1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng chƣơng trình giảng dạy môn chuyên sâu điền kinh (chạy ngắn và nhảy xa) cho nam sinh viên chuyên ngành giáo dục thể chất, trƣờng đại học đồng tháp

126 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

STT Tên bảng Trang Bảng 1.1 Tóm tắt khối lượng vận động trong huấn luyện sức nhanh 24 Bảng 3.1 Khảo sát thực trạng về đội ngũ và trình độ giảng viên Bảng 3.2 Số lượng GV thâm niên tron

Trang 1

………

TRẦN THỊ KIM NGỌC

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY

MÔN CHUYÊN SÂU ĐIỀN KINH (CHẠY NGẮN VÀ NHẢY XA) CHO NAM SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC

THỂ CHẤT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Tp Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

………

TRẦN THỊ KIM NGỌC

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY

MÔN CHUYÊN SÂU ĐIỀN KINH (CHẠY NGẮN VÀ NHẢY XA) CHO NAM SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC

THỂ CHẤT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP”

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 60140103

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa hoc: PGS TS Nguyễn Tiên Tiến

Tp Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 3

liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng có ai công

bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Trần Thị Kim Ngọc

Trang 4

gắng của bản thân trong suốt thời gian qua Đạt được điều này là nhờ sự động viên và hy sinh rất nhiều của các thành viên trong gia đình Họ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình đi học xa nhà

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý Ban giám hiệu Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao TP Hồ Chí Minh, cùng tất cả Quý thầy (cô) của nhà trường đã nhiệt tình giúp đỡ, giảng dạy trong suốt 2 năm qua

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Tiên Tiến – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Thông qua luận văn này, tôi cũng bài tỏ lòng cảm ơn của mình đến Quý Ban giám hiệu Trường Đại Học Đồng Tháp, Quý thầy (cô) trong Khoa Giáo dục thể chất và Quốc phòng – An ninh, cùng các em sinh viên lớp GDTC

2014 đã nhiệt tình cộng tác, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi thu thập số liệu thực hiện luận văn này

Mặc dù đã cố gắng hết sức trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng không thể tránh khỏi một vài thiếu sót, do đó tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp chân tình, sự chỉ bảo từ Quý thầy (cô) trong Hội đồng khoa học

để luận văn của tôi được chính xác và hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trần Thị Kim Ngọc

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất 5

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng 7

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên (từ 18 – 22 tuổi) 12

1.5 Đặc điểm hoạt động chung trong chạy cự ly ngắn và nhảy xa 17

1.6 Cơ sở lý luận trong giảng dạy chạy cự ly ngắn và nhảy xa 18

1.7 Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển của trường Đại học Đồng Tháp 39

1.8 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: 41

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 43

2.1 Phương pháp nghiên cứu: 43

2.2 Tổ chức nghiên cứu 50

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 52

3.1 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn chuyên sâu Điền kinh (nội dung chạy ngắn và nhảy xa) cho nam sinh viên chuyên ngành GDTC trường Đại học Đồng Tháp 52

3.2 Xây dựng và ứng dụng thực nghiệm chương trình giảng dạy môn chuyên sâu Điền kinh (nội dung chạy ngắn và nhảy xa) cho nam sinh viên chuyên ngành GDTC, trường Đại học Đồng Tháp năm học 2014 - 2015 68 3.3 Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng thực nghiệm chương trình giảng

dạy môn chuyên sâu Điền kinh (nội dung chạy ngắn và nhảy xa) cho

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

A KẾT LUẬN 97

B KIẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

STT Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ

Trang 8

STT Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Tóm tắt khối lượng vận động trong huấn luyện sức nhanh 24

Bảng 3.1 Khảo sát thực trạng về đội ngũ và trình độ giảng viên

Bảng 3.2 Số lượng GV thâm niên trong giảng dạy TDTT tại trường 54

Bảng 3.3 Thống kê số liệu sân bãi và trang thiết bị TDTT của

Hệ số tin cậy của các test đánh giá thành tích chạy 100m

và nhảy xa cho nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh trường Đại học Đồng Tháp

74

Bảng 3.7

Hệ số tương quan giữa các test thể lực và thành tích chạy 100m và nhảy xa của nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh, trường Đại học Đồng Tháp

75

Bảng 3.8

Phân bố thời gian giảng dạy chương trình thực nghiệm chạy ngắn 100m và nhảy xa dành cho nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh

Sau 79

Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra các test thể lực cho hai nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm 83 Bảng 3.10 So sánh thành tích các test đánh giá chạy 100m và nhảy

xa trước thực nghiệm cho giữa nhóm thực nghiệm và 84

Trang 9

nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Bảng 3.12 Nhịp tăng trưởng các test thể lực của nhóm thực nghiệm

Bảng 3.13 Nhịp tăng trưởng các test thể lực của nhóm đối chứng sau

Bảng 3.14 Kết quả so sánh thành tích các test thể lực của nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 92

Trang 10

STT Tên sơ đồ và biểu đồ Trang

Biểu đồ 3.1

Thành tích các test đánh giá chạy 100m và nhảy xa cho nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

86

Biểu đồ 3.2 Nhịp tăng trưởng trung bình các test thể lực của nhóm

Biểu đồ 3.3 Nhịp tăng trưởng trung bình các test thể lực của nhóm

Biểu đồ 3.4

So sánh thành tích các test thể lực cho nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

94

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ GDTC trong các trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt trong chương trình giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, nhằm tạo

ra một thế hệ tương lai có tri thức mới, có năng lực, phẩm chất đạo đức và có

sức khỏe Đó là lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Mục tiêu chiến lượt này thể

hiện rõ những yêu cầu bức bách về sức khỏe và thể lực của lớp người lao động trong công cuộc đổi mới nền kinh tế xã hội, đặc biệt là nền kinh tế tri thức nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay (Nghị quyết TW II – Khóa VIII) [11]

Trong chương trình GDTC cho sinh viên (SV) các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp thì Điền kinh (ĐK) là một trong những môn học không thể thiếu trong việc bảo vệ, rèn luyện và nâng cao sức khỏe, thể

lực cho sinh viên, góp phần thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” chuẩn bị cho người lao động tương lai đáp ứng

yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [5]

Những năm qua, lãnh đạo Trường Đại học Đồng Tháp rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất cho sinh viên, cũng như phát triển phong trào tập luyện thể dục thể thao trong sinh viên Vì thế mà phong trào tập luyện thể thao ngày càng phát triển Ngành sư phạm GDTC của trường Đại học Đồng Tháp đào tạo giáo viên GDTC theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Trong quá trình giảng dạy của giảng viên (GV) thì việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn cho sinh viên thông qua các môn học trong nhà trường luôn là đòi hỏi hết sức nghiêm túc đối với cả người dạy và người học Bên cạnh việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động, tích lũy vốn

Trang 12

kiến thức đã được trang bị trong quá trình học để làm hành trang vào nghề của các em sinh viên lớp GDTC, thì việc phát triển thể lực nói chung, sức nhanh nói riêng cho các em sinh viên là điều hết sức cần thiết Ngành sư phạm Giáo dục thể chất của trường Đại học Đồng Tháp đào tạo giáo viên Giáo dục thể chất với nhiều chuyên ngành chuyên sâu như: Bóng đá, Bóng chuyền, Cầu lông, Điền kinh Trong đó Điền kinh là một trong những môn thể thao thế mạnh của trường tại các kỳ hội thao sinh viên khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Bản thân được khoa phân công giảng dạy môn chuyên sâu Điền kinh trực tiếp hai nội dung (chạy ngắn và nhảy xa) Tuy nhiên, quá trình giảng dạy chạy ngắn (100m) và nhảy xa muốn đạt thành tích cao không phải là điều đơn giản Bởi lẽ, để đạt thành tích cao trong chạy ngắn và nhảy xa thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó vai trò quan trọng phải kể đến là yếu tố sức nhanh, sức mạnh

