1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác các đường đồng quy của tam giác, toán 7 – tập hai

173 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔ ĐUN PHẦN “QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ TRONG TAM GIÁC.. Các tác giả đi sâu nghiên cứu cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

NGUYỄN ANH CHƯƠNG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

THÔNG QUA TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔ ĐUN PHẦN QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ TRONG TAM GIÁC CÁC ĐƯỜNG ĐỒNG QUY CỦA TAM GIÁC, TOÁN 7 – TẬP HAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Toán

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ MINH CƯỜNG

ĐỒNG THÁP – NĂM 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên trong luận văn, tác giả trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô giáo

đã tham gia giảng dạy trong suốt quá trình học tại Trường Đại học Đồng Tháp Quý Thầy, Cô đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Lê Minh Cường - Người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, đồng nghiệp, bạn bè và các em học sinh Trường THCS Tràm Chim - Tam Nông - Đồng Tháp đã tạo đều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng tác giả xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình

đã giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Dù đã rất cố gắng, xong luận văn cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô giáo và các bạn

Đồng tháp, ngày 29 tháng 10 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Chương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Chương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Hoạt động và quá trình tự học 7

1.1.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học 7

1.1.2 Quá trình tự học 9

1.1.3 Vai trò của tự học trong hoạt động học tập 15

1.2 Năng lực tự học toán của học sinh Trung học cơ sở 17

1.2.1 Vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy tự học 17

1.2.2 Các thành tố của năng lực tự học toán của học sinh Trung học cơ sở 23

1.3 Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun 26

1.3.2 Cấu trúc của tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun 28

1.3.3 Quy trình thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun 29

1.4 Vị trí, mục tiêu, nội dung của phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” 30

1.5 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy môn Toán ở trường Trung học cơ sở 34

1.5.1 Mục đích khảo sát 34

1.5.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 34

1.5.3 Nội dung khảo sát 34

1.5.4 Kết quả khảo sát 35

Trang 5

1.6 Kết luận chương 1 42

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔ ĐUN PHẦN “QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ TRONG TAM GIÁC CÁC ĐƯỜNG ĐỒNG QUY CỦA TAM GIÁC” 43

2.1 Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” 43

2.1.1 Tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” với nội dung lý thuyết 44

2.1.2 Tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” với nội dung bài tập 55 2.2 Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun 63

2.2.1 Biện pháp 1: Hình thành động cơ tự học 63

2.2.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu 65

2.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường một số bài tập thực tiễn vào giờ luyện tập 69

2.2.4 Biện pháp 4: Rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm 71

2.3 Kết luận chương 2 73

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 75

3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 75

3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 76

3.4 Kết quả thực nghiệm 78

3.4.1 Đánh giá về mặt định tính 78

3.4.2 Đánh giá về mặt định lượng 80

3.5 Kết luận chương 3 83

Trang 6

KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2: Kết quả điều tra về hứng thú tự học với môn toán 35 Bảng 3.1: Kết quả đánh giá tài liệu TH có hướng dẫn của GV 79 Bảng 3.2: Kết quả đánh giá tài liệu TH có hướng dẫn của HS 80 Bảng 3.3: Bảng phân bố điểm của lớp TN và nhóm lớp ĐC sau khi

Bảng 3.4: Bảng phân bố tần suất điểm kiểm tra 81 Bảng 3.5: Bảng phân bố tần suất tích lũy hội tụ lùi điểm kiểm tra 82

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

Biểu đồ

Biểu đồ 1.1: Thực trạng nhận thức của HS về vai trò của môn toán

Biểu đồ 1.2: Mục đích tự học toán của học sinh 37 Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố tần số điểm kiểm tra sau khi đã TN 81 Biểu đồ 3.2: Biểu đồ biểu diễn đường tần suất lũy tích hội tụ lùi của

lớp TN và lớp ĐC sau khi thực nghiệm 82

Sơ đồ

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc vĩ mô của hoạt động 7

Sơ đồ 1.3: Tự học có hướng dẫn theo mô đun 26

Sơ đồ 1.4: Cấu trúc tổng quát của một mô đun dạy học 28

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học (TH) được quan tâm từ rất sớm Ý tưởng dạy học coi trọng người học, chú ý đến TH đã có từ thời cổ đại, tùy theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển và trở thành quan điểm dạy học tích cực Bồi dưỡng năng lực tự học (NLTH) cho học sinh (HS) là điều rất quan trọng và cần thiết trong điều kiện hiện nay Trong thời đại khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh chóng, nhà trường dẫu tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học Vì vậy, chỉ có TH, tự bồi dưỡng mỗi người mới có thể bù đắp cho mình những lỗ hổng về kiến thức để thích ứng với nhu cầu cuộc sống đang phát triển Trong tác phẩm “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn” có khẳng định: học tập suốt đời là một trong những chìa khóa nhằm vượt qua thách thức của thế kỷ XXI, Học tập suốt đời sẽ giúp con người đáp ứng được những yêu cầu của một thế giới thay đổi nhanh chóng Không thể thỏa mãn những đòi hỏi đó được nếu người học không học cách học “Học cách học” chính là học cách TH, tự đào tạo

