1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự chọn cho sinh viên trường đại học đồng tháp

124 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG Tên đề tài luận văn : “ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN VÀO GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP” Chuyên ngành: Giáo d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

………

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

Tên đề tài luận văn : “ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN VÀO GIỜ TỰ CHỌN

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP”

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

………

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

Tên đề tài luận văn : “ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG

TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN VÀO GIỜ TỰ CHỌN

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP”

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Mã số : 60.81.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN QUANG VINH

TP HỒ CHÍ MINH, năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kì công trình nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 4

Thầy TS Nguyễn Quang Vinh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Ban Giám Hiệu, Khoa GDTC, Trung tâm TDTT, Trường Đại học Đồng Tháp Cùng tất cả các anh, chị học viên cao học khóa 16 tại trường Đại học TDTT TP.HCM, nhóm cộng tác viên, sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp Trong quá trình thực hiện đề tài, không thể tránh khỏi một vài thiếu sót, do đó tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp chân tình, sự chỉ bảo từ Quý thầy cô trong Hội đồng khoa học để luận văn của tôi được chính xác và hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

Mục đích nghiên cứu……… 3

Nhiệm vụ nghiên cứu……… ………… 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC cho học sinh, sinh viên trường học ……… 5

1.2 Cơ sở lý luận của GDTC……… 10

1.3 GDTC với sự phát triển thể chất của HS – SV……… 13

1.3.1 Một số khái niệm……… 13

1.3.2.Công tác GDTC với sự phát triển của học sinh, sinh viên……… 15

1.3.3 Khái lược thực trạng công tác GDTC tại trường Đại học Đồng Tháp… 18 1.3.4.Công tác giảng dạy môn GDTC tại trường Đại học Đồng Tháp, từ năm 2011 – 2012……… 19

1.3.4.1 Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển của trường Đại học ĐồngTháp……… 19

1.3.4.2 Đội ngũ viên……… 19

1.3.4.3 Đào tạo……… 20

1.4 Đặc điểm môn Bóng chuyền tính chất và tác dụng của môn Bóng chuyền….… 20 1.4.1.Tính đối kháng cao (đối kháng gián tiếp) ……….………… 22

1.4.2 Sự đang dạng về kỹ - chiến thuật……… 22

1.4.3 Sự căng thẳng về cảm xúc và ý chí……….……… 23

1.5 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực lứa tuổi sinh viên ………… ……… 24

1.5.1 Tố chất sức nhanh……… 25

Trang 6

1.5.2 Tố chất sức mạnh……… 26

1.5.3 Tố chất sức bền……… 26

1.5.4 Tố chất mềm dẻo……… 27

1.5.5 Khả năng phối hợp vận động……… 28

1.6 Các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu ……… 29

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu ……… 33

2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu ……… 33

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn ……… 32

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm ……… 34

2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm……… 43

2.1.5 Phương pháp toán thống kê ……… ……… 44

2.2 Tổ chức nghiên cứu ……… 46

2.2.1 Thời gian nghiên cứu… ……… 46

2.2.2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu… ……… 48

2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu ……… 48

2.2.4 Đơn vị - cá nhân phối hợp ……… 48

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả kiểm tra thành tích các test đánh giá thể chất sinh viên trường Đại học Đồng Tháp… ……… 49

3.1.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục thể chất ở trường Đại học Đồng Tháp ……… 49

3.1.2 Thực trạng đội ngũ giảng dạy GDTC ở trường Đại học Đồng Tháp 50

Trang 7

3.1.3 Thực trạng về chương trình giảng dạy GDTC ở trường Đại học Đồng

Tháp ……… ……… ……… 52

3.1.4 Thực trạng về chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự chọn của SV trường ĐH Đồng Tháp …… ……… 55

3.1.4.1 Thực trạng về chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự chọn của SV trường ĐH Đồng Tháp…… ……… 55

3.1.4.2 Đánh giá của SV về chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự chọn của SV trường ĐH Đồng Tháp .……… 55

3.2 Xây dựng chương trình giảng dạy và ứng dụng thực nghiệm chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền vào giờ tự chọn cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp năm học 2011-2012……… ……… 60

3.2.1 Lựa chọn nội dung giảng dạy……… ……… 60

3.2.2 Xây dưng chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền tại trường Đại học Đồng Tháp………… ……… ……… 63

3.2.2.1 Đặc điểm đối tượng……… ……… 63

3.2.2.2 Mục đích và nhiệm vụ của chương trình giảng dạy……… 63

3.2.3 Phân phối chương trình giảng dạy……… ……… 63

3.2.4 Cấu trúc, cách thức biên soạn bài tập môn Bóng chuyền và phương pháp giảng dạy……… ……… ……… 65

3.2.4.1 Phân bố thời gian và nội dung chi tiết môn học……… 65

3.2.4.2 Nội dung chi tiết…… ……… 66

3.2.5 Phương pháp giảng dạy ……… 68

3.2.5.1 Phương pháp giảng dạy lý thuyết……… 68

3.2.5.2 Phương pháp giảng dạy thực hành ……… 68

3.2.6 Phương pháp kiểm tra đánh giá……….……… 68

Trang 8

3.3 Đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn

cho SV trường Đại học Đồng Tháp ……….……… …… 72

3.3.1 Kế hoạch thực nghiệm……….……… ……… 72

3.3.2 Xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp……… 73

3.3.3 Ứng dụng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn cho SV trường Đại học Đồng Tháp ………….……… ……… 74

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Bàn luận về thực trạng thể chất của sinh viên học tự chọn môn Bóng chuyền tại trường Đại học Đồng Tháp……….……… ………… 86

4.2 Bàn luận chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ thể dục tự chọn cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp……… 89

4.3 Bàn luận về hiệu quả của chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ thể dục tự chọn cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp ……… 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……….……… ………….… 92

A KẾT LUẬN……….……… ………….……… 92

B KIẾN NGHỊ……….……… ………….……… 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC BẢNG TRÌNH BÀY TRONG LUẬN VĂN

3.1 Thống kê số liệu sân bãi và trang thiết bị TDTT của trường 49

3.2 Khảo sát về đội ngũ và trình độ giảng viên GDTC 50

3.3 Số lượng GV thâm niên trong giảng dạy TDTT tại trường 51

3.4 Kết quả phỏng vấn về chương trình giảng dạy môn tự chọn 53

3.5 Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung giảng dạy môn thể thao tự chọn Bóng chuyền 55

