kiểm soát tồn kho
- Duy trì hệ trống sản xuất
- Kiểm soát chất lượng
- Kiểm soát lao động và nhân lực trong hệ thống sản xuất
Quản trị sản xuất và các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp
Trang 23Quản trị sản xuất gắn liền với các lĩnh vực (Bộ phận) quan trọng khác trong doanh
nghiệp như: Marketing, tài chính, nhân sự, khoa học công nghệ
Quản trị sản xuất và Marketing
Quản trị sản xuất có quan hệ chặt chẽ với hoạt động Marketing, mối quan hệ này thể hiện trong việc thực hiện các nhiệm vụ sau:
a Thoả mãn nhu cầu dài hạn
Để lập được kế hoạch sản xuất, nhà quản trị sản xuất phải dự báo và nhận biết được nhu cầu trong tương lai Để làm được điều này, nhà quản trị cần sự trợ giúp và hợp tác của
bộ phận Marketing
b Thoả mãn nhu cầu dài hạn
Các đơn đặt hàng cung cấp cho ta thông tin về nhu cầu hiện tại Thông tin giữa phòng Marketing và bộ phận điều độ sản xuất được đáp ứng tốt sẽ tránh được tình trạng bị động hay đột xuất
c Chất lượng
Mục tiêu chất lượng của quản trị là nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Để hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về chất lượng cần có sự giúp đỡ của bộ phận Marketing
d Kiểm soát tồn kho
Kiểm soát tồn kho là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quản trị tác nghiệp Tồn kho quá lớn sẽ gây lãng phí, kém hiệu quả Tồn kho quá ít sẽ không đảm bảo nhiệp độ cung ứng hàng Tồn kho thế nào là hợp lý đòi hỏi nhà quản trị sản xuất phải hiểu về
Marketing
Quản trị sản xuất và quản trị tài chính kế toán
Thực hiện việc quản lý tài chính,tài sản theo đúng chế độ qui định, sử dụng đồng vốn có hiệu quảlà một công tác có liên quan chặc chẽ tới sản xuất
Quản trị sản xuất và quản trị nhân sự
Bộ phận nhân sự, lao động sẽ cuung cấp cho hệ thống sản xuất nguồn nhân lực, họ
sẽ giải quyết các vấn đề: tuyển dụng, đào tạo, giải quyết chế độ, sa thải, … Nhà quản trị phải nắm chắc và lưu tâm nhiều đến công tác này
Quản trị sản xuất và nghiên cứu khoa học công nghệ
Nghiên cứu khoa học công nghệ và điều hành sản xuất luôn luôn gắn liền với nhau như hình với bóng
- Nghiên cứu khoa học giúp thiết kế sản phẩm mới có chất lượng tốt hơn
- Nghiên cứu khoa học giúp qui trình hoá và công nghệ hoá hệ thống sản xuất
- Nghiên cứu khoa học giúp nâng cao hệ thống kiểm soát chất lượng
Vấn đề năng suất trong quản trị
Năng suất (Productivity) phản ảnh sự gia tăng (sản phẩm hoặc giá trị) của quá trình
sản phẩm Năng suất được tính bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được với nguồn lực đã
Trang 24Năng suất có ý nghĩa rất quan trọng đối với từng doang nghiệp cũng như đối với quốc gia Nhiệm vụ của các nhà quản trị là phải làm sao cho năng suất đơn vị mình không ngừng tăng lên Khoa học quản trị sản xuất giúp họ tìm được giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề này
Những nhân tố tác động đến năng suất:
Theo các nhà quản trị Mỹ, trong vòng 100 năm(1889- 1989) năng suất của Mỹ tăng bình quân 2,5% năm, trong đó:
Nhân tố lao động đóng góp 0,5%
Nhân tố tài chính đóng góp 0,4%
Nhân tố khoa học và nghệ thuật quản trị đóng góp 1,6%
Như vậy 3 yếu tố chủ yếu tác động trực tiếp đến năng suất là: Lao động, tài chính, khoa học và nghệ thuật quản trị Trong đó yếu tố thứ 3 giữ vai trò rất quan trọng để nâng cao năng suất
Hoạt động quản trị chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn, mang lại hiệu quả tốt thông qua những nền tảng GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO không những đối với những nhà quản trị
mà còn đối với những người lao động, nâng cao hàm lượng khoa học trong hoạt động của
họ Kinh nghiệm của Nhật bản cho thấy: Những Quốc gia nào càng chú trọng nâng cao dân trí, chú trọng đầu tư phát triển con người thì họ càng thành công trong việc nâng cao năng suất.Một nhà quản trị có năng lực phảiluôn bảo đảm mọi nguồn lực về kiến thức và kỹ thuật trong đơn vị được huy động và khai thác triệt để
2.3 Lựa chọn chiến lược trong quản trị sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh, hoạt động sản xuất (và dịch vụ) luôn xẩy
ra các tình huống quản trị khác nhau Trước một tình huống có thể có nhiều cách giải quyết, nhiều khả năng lựa chọn (Alternative) nhiều phương án hành động Mỗi cách giải quyết, khả năng lựa chọn hoặc phương án hành động đó gọi là chiến lược Strategie) Nhiệm vụ của nhà quản trị là phải lựa chọn được chiến lược tốt nhất trong tập hợp các chiến lược khả năng để ra quyết định thực hiện