Vấn đề tự học luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và trở thành một chính sách quan trọng thể hiện qua Điều 28 của Luật giáo dục năm

2009 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục), ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” [12, tr.27] Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 đã nêu rõ:

“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung

Trang 11

dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [1, tr.5] Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 9/6/2014 đã xác định:

“Triển khai đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; phát triển năng lực và phẩm chất người học; chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống; nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo

và ý thức tự học” [2, tr.4]

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, TH là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học môn Toán Hoạt động học tập của HS ngày nay đang diễn ra trong những điều kiện hết sức mới mẻ Sự hình thành xã hội thông tin trong nền kinh tế tri thức đang tạo điều kiện nhưng đồng thời gây sức ép lớn đối với HS, đòi hỏi các em có sự thay đổi lớn trong việc định hướng, lựa chọn thông tin cũng như phương pháp tiếp nhận,

xử lý, lưu trữ thông tin Trong hoàn cảnh ấy, tri thức Toán học mà HS tiếp nhận thông qua bài giảng của giáo viên (GV) trên lớp trở nên ít ỏi HS đang có xu hướng vượt ra khỏi bài giảng trên lớp để tìm kiếm, mở rộng, đào sâu tri thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Chính vì vậy, TH trở nên phổ biến và trở thành một tính chất đặc trưng trong dạy học Bồi dưỡng NLTH cho HS chính

là khâu then chốt để tạo ra “nội lực” nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán Tuy nhiên, trong thực tế NLTH của HS còn nhiều hạn chế, hơn nữa những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng NLTH môn Toán cho HS thông qua các phương tiện dạy học hiện đại còn chưa được phổ biến Việc bồi dưỡng

Trang 12

NLTH cho HS trở thành một yêu cầu cấp bách, một nhiệm vụ quan trọng trong dạy học hiện nay

Trong phân môn hình học ở Trung học cơ sở mọi vấn đề: chứng minh các cạnh bằng nhau, chứng minh các góc bằng nhau, chứng minh tam giác đặc biệt, chứng minh tứ giác đặc biệt, chứng minh tam giác đồng dạng, đều xuất phát

từ những vấn đề trọng tâm của Hình học 7: hai đường thẳng song song, hai đường thẳng vuông góc, hai tam giác bằng nhau, các đường đồng quy trong tam giác, Chính vì vậy, việc giúp các em tự học tốt chương trình Hình học 7 nói chung và phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” nói riêng luôn là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các giáo viên giảng dạy môn toán

Mô đun dạy học là một đơn vị chương trình dạy học được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và công cụ đánh giá kết quả học tập, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn chỉnh Mô đun dạy học có nhiều cấp độ:

mô đun lớn gồm các mô đun thứ cấp và mô đun thứ cấp gồm các mô đun nhỏ Trong quá trình dạy học môn Toán hướng đến dạy tự học ở trường Trung học

cơ sở (THCS), HS sẽ thuận lợi hơn khi tự học với tài liệu có hướng dẫn theo

mô đun Mỗi mô đun dạy học là một phương tiện tự học hiệu quả vì nó tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, được phân chia thành từng phần nhỏ với mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể và các bài kiểm tra đánh giá tương ứng Trong một bài học, sau khi học xong mô đun nhỏ này HS sẽ học sang mô đun nhỏ tiếp theo và cứ như thế HS sẽ hoàn thành nhiệm vụ học tập

và chiếm lĩnh được tri thức Do tính độc lập tương đối về nội dung dạy học, GV

có thể “lắp ghép”, “tháo gỡ” các mô đun để xây dựng những chương trình dạy học đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu dạy học kiểu phân hóa, cá thể hóa, còn

Trang 13

HS dưới sự hướng dẫn của GV có thể tự học theo nhịp độ cá nhân phù hợp với bản thân mình