3.6 Bảng phân phối thời gian chung của chương trình môn Bóng chuyền tại trường Đại học Đồng Tháp 61

3.8

Tổng hợp các tham số của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương

trình giảng dạy môn bóng chuyền của nhóm thực nghiệm trước

thực nghiệm

65

3.9

Tổng hợp các tham số của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương

trình giảng dạy môn bóng chuyền của nhóm đối chứng trước thực

nghiệm

69

3.10

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương

trình giảng dạy môn bóng chuyền của nam nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm

75

3.11 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn bóng chuyền của nữ nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm

76

3.12

Tổng hợp các tham số của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương

trình giảng dạy môn bóng chuyền của nhóm thực nghiệm sau thực

So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương

trình giảng dạy môn bóng chuyền của nam nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

79

3.15 So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn bóng chuyền của nữ nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

80

Trang 11

3.16

Nhịp độ tăng trưởng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chương trình

giảng dạy môn bóng chuyền của nam nhóm thực nghiệm sau thực

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1

So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực đánh giá hiệu

quả của chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự

chọn của nam sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng sau thực nghiệm

83

3.2

So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực đánh giá hiệu

quả của chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự

chọn của nữ sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

sau thực nghiệm

84

3.3

So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thành tích học tập đánh

giá hiệu quả của chương trình giảng dạy môn bóng chuyền

vào giờ tự chọn của nam sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng sau thực nghiệm

84

3.4

So sánh nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu thành tích học tập đánh

giá hiệu quả của chương trình giảng dạy môn bóng chuyền

vào giờ tự chọn của nữ sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm

đối chứng sau thực nghiệm

Trang 13

1 PHẦN MỞ ĐẦU

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ Nó là mục tiêu cơ bản của quá trình đào tạo toàn diện, một bộ phận quan trọng của hệ thống quốc dân Nghị quyết Trung ương

II khóa VIII của Đảng khẳng định mục tiêu của giáo dục và đào tạo là nhằm tạo ra một lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

về sức khỏe và thể chất, cho đội ngũ những người lao động mới, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Chính sự quan tâm và đầu tư đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã giúp cho vị trí của giáo dục thể chất từng bước ổn định nề nếp và phát triển.Thể thao ngày nay thu hút đông đảo lực lượng học sinh sinh viên tham gia tập luyện nhằm nâng cao thể chất góp phần giảm thiểu bệnh tật và các tệ nạn xã hội Cùng với sự phát triển của đất nước, thể dục thể thao đã và đang không ngừng phát triển để trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền văn hóa xã hội, của chính sách phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước

đề ra nhằm đem lại vốn quý nhất cho con người, đó là sức khỏe, qua đó góp phần bồi dưỡng nhân cách đạo đức, tạo môi trường sống lành mạnh,… Nói chung là nhằm góp phần phát triển con người một cách toàn diện, đồng thời vươn tới mục tiêu xa hơn là đưa nền thể thao Việt Nam đến gần hơn với thể thao khu vực và thế giới, qua đó góp phần mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế về mọi mặt, trong đó có thể thao

Xuất phát từ những ý nghĩa to lớn đó mà Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới việc phát triển thể chất cho con người, mà việc làm thiết thực nhất là khi Bác Hồ kính yêu đã trực tiếp phát động phong trào “toàn dân tập thể dục”,

Trang 14

2

để rồi từ đó đến nay tuy đất nước đã trải qua thời gian dài của chiến tranh, và chỉ mới giành được độc lập hơn 30 năm nhưng nền thể thao của nước nhà vẫn được phát triển phù hợp với từng thời kỳ Hiện tại thể thao Việt Nam đã được đánh giá cao trong khu vực và trên thế giới bằng những thành tích đáng kể qua các kỳ Đại hội thể thao khu vực như Seagame và các kỳ Đại hội Olympic Trong hệ thống giáo dục đào tạo ở nước ta, giáo dục thể chất là một bộ phận của giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đào tạo họ thành những chủ nhân tương lai của đất nước thật sự với trí tuệ, tinh thần yêu nước, đạo đức, sức khỏe, giáo dục thể chất còn là phương tiện để giúp làm việc có hiệu quả, giảm căng thẳng trong học tập và rèn luyện

Tuy nhiên, thực tiễn GDTC các cấp ở nước ta cho thấy chưa đáp ứng nhu cầu vận động và yêu cầu phát triển các tố chất thể lực của các em Vì thế con đường tất yếu và duy nhất là cần phải đổi mới phương thức và xây dựng nội dung chương trình giảng dạy môn thể thao tự chọn sao cho phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và giải quyết những nhiệm vụ mà không thể thực hiện được trong chương trình chính khóa Những giờ học môn thể thao tự chọn được xây dựng theo chương trình GDTC của từng trường phù hợp với khả năng và sở thích của các em như: khiêu vũ thể thao, điền kinh, cầu lông, các môn võ mang tính “ học mà chơi, chơi mà học” Một mặt mang đến cho các em môi trường rèn luyện sức khỏe lành mạnh, mặt khác giáo dục cho các em phẩm chất đạo đức tốt đẹp như: lòng dũng cảm, năng lực tự chủ, ý thức kỷ luật và tinh thần đồng đội

Trường Đại học Đồng Tháp là trường có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ở tất cả các ngành, ở tất cả các bậc học cho tỉnh Đồng Tháp

và các tỉnh khác ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Kể từ khi thành lập đến nay, trường ĐHĐT đã đào tạo được đội ngũ giảng viên các cấp cho tỉnh Đồng Tháp và một số tỉnh lân cận, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo

Trang 15

3

nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho tỉnh nhà và khu vực, cho nên việc Giáo dục thể chất cho sinh viên một cách khoa học và sáng tạo để nâng cao sức khỏe là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết của nhà trường nhằm thực hiện lời dạy của Bác Hồ là: “Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khỏe mạnh là làm cho cả nước mạnh khỏe tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe…”

Năm 2010 lãnh đạo nhà trường chỉ đạo khoa giáo dục thể chất trường ĐHĐT tiến hành cải tiến và xây dựng chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên không chuyên mới phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ và tình hình thực tiễn của nhà trường Với xu thế đó của nhà trường và với trách nhiệm của một giảng viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy tại trường, nhằm làm cho chương trình Giáo dục thể chất của trường ngày một hoàn thiện hơn Xuất phát từ những vấn đề trên, xét thấy vấn đề này là cần thiết và có ý nghĩa thực tế, tôi chọn đề tài:

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN

BÓNG CHUYỀN VÀO GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP”

Thực hiện đề tài nghiên cứu trên với mục đích:

Nhằm xây dựng được chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn sinh viên trường Đại học Đồng Tháp, góp phần chuẩn hóa nội dung giảng dạy nâng cao thể lực và thành tích học tập cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đề ra 3 nhiệm vụ cần giải quyết là:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất ở trường Đại học Đồng Tháp

- Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục thể chất ở trường Đại học Đồng Tháp

Trang 16

- Cơ sở lý luận xây dựng chương trình giảng môn bóng chuyền vào giờ

tự chọn cho SV trường Đại học Đồng Tháp

- Xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền vào giờ tự chọn cho SV trường Đại học Đồng Tháp

Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn bóng

chuyền giờ tự chọn cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp

- Kế hoạch thực nghiệm

- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn bóng

chuyền giờ tự chọn cho sinh viên trường Đại học Đồng Tháp

Trang 17

5 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC cho học sinh, sinh viên trường học

GDTC trong các nhà trường là bộ phận không thể thiếu được của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.GDTC có tác dụng tích cực với sự hoàn thiện nhân cách, thể chất cho học sinh, sinh viên nhằm đào tạo con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và giữ vững an ninh quốc phòng

Bước sang thế kỷ 21, các quốc gia đều có sự quan tâm rất lớn đến phát triển thể chất cho thế hệ trẻ Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vị trí con người, xem đó là động lực, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội Vấn đề này được Đảng và nhà nước ta khẳng định ngay từ những ngày đầu của công cuộc đổi mới, công tác GDTC trong nhà trường đặc biệt coi trọng Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo Mục tiêu chính của GDTC là nhằm giáo dục, hình thành nhân cách, đòi hỏi người Việt Nam “phát triển cao về trí tuệ, phong phú về tinh thần, cường tráng về thể chất ”

Đảng ta thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện trong việc xác định đường lối chung của công cuộc đổi mới đất nước một cách đúng đắn sáng tạo Những cơ sở tư tưởng, quan điểm thể dục thể thao nói chung và GDTC cho thế hệ trẻ nói riêng được cụ thể hóa trong các

kỳ Đại hội Đảng, các chỉ thị, các nghị quyết, nghị định thông tư về TDTT Chỉ thị 112/CT ngày 2/05/1989 của hội đồng Bộ trưởng về công tác TDTT

“Đối với HS-SV trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học môn TD theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao ngoại khóa ngoài giờ học”

Trang 18

6

Hiến pháp năm 1992 nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam điều 41 ghi rõ: “Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển TDTT; quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [12]

Quyết định số 931/QĐ – Bộ GDĐT ngày 29/04/1993 của Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo về việc ban hành quy chế về công tác GDTC trong nhà trường các cấp (điều 1 chương I; điều 2,5,6 chương II; điều 8 chương III; điều 13,15,16)

Chỉ thị 36/CT/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới nêu rõ: “Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất

để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học…” [6]

Ngày 07/03/1995 Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị 133 – TTG về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT về GDTC trường học đã ghi rõ:

“Bộ GDĐT cần coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn về rèn luyện thân thể cho HS các cấp học, có quy chế bắt buộc đối với các trường” [5]

Phát biểu với hội nghị GDTC trong nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng, tháng 8 năm 1996, Nguyên phó thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói: “

Ước vọng của mỗi chúng ta là: mỗi thanh niên Việt nam đều có cơ thể cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”

Trang 19

7

Cùng với các nghị quyết chỉ thị Đảng và Nhà nước Bộ GDĐT đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác giáo dục thể thao nói chung và GDTC học đường nói riêng, bằng rất nhiều các văn bản, pháp quy cụ thể như:

Thông tư liên tịch số 04-93/GDĐT – TDTT ngày 17/04/1993 về việc xây dựng kế hoạch đồng bộ, xác định mục tiêu nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lí TDTT và GDTC trong trường học các cấp 2000 – 2005 Phát biểu với hội nghị GDTC trong nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng tháng 08/1996, nguyên phó thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói:

“Ước vọng của mỗi chúng ta là: mỗi thanh niên Việt nam đều có cơ thể cường tráng, cùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”

Thông tư liên tịch số 08/LB – DN – TDTT ngày 24/12/1996 về công tác TDTT trong các trường dạy nghề và sư phạm

Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua 2/12/1998 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên GDTC là nội dung bắt buộc đối với HS-SV được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ Mầm non đến bậc Đại học”

Thông tư thực hiện chỉ thị 15/2002/CT – TTG của Thủ tướng chính phủ

về việc chống tiêu cực trong các hoạt động TDTT

Để khẳng định vai trò tất yếu của TDTT đối với toàn xã hội, cũng nhưng nhằm thúc đẩy nhanh phong trào TDTT quần chúng, công tác GDTC trường học, Đảng ta luôn có chủ trương chỉ thị, nghị quyết kịp thời tương ứng với những yêu cầu, tình hình nhiệm vụ cụ thể để thúc đẩy mạnh tiến trình phát triển Như vậy, GDTC và thể thao trường học thực sự có vị trí quan trọng trong

sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và trình độ, chuẩn bị thể lực để chuẩn bị cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng cho Đất nước

Trang 20

8

Chương trình mục tiêu cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khỏe phát triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao HS-SV trong nhà trường các cấp

đã được hoàn thiện

Đảng - Chính phủ coi TDTT là một công tác cách mạng như bao công tác cách mạng khác TDTT có ý nghĩa và vị trí to lớn trong xây dựng con người phát triển toàn diện, xây dựng đời sống mới góp phần thiết thực thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước Từ tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng – Chính phủ luôn quan tâm đến công tác TDTT trong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam

Thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VII, đặt biệt là chỉ thị 36 – CT/TW của bí thư Trung ương Đảng, sơ kết 3 năm thực hiện chỉ thị 36 – CT/TW và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát triển phong trào TDTT sâu rộng trong cả nước, trước hết là trong thanh thiếu niên, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả GDTC trong trường học ” Nhiệm vụ chung của ngành TDTT từ năm 1993 đến năm 2000 là: ‘Tiếp tục cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII, chỉ thị 36 – CT/TW của bí thư Trung ương Đảng và chỉ thị 113/TTG, 274/TTG của thủ tướng chính phủ là giai đoạn cơ bản của Đảng và Nhà nước đã tạo ra bước phát triển về quy mô, về chất lượng của phong trào TDTT làm tiền

đề vững chắc bước vào thế kỷ XXI góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân và đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể thao ở khu vực Đông Nam Á, phục vụ ngày càng đắc lực cho

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đối với công tác GDTC:

“Tập trung sự chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất lượng GDTC trong trường học, đảm bảo yêu cầu về giảng dạy 2 tiết trong một tuần, giảng dạy đúng chương trình, tổ chức kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, các trường tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cũng đảm bảo 2 tiết trong một tuần”

Trang 21

9

Về GDTC trong trường học, trong báo cáo đã khẳng định bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo đưa ra những tồn tại trong lĩnh vực GDTC: Công tác GDTC trong trường học vẫn còn hạn chế và đang đứng trước những thử thách to lớn Nghiêm trọng hơn là thiếu Giáo viên TDTT Cơ sở vật chất của TDTT còn thiếu thốn và lạc hậu, nhất là trong trường học Từ yếu kém trên, ngành TDTT phối hợp với ngành giáo dục cần nhấn mạnh: Để phát triển TDTT trong trường học, phải quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên TDTT Từ nhiệm vụ chung của ngành TDTT, mục tiêu cụ thể mà Bộ giáo dục và đào tạo đưa ra là:

Mục tiêu GDTC giai đoạn 2006 – 2025 mang tính chất dự báo theo sự phát triển của đất nước Theo dự báo cuối giai đoạn 2006 – 2025, Đất nước ta trở thành một nước công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đạt mức khá cao, GDP bình quân đầu người tăng ít nhất 10 lần so với hiện nay Đến khi đó GDTC và TDTT càng có vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân để thích ứng với điều kiện của một nước công nghiệp

Quy mô và chất lượng của phong trào TDTT quần chúng trong HS-SV được mở rộng và nâng cao, cơ sở hạ tầng TDTT trường học được phát triển đồng bộ theo nhiều cấp độ khác nhau, nhằm đảm bảo có chất lượng và hiệu quả cao trong GDTC, bồi dưỡng và phát triển tài năng thể thao của Đất nước Đạt 100% trường học thực hiện GDTC có chất lượng 80% số trường có hoạt động TDTT ngoại khóa thường xuyên

Phát triển lực lượng VĐV và HS-SV đạt trình độ cao ở khu vực Đông Nam Á Thể thao HS-SV trở thành lực lượng chính của thể thao Việt Nam

Hệ thống tổ chức GDTC và thể thao học đường được xã hội hóa ở trình độ cao, trên cơ sở mục tiêu giáo dục theo pháp luật và các văn bản của Nhà nước

Trang 22

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng cho chiến lược đào tạo con người phát triển toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Với quan điểm TDTT là công tác cách mạng, Đảng – Chính phủ luôn quan tâm đến công tác TDTT nói chung GDTC nói riêng, thấm nhuần quan điểm của Đảng với TDTT – GDTC, hai ngành Giáo dục đào tạo và TDTT đã kết hợp, chỉ đạo nội dung công tác GDTC trong tình hình mới, phục vụ đắc lực cho mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giáo dục con người phát triển toàn diện phải kết hợp hài hòa sự phong phú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức, sự toàn diện về thể chất, sự cường tráng về thể chất, là nhu cầu của bản thân con người đồng thời là vốn quý tạo

ra sản phẩm trí tuệ và vật chất cho xã hội Vì vậy, chăm lo thể chất sức khỏe cho con người là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và của ngành TDTT nói riêng Đó chính là mục tiêu cơ bản, quan trọng nhất của nền giáo dục TDTT nước ta mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ luôn coi trọng, quan tâm và nhắc nhở

1.2 Cơ sở lý luận của GDTC

Nâng cao sức khỏe của con người là vấn đề trọng tâm của mọi mô hình phát triển của các quốc gia trong bất kỳ chế độ chính trị xã hội vì khi con người muốn trở thành động lực của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, trước hết con người cần phải mạnh khỏe

Trang 23

Tư tưởng về con người phải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây Từ nhà triết học cổ Hi Lạp A-ris-tốt, những nhà theo chủ nghĩa nhân đạo thời phục hưng như Mông-ten, những người theo chủ nghĩa Xã hội không tưởng như Xanh-Xi-Mông, Ô-oen, đến những nhà Bác học và giáo dục nổi tiếng của Nga như M.V.Lômônôxốp, V.G Stecnusepski

và nhiều người khác nữa, đã ra sức phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết

về phát triển hài hòa giữa năng lực thể chất và tinh thần con người Các Mác

và Ăng-Ghen đã chứng minh sự phát triển của giáo dục phụ thuộc vào điều kiện sống vật chất, khám phá ra bản chất xã hội, bản chất giai cấp, đồng thời còn chỉ ra rằng trong Xã hội Chủ Nghĩa Cộng Sản tương lai con người phát triển toàn diện là một yếu tố khách quan, bởi vì đó là nhu cầu của xã hội Nhấn mạnh vần đề này Mác đã viết: “kết hợp với lao động sản xuất với trí dục

và thể dục” Đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người toàn diện

Lênin đi sâu và phát triển sáng tạo học thuyết về giáo dục toàn diện Người nhấn mạnh : “Thanh niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có

Trang 24

12

thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham quan, các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần: học tập, phân tích, nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau”

Hồ Chí Minh được thế giới công nhận là anh hùng giải phóng dân tộc,

là một danh nhân văn hóa, nhà văn hóa lớn Suốt đời Bác đã hi sinh vì độc lập dân tộc, lãnh đạo tài tình cuộc cách mạng giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thành công Bác là người trung thành với học thuyết Mác-Lênin Trong chỉ đạo công tác Cách mạng và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, Bác cũng rất quan tâm đến công tác TDTT, coi đó

là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục Cộng sản Chủ nghĩa cho thanh niên

Trong thư, ngày 27/3/1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi tập thể dục, Người chỉ cho nhân dân ta thấy rằng: “Gìn giữ dân chủ, xây dựng nước nhà, gầy dựng đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ tự tay viết thư gửi hội nghị cán bộ thể dục thể thao toàn miền Bắc có dạy rằng: “Muốn lao động, sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khỏe Muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên luyện tập TDTT”

Bác Hồ vĩ đại của chúng ta, từ lòng yêu thương quý trọng con người, từ

ý chí suốt đời vì nước, vì dân, đã hết sức quan tâm đến việc luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe Bác đã xác định đó là: “Bổn phận của mỗi người dân yêu nước” Bác đã kêu gọi đồng bào ai cũng gắng tập thể dục Để làm gương, ngày nào Bác cũng tập Tuân theo di chúc của Bác: “ Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Nhà trường của chúng ta với mục tiêu đào tạo HS-SV thành người công dân tốt, thành người lao động tốt, người cán bộ tốt, người chiến sĩ tốt cần phải có kiến thức toàn