Một quyết định đúng đắn sẽ dẫn đến thành công và ngược lại
Trong một doanh nghiệp có:
- Chiến lược chung cho toàn doanh nghiệp nhằm giải quyết những nhiệm vụ lớn, chung cho cả doanh nghiệp, như mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp, các phương án, các giải pháp lớn trong sản xuất kinh doanh
- Các chiến lược riêng của các bộ phận chức năng như: Marketing,… những chiến lược riêng này là những giải pháp, các phương án hành động riêng của các bộ phận, được lựa chọn trên cơ sở đáp ứng được các yêu cầu của chiến lược chung góp phần thực hiện thắng lợi các quyết định được đưa ra từ chiến lược chung đã được lựa chọn trước đó
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược và ra quyết định
Có hai loại nhân tố chủ yếu sau đây:
- Các nhân tố về chất
- Các nhân tố về lượng
Các nhân tố về chất bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, nó thể hiện trước hết ở mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp Mục tiêu này có thể thay đổi theo từng thời gian Chẳng hạn: một doanh nghiệp mới thành lập hoặc một sản phẩm mới sản xuất lần
Trang 25đầu thì mục tiêu chính truớc mắt là chiếm lĩnh thị trường, nhưng khi doanh nghiệp đã hoạt động ổn định thì mục tiêu chính phải đạt lợi nhuận lớn nhất
Mục tiêu của một doanh nghiệp cũng có thể được biểu hiện ở mức độ phấn đấu qua từng thời kỳ, đạt được công suất, sản lượng tới đâu, trình độ hiện đại như thế nào, đứng ở hàng đầu hay hàng giữa trên thị trường
Khi mục tiêu đã được xác định hoặc đã ổn định thì các nhân tố về lượng giữ một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn chiến lược và ra quyết định thực hiện Đó là những chỉ tiêu về hiệu quả dùng trong so sánh các phương án chiến lược, lựa chọn chiến lược tối ưu là chiến lược có các chỉ tiêu hiệu quả tốt nhất
Nói tóm lại mục tiêu phải được xác định trước làm cơ sở cho việc lựa chọn các chiến lược thích hợp để đạt được mục tiêu đó Những gì mà một tổ chức cần thực hiện để đạt được mục tiêu chính là nội dung chiến lược , được thể hiện dưới dạng một quyết định
Kỹ thuật phân tích TOWS
Việc xác định mục tiêu của doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào mục đích, nhiệm
vụ, động cơ tồn tại của doanh nghiệp, những giá trị gì mà doanh nghiệp cần tạo ra cho xã hội
Để xác định mục tiêu, nhiệm vụ và hoạch định chiến lược, ngày nay người ta thường sử dụng kỹ thuật phân tích TOWS, tức là kỹ thuật phân tích:
- Mối đe doạ (Threats – T)
- Cơ hội (Opportunities – O)
- Thế yếu (Weaknesses – W)
- Thế mạnh (Strengths – S)
Một ma trận chiến lược hai chiều trong đó một chiều thể hiện sự đe doạ và cơ hội của môi trường, một chiều thể hiện thế mạnh và thế yếu của doanh nghiệp sẽ cho phép chúng ta xác định được vị thế của doanh nghiệp trong quá trình hình thành chiến lược Sơ
Cơ hội/đe dọa của môi trường
Thế mạnh (A) Phối hợp giữa cơ hội
và thế mạnh
(C) Tránh sự đe doạ
Thế yếu (B) Tránh điểm yếu (D) Tình huống nguy hiểm
Đây là ma trận chiến lược về môi trường – tình hình nội tại của doanh nghiệp
Trước hết cần xác định vị trí của doanh nghiệp mình nằm trong ô nào của ma trận TOWS, để tạo được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần am hiểu những đe doạ và cơ hội của môi trường bao bọc xung quanh mình
Những nhân tố chủ yếu của đe doạ và cơ hội gồm:
- Điều kiện về văn hoá
- Điều kiện về nền dân chủ
- Khía cạnh chính trị, pháp lý của quốc gia
- Khía cạnh kỹ thuật
- Điều kiện xã hội
Trang 26Những thế mạnh và thế yếu của doanh nghiệp thể hiện qua những điều kiện và nhân
tố sau:
- Điều kiện về nguồn cung cấp tư bản
- Điều kiện về cung cấp nguyên vật liệu, bán thành phẩm
- Hệ thống khách hàng
- Điều kiện về nguồn lực lao động
- Điều kiện về đối thủ cạnh tranh
- Những điều kiện khác…
Việc phân tích môi trường giúp ta nhận thức được những cưỡng chế của môi trường
đối với hoạt động của doanh nghiệp Một sự nhận thức không trọn vẹn môi trường có thể sẽ
dẫn đến sự thất bại của chiến lược đề ra
Trình tự chọn chiến lược
Chúng ta phải đánh giá thế mạnh, thế yếu của doanh nghiệp mình, xem xét kỹ