Vấn đề tự học, tự học tiếp cận theo mô đun, các năm gần đây cũng có một

số tác giả nghiên cứu và đề cập đến như: Dương Huy Cẩn [8], Nguyễn Văn Trung [21], Phan Thị Phương Thảo [22] Các tác giả đi sâu nghiên cứu các biện pháp nhằm tăng cường năng lực tự học cho người học, mà chưa đưa ra phương hướng, nguyên tắc, quy trình xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun cũng như các hình thức sử dụng tài liệu sao cho hiệu quả Tóm lại nghiên cứu về mô đun và mô đun dạy học đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu dưới các góc độ khác nhau, ở nhiều môn học khác nhau nhưng các tác giả đều có chung một hướng khi nghiên cứu về mô đun là làm rõ hơn bản chất, đặc trưng của mô đun nhằm phát huy hiệu quả của mô đun trong quá trình đào tạo Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có khung lý thuyết nào về tài liệu có hướng dẫn theo mô đun được chấp nhận rộng rãi trong điều kiện hiện nay; chưa có tài liệu

tự học nào có hướng dẫn theo mô đun trong dạy học toán THCS; chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ thống về bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong việc sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác, Toán 7 - Tập hai”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, xác định các thành tố của NLTH toán và đề xuất một số biện pháp nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 14

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLTH của học sinh THCS Từ đó xác định các thành tố của NLTH toán của HS ở trường THCS

3.2 Điều tra, đánh giá thực trạng tự học và bồi dưỡng NLTH cho HS ở trường THCS

3.3 Biên soạn tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” góp phần bồi dưỡng NLTH cho HS

3.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác”

3.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được những thành tố của NLTH toán của HS trong phần “Quan

hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” từ đó đề xuất một số biện pháp dạy học phù hợp thì có thể góp phần bồi dưỡng NLTH toán cho HS

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự học phần “Quan hệ giữa các yếu

tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác”

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề tự học của HS thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun nội dung “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác.” ở trường THCS

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu các tài liệu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học theo hướng phát triển NLTH, việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun trong dạy học môn Toán

Trang 15

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng bồi dưỡng NLTH và thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun trong dạy học môn Toán cho HS hiện nay

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả và khả thi của đề tài

6.4 Phương pháp thống kê toán học: Phân tích định tính, định lượng từ đó rút ra kết luận liên quan đến các nội dung được phân tích

7 Đóng góp của luận văn

7.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học theo định hướng phát triển NLTH cho HS, thiết kế được tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun trong dạy học môn Toán ở trường THCS

7.2 Đề xuất được một số biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS lớp 7 thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác”

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thông qua tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác”

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Hoạt động và quá trình tự học

1.1.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học

Hoạt động là một khái niệm của tâm lý học hiện đại Một hoạt động bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định Hai hoạt động khác nhau được phân biệt bởi hai đối tượng khác nhau và đối tượng là động cơ thực sự của hoạt động

Về phía đối tượng: Động cơ được thể hiện thành các nhu cầu Các nhu cầu

đó được sinh ra từ một đối tượng ban đầu còn trừu tượng, ngày càng phát triển

rõ ràng, cụ thể hơn và được chốt lại ở hệ thống các mục đích Mỗi mục đích, lại phải thoả mãn một loạt các điều kiện (hay còn gọi các phương tiện) Mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và điều kiện được coi là nhiệm vụ

Về phía chủ thể: Chủ thể dùng sức căng cơ bắp, thần kinh, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn, để thỏa mãn động cơ gọi là hoạt động Quá trình chiếm lĩnh từng mục đích gọi là hành động Mỗi điều kiện để đạt từng mục đích, lại quy định cách thức hành động gọi là thao tác

Những điều mô tả trên chính là quan điểm của A.N Lêônchiev được biểu diễn bởi sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc vĩ mô của hoạt động

Điều kiện (Phương tiện) Thao tác

Phía đối tượng Phía chủ thể

Trang 17

Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó hoạt động học là trung tâm

Một số khía cạnh cơ bản của hoạt động học tập:

- Về cấu trúc hoạt động:

+ Động cơ: Nắm lấy tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hoặc tự hoàn thiện bản thân + Mục đích: HS phải vượt ra khỏi giới hạn những kiến thức đã có để đạt tới những cái mà các em chưa có Vì thế nhiệm vụ học tập thường được đề ra dưới hình thức “bài toán” có vấn đề

+ HS giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ vào các hành động học tập cụ thể như: tách các vấn đề từ nhiệm vụ; vạch phương hướng giải quyết trên cơ sở phân tích các mối quan hệ trong tài liệu học tập; mô hình hóa, cụ thể hóa các mối quan hệ đó; kiểm tra tiến trình và kết quả học tập