Trang 25

Thể chất: Chất lượng của cơ thể người Đó là những đặc trưng về hình

thái, chức năng và thể lực của cơ thể, được hình thành và phát triển do bẩm sinh và điều kiện sống [7]

Giáo dục thể chất : Là quá trình giáo dục đặc biệt, được điều khiển

bằng khoa học sư phạm nhằm hoàn thiện hình thái, chức năng và thể lực, cùng những tri thức có liên quan

Về GDTC, có nhiều khái niệm ở nhiều góc độ, những cách nhìn khác nhau, song nói chung đều nêu lên hai mặt của một quá trình GDTC: Giáo dục và giáo dưỡng

- Giáo dục: Giáo dục các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí con người Một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của GDTC là không những nâng cao sức khỏe, nâng cao khả năng hoạt động thể lực cho học sinh

- Giáo dưỡng: Là quá trình dạy học vận động hay giảng dạy động tác, quá trình đó hình thành kỹ năng vận động, kỹ xảo vận động và những hiểu biết có liên quan

Novicốp A.D; Mátvêép L.D (1993) khẳng định: “…thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người, trong đó có TDTT Hơn nữa, rèn luyện (phát triển) thể lực, lại là một trong những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC” [2]

Trạng thái thể chất: Chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấu

hiệu về thể trạng được xác định bằng các cách đó tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chân, tay…trong một thời điểm nào đó [18]

Trang 26

14

Phát triển thể chất: Là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất

tự nhiên về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Nói cách khác phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời năng lực tâm lý người về hình thái, chức năng,

kể cả những yếu tố thể lực và năng lực vận động [23]

Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào tổng hòa các nhân tố và các điều kiện xã hội tác động nên nó mang tính chất khác nhau: có thể toàn diện, hài hòa hoặc ngược lại Về nguyên tắc, quá trình phát triển thể chất là quá trình

có thể điều khiển được bằng hệ tác động của chủ đích và hợp lý đến quá trình

đó, mà chức năng xã hội có tính chất chuyên môn của GDTC là điều quan tâm hàng đầu

Năng lực thể chất: Năng lực thể chất chủ yếu liên quan đến những

chức năng của hệ cơ quan trong cơ thể và biểu hiện chủ yếu qua hoạt động vận động Năng lực thể chất bao gồm kỹ năng vận động kết hợp với tố chất thể lực Nói một cách khá ngắn gọn: Năng lực thể chất, năng lực tâm lí bao gồm: hình thái khả năng chức phận và khả năng thích ứng

Hoàn thiện thể chất: Hoàn thiện thể chất là mức độ tối ưu (tương đối),

với một giai đoạn lịch sử nhất định của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối; đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác trong đời sống; phát huy cao độ, đầy đủ năng khiếu bẩm sinh về thể chất của từng người; phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực, lâu bền và có hiệu quả [19]

PGS-TS Vũ Đức Thu cho rằng hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất lên một trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lí các nhu cầu hoạt động lao động, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người [28]

Trang 27

15

Để hiểu vai trò của GDTC, nâng cao sức khỏe, tăng cường thể lực trong

sự phát triển thể chất của con người thì phải nhận thức rõ một vấn đề cơ bản phát triển thể chất không chỉ là một quá trình tự nhiên mà còn là một quá trình sống của một cá thể với các thời kỳ phát triển tuần tự nối tiếp nhau: thời kỳ trước khi sinh (khi còn nằm trong bụng mẹ), thời kỳ đầu sau khi sinh (những năm thơ ấu), thời kỳ nhi đồng, thiếu niên, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ tuổi già Chu kỳ sống và phát triển thể chất con người diễn ra từ thế hệ này đến thế

hệ khác, vừa lặp lại ở những nét nhất định, đồng thời lại bổ sung thêm những nét mới tương ứng với tổng thể những điều kiện tự nhiên của xã hội mà con người đang tồn tại Do vậy, mặc dù sự tiến hóa sinh học của con người hiện đại khá hoàn thiện nhưng các thế hệ mới so với các thế hệ trước còn phát triển hơn không chỉ về trí tuệ mà cả về các khả năng chức phận hình thái nữa Theo

số liệu nghiên của của A.D Nô-vi-cốp và P.Mat-vê-ép, chiều cao của thiếu niên hiện nay ở một số nước trên thế giới đã tăng hơn so với thiếu niên cùng lứa tuổi ở các thế hệ trước đó 10 – 15cm và trọng lượng cơ thể tăng lên được

5 – 10kg

Sự tác động của các quy luật sinh học tự nhiên lại phụ thuộc vào các điều kiện sống của xã hội và hoạt động của con người khi điều kiện phân phối, sử dụng sản phẩm vật chất, điều kiện lao động sống, học tập, sinh hoạt,

vệ sinh, môi trường Sự phát triển thể chất con người là nhân tố quan trọng

vì xã hội là cái nôi để con người sống và phát triển

1.3.2.Công tác GDTC với sự phát triển của học sinh, sinh viên

Chăm lo cho thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, nhằm đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực tương lai cho đất nước, trong đó có mặt tất yếu về

sức khỏe và thể lực, bởi vì sự cường tráng về thể chất, không những là nhu

cầu của bản thân con người, mà còn là vốn qúy để tạo ra của cải vật chất và

Trang 28

và sự tiến bộ được phổ biến rộng rãi”

Năm 2005 – năm quốc tế về TDTT và GDTC nhằm đề cao nhận thức

và sự cần thiết phải cải thiện vai trò, vị trí của thể thao và GDTC trong hệ thống giáo dục, góp phần quan trọng trong thành tựu về chất lượng giáo dục Chất lượng GDTC là một trong những yếu tố quan trọng đối với mục tiêu giáo dục toàn diện con người và cũng là nét dặc thù căn bản để thúc đẩy sự phát triển của TDTT Yêu cầu tối thiểu để đảm bảo chất lượng giờ tập thể thao và chất lượng GDTC trong hệ thống giáo dục là phải đảm bảo thời gian giảng dạy, đáp ứng kịp thời sự thiếu hụt về lực lượng giáo viên thể dục trong hệ thống giáo dục Quốc dân

Sự khủng hoảng toàn cầu về thể thao và GDTC được xác nhận qua cuộc kiểm tra quốc tế: Giảm bớt thời gian khóa học dành cho thể thao, và GDTC trong các chương trình giáo dục Hạn chế nguồn nhân lực, cung cấp không đầy đủ các phương tiện vật chất, tài chánh, thiếu các động lực thúc đẩy

từ phía các thầy cô giáo Các ảnh hưởng của việc thiếu các hoạt động thể chất đối với sức khỏe (WHO/FAO): là sự béo phì, bệnh tiểu đường, các bệnh về tim mạch