Môn chạy cự ly ngắn và nhảy xa có vị trí rất quan trọng trong điền kinh, không phải chỉ vì nó gồm nhiều nội dung, mà còn do nó tạo được tốc độ cao Đó là cơ sở quan trọng để đạt thành tích trong chạy vượt rào, chạy cự ly trung bình và dài; trong các môn nhảy và nhiều môn phối hợp Chạy cự ly ngắn và nhảy xa được coi là một phương tiện tập luyện hiệu quả để nâng cao thành tích trong hầu hết các môn thể thao khác Vì vậy, việc nâng cao thành tích của môn chạy ngắn và nhảy xa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển môn ĐK và các môn thể thao khác

Chạy ngắn (nhất là chạy 100 mét) và nhảy xa là nội dung không thể thiếu trong chương trình giảng dạy từ phổ thông đến đại học Chạy ngắn và nhảy xa cũng là một môn thi hầu như được tiến hành trong mọi cuộc thi đấu

từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn cả ở trong nước và quốc tế Ở trường Đại học Đồng Tháp, chạy ngắn và nhảy xa là một trong những nội dung bắt buộc đối với tất cả sinh viên của nhà trường trong quá trình đào tạo Con người khi

Trang 13

được sinh ra ai cũng biết đi, biết chạy, biết nhảy nhưng việc chạy đúng kỹ thuật, nhảy kết quả xa, đẹp và đạt thành tích cao thì phải trải qua một quá trình tập luyện có phương pháp và có khoa học Môn chạy ngắn và nhảy xa có kết cấu kỹ thuật không quá phức tạp Người tập muốn thực hiện đúng kỹ thuật

và nâng cao thành tích của bản thân chỉ cần có sự kiên trì khổ luyện kết hợp với các bài tập bổ trợ, các bài tập phát triển sức nhanh, sức mạnh một cách khoa học và hệ thống thì sẽ phát huy được thành tích chạy ngắn và nhảy xa của bản thân ở mức cao nhất Vấn đề nghiên cứu hiệu quả công tác giảng dạy, huấn luyện đang được nhà trường quan tâm và khuyến khích đẩy mạnh

Với thực tiễn giảng dạy của trường trong những năm qua cho thấy chương trình còn bị thay đổi liên tục, chưa có chương trình thống nhất, do vậy muốn đóng góp một phần sức lực của mình để xây dựng bộ môn ngày càng phát triển, góp phần chuẩn hóa nội dung các môn học của bộ môn nên tôi

mạnh dạn chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn chuyên sâu Điền kinh (chạy ngắn và nhảy xa) cho nam sinh viên chuyên ngành Giáo dục thể chất, trường Đại học Đồng Tháp”

Trên cơ sở đó, đề tài ứng dụng vào quá trình giảng dạy, nhằm giúp sinh viên nâng cao thành tích, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của khoa Giáo dục thể chất và Quốc phòng – An ninh, Trường Đại Học Đồng Tháp

Mục đích nghiên cứu:

Nhằm xây dựng chương trình giảng dạy chạy cự ly ngắn và nhảy xa cho nam sinh viên chuyên ngành GDTC, trường Đại học Đồng Tháp trong một học kỳ, góp phần chuẩn hóa nội dung giảng dạy, nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp

Mục tiêu nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau đây:

Trang 14

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn chuyên sâu

Điền kinh (nội dung chạy ngắn và nhảy xa) cho nam sinh viên chuyên ngành

GDTC trường Đại học Đồng Tháp

Mục tiêu 2: Xây dựng và ứng dụng thực nghiệm chương trình giảng

dạy môn chuyên sâu Điền kinh (nội dung chạy ngắn và nhảy xa) cho nam

sinh viên chuyên ngành giáo dục thể chất, trường Đại học Đồng Tháp năm học 2014 - 2015

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả việc thực nghiệm chương trình giảng dạy môn chuyên sâu Điền kinh (nội dung chạy ngắn và nhảy xa) mới cho nam

sinh viên chuyên ngành giáo dục thể chất, trường Đại học Đồng Tháp năm học 2014 - 2015

Trang 15

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất

Đảng và Nhà Nước ta luôn xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa, nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, nhân cách và thể chất Trong các trường Đại học và Cao đẳng, giáo dục thể chất cho sinh viên được coi vừa là một mặt giáo dục, vừa là một nhiệm vụ rất quan trọng góp phẩn bồi dưỡng nguồn nhân lực phát triển toàn diện có sức khoẻ dồi dào, có thể chất cường tráng có dũng khí kiên cường để phục vụ sự nghiệp của Đảng và nhân dân Cùng với những phẩm chất kể trên, quá trình giáo dục thể chất còn gúp cho học sinh, sinh viên hoàn thiện nhân cách và phẩm chất cần thiết khác nhằm đáp ứng những đòi hỏi của nghiệp vụ chuyên môn và cuộc sống Giáo dục thể chất còn góp phần chuẩn bị về mặt tâm lý và tinh thần cho người lao động tương lai, quan trọng hơn là giúp cho họ hiểu biết kiến thức và phương pháp khoa học thể dục thể thao để sau này ra trường tiếp tục rèn luyện thân thể, tăng cường sức khoẻ, rèn luyện ý chí và nâng cao hiệu quả lao động

Xuất phát từ những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thể dục thể thao, công tác giáo dục thể chất được Đảng và Nhà nước ta định hướng, vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo Trong mỗi thời kỳ cách mạng, tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ, và tình hình thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời, chủ trương đúng đắng để chỉ đạo phong trào thể dục thể thao

Nghị quyết số 04-NQ/HNTW (1993) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới có quan điểm:

Trang 16

“… - Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người; công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực; giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh; làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang

- Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên, công nhân viên chức và một bộ phận nhân dân ” [12]

Thực hiện lời dạy của Bác, việc dạy và học TDTT trong nhà trường các cấp được nhiều văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước ghi rõ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều 41 quy định:

“Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các rài năng thể thao ” [7]

Chính phủ có chỉ thị số 113/TTg, ngày 07-03-1995 về công tác TDTT

trong giai đoạn mới: “Bộ Giáo dục và đào tạo đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, có quy chế bắt buộc các nhà trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi, phòng tập TDTT ” [5]

Đảng ta đã xác định mục tiêu của thể dục thể thao là tăng cường sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết đại hội lần thứ VIII của ban chấp hành

Trang 17

trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ: “Công tác thể dục thể thao góp phần khôi phục và tăng cường sức khỏe của nhân dân, mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào thể dục thể thao quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể trở thành thói quen hàng ngày của nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ ” [14]

Nghị quyết VIII ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII, tháng

6/1991 đã khẳng định: “…bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường trung học phổ thông, chuyên nghiệp và các trường Đại học, Cao đẳng…” [14]

Do đó, muốn giáo dục con người phát triển toàn diện “kết hợp hài hòa

sự phong phú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức, sự toàn diện về thể chất” Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân, đồng thời là vốn

quý tạo ra sản phẩm trí tuệ và vật chất cho xã hội Vì vậy, chăm lo cho con người về mặt vật chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và ngành thể dục thể thao nói riêng Đó chính là mục tiêu cơ bản, mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ luôn coi trọng, quan tâm, đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng nhất của nền giáo dục thể dục thể thao nước nhà

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng

Giáo dục thể chất trong trường học có vai trò quan trọng trong việc đào tạo học sinh, sinh viên chuyên ngành TDTT thành một nguồn nhân lực phát triển toàn diện, với những con người có đạo đức, tri thức, sửa khoẻ, thẩm mỹ

và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, chủ động học tập và rèn luyện để góp phần làm rạng rỡ non sông đất nước Việt Nam Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh, sinh viên là một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà Nước, của ngành Giáo dục

và đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục

Trang 18

toàn diện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thì nhất thiết phải coi trọng công tác Giáo dục thể chất trong trường học Đặc biệt là khối trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp vì sinh viên là những nhân tố, lực lượng nòng cốt để phát triển đất nước

Trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất trong các trường Đại học và Cao đẳng Chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học và Cao đẳng thường xuyên được cải tiến và nhằm nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển thể chất trong nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho sinh viên Đó cũng thể hiện tính khoa học và thực tiễn phong phú, nhằm nâng cao mục tiêu của giáo dục thể chất, đáp ứng nhiệm vụ của cách mạng, bồi dưỡng nguồn lao động có phẩm chất:

“phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn luôn nhất quán mục

tiêu của công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường các cấp là góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội, phát triển hài hòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của thời đại Giáo dục thể chất và thể thao trong trường học có 3 nhiệm vụ cơ bản sau đây

- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện thân thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin và lối sống lành mạnh, sẵn sàng phục

vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tăng cường sức khoẻ, đồng thời tham gia tích cực các hoạt động thể dục thể thao của nhà trường và xã hội

Trang 19

- Góp phần củng cố và tăng cường sức khoẻ của sinh viên, nâng cao trình độ thể lực chung, phát triển toàn diện, cân đối, đáp ứng các tiêu chuẩn

rèn luyện thân thể qui định

1.3 Lịch sử phát triển môn Điền kinh [4], [9], [19]

Điền kinh là môn thể thao có lịch sử phát triển lâu đời, được ưa chuộng

và phổ biến rộng rãi trên thế giới Điền kinh có nhiều nội dung phong phú và

đa dạng, nên chiếm được một vị trí quan trọng trong chương trình thi đấu của các đại hội thể thao Olympic quốc tế và trong đời sống văn hóa - thể thao của nhân loại Những hoạt động di chuyển với mục đích tìm kiếm thức ăn, tự vệ

và phòng chống thiên tai, vượt chướng ngại vật ngày càng được hoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người Chúng dần dần trở thành các trò chơi vận động, các cuộc thi đấu, một phương tiện GDTC, một môn thể thao thu hút nhiều người tham gia tập luyện

Năm 1837 tại thành phố Legbi (Anh), cuộc thi đấu 2km lần đầu tiên được tổ chức Từ năm 1851 các môn chạy tốc độ, chạy vượt chướng ngại vật, nhảy xa, nhảy cao, ném vật nặng bắt đầu được đưa vào thi đấu tại các trường Đại học nước Anh

Năm 1880, liên đoàn Điền kinh nghiệp dư nước Anh ra đời Đây là liên đoàn ĐK nghiêp dư đầu tiên trên thế giới Từ năm 1880 đến năm 1990, môn Điền kinh phát triển ở nhiều nước trên thế giới như: Pháp, Mỹ, Đức, Na Uy, Thụy Điển… và các liên đoàn Điền kinh quốc gia được thành lập ở hầu hết các châu lục

Đặc biệt từ năm 1896, việc khôi phục các cuộc thi đấu truyền thống của đại hội thể thao Olympic đã đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong việc phát triển môn Điền kinh Từ đại hội Olympic Athens (Hy Lạp 1896), Điền kinh trở thành nội dung chủ yếu trong chương trình thi đấu của các đại hội thể thao Olympic (4 năm được tổ chức một lần)

Trang 20

Năm 1912, liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế ra đời, gọi tắt là IAAF (International Amatuer Athletic Federation) Đây là tổ chức cao nhất lãnh đạo phong trào Điền kinh thế giới IAAF hiện có 209 thành viên là các liên đoàn ĐK quốc gia ở các châu lục, trong đó có liên đoàn Điền kinh Việt Nam Hiện nay, liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế đặt tại Monaco Với sự khát khao vươn tới những đỉnh cao thành tích các vận động viên (VĐV), các huấn luyện viên (HLV) và các nhà khoa học luôn tìm tòi những phương pháp

có hiệu quả nhất trong tập luyện và thi đấu Điền kinh Bên cạnh đó, những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ cũng đã tạo cơ sở cho sự phát triển ngày càng hoàn thiện của các bài tập Điền kinh Chúng ta dễ dàng nhận thấy, ngày xưa trong thi đấu chạy 100m VĐV mới chỉ biết xuất phát cao… Ngày nay, các VĐV đã biết sử dụng kỹ thuật xuất phát thấp có bàn đạp trong thi đấu chạy 100m (Người đầu tiên thực hiện là VĐV Tr Serin của Mỹ năm 1887)

Trong điền kinh, chạy và nhảy là môn thể thao có lịch sử phát triển lâu đời Từ cách thức di chuyển theo phương nằm ngang, với mục đích nhanh để thuận lợi trong việc săn bắt,… nhằm tìm kiếm thức ăn để sinh tồn của người xưa, môn chạy dần dần trở thành một phương tiện GDTC

Còn tại Việt Nam, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tổ tiên chúng ta đã vận dụng các hoạt động chạy, nhảy, ném là phương tiện rèn luyện thể lực để chiến đấu chống ngoại xâm Lịch sử còn ghi nhận cuộc hành quân thần tốc ba ngày đêm của đội quân Tây Sơn đánh tan mấy chục vạn quân xâm lược nhà Thanh

Trong thời kỳ chống Pháp từ năm 1945 – 1954, môn Điền kinh được sử dụng làm các bài tập thể lực trong quân đội Từ tháng 10/1954 đến tháng 05/1975 đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền:

Trang 21

Miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương lớn, Đảng và Nhà nước rất quan tâm phát triển thể dục thể thao (TDTT), mặc dù kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn và chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra rất ác liệt (năm 1964 - 1972), nhưng phong trào tập luyện môn Điền kinh trong nhân

dân được phát triển tương đối rộng rãi Các phong trào “chạy, nhảy, bơi, bắn, võ”, “rèn luyện chạy vì miền Nam ruột thịt”… được nhân dân hưởng ứng

không phải chỉ để tăng cường sức khỏe mà còn tăng sức chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai và đã thành lập Đội tuyển Điền kinh quốc gia

“chuyên nghiệp” và trường huấn luyện quốc gia (nay là Trung tâm huấn luyện TDTT quốc gia I) Hàng loạt tỉnh thành như: Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Lạng Sơn,… và một số ngành như: quân đội, đường sắt… đã có đội tuyển ĐK

“chuyên nghiệp” và đào tạo VĐV trẻ kế cận nên hàng năm (từ năm 1959 - 1969) đều có 3 - 5 cuộc thi đấu Điền kinh được tổ chức Thành tích các môn Điền kinh đều được tăng lên rõ rệt và phong trào Điền kinh được phát triển rộng ở các trường Trung học phổ thông, Đại học

Miền Nam là tiền tuyến lớn, lúc này môn Điền kinh vẫn được phát triển Tuy tốc độ rất chậm bởi vì ở thời gian này miền Nam chưa có cán bộ (CB) hoặc HLV có trình độ Cao đẳng, Đại học

Sau ngày miền Nam được giải phóng (1975) đến nay môn ĐK tiếp tục được phát triển mạnh hơn Điền kinh đã trở thành nội dung giảng dạy trong các trường Phổ thông, Trung học, Cao đẳng và Đại học và nhiều người đã tự rèn luyện thân thể như: đi bộ, chạy… chúng ta đã có dịp tiếp xúc thi đấu quốc

tế, thi đấu khu vực Đông Nam Á, châu Á và đã giành được rất nhiều huy chương tại các Đại hội TDTT gần đây Đặc biệt, từ Seagames 22 đến nay, thành tích môn Điền kinh nước ta đã có những bước phát triển đáng kể như: Nguyễn Duy Bằng (nhảy cao nam, 2m25), Bùi Thị Nhung (nhảy cao nữ,

Trang 22

1m94), Vũ Thị Hương (chạy 100m nữ, 11”32), Lương Tích Thiện (chạy 100m nam, 10”2)…

Hiện nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thành tích môn ĐK dần dần được tăng lên và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của thể thao nước nhà Đây còn là một phương tiện hiệu quả, tích cực tham gia vào quá trình giao lưu và hòa nhập của nước ta vào thế giới

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên (từ 18 – 22 tuổi) [27]