những đe doạ, thách thức và cơ hội của môi trường xung quanh Sau đó phải xác định vị trí
của mình trong ma trận TOWS Trên cơ sở đó hoạch định chiến lược và chiến thuật nhằm
tạo ra được lợi thế cạnh tranh Cần xác định các giải pháp khai thác tối đa thế mạnh cũng
như cơ hội phát triển của doanh nghiệp, hạn chế các mối đe doạ, khắc phục các điểm yếu
của doanh nghiệp Những việc này cần được thực hiện theo trình tự sau đây, tức là trình tự
xác định chiến lược (hình 2.3)
Hình 2.3 Sơ đồ các bước lựa chọn chiến lược
Nội dung các bước trên như sau
1 Phân tích tình huống cạnh tranh (môi trường kinh tế xã hội)
- Tìm hiều thực trạng của môi trường và dự báo xu hướng thay đổi
- Tìm hiểu nhu cầu của xã hội
- Nhận dạng các đặc điểm kinh tế của ngành mình và môi trường
Phân tích tình huống cạnh tranh
trong môi trường kinh tế xã hội
Phân tích tình trạng nội tại của doanh nghiệp
Xác định mục tiêu nhiệm vụ vụ
Liệt kê các phương án chiến lược khả thi
Tính toán so sánh lựa chọn các chiến lược
Ban hành quyết định và các giải pháp thực hiện chiến lược
Trang 27- Nhận dạng những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt động
- Nhận dạng vị trí cạnh tranh tương đối giữa các ngành trong nền kinh tế để tìm kiếm và đánh giá cơ hội phát triển doanh nghiệp
-Đánh giá những thách thức, đe doạcó thể xuất hiện từ phía các đối thủ cạnh tranh
2 Phân tích tình trạng nội tại của doang nghiệp
- Đánh giá kết quả thực tế của doanh nghiệp
- Thực hiện việc phân tích TOWS
- Đánh giá sức mạnh cạnh tranh tương đối của doanh nghiệp
- Nhận dạng các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp cần được giải quyết
- Nhận dạng các mặt yếu và các biện pháp khắc phục
3 Xác định mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược
Đề xuất các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược có tính khả thi cao Xác định mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, xác định thứ tự ưu tiên các nhiệm vụ
4 Đề xuất các phương án chiến lược khả năng có thể có
Cần đề xuất và liệt kê đầy đủ các phương án khả năng Những phương án này phải đạt được các yêu cầu sau: Tạo sự hội nhập giữa thế mạnh và cơ hội phát triển của môi trường, khắc phục các điểm yếu của doanh nghiệp, lường trước được các phản ứng, thay đổi của các đối thủ cạnh tranh, tạo được lợi thế cho mình đồng thời phải phù hợp với các điều kiện của môi trường và phải có tính khả thi
5.Tính toán, so sánh, lựa chọn chiến lược
- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá các chiến lược khả năng
- Tính toán các chỉ tiêu này cho từng phương án
- Lựa chọn phương án chiến lược có chỉ tiêu hiệu quả tốt nhất Trong trường hợp khó khăn, không định hướng được các chỉ tiêu hiệu quả một cách cụ thể thì cần trả lời được các câu hỏi sau đây:
- Những chiến lược nào tạo được lợi thế cạnh tranh, giành được thị phần cho doanh nghiệp?
- Những chiến lược nào làm cho doanh nghiệp chiếm lĩnh được vị tría hàng đầu trên thị trường?
- Những chiến lược nào thiết yếu trước mắt đối với doanh nghiệp?
- Những chiến lược nào có tính khả thi cao?
6 Ra quyết định thực hiện
Sau khi lựa chọn được chiến lược cần ra quyết định chính thức để thống nhất thực hiện và làm cơ sở để các bộ phận chức năng xác định nhiệm vụ của mình
Đề xuất các biện pháp thực hiện quyết định
Tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh khi cần thiết trong suốt quá trình thực hiện
Một chiến lược quản trị sản xuất thành công chỉ khi nào nó đáp ứng được các tiêu chuẩn sau đây:
- Phù hợp với nhu cầu môi trường
- Đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh
Trang 28- Phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp
- Phù hợp với chu kỳ đời sống của sản phẩm
2.4 Những quyết định quan trọng nhất trong nội dung quản trị sản suất
Thực chất của việc Quản trị sản xuất là quá trình lựa chọn các chiến lược, ra các quyết định quản trịvà tổ chức điều hành thực hiện các quyết định đó
Những quyết định quan trọng gồm có:
1 Quyết định về dự báo
Đây là quyết định đầu tiên trong qui trình quản trị sản xuất, gồm có các câu hỏi phải giải quyết: Các tiêu chuẩn ta hoạch định là gì? Bao nhiêu đơn vị sản phẩm có thể tiêu thụ được? Nhu cầu sản phẩm của ta phụ thuộc vào những nhân tố nào? Với mối tương quan ra sao?