Trang 29

17

Cái giá phải trả cho việc không quan tâm đến GDTC còn đắt hơn rất nhiều so với việc đầu tư giảng dạy GDTC với hệ thống y tế cộng đồng Rất nhiều nơi trên thế giới cho rằng hoạt động GDTC chẳng mang lợi ích gì, không quan trọng bằng việc nghiên cứu các chủ đề khoa học khác GDTC chỉ được coi như một môn thứ yếu và luôn được xếp ở vị trí cuối cùng trong chương trình giảng dạy

Thể thao là ngôn ngữ mang tính thế giới, những giá trị mà thể thao mang lại có tính toàn cầu là: Sức khỏe, tinh thần cao thượng, tinh thần đồng đội và vươn tới đỉnh cao Giá trị cao qúy của thể thao là đưa mọi người xích lại gần nhau hơn, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, màu da và trình độ phát triển Khi giới trẻ tham gia vào thể thao và các hoạt động thể chất, các em có thể nâng cao sức khỏe và lòng tự trọng, phát triển tài năng một cách toàn diện, thấm nhuần tính đồng đội, lòng vị tha và tránh xa được mối hiểm họa từ ma túy và tội ác

Công tác GDTC trong các trường học là một bộ phận không thể tách rời của quá trình giáo dục trong nhà trường, góp phần tích cực tạo nên cuộc sống vui khỏe lành mạnh, hình thành nhân cách toàn diện, góp phần đào tạo nên những công dân có sức khỏe, có lối sống lành mạnh, lao động có năng suất cao, góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa Chính vì lẽ

đó mà Nhà nước luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC và thể thao trường học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường

Căn cứ vào mục tiêu trên, GDTC và thể thao trường học phải giải quyết các nhiệm vụ sau: [13]

Trang 30

1.3.3 Khái lược thực trạng công tác GDTC tại trường ĐHĐT

Công tác GDTC trường học là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục chung, nhằm góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện Chính nhờ

có sự quan tâm của Nhà nước cùng với sự cố gắng chung của toàn ngành Giáo dục và Đào tạo từ Trung ương đến địa phương, công tác GDTC trường học đã có bước phát triển đáng ghi nhận, góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới phục vụ cho công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích, những ưu điểm thì nhìn chung TDTT ở nước ta trình độ còn rất hạn chế, số người tham gia tập luyện thể thao không nhiều, hiệu quả công tác GDTC trường học còn thấp kém và còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được với nhu cầu hiện nay

Chương trình quy định chặt chẽ về thời gian, nội dung học tập, đồng thời cho phép “mềm hóa” một phần nhằm phù hợp với điều kiện sân bãi, đội ngũ giáo viên thể dục từng trường và phù hợp với điều kiện thời tiết từng khu vực Tuy nhiên, thực chất giờ GDTC tại các trường học nhiều năm qua vẫn còn nhiều bất cập:

Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất hiện tại phục vụ cho việc tập luyện

cũng như học tập các môn GDTC của các trường còn nhiều hạn chế

Trang 31

19

Trang thiết bị: Trang thiết bị phục vụ cho giờ học còn là vấn đề khó khăn

hơn Hiện tại dụng cụ hỗ trợ cho sinh viên tập luyện còn nhiều thiếu thốn

Chương trình giảng dạy: Chương trình khung dành cho môn GDTC

của Bộ GD-ĐT quy định cũng còn nhiều bất cập so với thực tế các trường Chương trình, phương pháp giảng dạy thiếu linh hoạt, chậm đổi mới

1.3.4.Công tác giảng dạy môn GDTC tại trường ĐHĐT, từ năm học

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật có trình độ đại học và sau đại học cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước;

- Đào tạo giáo viên mầm non, giáo viên phổ thông các cấp học cho tỉnh Đồng Tháp và vùng Đồng bằng sông Cửu Long;

- Bồi dưỡng và đào tạo lại chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục;

- Nghiên cứu khoa học, triển khai áp dụng tiến bộ khoa học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội;

Nhà trường đã tiến hành xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo

chuẩn ISO 9001:2008, và đã được Trung tâm chứng nhận phù hợp -

QUACERT cấp chứng nhận, có giá trị từ ngày 05/8/2011

1.3.4.2 Đội ngũ giáo viên:

Trang 32

20

Trường Đại học Đồng Tháp đang sở hữu 575 cán bộ giảng viên, trong

đó đã có: 34 Tiến sĩ; 58 Nghiên cứu sinh; 271 Thạc sĩ; 30 giảng viên đang học cao học

Và một con số ấn tượng có được ở Trường ĐHĐT, đó là chỉ riêng năm học qua đã có 26 giảng viên được tuyển chọn đi học nước ngoài, đưa tổng số giảng viên của trường đang theo học tại 10 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới lên 35 người, chiếm tỉ lệ 10% đội ngũ giảng viên

1.3.4.3 Đào tạo:

- Năm học 2011 – 2012, trường ĐHĐT đào tạo 03 chuyên ngành Thạc

sĩ, 31 ngành đại học và 16 ngành cao đẳng hệ chính quy, 02 ngành Trung cấp chuyên nghiệp với trên 10.000 học viên, sinh viên từ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, đồng thời với trên 7.000 học viên hệ vừa làm vừa học

- Trường ĐHĐT còn liên kết với các trường Đại học trong nước đào tạo Sau đại học nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của Trường và đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh kế – xã hội của tỉnh Đồng Tháp và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Tổng số

có khoảng 800 học viên với 22 chuyên ngành đào tạo

1.4 Đặc điểm, tính chất và tác dụng của môn Bóng chuyền:

Môn Bóng chuyền ra đời ở Mỹ từ năm 1895 do một giáo viên thể dục tên là UyLyam Moocgan sáng lập ra Bước đầu các điều luật còn đơn giản nhưng dần dần được hình thành và thay đổi Đến nay hơn 100 năm trưởng thành và phát triển Bóng chuyền đã trở thành môn thể thao được nhiều người yêu thích như : Tính hấp dẫn trong thi đấu và kỹ chiến thuật trong thi đấu của VĐV đạt đến trình độ cao Sự phát triển của môn Bóng chuyền không chỉ đánh dấu bằng số lượng các thành viên trong Liên Đoàn Bóng Chuyền Quốc

tế FIVB mà còn thể hiện bởi sự luôn luôn đổi mới về luật thi đấu, trình độ phát triển về kỹ chiến thuật tài nghệ của VĐV