Để đánh giá tiêu chuẩn về phát triển thể chất toàn diện cần phải được

cụ thể hóa, căn cứ vào đặc điểm cá nhân, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, môn thể thao… Nói cách khác, mức độ phát triển này phụ thuộc vào nhân tố

di truyền, cá biệt và một phức hợp các điều kiện thay đổi trong đời sống và hoạt động, không nên hiểu đó là sự phát triển dàn đều, đồng loạt như nhau, theo một phương thức cứng nhắc P.Letsgáp, nhà lý luận GDTC nổi tiếng người Nga đã từng nói: “Chỉ có phát triển cân đối tất cả các cơ quan, cơ thể con người mới thực sự hoàn thiện và hoàn thành được công việc lớn nhất với sự tiêu hao ít nhất về vật chất và sức lực.” Trên cơ sở đó, có thể thấy rõ hơn điều này trong chuẩn bị thể lực cho VĐV các môn thể thao khác nhau, cho những người làm các nghề đặc biệt, ở đây cần có sự kết hợp giữa thể lực chung và chuyên môn Nhưng cái gốc cơ bản, phổ thông ban đầu nhất đối với mọi người dân là tiêu chuẩn rèn luyện thân thể Đó là qui định về yêu cầu phát triển toàn diện đối với mọi người

Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện, để đạt hiệu quả tốt thì người giáo viên và HLV phải nắm chắc các đặc điểm về tâm, sinh lý của lứa tuổi Từ

đó mà áp dụng các phương pháp và các phương tiện tập luyện sao cho phù hợp với trình độ, lứa tuổi, giới tính và trạng thái sức khoẻ Đó cũng là một trong các nhân tố quan trọng để tác động bài tập thể chất lên cơ thể con người

Nói đến bài tập thể chất là nói đến lượng vận động ( LVĐ), mà LVĐ

Trang 23

bao gồm cường độ và khối lượng sẽ tác động trực tiếp lên cơ thể người tập muốn có thành tích thì LVĐ là mấu chốt

1.4.1 Đặc điểm về tâm lý:

Trong tâm lý học lứa tuổi, người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn

Những đặc điểm tâm lý của hoạt động thanh niên lứa tuổi 18 – 22: Xét

về nội dung và tình cảm của hoạt động lứa tuổi này phức tạp hơn nhiều so với lứa tuổi thanh niên ở giai đoạn trước Ở tuổi này không những đòi hỏi về mặt học tập mà còn đòi hỏi tính năng động, sáng tạo ở mực độ cao hơn nhiều, đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình học tập một cách sâu sắc thì cần phát triển tư duy về lý luận Khi tuổi càng trưởng thành thì kinh nghiệm sống càng phong phú, họ càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc đời

Tâm lý học Mác xít cho rằng cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cách phức hợp, phải kết hợp quan điểm tâm lý xã hội học với việc tính đến những quy luật bên trong của sự phát triển; đó là vấn đề phức tạp và khó khăn Bởi vì không phải lúc nào nhịp độ các giai đoạn phát triển của sự phát triển tâm lý cũng trùng hợp với các giai đoạn trưởng thành về mặt xã hội

Theo tác giả Phạm Ngọc Viễn: “Sự bắt đầu trưởng thành của một con người như là một cá thể, một nhân cách, một chủ thể nhận thức và một chủ thể lao động là không trùng hợp nhau về thời gian”

Do vậy, thái độ ý thức học tập của các em lứa tuổi này phát triển cao Các em được thúc đẩy bởi động cơ học tập và đã nhận thức được ý nghĩa xã hội của môn học, của nghề nghiệp mình lựa chọn, đó cũng là điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy và huấn luyện

Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ: Tri giác có mục đích đã dạt ở một mức độ cao; quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Ở

Trang 24

lứa tuổi này ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ; đồng thời vai trò của ghi nhớ lôgíc, trừu tượng ngày một tăng rõ rệt, đặc biệt các em đã tạo được tâm thể trong ghi nhớ Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển nên các em suy nghĩ chặt chẽ hơn, có căn cứ hơn và nhất quán hơn Đây là cơ sở để hình thành thế giới quan

- Sự phát triển về ý thức: Là đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân

cách của thanh niên trong giai đoạn này Đặc điểm quan trọng là sựtự ý thức của lứa tuổi này, nó xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, hoạt động, địa vị xã hội, mối quan hệ với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức được nhân cách của mình

Các em không chỉ nhận thức được cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức được vị trí của mình trong xã hội tương lai các em có được phẩm chất nhân cách bộc lộ rõ trong lao động, biết yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm, tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, ý chí cao, biết khắc phục những khó khăn đẻ đạt được mục đích mình đã định Đây chính là đặc điểm thuận lợi để rèn luyện các tố chất thể lực Không những các em biết đánh giá hành vi của mình mà còn biết đánh giá những phẩm chất, mạnh, yếu của người khác

Trong quá trình tập luyện, giảng viên cần giúp đỡ một cách phù hợp, khéo léo đối với từng sinh viên, để hình thành ở họ một biểu tượng khách quan, đứng đắn về mình, vẫn tế nhị, thể hiện sự tôn trọng nhân cách sinh viên

Sự hình thành thế giới quan: Ở lứa tuổi này đã có sự hình thành thế

giới quan, hệ thống quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử Những điều đó được ý thức vào các hình thức tiêu chuẩn, nguyên tắc hành vi được xác định vào một hệ thống hoàn chỉnh

1.4.2 Đặc điểm về sinh lý:

Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện; khả năng tư duy,

Trang 25

phân tích tổng hợp và trừu tượng hoá được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho việc hình thành phản xạ có điều kiện Ngoài ra do hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên, làm cho quá trình hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế Giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng, ảnh hưởng đến hoạt động thể lực, cho nên phải sử dụng các bài tập sao cho phù hợp

Hệ cơ: Ở lứa tuổi này, cơ thân mình phát triển nhất Sau khi kết thúc

thời kỳ tăng trưởng cơ thể, chiều cao cơ thể phát triển chậm lại, độ dày cơ bắp bắt đầu phát triển nhanh, sợi cơ dày lên rõ rệt, trọng lượng cơ thể tăng lên, sức mạnh cơ bắp phát triển đáng kể, sức mạnh tối đa của các nhóm cơ khác tăng từ 9 - 14 lần Riêng cơ bắp, cơ lớn phát triển nhanh (cơ đùi) và các cơ co phát triển sớm hơn cơ duỗi Vì vậy, sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh, sức bền làhợp lý nhưng các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ

Hệ xương: Vẫn tiếp tục được cốt hoá mãi tới năm 24 - 25 tuổi mới

hoàn thiện, các cơ tăng khối lượng và đạt 43 - 44% trọng lượng toàn thân Sự cốt hoá bộ xương có nghĩa là đã chấm dứt sự phát triển chiều dài Quá trình

đó xảy ra do các màng xương được phát triển dày lên bao bọc quanh sụn

Hệ hô hấp: Đã hoàn thiện, vòng ngực trung bình của nam là 75 -

80cm và nữ là 80 - 85cm, diện tiếp xúc của phổi khoảng 120 - 150cm2

, dung lượng phổi khoảng 4 - 5lít, tần số hô hấp 10 -20 lần/phút Vì vậy, tập các bài tập phát triển sức mạnh và thể lực chuyên môn rất phù hợp với lứa tuổi này

Hệ tuần hoàn: Đã phát triển hoàn thiện, mạch đập của nam vào

khoảng 70 - 75 lần/phút và nữ khoảng 75 - 80 lần/phút Sau vận động mạch

và huyết áp hồi phục tương đối nhanh, cho nên phù hợp với, những bài tập có khối lượng cường độ tương đối lớn

Tóm lại: Đây là giai đoạn thuận lợi nhất cho việc hoàn thiện các tố chất

thể lực Do sức mạnh cơ bắp và sức bền đã được phát triển rất lớn, khả năng

Trang 26

phối hợp vận động tốt lên rõ rệt Vì vậy, ở tuổi này có thể áp dụng tất cả các bài tập dùng sức mạnh và sức bền, tham gia tập luyện và thi đấu tất cả các môn thể thao rất tốt