2 Quyết định về sản phẩm và công nghệ
Sau quyết định về dự báo là quyết định về sản phẩm và công nghệ Phải giải quyết lựa chọn sản phẩm nào đưa ra thị trường Trong quá trình sản xuất chúng ta phải đổi mới sản phẩm như thế nào? Thừa kế sản phẩm đã thực hiện ra sao và những qui trình công nghệ nào? Thiết bị gì? Công suất là bao nhiêu? Đầu tư theo phương thức nào?
3 Quyết định địa điểm, vị trí xí nghiệp
Quyết định này có tầm quan trọng đặc biệt, nó sẽ quyết định ngay từ đầu những lợi thế cho xí nghiệp
4 Quyết định bố trí mặt bằng
Trên cơ sở vị trí đã được lựa chọn, bố trí mặt bằng giúp chúng ta nên bố trí sắp xếp các thiết bị, phương tiện như thế nào để đáp ứng nhu cầu Bố trí dây chuyền sản xuất ra sao? Nhà xưởng, kho tàng, văn phòng….bố trí thế nào cho hiệu quả
6 Quyết định về nhu cầu vật tư
Quyết định về nhu cầu vật tư là quyết định chiến lược về cung ứng vật tư, phụ tùng, bán thành phẩm
7 Quyết định về tồn kho
Giá trị hàng tồn kho nhiều trường hợp chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Có nhiều mô hình tồn kho cần nghiên cứu ứng dụng trong các tình huống khác nhau nhằm đảm bảo sản xuất liên tục mà không bị ứ đọng
8 Quyết định về điều độ sản xuất – tác nghiệp
Trang 29Nghiên cứu về các phương pháp phân công điều độ sản xuất, chỉ huy sản xuất Việc ứng dụng sơ đồ PERT để lập lịch trình và điều khiển chỉ huy theo lịch trình sẽ mang lại nhiều lợi ích về thời gian, tài chính cũng như các nguồn lực khác trong sản xuất
9 Quyết định về nhân lực, tổ chức lao động
Quyết định này giúp chúng ta xác định lượng, loại lao động là bao nhiêu? Chiến lược sử dụng, đào tạo nhân lực như thế nào
Để có thể giải quyết tốt các nội dung quản trị sản xuất người quản trị cần có một số kiến thức nhất định về các môn học cơ sở sau đây: Xác suất, thống kê, quy hoạch tuyến tính
và nhất là môn phân tích định lượng trong quản trị
Thực chất của quản trị sản xuất là toàn bộ các công việc liên quan đến thiết kế hệ thống sản xuất, lập các kế hoạch sản xuất (dài hạn, ngắn hạn), lãnh đạo và tổ chức triển khai cũng như kiểm tra thực hiện các kế hoạch đó nhằm đạt các mục tiêu đề ra
Có nhiều quyết định liên quan đến quản trị sản xuất như quyết định về dự báo, quyết định về sản phẩm, quyết định về vị trí mặt bằng, quyết định về nguồn lực, quyết định
về tồn kho, tác nghiệp sản xuất, …
Quản trị sản xuất có liên quan chặc chẽ đến nhiều lĩnh vực: marketing, tài chính, nhân sự, khoa học công nghệ, … Quá trình quản trị sản xuất phải giải quyết tốt các quan
hệ này, phải xem xét doanh nghiệp theo quan điểm hệ thống để đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là: năng suất, chất lượng và hiệu quả