Trang 33

21

Bóng chuyền là môn thể thao mang tính tập thể cao, bằng các hoạt động đối kháng không trực tiếp Sự tranh đấu thể hiện sự quyết liệt trên lưới, ai cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn người đó dành thắng lợi Điều khác biệt của môn thể thao này so với môn bóng đá, bóng rổ, bóng ném là: bóng không dừng ở tay lâu và điểm tiếp xúc cũng khác các động tác tiếp xúc bóng trong bóng chuyền chủ yếu là dùng tay đánh bóng Đây là bộ phận khéo léo, linh hoạt nhất của cơ thể, do đó đường bóng chính xác và đa dạng

Bóng chuyền mang tính tập thể cao vì: số người thi đấu đông trên một khoảng sân chật hẹp (6 vận động viên trên một diện tích 81m2) chính vì vậy

sự phối hợp trong di chuyển giữa các cầu thủ phải được tiến hành một cách khéo léo và hài hoà Sự phối hợp trong khoảng nhỏ với tốc độ cao, tính chất thi đấu liên hoàn luân phiên giữa các đấu thủ Từ đó muốn dành thắng lợi đòi hỏi đội bóng phải có tính tập thể cao Bất kể một sự mất đoàn kết, thiếu tin tưởng giữa các cầu thủ đều có thể dẫn đến thất bại

Thi đấu bóng chuyền với tốc độ cao, đòi hỏi vận động viên phải có trình độ thể lực tốt, kỹ thuật, chiến thuật điêu luyện, thể hình tốt ; đồng thời phải được rèn luyện về phẩm chất ý chí cũng như đạo đức phẩm chất của người vận động viên Trong thi đấu bóng chuyền do thời gian không hạn chế nhất định mà nó được thực hiện trong khoảng 3 – 5 hiệp đấu theo số liệu thống kê của FIVB một trận đấu có thể kéo dài 60 phút cho 3 hiệp Nhưng cũng có thể kéo dài trên 120 phút cho một trận đấu căng thẳng cân sức, cân tài Do vậy yếu tố thể lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng cho một trận đấu, VĐV bóng chuyền thực hiện trung bình từ 180 – 200 số lần đập bóng và số lần chắn bóng cũng tương tự Số lần phát bóng đỡ chuyền một được thực hiện

190 – 200 lần Đặc biệt vận động viên chuyền hai phải thực hiện số lần chạm bóng từ 220 – 240 lần Tóm lại một trận thi đấu vận động viên bóng chuyền thực hiện 250 – 300 hành động Trong đó bật nhảy chiếm tỷ lệ 50 – 60%, di

Trang 34

Là một môn thể thao không chu kỳ, các hoạt động trong thi đấu Bóng chuyền là một chuỗi các mắt xích được thực hiện từ: phát bóng – đỡ chuyền một – chuyền hai – tấn công lần một – chắn bóng – phòng thủ - tiếp tục chuyền hai – tấn công lần hai Các hoạt động được liên tục xảy ra , nhưng pha bóng sau không nhất thiết phải lặp lại như pha bóng trước mà nó được thực hiện theo các tình huống khác nhau (tình huống không theo quy luật nhất định)

1.4.1.Tính đối kháng cao (đối kháng gián tiếp):

Môn Bóng chuyền có đặc điểm đặc trưng là tính đối kháng cao tình huống thay đổi liên tục và bất ngờ, bởi được ngăn cách giữa hai đội là lưới với độ cao 243cm cho nam và 224cm cho nữ Đối kháng nội bộ giữa các vận động viên cùng đội thường được xảy ra trong các tình huống thi đấu: do đó một đội bóng tốt là đội bóng không chỉ có thể lực, kỹ thuật, chiến thuật hoàn hảo và tác phong thi đấu, tinh thần thượng võ, đạo đức tâm lý, ý chí cũng phải được trang bị đầy đủ

1.4.2 Sự đang dạng về kỹ - chiến thuật:

Môn Bóng Chuyền có số lượng các kỹ thuật cơ bản rất phong phú, đa dạng Nhưng điều đáng nói hơn là sự phong phú được nhân gấp bội trong thi

Trang 35

1.4.3 Sự căng thẳng về cảm xúc và ý chí:

Trong quá trình thi đấu để đạt được mục đích và nhiệm vụ đã được đề

ra các VĐV phải khắc phục nhiều khó khăn trở ngại với những căng thẳng nhiều khi đến tối đa về thể lực và tâm lý Đó là áp lực luôn đè nặng lên tâm lý của VĐV Mặt khác, trong tiến trình thi đấu sự thất bại tạm thời có thể gây những cảm xúc xấu như: lo sợ, giảm, thậm chí mất lòng tin… Tại những thời điểm quyết định, gây cấn ( gần kết thúc ván đấu, trận đấu đang bị dẫn hoặc có

tỷ số hòa… ) áp lực tâm lý vốn đã căng lại càng căng thêm Áp lực từ phía khán giả và trọng tài cũng là một yếu tố làm căng thêm tâm lý của VĐV Qua 100 năm lịch sử, bóng chuyền thế giới ngày càng hoàn thiện, trong

đó luật thi đấu giữ vai trò chủ đạo ngày càng vươn tới đỉnh cao của môn thể thao này Đó chính là yêu cầu tất yếu khách quan của một xã hội phát triển Thi đấu bóng chuyền phải đáp ứng các quy luật của xã hội và các quy luật riêng của nó:

- Nâng cao đời sống văn hóa

- Rèn luyện và phát triển các tố chất thể lực đồng thời hoàn thiện các chức năng cơ thể, giúp cho người tập phát triển sức khoẻ toàn diện và có một thể hình cân đối

Trang 36

24

- Giáo dục cho người tập tính thể thao cao trong sinh hoạt và thi đấu, có tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, mình vì mọi nguời, mọi người vì mình, rèn luyện tính kỷ luật và thái độ trách nhiệm với tập thể và với cộng đồng

- Góp phần giáo dục đạo đức, ý chí, tính kiên định, lòng dũng cảm, trí thông minh sáng tạo trong công việc Góp phần phát triển con người hướng đến toàn diện: đức – trí – thể – mỹ Tập luyện và thi đấu thể thao nói chung và bóng chuyền nói riêng là một phương tiện vui chơi giải trí lành mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả trong học tập, làm việc và nâng cao sức chiến đấu cho lực lượng vũ trang

1.5 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực lứa tuổi sinh viên

Thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người Mặt khác rèn luyện và phát triển thể lực, lại là một trong hai điểm cơ bản của quá trình GDTC