Tất cả những điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho ta áp dụng các phương tiện và phương pháp tập luyện để giáo dục các tố chất thể lực Sự phát triển các tố chất thể lực theo lứa tuổi, quá trình hình thành và phát triển các tố chất thể lực luôn có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành các kĩ năng vận động

và mức độ phát triển của cơ quan và hệ cơ của cơ thể

Sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình trưởng thành xảy ra không đồng đều, các tố chất đều có những giai đoạn phát triển với nhịp điệu nhanh và những giai đoạn phát triển tương đối chậm; ngoài ra sự phát triển các tố chất xảy ra không đồng bộ, mỗi tố chất phát triển theo một nhịp độ riêng vào những thời kỳ khác nhau và đạt đến mức phát triển cao ở những thời kỳ khác nhau

Vấn đề giáo dục sức bền ở lứa tuổi này đặc biệt thuận lợi vì khối lượng tim và mạch máu đều đã đến mức tiêu chuẩn, hoạt động của tim ổn định hệ thần kinh phát triển đầy đủ Hệ thống tín hiệu thứ hai đã đạt tới mức hoàn chỉnh, ngôn ngữ bên trong và bên ngoài rất phong phú Trong khi hệ thần kinh phát triển đầy đủ thì cấu trúc nội tế bào của não lại trở nên phức tạp hơn nhiều so với thời kỳ trước, số các sợi thớ liên hiệp tăng lên, các quá trình hưng phấn và ức chế cũng như mối liên hệ giữa chúng được hoàn thiện

Trong quá trình trưởng thành của cơ thể, tố chất sức mạnh biến đổi đáng

kể trong các hoạt động tĩnh lực cũng như động lực Sức mạnh tĩnh lực được đánh giá bằng thời gian duy trì một gắng sức tĩnh nào đó Chỉ số này tăng dần theo lứa tuổi, mặc dù khác nhau giữa các nhóm cơ

Sức mạnh động lực được đánh giá cao bằng khả năng hoạt động thể lực

cụ thể qua các chỉ số hoạt động trên xe đạp lực kế 2700kgm/phút ở lứa tuổi

Trang 27

Tóm lại: Từ những đặc điểm tâm sinh lý nói trên đây, là thời kỳ phát

triển mạnh mẽ nhất về thể chất tinh thần và là giai đoạn thuận lợi cho việc hình thành các kỹ năng, kỹ xảo và việc phát triển các tố chất thể lực cho lứa tuổi này Các điều kiện thuận lợi về mặt sinh lý đó là sự phát triển hoàn thiện toàn bộ các hệ thống chức năng của cơ thể về mặt tâm lý, đặc điểm nổi bật là

sự nhận thức được vai trò địa vị của mình trong xã hội, nhận thức được nghề nghiệp mình đã chọn

Từ đó, các em có được sự nỗ lực rèn luyện ý chí, khắc phục khó khăn để đạt được mục đích của mình đã định; đây cũng là phẩm chất tâm lý quan

trọng trong giáo dục sức mạnh

1.5 Đặc điểm hoạt động chung trong chạy cự ly ngắn và nhảy xa [ 4], [9], [19], [24], [25]

1.5.1 Đặc điểm kỹ thuật chạy cự ly ngắn:

Hoạt động tốc độ đi và chạy phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: là độ dài bước và tần số bước

Độ dài bước phụ thuộc vào cấu trúc của cơ thể và sức nhanh của chân Tần số bước phụ thuộc vào tốc độ đưa chân, lực đạp sau, sự phối hợp với động tác đánh tay Tần số đánh tay tương ứng với tần số chạy của chân Vì vậy, VĐV muốn tăng nhanh tần số bước chân có thể tập tần số đánh tay

Trang 28

Tương quan giữa độ dài bước và tần số bước cần hợp lý Khi tăng tần số bước lên quá mức sẽ làm giảm độ dài bước dẫn tới giảm tốc độ, nếu tăng độ dài bước quá lớn thì sẽ sinh ra lực cản lớn làm tiêu hao năng lượng lớn

Môn chạy ngắn có các cự ly: 60m, 100m, 200m, 400m Môn chạy có

kỹ thuật động tác mang tính chu kỳ, với cường độ tối đa, chủ yếu phát triển tốc độ và sức bền tốc độ Đặc điểm chung kỹ thuật chạy ngắn là tốc độ cao nhất, cường độ lớn nhất, thư giãn ngắn nhất Thành tích toàn cự ly phụ thuộc vào các nhân tố: tốc độ phản xạ, sự tăng tốc, và năng lực duy trì tốc độ

1.5.2 Đặc điểm kỹ thuật nhảy xa:

Đặc điểm của môn nhảy xa là cần phải kéo dài khoảng cách bay trên

không do nỗ lực của người nhảy (sự phối hợp chặt chẽ giữa thần kinh và cơ)

trong lấy đà và giậm nhảy tạo nên Quỹ đạo của trọng tâm cơ thể trong lúc bay phụ thuộc vào tốc độ chạy đà, lực giậm nhảy và góc độ giậm nhảy

Tính chất hoạt động là dùng sức mạnh bột phát trong khoảng thời gian ngắn nhất để đạt thành tích tốt nhất

Cơ sở để nâng cao thành tích và hoàn thiện kỹ thuật, thể lực của người nhảy đều dựa trên cơ sở tập luyện chạy và các môn thể thao khác

1.6 Cơ sở lý luận trong giảng dạy chạy cự ly ngắn và nhảy xa

1.6.1 Cơ sở lý luận chung trong chạy ngắn và nhảy xa

1.6.1.1 Cơ sở lý luận chung trong chạy ngắn (100m):

Trong huấn luyện chạy cự ly ngắn (100m), nguyên tắc gắn liền giữa cường độ chạy và khối lượng vận động là mối quan hệ ngược Có nghĩa rằng, cường độ tăng thì khối lượng phải giảm và ngược lại

Chạy 50m, 60m, 100m là biện pháp cơ bản để hoàn thiện kỹ thuật của VĐV chạy cự ly ngắn nói chung và chạy 100m nói riêng Chạy các cự ly này còn góp phần giải quyết nhiệm vụ phát triển vượt ngưỡng tần số và độ dài bước Các VĐV chạy cự ly ngắn xuất sắc của thế giới là người có khả năng

Trang 29

tập trung để duy trì của tần số và độ dài bước chạy Hơn nữa, họ thực hiện điều đó cả trong quá trình chạy rất căng thẳng ở các cuộc thi đấu lớn Các VĐV có kinh nghiệm, khi chạy 100m đều có không dưới 3 - 4 lần để điều chỉnh tần số và độ dài bước, mục đích của việc này là duy trì tốc độ có được cho đến hết cự ly

Dựa vào cơ sở y sinh học, hoạt động cơ thể của VĐV chạy cự ly ngắn

trong thi đấu chủ yếu diễn ra từ 1s đến 45s (riêng chạy 100m thì diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn) Vì thế, việc huấn luyện cũng chỉ đưa vào kế

hoạch những bài tập hoạt động với cường độ tối đa trong khoảng thời gian đó, nhằm nâng cao năng lực vận động của VĐV

Các tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền tốc độ,

mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ sở sinh lý, lý

luận và phương pháp TDTT về tố chất thể lực, đề tài mạnh dạng đi sâu vào phân tích đặc điểm từng yếu tố Trong chạy 100m, với các tố chất trên thì tố chất sức nhanh và sức mạnh hầu như là hai yếu tố đặc trưng, có ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ tập luyện và thành tích của chạy 100m

+ Tố chất sức nhanh:

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động Người ta phân biệt 3 hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:

Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động

Trang 30

Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương

Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu ly tâm Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ

Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tích cực

Trong các giai đoạn thì giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất Những động tác chậm và đặc điểm sinh lý, nguyên do của sự khác biệt biểu hiện cơ bản ở chổ: khi thực hiện với tốc độ tối đa thì khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến trình thực hiện động tác sẽ gặp nhiều khó khăn Do

đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác trong các động tác rất nhanh và thực hiện với tần số cao Trong động tác với tốc độ lớn, hoạt động của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều

và thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường Người ta thừa nhận rằng tần

số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh, tức là phụ thuộc vào tốc độ luân chuyển giữa trạng thái hưng phấn và ức chế ở trung khu vận động