CÂU HỎI
1 Tại sao nói khoa học và nghệ thuật quản trị sản xuất giữ vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp?
2 Các bước lựa chọn chiến lược trong quản trị sản xuất?
3 Những quyết định quan trọng nhất trong nội dung quản trị sản xuất?
Trang 30CHƯƠNG III CÔNG TÁC DỰ BÁO
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các nhà quản trị phải thường xuyên đưa ra các quyết định liên quan đến những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai Để có các quyết định có
độ tin cậy và hiệu quả cao, cần phải tiến hành công tác dự báo Điều này sẽ càng quan trọng đối với nền kinh tế thị trường,thường xuyên có cạnh tranh
Dự báo là khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai
Tính khoa học của dự báo thể hiện ở chổ khi tiến hành dự báo ta căn cứ trên các số liệu phản ánh tình hình thực tế hiện tại,quá khứ, căn cứ vào xu thế phát triển của tình hình,dựa vào các mô hình toán học để dự đoán tình hình cơ bản sẽ xảy ra trong tương lai Nhưng các dự đoán này có thể bị sai lệch hoặc thay đổi nếu xuất hiện các tình huống kinh
tế, tình huống quản trị không hoàn toàn phù hợp với mô hình dự báo Vì vậy cần phải kết hợp chặt chẽ giữa các kết quả dự báo với kinh nghiệm và tài nghệ phán đoán của các chuyên gia,các nhà quản trị mới có thể đạt được các dự báo có độ tin cậy cao
Mặt khác, các kỹ thuật dự báo khác nhau thường cho ta các kết quả dự báo khác xa nhau Chưa có một kỹ thuật tổng quát nào có thể dùng cho mọi trường hợp Sau đây là mhững vấn đề chung
3.1 Các loại dự báo
1 Căn cứ vào thời hạn dự báo
- Dự báo ngắn hạn, thường là một quí
- Dự báo trung hạn, thường là 3 năm
- Dự báo dài hạn, thường từ 3 năm trở lên
Trong thực tiễn các đơn vị thường làm: kế hoạch quí, kế hoạch năm, kế hoạch 5 năm, kế hoạch - chiến lược 10 năm, 20 năm, …
2 Căn cứ vào nội dung công việc cần dự báo
Có thể chia ra các loại sau đây:
Dự báo kinh tế: Dự báo này do các cơ quan nghiên cứu, cơ quan dịch vụ thông tin,
cơ quan tư vấn nhà nước, ngành thực hiện.Dự bào kinh tế nhằm cung cấp:
+ Tương lai của các hoạt động kinh doanh
+ Điều kiện hoạt động của doanh nghiệp
+ Chủ trương chính sách kinh tế của nhà nước
+ Chu kỳ kinh doanh trong các thời kỳ tương lai
+ Số liệu tổng quát về kinh tế
+ Nguồn cung ứng về tiền tệ, tín dụng
+ Tỷ lệ thất nghiệp
+ Tổng sản phẩm quốc gia
+ Kinh tế thế giới, dự báo xuất nhập khẩu
Những chỉ tiêu này có giá trị lớn trong việc hổ trợ,tạo tiền đề trong công tác dự báo trung hạn, dài hạn của các doanh nghiệp
Trang 31Dự báo kỹ thuật công nghệ: Dự báo này đề cập đến mức độ phát triễn khoa học
công nghệ trong tương lai Loại này rất quan trọng đối với những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao Dự báo kỹ thuật thường do các chuyên gia giỏi trong các ngành, các viện, trường thực hiện
Dự báo nhu cầu: Thực chất là dự kiến số lượng sản phẩm tiêu thụ Loại này được
các nhà quản trị đặc biệt quan tâm Thông qua các dự báo này có quyết định mở rộng qui
mô sản xuất, hoạt động của doanh nghiệp, dự kiến về tài chính, tiếp thị, nhân sự
3.2 Các nhân tố tác động đến dự báo nhu cầu
Các nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan quan trọng nhất là thị trường, bao gồm:
+ Thị hiếu của người sử dụng
+ Qui mô dân cư
+ Sự cạnh tranh
+ Các nhân tố ngẫu nhiên
Ngoài ra còn xét đến môi trường kinh tế, bao gồm:
+ Luật pháp
+ Thực trạng nền kinh tế
+ Chu kỳ kinh doanh
Các nhân tố khách quan trên doanh nghiệp không thể chủ động kiễm soát được, nhưng nhất thiết phải thấy, nắm vững khi tiến hành dự báo
Tác động của chu kỳ sống của sản phẩm đối với dự báo
Chu kỳ sống của một sản phẩm là một nhân tố quan trọng cần xem xét kỹ trong quá trình dự báo, nhất là dự báo dài hạn.Nói chung, doanh nghiệp không thể bán sản phẩm của mình với một mức độ hoặc số lượng không đổi trong một thời gian dài.Phần lớn các sản phẩm được chấp nhận trên thị trường có chu kỳ sống trải qua 4 giai đoạn, biểu diễn theo sơ
đồ hình 3.1