Các tố chất thể lực có thể phát triển trong quá trình tiếp thu kỹ thuật Song nếu chỉ bằng con đường này thì các tố chất thể lực phát triển rất chậm

Vì vậy để hình thành và hoàn thiện các kỹ thuật động tác thì sinh viên phải thường xuyên nâng cao trình độ thể lực của mình

Chuẩn bị các tố chất thể lực, có mục đích trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả học tập, tạo ra năng lực làm việc cao trong quá trình học tập và công tác sau này của sinh viên

Nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chuẩn bị thể lực toàn diện cho sinh viên là chuẩn bị thể lực chung rộng rãi, bởi vì giáo dục toàn diện các năng lực thể chất và thường xuyên sẽ làm phong phú vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động, sẽ đảm bảo những điều kiện chung, cần thiết đem lại hiệu quả của mọi hoạt động Một trong những nhiệm vụ chính của chuẩn bị thể lực chung cho sinh viên là: Phát triển toàn diện các tố chất thể lực bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, độ dẻo Đây là năng lực thể chất quan trọng nhất

Trang 37

25

của những người tập luyện thể dục thể thao và là tiền đề quan trọng nhất để

họ thực hiện được những nhu cầu ngày càng cao và phức tạp trong học tập và cuộc sống

1.5.1 Tố chất sức nhanh:

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đến đặc tính tốc độ động tác, cũng như thời gian phản ứng vận động [23]

Người ta phân biệt 3 hình thức đơn giản để biểu hiện sức nhanh:

- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động

- Tốc độ động tác đơn (với lực bên ngoài nhỏ)

- Tần số động tác

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt là các chỉ số về thời gian phản ứng vận động, hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức đó thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau Theo quan điểm sinh lý, thời gian tiềm phục của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:

- Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ

- Dẫn truyền hưng phấn đến hệ thần kinh trung ương

- Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu ly tâm

- Truyền tín hiệu ly tâm đến cơ

- Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tích cực

- Trong các giai đoạn trên, thì giai đoạn 3 chiếm nhiều thời gian nhất và người ta cũng thừa nhận rằng, tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh tức là phụ thuộc vào tốc độ luân chuyển giữa trạng thái hưng phấn và ức chế ở trung khu vận động

Trang 38

26

1.5.2 Tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng khắc phục đối kháng bên ngoài, hoặc đề kháng lại

nó bằng nỗ lực cơ bắp Cơ bắp có thể phát sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt động như vậy, cơ bắp sinh ra các lực cơ học với các chỉ số khác nhau Cho nên, có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học, người ta đã đi đến một số kết luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh

Trong chế độ thể thao, sức mạnh luôn có quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác, cụ thể là sức nhanh và sức bền Do đó, năng lực sức mạnh được phân tích thành 3 hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh (sức mạnh tốc độ), năng lực sức mạnh bền, trong đó năng lực sức mạnh tốc độ vá sức mạnh bền là đặc trưng phần lớn cho các môn thể thao

1.5.3 Tố chất sức bền:

Sức bền là năng lực thực hiện lâu bền một hoạt động với cường độ cho trước hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà có thể chịu đựng được [24]

Để có sức bền, VĐV phải khắc phục mệt mỏi, nên sức bền còn có thể nói là năng lực của cơ thể, chống lại mệt mỏi trong hoạt động nào đó

Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độ tốt nhất trong thời gian vận động kéo dài của thi đấu, tương ứng với khả năng tập luyện của mình Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ, chiến thuật từ đầu cho đến cuối cuộc thi đấu và khi vượt qua một khối lượng vận động lớn trong tập luyện Do đó, sức bền không những là một nhân tố xác định và ảnh hưởng đến thành tích thi đấu, mà còn là một nhân tố xác định thành tích tập luyện và khả năng chịu đựng lượng vận động của VĐV Sức bền phát triển tốt là điều kiện để cơ thể có thể phục hồi nhanh

Trang 39

27

Sức bền gồm: sức bền chung và sức bền chuyên môn

- Sức bền chung: là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường độ thấp có sự tham gia của phần lớn hệ cơ Để nâng cao sức bền chung của người tập có thể sử dụng nhiều bài tập với hình thức khác nhau

- Sức bền chuyên môn: là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt, phụ thuộc vào những nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kĩ thuật Đối với các vận động viên thể thao, sức bền

là một thành phần tất yếu trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt, trước hết là hệ thần kinh trung ương, cũng như các hệ thống tim mạch, hô hấp

- Sức bền chung của các VĐV là cơ sở để họ có thể chịu đựng được các lượng vận động lớn, là cơ sở vững chắc của VĐV trong huấn luyện chuyên môn, vì sức bền luôn luôn là thành phần tất yếu của nhân tố thể lực, nên nó quan hệ chặt chẽ với các nhân tố thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh Những mối quan hệ này, thể hiện bằng các tố chất: như sức mạnh bền, sức bền tốc độ Như vậy, có thể nói rằng, sức bền rất đa dạng, nó đặc trưng cho các môn thể thao nói chung

1.5.4 Tố chất mềm dẻo:

Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với độ bền lớn, biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Năng lực mềm dẻo được chia 2 loại: mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụ động [25]

Mềm dẻo thụ động: là năng lực thực hiện với biên độ lớn ở các khớp nhờ tác động của ngoại lực như: trọng lượng cơ thể, lực ép của huấn luyện viên hay bạn tập

Trang 40

28

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng của động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ, dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao Mềm dẻo rất cần thiết cho người tập thể thao, để hoàn thành các bài tập với biên độ động tác lớn Nhờ các bài tập chuyên môn, vận động đạt mềm dẻo tốt hơn, từ đó đáp ứng được các đòi hỏi khi thực hiện các động tác trên không như kỹ thuật chạy vượt rào, nhảy cao lưng qua xà, nhảy xa ưỡn thân, các môn bóng…Tố chất mềm dẻo giúp VĐV thực hiện các kỹ thuật với biên độ lớn, dễ dàng hơn, nhanh hơn, chính xác hơn Tố chất mềm dẻo đóng vai trò quan trọng và quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV

Khả năng phối hợp còn được thực hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng

và có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹ xảo

về kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa khả năng phối hợp vận đông và kỹ xảo

về kỹ thuật thể thao có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật thể thao nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, thì năng lực phối hợp vận đông

là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau [25]

Một vận động viên có trình độ rộng và cao về khả năng phối hợp vận động (bên cạnh vốn kỹ xảo phong phú), có thể lĩnh hội các bài tập vô cùng tích cực đối với việc hoàn thiện kỹ thuật thể thao cần thiết VĐV có khả năng

Ngày đăng: 23/12/2020, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w