+ Các hành động trên được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, suy luận lôgic, Tuy nhiên toàn bộ quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có điều kiện là sự kích thích nhất định trong các giai đoạn: phát hiện vấn đề; nhận thấy có mâu thuẫn, hình thành động cơ, tìm tòi và khái quát hóa,

- Về hình thức:

Hoạt động học điển hình có thể diễn ra trong thời gian trên lớp, khi GV thực hiện vai trò chỉ đạo, hướng dẫn hoặc trong khi hoạt động độc lập trên lớp

và cả khi làm bài tập ở nhà

Hoạt động học có mối quan hệ khắn khít, chặt chẽ với hoạt động dạy, trình

tự các bước trong hoạt động học hoàn toàn thống nhất với trình tự các bước trong hoạt động dạy Nếu GV vạch ra các nhiệm vụ, hành động học tập sắp tới của HS bằng các biện pháp thích hợp và kích thích chúng thì HS sẽ tiếp nhận các nhiệm vụ đó, thực hiện các hành động học tập đề ra; nếu GV kiểm tra hành

Trang 18

động của HS và điều chỉnh hành động dạy của mình thì HS cũng điều chỉnh hành động học của mình,

+ Ý thức được vấn đề (vạch được nội dung, có biểu tượng chung nhất về

sự kiện, nắm được quá trình hình thành và phát triển của sự kiện đó)

+ Nắm được vấn đề (vạch được bản chất bên trong của các hiện tượng) + Sáng tỏ vấn đề (biết cách tìm ra lối thoát khi gặp khó khăn)

- Về cơ chế của hoạt động học tập:

Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều khá thống nhất với quan điểm của Piaget [14], đó là coi học tập là một quá trình kép: + Thứ nhất, là quá trình tiếp nhận, đó là sự tiếp thu các thông tin từ môi trường xung quanh và việc xử lý các thông tin mới đó với các cấu trúc nhận thức đã đạt được từ trước

+ Thứ hai, là quá trình thích nghi, đó là sự thích ứng và biến đổi các cấu trúc nhận thức đã có đối với các tác động của các thông tin từ môi trường nhằm làm cho cấu trúc nhận thức này tiến triển Trong quá trình này, mọi thao tác của con người đều nhằm thực hiện đồng hoá và điều ứng

Tiếp cận từ góc độ lý luận dạy học: Bản chất của hoạt động học là một quá trình nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo Đó là một quá trình nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Trong quá trình đó, HS phải tích cực vận dụng các thao tác tư duy để lĩnh hội tài liệu, ghi nhớ kiến thức, luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ôn tập, khái quát hoá, hệ thống hoá tài liệu, tự kiểm tra đánh giá,

Trang 19

Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả

cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động

cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan,

ý chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó” [20, tr.59-60] Như vậy theo tác giả, tự học bao gồm nhiều thao tác, hành động tích cực, tự chủ và có ý thức cao của bản thân người học, tự học là hoạt động diễn ra ngoài giờ lên lớp

và không có sự giáp mặt giữa thầy và trò

Thái Duy Tuyên quan niệm: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học” [24] Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học dưới góc

độ nhận thức của người học, người học hoàn toàn độc lập để có thể chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của xã hội

Theo Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [4, tr.3] Tác giả trong quan điểm này lại coi tự học như là một biện pháp, cách thức để chiếm lĩnh tri thức

Nguyễn Ngọc Bảo quan niệm: “Tự học là việc người học có thể tự mình tìm ra kiến thức, khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động học, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình” [3].Với quan điểm này tác giả coi

tự học là một hoạt động hoàn toàn độc lập của bản thân người học, người học

tự quyết định cách thức, phương pháp học mà không cần đến sự giúp đỡ, điều khiển của GV

Lưu Xuân Mới quan niệm: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của

cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân tiến

Trang 20

hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở ĐH

có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học” [13] Theo tác giả, tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản, có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân, nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học

“Tự học có thể quan niệm như là một phương pháp dạy học bởi nó liên quan trực tiếp tới cách thức giảng dạy của GV và cách thức học tập của trò Hiệu quả của hoạt động tự học phụ thuộc không nhỏ vào phương pháp dạy học của GV” [23, tr.17]

G.D.Sharma cho rằng: “Một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp cá nhân lĩnh hội được những tri thức và kỹ năng khác nhau một cách thỏa đáng gọi là phương pháp tự học” [16] Ở đây tác giả lại nhìn nhận tự học như là một phương pháp dạy học diễn ra dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người GV trong quá trình dạy học