Một sản phẩm sau khi ra đời được bán phổ biến trên thị trường, nó bắt đầu nổi tiếng thì có nghĩa là sản phẩm đó đã đạt đến thời kỳ phát triển Lúc này các đối thủ cạnh tranh chắc chắn đang tìm cách giành lấy một thị phần của sản phẩm đó Điều đó làm cho sản phẩm đi nhanh vào giai đoạn chín mùi, hầu hết các sản phẩm đều không tồn tại mãi mãi.Sau giai đoạn chín mùi, nhu cầu về sản phẩm này ngày càng giảm cho đến lúc chấm dứt hẳn
Các sản phẩm đang nằm trong 2 giai đoạn đầu cần dự báo hơn là sản phẩm nằm trong giai đoạn sau
Trang 32Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống ta chưa cĩ đủ số liệu Vì vậy phương pháp dự báo trong giai đoạn này thường dựa vào điều tra thực tế trên thị trường, dựa vào nhận xét, phán đốn của các chuyên gia hoặc phân tích các sản phẩm tương tự khác
Trong các giai đoạn sau ta ngày càng cĩ nhiều số liệu hơn nên cĩ thể sử dụng phương pháp thống kê để dự báo các kết quả khả quan hơn
Trong các giai đoạn suy thối, mặc dầu nguồn số liệu thống kê rất dồi dào nhưng chúng thường khơng giúp gì cho dự báo suy thối Lúc này ta phải sử dụng phương pháp điều tra thị trường, phương pháp chuyên gia hoặc phân tích tương tự như đã làm ở giai đoạn đầu
Một ví dụ về chu kỳ sống của sản phẩm đĩng tàu
Vào khoảng 1983-1984 do nhu cầu vận chuyển hàng hố từ nội địa ra cảng biển và ngược lại, do nhu cầu vận tải khối lượng lớn hàng hố trên tuyến Bắc-Nam; theo đề suất của một số cán bộ và chuyên gia nhà nước, Bộ trưởng Bộ giao thơng vận tải chủ trương đĩng tàu vận tải pha sơng biển Ở Bộ thành lập cơng ty vận tải “Biển pha sơng”, trực thuộc
Bộ Các địa phương nhất là các địa phương nằm dọc theo ven biển đồng loạt thành lập các cơng ty pha sơng biển cho địa phương mình (như Hà Nội, Hải Phịng, Nam Hà Thanh Hố, Khánh Hồ, Nghệ An, …)
Hàng trăm tàu pha sơng biển cĩ trọng tải 200T, 400T, 600T được thiết kế và đĩng mới Đến năm 1989 đĩng thêm tàu 1000T Tàu 400T, 600T, 1000T, ngồi việc vận chuyển Nam Bắc cịn chạy thêm các tuyến Đơng Nam Á Đến giai đoạn 1993-1994 bắt đầu phát hiện những nhược điểm lớn của loại phương tiện này, trong đĩ đặc biệt khai thác vận tải khơng hiệu quả, nhiều tàu bị lỗ khơng cĩ tiền sửa chữa Từ thời gian này các đơn vị đua nhau bán tàu hoặc hốn cải
Cĩ nhiều hội nghị rút kinh nghiệm về loại phương tiện này Đĩ là một bài học quí
suy tàn
phát triển
Trang 33Cĩ thể mơ tả chu kỳ sống của tàu pha sơng biển (200T-1000T) của ta theo hình 3.2
giới
thiệu
chín muồi
pháttriển
- Lấy ý kiến của những người điều hành
- Lấy ý kiến của các nhà Marketing
- Lấy ý kiến của những người tiêu thụ sản phẩm
- Phương pháp chuyên gia
Các phương pháp định lượng
Các phương pháp định lượng dựa trên cơ sở tốn học thống kê Để dự báo nhu cầu tương lai, khơng xét đến các nhân tố ảnh hưởng khác ta cĩ thể dùng các phương pháp dự báo theo dãy số thời gian Khi cần xét đến các nhân tố khác ảnh hưởng đến nhu cầu (ngồi thời gian) ta cĩ thể chú ý đến phương pháp xét đến các mối quan hệ tương quan
- Thu thập các số liệu cần thiết
- Phê chuẩn mơ hình cần dự báo
Trang 34- Tiến hành tính tốn dự báo
- Ap dụng kết quả dự báo
Dự báo theo dãy số thời gian
Nhu cầu của thị trường luơn biến động theo thời gian và trong những điều kiện nhất định, nĩ thường biến động theo một xu hướng nào đĩ Để phát hiện được xu hướng phát triễn của nhu cầu ta cần thu thập các số liệu trong quá khứ để cĩ một dãy số thời gian Khi
đã cĩ dãy số thời gian ta cĩ thể xác định được xu hướng phát triễn của nhu cầu Từ đĩ cĩ thể dự báo nhu cầu cho tương lai
Các biến động nhu cầu theo thời gian cĩ thể xãy ra mấy trường hợp sau đây:
- Cĩ khuynh hướmg tăng (giảm) rõ rệt trong suốt thời gian nghiên cứu (kí hiệu là T
- Trend)
- Biến đổi theo mùa( S - Seasonality)
- Biến đổi co chu kì (C - Cycles)
- Biến đổi ngẫu nhiên ( R - Randon Variations)
Hình 3.3 cho ta hình ảnh các loại biến đổi nĩi trên
Hình 3.3 Biến đổi nhu cầu sản phẩm
Sau đây là các phương pháp dự báo theo dãy số thời gian
1 Phương pháp bình quân di động
Phương pháp này thường dùng khi các số liệu trong dãy số biến động khơng lớn lắm Các số bình quân di động được tính từ các số liệu của dãy số thời gian cĩ khoảng cách đều nhau
Chẳng hạn co dãy số thời gian tính theo tháng bao gồm các số liệu y1,y2,y3,… Nếu tính số bình quân di động theo từng nhĩm 3 tháng ta cĩ:
Trang 35Mục đích lấy bình quân di động là để san bằng những biến động bất thường trong dãy số thời gian Sau đó dựa vào số liệu bình quân di động được tính từ các số liệu dãy số thời gian có khoảng cách đều nhau
Ví dụ: một doanh nghiệp có số liệu bán sản phẩm A như trong bảng Hãy tính số bình quân di động theo từng nhóm 3 tháng một
Bảng 3.1 Tháng Lượng bán thực tế số bình quân di động 3 tháng
Việc chọn các trọng số phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự nhạy cảm của người dự báo
Trang 36Ta nhận thấy rằng trọng số của tháng gần nhất lấy càng lớn thì xu hướng của các biến động càng dễ thấy rõ hơn
Cả hai phương pháp bình quân di động giản đơn và có trọng số đều có ưu điểm là san bằng được những biến động ngẫu nhiên trong dãy số Nhưng chúng đều có nhược điểm sau:
+ Do việc san bằng các biến động ngẫu nhiên nên đã làm giảm độ nhạy cảm đối với những thay đổi thực đã được phản ánh trong dãy số
+ Số bình quân di động chưa cho ta xu hướng phát triển của dãy số một cách tốt nhất Nó chỉ thể hiện sự vận động trong quá khứ chứ chưa thể kéo dài sự vận động đó trong tương lai nhất là đối với tương lai xa
+Việc tính số bình quân di động đòi hỏi một nguồn số lượng dồi dào trong quá khứ
3 Phương pháp san bằng số mũ
Phương pháp này rất tiện dụng khi dùng máy tính Đây là kỹ thuật tính số bình quân
di động nhưng không đòi hỏi có nhiều số liệu quá khứ Công thức tính nhu cầu tương lai như sau:
Ft = F(t-1) +A(t-1) –F(t-1) (**) Trong đó:
Ft –Nhu cầu dự báo ở thời kỳ t
Ft-1- Nhu cầu dự báo ở thời kỳ t-1
Ar-1-Số liệu nhu cầu thực tế ở thời kỳ t-1
Hệ số có thể thay đổi để xét đến trọng số lớn hơn của những số liệu ở những thời gian gần hơn
Lúc này công thức dự báo trước là:
Trang 37Khi =0.5 thì các thời kỳ 3,4 vẫn còn tác dụng, nhưng ở thời kỳ 5 thì tác dụng không đáng kể Ngược lại khi =0.1 thì các thời kỳ 4,5 vẫn còn tác dụng, tức là ta phải xét đến nhiều số liệu quá khứ hơn
= ( các sai lệch trong dự báo)/ Số thời kì tính toán (xxxx)
MAD càng nhỏ thì trị số càng hợp lý vì nó cho kết quả dự báo ít sai lệch
Ví dụ:
Cảng A đã bốc dỡ gạo trong 8 quí Cảng đã thực hiện trong quí đầu tiên là 180 tấn nhưng con số dự báo tương ứng với quí này là 175 tấn Hãy chọn 1 trong 2 giá trị là 0.1 và 0.5 để xem giá trị nào thích hợp hơn
Ta tính độ lệch tuyệt đối AD (Absolute Deviation) và độ lệch tuyệt đối bình quân
MAD theo từng hệ số Hệ số nào cho MAD bé hơn sẽ được chọn, xem bảng sau:
8100 = 12.5
Trang 38vậy = 0.1 cho kết quả dự báo chính xác hơn
Do đó ta dùng = 0.1 để dự báo cho quí 9 (tiếp theo)
178.22 +0.1(182-178.22) = 179 Tấn
Ngoài ra còn tồn tại nhiều phương pháp khác, có thể xem các tài liệu khác
Công tác dự báo ở nước ta được tiến hành theo qui trình sau
Nhà nước gửi xuống cấp dưới định hướng phát triển kinh tế cho một kế hoạch Trên
cơ sở định hướng đó, các bộ ngành, các địa phương, các tổng công ty xây dựng kế hoạch, qui hoạch của đơn vị mình trình lean cấp trên
Nhà nước tổng hợp, xem xét đề ra chiến lược quốc gia
Trên cơ sở chiến lược quốc gia đã được phê duyệt,các bộ ngành, địa phương, tổng công ty làm kế hoạch của địa phương mình trình lên cấp trên phê duyệt
Các đơn vị cơ sở cũng thực hiện qui trình tương tự như vậy
Hiện nay chúng ta đã có:
+ Chiến lược phát triển kinh tế quốc dân đến 2020
+ Qui hoạch tổng thể ngành giao thông vận tải đến 2020
+ Chiến lược phát triển công nghiệp giao thông vận tải đến 2010
+ Qui hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải đường sông Việt Nam đến 2020 + Qui hoạch phát triển cảng biển Việt Nam
+ Đề án phát triển tổng công ty Hàng Hải Việt Nam đến 2010
+ Qui hoạch phát triển Tổng công ty đường sông miền Nam đến 2010 có tính đến định hướng 2020
+Định hướng phát triển ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam
+Quyết định No:173/2001-TT của chính phủ về phát triển kinh tế đồng bằng Sông Cửu Long …
+ …
Từ các kế hoạch, qui hoạch, định hướng trên, các đơn vị cơ sở trong đó có các doanh nghiệp đóng tàu căn cứ vào thực tiễn của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch, qui hoạch cho mình
Sau đây là ví dụ dự báo vận tải hàng hoá bằng container ở nước ta và khu vực đồng bằng Sông Cửu Long