Nhiệm vụ chủ yếu của VĐV chạy ngắn (cự ly 100m) là mau chóng đạt được tốc độ tối đa và duy trì tốc độ đó đến hết cự ly Trong đó, giữa tần số và

độ dài bước có mâu thuẫn với nhau ở mức độ nhất định Vì vậy, trong thực tế VĐV chạy 100m không thể chạy với độ dài bước tối đa mà chỉ có thể chạy với tần số và độ dài bước nào đó hợp lý mà không làm giảm tốc độ trong khi chạy

Tóm lại: sức mạnh là một tổng hợp những đặc điểm chức năng của con

người xác định trực tiếp và chủ yếu tính chất nhanh của động tác, cũng như xác định thời gian của phản ứng vận động

Trong thực tế sức nhanh thể hiện ở các dạng như sau:

Sức nhanh phản xạ

Sức nhanh tăng tốc và sức nhanh thể hiện các động tác đơn

Tần số động tác

Trang 31

Sự tổng hợp các dạng sức nhanh trên

Cũng như sức mạnh, sức nhanh có những yếu tố là những điều kiện để phát huy nó Những yếu tố đó là:

+ Đặc điểm tâm lý: thể hiện sự nổ lực về ý chí của VĐV khi vận động

Thực tế hoạt động ở các môn thể thao khác nhau, dù có lực cản bên ngoài hay không có lực cản bên ngoài, việc hoàn thành các vận động với tốc độ hoàn toàn quyết định của bản thân VĐV Ở các môn không gặp trở ngại về vật cản,

sự nổ lực về bản thân để đạt đến tốc độ cao càng rõ rệt Ngoài ra, ở các đặc điểm này, trình độ kiến thúc giúp VĐV có quyết định chính xác và đúng mức với những thông báo bên ngoài

+ Đặc điểm sinh lý: trước hết được thể hiện ở đặc chất của cơ như số

lượng cơ tham gia hoạt động, sắp xếp giữa các cơ và trong các cơ bảo đảm tính phối hợp, đàn hồi, co giãn, thả lỏng trong vận động Bên cạnh đó, sự linh hoạt của hệ thần kinh cơ đảm bảo cho sự thay đổi thật nhanh giữa hưng phấn

và ức chế Đồng thời, dựa vào nguồn dự trữ năng lượng trong cơ thể (ATP, CP…) quá trình giải phóng năng lượng nhanh cũng có tác động tới sức nhanh

Trình độ của khả năng phối hợp vận động làm việc thực hiện yêu cầu vận động hợp lý hơn và tốc độ cao Trình độ của các tố chất khác, đặc biệt là sức mạnh đảm bảo cho các yêu cầu tăng tốc và sức nhanh nói chung

Sức mạnh trong quan hệ với sức nhanh có vai trò đóng góp tích cực rất lớn Sức mạnh càng cao càng bảo đảm cho trình độ sức nhanh càng tốt Tuy nhiên, tại một thời điểm ở một VĐV, sức mạnh và sức nhanh không đồng thời thể hiện ở mức tối đa được Lúc này nếu thể hiện sức mạnh càng cao thì sức nhanh thể hiện càng thấp và ngược lại

Trong trường hợp khác, sức mạnh càng lớn (đặc biệt là sức mạnh nhanh) lại là cơ sở cho sức nhanh Ví dụ trong nhảy cao, sức mạnh lớn tạo

điều kiện cho việc rút ngắn thời gian giậm nhảy

Trang 32

Sức bền cũng là một cơ sở để phát triển sức mạnh, nhất là những môn hoạt động có tính chất chu kỳ, sức nhanh phải đảm bảo một tần số theo yêu câu nhất định nhưng phải kéo dài trong một thời gian hay một cự ly nào đó Đồng thời qua tác dụng của sức bền, các hoạt động của hệ thống tim mạch ở VĐV được dễ dàng thích nghi với mọi tình huống động viên sức nhanh

Sức nhanh muốn phát triển cũng phải dựa trên cơ sở kỹ thuật Kỹ thuật tốt đảm bảo sự hợp lý trong phối hợp vận động và đảm bảo tốc độ cao trong vận động

+ Huấn luyện sức nhanh:

Huấn luyện sức nhanh phản xạ

Để nâng cao sức nhanh phản xạ, cần phải tập các bài tập với tín hiệu khác nhau Mỗi tín hiệu đòi hỏi VĐV phải có phản ứng hợp lý theo mục đích, dần dần phải tăng độ phức tạp của tín hiệu Yêu cầu của những bài tập này là phải rút ngắn thời gian phản ứng, tăng cường số tín hiệu và tăng cường độ khó của động tác

Với những môn thể thao có dụng cụ (như các môn bóng) hoặc tranh đấu với đối phương thì phải tập phát triển sức nhanh phản xạ với đối tượng di động Những bài học này cần đòi hỏi ở VĐV khả năng nhận biết đối tượng, phương hướng, tốc độ và có phản ứng nhanh nhất Những yêu cầu này được tăng dần về độ phức tạp như sự xuất hiện đột ngột của đối tượng, tốc độ di chuyển của đối tượng tăng dần, thu nhỏ hình dạng đối tượng và rút ngắn khoảng cách với đối tượng

Huấn luyện sức nhanh tăng tốc và sức nhanh trên cự ly:

Những bài tập nhằm phát triển sức nhanh tăng tốc và sức nhanh trên cự

ly là tất cả các bài tập thể chất được lựa chọn cho phù hợp với trình độ và giai đoạn huấn luyện của VĐV Các bài tập bằng các trò chơi hay các môn bóng

có tác dụng phát triển sức nhanh nói chung

Trang 33

Khi huấn luyện loại sức nhanh tăng tốc và sức nhanh trên cự ly phù hợp với môn chuyên sâu, người ta lựa chọn các bài tập chuyên môn nhất (có quá trình chuyển động gần giống với quá trình thi đấu, hoặc các bài tập có chứa các yếu tố riêng lẽ hay các nhóm thuộc tổ hợp các bài tập thi đấu) với LVĐ yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu sức mạnh và tần số động tác phù hợp với nhiệm vụ Huấn luyện sức nhanh phải luôn đặt VĐV tập luyện trong điều kiện sử dụng tốc độ gần tối đa

Độ dài cự ly ở đây cũng cần phải lưu ý yêu cầu cho phù hợp mới phát huy được khả năng tăng tốc Độ dài tốt nhất được tính từ lúc đạt được tốc độ cao nhất Vấn đề này hiện nay vẫn còn được nghiên cứu nhiều, song trong huấn luyện VĐV chạy ngắn (cự ly 100m) người ta thấy rằng độ dài cự ly để đạt được tốc độ tối đa từ 25 – 30m (Gundlach)

Việc tập luyện để phát triển tố chất nhanh đòi hỏi sự căng thăng thần kinh – cơ Vì vậy, trong quá trình huấn luyện phải sắp xếp thời gian cho từng buổi tập một cách hợp lý, nên sắp xếp LVĐ nhỏ Việc lặp lại các hoạt động tối ưu trong buổi tập khoảng 5 đến 10 lần Giữa những lần lặp lại phải được nghỉ đủ thời gian thích hợp với những bài tập, khi hoạt động mệt mỏi

Huấn luyện sức nhanh – bền:

Sức nhanh – bền phát huy trong hoạt động cũng như trong thi đấu thể thao phải có liên quan mật thiết tới sức bền Chúng ta biết rằng sau những vận động với cường độ thì trạng thái ức chế lan rộng Từ đó dẫn đến hiện tượng mệt mõi của các cơ quan vận động và giảm tốc độ Vì vậy, huấn luyện sức nhanh kết hợp với sức bền là một việc cần thiết

Để phát triển sức nhanh – bền trước hết phải lấy việc phát triển sức bền chung làm cơ sở Nó được tiến hành bởi các bài tập với khối lượng vận động nhỏ, cường độ thấp hoặc trung bình Trong các môn thể thao có tốc độ, nó có thể chiếm tỉ lệ 90% trong thời kì chuẩn bị