Dự báo về vận tải hàng hoá bằng container ở nước ta
Qua nghiên cứu các chuyên gia của ngành giao thông vận tải đã thống nhất vận chuyển hàng hóa bằng container ở nứơc ta hiện nay và sau này là cấp thiết và là xu thế tất yếu, khi chúng ta ngày càng hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Số lượng container được bốc xếp ở các cảng Việt Nam tăng nhanh Nếu năm 1994
là 400.000 TEU, thì năm 2001 là 1.345.000 TEU Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 17% Hiện nay tỉ lệ container hoá ở nước ta rất thấp, chỉ gần 20%, trong khi tỉ lệ này của thế giới là 60%, của châu Á là 65%
Theo dự báo tốc độ tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế quốc dân GDP của nước
ta bình quân tăng khoảng 5 - 7 % thì vào năm 2010 có khoảng 150 triệu tấn hàng qua các cảng Việt Nam Nếu lúc đó tỉ lệ container hoá ở nước ta vào khoảng 30 –35% thì số lượng hàng qua các cảng cũng đạt 45 –50 triệu tấn tương đương với khoảng 4-5 triệu TEU, gấp 4-
5 lần so với hiện nay
Kết quả nghiên cứu của trung tâm KH- KT giao thông vận tải phía Nam, dự báo nhu cầu vận chuyển hàng hoá của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010_2020 như sau:
Trang 39Khối lượng hàng hoá vận chuyển (triệu tấn):
Trong đó vận tải thuỷ 46.3 73.6 100.0
Riêng nhu cầu vận chuyển container (Đơn vị 1.000 TEU)
Đối với ngành vận tải thuỷ, sau khi có các dự báo về : hàng hoá, hành khách ( khối lượng, tuyếnluồng, về tình hình bốc xếp cảng,…) phải tiến hành công tác nghiên cứu, lựa chọn để dự báo về chủng loại phương tiện
Chủng loại phương tiện được xác định bằng các tiêu chí:
- Loại phương tiện, đội hình
- Trọng tải, tốc độ (hoặc công suất)
Một trong những phương pháp thường được sử dụng để lựa chọn chủng loại phương tiện là xây dựng mô hình toán học bài toán tối ưu đội tàu
Sơ đồ khối của bài toán này được thể hiện ở hình vẽ 3.4
Trong hình vẽ này:
Khối 1: thông tin đưa vào
Bao gồm các thông tin chọn lọc được từ chiến lược phát triễn kinh tế quốc gia , kế
hoạch, qui hoạch phát triễn ngành,…, sử dụng các phương pháp dự báo nhu cầu định tính, định lượng, … Trong đó đặc biệt quan tâm đến tình hình hàng hoá, hành khách, khả năng bốc xếp các cảng, dự báo về công nghệ _ khoa học của ngành đóng tàu, …
Do tình hình kinh tế biến động và nhất là trong kinh tế thị trường, cạnh tranh quyết liệt người ta sử dụng Hàm Đa Mục Tiêu Các mục tiêu có thể là: lợi nhuận, chi phí vật liệu, chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công, … Khi đó ta sẽ có “miền tối ưu” bao gồm nhiều phương án, nhiều tình huống, … tuỳ theo thực tiễn của từng giai đoạn mà lựa chọn một phương án thích hợp
Khối 7:
Kết quả cùa sự lựa chọn Ta sẽ có chủng loại phương tiện, số lượng phương tiện cần thiết phục vụ kế hoạch vận tải
Trang 40
Hình 3.4 Sơ đồ khối bài toán lựa chọn phương tiện vận tải thuỷ phục vụ công tác dự báo
Sau khi có số liệu dự báo chủng loại phương tiện, các doanh nghiệp đóng tàu phải tiến hành các công tác:
_ Dự báo sản phẩm của đơn vị
_ Chuẩn bị thiết kế theo nhu cầu của khách hàng
_ Đầu tư cơ sở sản xuất (đặc biệt: nhà xưởng, triền đà, ụ, …)
_ Chuẩn bị đội ngũ thi công
_ Chuẩn bị cải tiến kỹ thuật
_ Quan hệ mua sắm thiết bị, nhất là thiết bị phải nhập từ nước ngoài
_ Xem xét vật tư tồn kho, có kế hoạch dự trữ vật tư.
3.4 Giám sát và kiểm soát dự báo
Khi đã có các số liệu dự báo được chấp thuận (tính bằng một hoặc một vài phương
pháp đã nêu ở trên), ta có thể đưa ra để thực hiện
Qua từng thời kì các số liệu thực tế có thể không khớp với số liệu bự báo Vì thế cần tiến hành công tác theo dõi, giám sát và kiểm soát dự báo Nếu mức độ chênh lệch giữa thực tế và dự báo nằm trong phạm vi cho phép thì không cần xét lại phương pháp dự báo đã
sử dụng Ngược lại nếu chênh lệch này quá lớn vượt khỏi phạm vi cho phép thì cần nghiên cứu sữa đổi phương pháp dự báo cho phù hợp
1 Tín hiệu theo dõi
Tín hiệu theo dõi được tính bằng “tổng sai số dự báo dịch chuyển” (Running Sum
1 Thông tin đầu vào
2 Các phương án tuyến vận tải, các chủng
loại phương tiên dự kiến xem xét
3 Thực hiện các bước tính toán kết cấu
4 Kiểm tra theo tiêu chuẩn
5 Tính toán các chỉ tiêu kinh tế
6 Lựa chọn theo mục tiêu