Trang 34

Sức bền là một năng lực có liên quan tới tố chất chuyên môn ở môn thể thao chuyên sâu Nó được lưu ý ở giai đoạn II của thời kì chuẩn bị và thời kì thi đấu trong quá trình huấn luyện Những bài tập nhằm nâng cao năng lực này cần đặt yêu cầu tốc độ phải đặt mức cao ở cự ly từ 2/3 cự ly thi đấu và cao nhất phải ở cự ly dài hơn cự ly thi đấu từ 10 – 20% Các cuộc thi đấu tập, thi đấu kiểm tra… cũng có tác dụng nâng cao năng lực này Đương nhiên, sau những bài tập với yêu cầu như trên thì thời gian nghỉ giữa quảng phải đủ và dài hơn nhưng không quá 10 phút để duy trì trạng thái hưng phấn Người ta thường xếp tập luyện sức nhanh bền từ 1 – 2 lần trong 1 tuần

Bảng 1.1: Tóm tắt khối lƣợng vận động trong huấn luyện sức nhanh

(số lần lặp lại)

Cường độ (tốc độ)

Thời gian nghỉ

Sức nhanh động tác đơn Nhỏ Gần tối đa – tối đa

Một số điểm cần lưu ý trong huấn luyện sức nhanh:

Ở các môn thể thao yêu cầu đạt tới tốc độ, ngoài việc xây dựng thành tích không khác ở các môn thể thao khác Điều cần chú ý là phải đặt kế hoạch từng bước với những yêu cầu hợp lý mới có hiệu quả và đề phòng được những tai nạn trong tập luyện

Trong huấn luyện sức nhanh, nhiều khi xuất hiện hiện tượng “ngưỡng tốc độ” (hiện tượng hàng rào tốc độ) Đây là một sự giới hạn tưởng tượng làm

giảm sự nâng cao khả năng tốc độ của VĐV mặc dù đã thực hiện các bài tập nhằm nâng cao khả năng này Các nhà nghiên cứu thấy rằng hiện tượng này

Trang 35

xuất hiện khi việc huấn luyện sức nhanh chỉ phiến diện vào các bài tập tốc độ trên cự ly ngắn mà xao nhản các biện pháp phát huy sức mạnh nhanh Hiện tượng này hay xảy ra với các VĐV trẻ Để khắc phục hiện tượng này cần cho VĐV tập trong các điều kiện giảm, nhẹ hơn bằng các biện pháp giúp đỡ tự nhiên hoặc có dụng cụ Các biện pháp tập với phương tiện có trình độ tương đương trở lên cũng có tác dụng loại trừ tất cả hiện tượng này Song, điều căn bản là trong huấn luyện phải chú ý ngăn chặn hiện tượng “ngưỡng tốc độ” xảy

ra, cũng tác động những bài tập nhằm nâng cao sức nhanh, gây ra sự căng thẳng đối với hệ thần kinh cơ nên dễ dàng xảy ra chấn thương trong tập luyện Bởi thế, phải khởi động thật kỹ, chuẩn bị các bài tập sức nhanh thật tốt Những bài tập sức nhanh phải được tiến hành khi cơ thể chưa mệt mõi và tránh tập luyện vào buổi sáng sớm nếu không khởi động kỹ lưỡng, nghỉ tập luyện sức nhanh nếu thấy xuất hiện hiện tượng chuột rút hoặc đau cơ phải cho ngừng tập luyện ngay Gặp thời tiết lạnh cần trang bị ấm cho VĐV và sau khi tập luyện sức nhanh phải áp dụng các biện pháp thả lỏng hoặc xoa bóp dưới

sự hướng dẫn của bác sĩ thể thao

+ Tố chất sức mạnh:

Sức mạnh là khả năng nâng cao thành tích thông qua các hoạt động cơ bắp nhằm khắc phục các lực cản cũng như có tác dụng chống lại những ngoại lực Để hiểu rõ hơn khái niệm sức mạnh trong huấn luyện thể thao nói chung

và ở chạy cự ly 100m trong môn Điền kinh nói riêng người ta thành 2 loại sức mạnh là ngoại lực và nội lực Ngoại lực là tác động bên ngoài của con người Những yếu tố gây ra ngoại lực như: gió, cát, trọng lượng cơ thể, dụng cụ…

Nội lực (còn gọi là lực tích cực hay lực cơ) là lực gây ra thông qua hoạt động

cơ bắp của con người Sức mạnh nội lực được thực hiện ở hai dạng chính gọi

là sức mạnh động lực và sức mạnh tĩnh lực

Trang 36

Sức mạnh động lực (đẳng trương) là sức mạnh được sinh ra do sự co giãn của cơ bắp, còn sức mạnh tĩnh lực (đẳng trường) là lực sinh ra do sự nổ

lực căng cơ không chuyển động Như vậy, sức mạnh động lực sinh ra có những yêu cầu khác nhau về lực thông qua hệ thần kinh cơ, còn sức mạnh tĩnh lực sinh ra các yêu cầu về lực đối với hệ thần kinh cơ không thay đổi

Tùy theo thời gian xuất hiện sức mạnh, sức mạnh động lực còn liên quan

đến sức nhanh (gọi là sức mạnh nhanh) Sức mạnh nhanh là khả năng khắc phục

các lực cản với tốc độ co cơ cao của VĐV, nhất là VĐV chạy cự ly 100m

Sức mạnh nhanh được đánh giá hay xác định ở các môn thể thao mang tính chất vận động không chu kỳ cũng như trong các động tác, các hành động nhanh, sức mạnh nhanh xuất hiện ở thời gian rất ngắn (1 – 3s) còn được gọi là sức mạnh bộc phát hay sức mạnh tốc độ

Trong huấn luyện sức mạnh nhanh phải đặt mục đích nâng cao tốc độ

co cơ đồng thời với việc nâng cao sức mạnh tối đa, vì sức mạnh tối đa càng phát triển càng tạo điều kiện cho sức nhanh phát triển Tùy theo yêu cầu chuyên môn phải đặt vấn đề sức mạnh, sức nhanh thành từng phần có trọng tâm để tiến tới phát triển sức mạnh nhanh Huấn luyện sức mạnh nhanh phải được tiến hành ở trạng thái không mệt mỏi Những lần nghỉ giữa các đợt phải tương đối dài từ 3 – 5 phút

1.6.1.2 Cơ sở lý luận chung trong nhảy xa:

Trong tập luyện và thi đấu nhảy xa, để đạt thành tích cao thì VĐV cần

có tầm vóc tốt, trình độ cao về sức mạnh - tốc độ và nắm vững kỹ thuật nhảy, trong hai giai đoạn chạy đà và giậm nhảy có ý nghĩa quyết định nhất đến thành tích môn nhảy Vì thành tích nhảy xa (S) về cơ bản phụ thuộc vào góc bay của thân thể khi rời đất và tốc độ bay ban đầu (Vo) Tốc độ bay phụ thuộc nhiều vào tốc độ đà tối đa có được trước lúc giậm nhảy và lực giậm nhảy

Về lý thuyết: Độ bay xa của lần nhảy được tính theo công thức

Trang 37

Vo Sin 2α

S = -

G Trong đó

S : là độ xa Vo: là tốc độ bay ban đầu

α : Là góc bay

G : Là gia tốc rơi tự do Tất cả các yếu tố trên tác động qua lại và quyết định trực tiếp đến thành tích của VĐV nhảy xa

1.6.2 Phân tích kỹ thuật chạy ngắn 100m và nhảy xa [4], [9], [19]

1.6.2.1 Phân tích kỹ thuật chạy ngắn 100m:

Kỹ thuật chạy 100m được chia một cách quy ước thành 4 giai đoạn: xuất phát, chạy lao sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích

Kỹ thuật xuất phát

Trong chạy ngắn người ta áp dụng cách xuất phát thấp vì kỹ thuật này giúp VĐV bắt đầu chạy nhanh hơn và sớm đạt được tốc độ cực đại trong khoảng thời gian ngắn Để xuất phát nhanh người ta sử dụng bàn đạp xuất phát đảm bảo cho VĐV có điểm tỳ vững chắc để đạp sau, sự ổn định khi đặt chân

Có 3 cách bố trí bàn đạp xuất phát cơ bản như sau:

+ Cách “thông thường”: bàn đạp trước đặt cách vạch xuất phát 1 đến

1,5 bàn chân, còn bàn đạp sau cách bàn đạp trước một khoảng bằng độ dài cẳng chân (gần 2 bàn chân)

+ Cách “kéo dãn”: VĐV rút ngắn khoảng cách giữa 2 bàn đạp xuống

còn một bàn chân hoặc ít hơn Khoảng cách từ bàn đạp trước đến vạch xuất phát gần 2 bàn chân (khoảng cách này được kéo dãn)

Trang 38

+ Cách “làm gần”: khoảng cách giữa 2 bàn đạp được rút ngắn lại còn

một bàn chân hoặc nhỏ hơn, song khoảng cách từ vạch xuất phát đến bàn đạp trước chỉ còn từ 1 đến 1,5 bàn chân (như vậy khoảng cách từ bàn đạp sau đến vạch xuất phát được làm gần lại)

Việc đặt bàn đạp xuất phát gần nhau bảo đảm sự nổ lực đồng thời của

cả 2 chân khi bắt đầu chạy và tạo cho người chạy gia tốc lớn hơn ở những bước đầu Song, vị trí gần nhau của 2 bàn chân và việc gần như đạp sau đồng thời của chúng gây trở ngại cho việc chuyển tiếp đạp sau luân phiên của từng chân ở những bước tiếp theo

Mặt tựa của bàn đạp trước nghiên dưới góc 45 – 500; mặt tựa của bàn đạp sau từ 60 - 800 Góc nghiên của mặt tựa bàn đạp thay đổi tùy thuộc vào khoảng cách đến vạch xuất phát

Khi bàn đạp được đặt gần vạch xuất phát thì góc nghiên mặt tựa bàn đạp giảm đi, còn khi kéo xa khỏi vạch xuất phát thì góc nghiên tăng lên Khoảng cách giữa 2 bàn đạp và việc đặt bàn đạp xa hay gần vạch xuất phát tùy thuộc vào đặc điểm cơ thể của VĐV, trình độ phát triển các tố chất nhanh, mạnh và các tố chất khác của họ

Theo khẩu lệnh “vào chỗ”, VĐV tiến ra trước 2 bàn đạp, ngồi xuống và

chống tay về phía trước vạch xuất phát Sau đó, VĐV chuyển chân từ phía trước ra phía sau, lần lượt tỳ bàn chân lên mặt tựa bàn đạp trước rồi đến bàn đạp sau, hai mũi giày chạm mặt đường Sau khi hạ gối của chân sau chạm đất, VĐV thu 2 tay về và đặt xuống sát sau vạch xuất phát Lúc này giữa ngón cái

và các ngón còn lại để sát nhau tạo thành vòm Hai tay duỗi thẳng tự nhiên, chống tỳ trên đất ở độ rộng bằng vai Thân trên thẳng, đầu duỗi thẳng so với thân trên và trọng lượng cơ thể được phân đều giữa 2 tay, chân chống trước

và đầu gối chân sau

Trang 39

Theo khẩu lệnh “sẵn sàng”, VĐV hơi duỗi chân, gối chân đặt sau tách

khỏi mặt đường làm trọng tâm hơi chuyển lên trên và ra trước Lúc này trọng lượng cơ thể dồn trên 2 tay và chân chống trước song song hình chiếu trọng tâm cơ thể trên đất, và cách vạch xuất phát 10 – 20cm và lúc này 2 cẳng chân hầu như song song với nhau Trong tư thế “sẵn sàng” điều cần lưu ý là không nên dồn trọng lượng cơ thể quá nhiều xuống 2 tay vì điều này ảnh hưởng xấu đến thời gian hoàn thành xuất phát thấp

Trong tư thế “sẵn sàng” góc gấp chân ở khớp gối có vai trò quan trọng

Việc tăng góc này (trong giới hạn nào đó) tạo điều kiện cho đạp sau nhanh hơn Trong tư thế sẵn sằng xuất phát, góc tối ưu giữa đùi và cẳng chân của chân tỳ trên bàn đạp trước khoảng 115 – 1380 Góc giữa thân trên và đùi chân trước khoảng 19 – 230

(V.Borzôp – 1980)

Trong tư thế “sẵn sàng”, VĐV không nên quá căng thẳng, gò bó Điều quan trọng lúc này là tập trung chú ý đợi tín hiệu xuất phát Khi nghe tiếng

súng (hay tín hiệu xuất phát khác) VĐV phải đột ngột lao nhanh về trước

Động tác này được bắt đầu bằng việc đạp mạnh 2 chân và đánh tay nhanh Đạp sau vào mặt tựa bàn đạp xuất phát được thực hiện đồng thời bằng cả 2 chân nhằm tạo ra áp lực lớn trên mặt tựa để đẩy cơ thể lao nhanh về trước, song thời gian đạp cả 2 chân rất ngắn Chân sau chỉ hơi duỗi thẳng và sau đó nhanh chóng đưa đùi về phía trước, trong khi đó chân trước đột ngột duỗi thẳng trong tất cả các khớp

Trong bước đầu tiên, góc đạp sau từ bàn đạp của những VĐV chạy ngắn cấp cao khoảng 42 – 500, đùi chân lăng tạo với thân trên một góc gần

300 Tư thế nêu trên giúp cho lực đạp đẩy cơ thể về phía trước nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho đạp sau mạnh và giữ được độ nghiên nói chung của cơ thể trong những bước chạy đầu tiên

Trang 40

Kỹ thuật chạy lao sau xuất phát

Để đạt được thành tích trong chạy ngắn, điều quan trọng trong xuất phát là nhanh chóng đạt được tốc độ gần cực đại trong giai đoạn chạy lao

Thực hiện đúng và nhanh các bước chạy từ lúc xuất phát phụ thuộc vào

độ lao của cơ thể dưới một góc nhọn so với mặt đường chạy, cũng như vào sức mạnh, sức nhanh của VĐV Bước đầu tiên được kết thúc bằng việc duỗi thẳng hoàn toàn của chân đạp sau khỏi bàn đạp trước và việc nâng đùi đồng thời của chân kia lên Bước đầu tiên kết thúc bằng việc tích cực hạ chân xuống dưới – ra sau và chuyển thành đạp sau mạnh Động tác này thực hiện càng nhanh thì việc đạp sau tiếp theo xảy ra càng nhanh và mạnh

Trong một vài bước chạy đầu tiên, VĐV đặt chân trên đường ở phía sau hình chiếu của tổng trọng tâm cơ thể Ở những bước tiếp theo, chân đặt trên hình chiếu của tổng trọng tâm và sau đó thì đặt chân ở phía trước hình chiếu của tổng trọng tâm

Cùng với việc tăng tốc độ, độ nghiên thân trên về trước của VĐV giảm

đi và kỹ thuật chạy lao dẫn chuyển sang kỹ thuật chạy giữa quãng Chạy giữa quãng thường bắt đầu từ mét thứ 25 – 30 (khoảng sau 13 – 15 bước chạy), khi đạt 90 – 95% tốc độ tối đa Song, không có giới hạn chính xác giữa chạy lao sau xuất phát và chạy giữa quãng Các VĐV cấp cao cần tính toán để đạt được tốc độ cực đại ở mét thứ 50 – 60

Các VĐV chạy 100m bất kỳ đẳng cấp và lứa tuổi nào, trong giây đầu tiên sau xuất phát cần đạt được 55% tốc độ tối đa; trong giây thứ 2 là 76%; trong giây thứ 3 là 91%; trong giây thứ 4 là 95%; trong giây thứ 5 là 99%

Tốc độ chạy lao sau xuất phát được tăng lên chủ yếu do tăng độ dài bước chạy và một phần không nhiều do tăng tần số bước Việc tăng độ dài bước chủ yếu đến từ bước thứ 8 đến bước thứ 10 (bước sau dài hơn bước trước từ 10 – 15cm), sau đó thì độ dài bước được tăng ít hơn (4 – 8cm) Việc

Ngày đăng: 23/12/2020, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w