Sự khác biệt về quan niệm tự học nêu trên của các tác giả là do các góc độ nghiên cứu khác nhau về tự học Có tác giả nghiên cứu tự học là một hoạt động hoàn toàn độc lập, không có sự giúp đỡ của GV Có tác giả lại nghiên cứu sự

tự học là hoạt động trong mối quan hệ thống nhất với hoạt động dạy

Các tác giả tuy có những lập luận khác nhau trong quan niệm tự học, nhưng đều có điểm chung khi nói về tự học Đó là hình thức hoạt động nhận thức độc lập, tích cực, tự giác ở mức độ cao; tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ, chân tay, nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê của cá nhân; tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, một kết luận khác; tự học là tự mình tìm

ra tri thức, tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình thông qua các

Trang 21

hành động cụ thể và bằng vốn tri thức sẵn có, lòng ham học hỏi, ý chí quyết tâm của bản thân để đạt được mục đích nhất định

Tóm lại theo chúng tôi “Tự học là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân, tự học là tự mình quyết định ý thức trách nhiệm đối với việc học, tự lựa chọn mục tiêu, nội dung, các phương pháp học, tự tổ chức, xây dựng tiến trình học tập và tự kiểm tra, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và cả kinh nghiệm lịch sử của nhân loại Tự học có thể được hướng dẫn bởi GV, cũng có thể người học tự học trong quá trình dạy học có hướng dẫn, người học có thể tự học một cách độc lập thông qua các tư liệu (tài liệu dạng văn bản, dạng số hóa, ) Tự học là nền tảng để học tập suốt đời

Đối với học sinh tùy thuộc vào cách thức thể hiện mối quan hệ giữa người học

và tài liệu học tập, giáo viên… có thể có các hình thức tự học cơ bản sau [19]:

- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học không đến trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, đánh giá, tiến trình học tập của cá nhân

- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không trực tiếp với thầy

mà chủ yếu nghe giảng giải qua phương tiện truyền thông, học từ xa

Trang 22

- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu: Người học trực tiếp làm việc với tài liệu hướng dẫn Tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu để tìm kiếm, bổ sung hoàn thiện kiến thức

- Tự học thường xuyên trong quá trình học tập: Học bài và làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc làm của bất cứ một người học nào

- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của GV, biến quá trình dạy học thành quá trình tự đào tạo, đó là quá trình dạy – tự học

* Các cấp độ tự học

Theo tiến sĩ Lê Hiển Dương [10], có thể phân hoạt động TH theo hai cấp độ: Cấp độ thấp: Nhiều nhà tâm lý cho rằng hoạt động sáng tạo của một nhà bác học bắt nguồn từ nhu cầu bẩm sinh và sinh lý của con người, nhu cầu thúc đẩy bản năng mạnh mẽ của tự nhiên Theo họ, bản năng sáng tạo hòa nhập với phản xạ hướng về đích Viện sĩ Pavlop cho rằng: phản xạ hướng về đích là biểu hiện năng lượng sống của mỗi cá nhân Cấp độ thấp của TH thể hiện ở cơ chế học có cấu trúc hai thành phần: kích thích « phản ứng Ở cấp độ này, thì việc

TH của con người là hiện tượng tự nhiên, mang nhiều bản năng

Cấp độ cao: Cấp độ cao của hoạt động TH là hoạt động nhận thức thể hiện

ở cơ chế học: học kết hợp học cá nhân với học hợp tác TH cấp độ cao gắn liền với kinh nghiệm của HS, gắn liền với sự phát triển sâu sắc ngôn ngữ khoa học của người học TH ở cấp độ cao là cốt lõi của việc học, là “quá trình phát triển nội tại, quá trình kết hợp học cá nhân với học hợp tác, trong đó chủ thể tự biến đổi mình từ trình độ phát triển hiện tại đến trình độ tiềm tàng” [20]

Cũng có thể chia ra nhiều cấp độ TH khác: TH ở cấp độ thấp là bước đầu làm quen để học cách học; cấp độ cao hơn là hình thành và rèn luyện kỹ năng TH; cấp độ tiếp theo là ý thức được việc học, biết chủ động việc học; cuối cùng

là đam mê TH

Trang 23

Người học

Độngcơ

Lập kế hoạch

Thực hiện

Tự Kiểm tra-Tự điều chỉnh

1.1.2.2 Quá trình tự học

Quá trình TH là quá trình xuất phát từ sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ các dự định, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích luỹ kinh nghiệm, tri thức và lao động học tập nhằm đạt được kết quả nhận thức Quá trình TH là một quá trình lâu dài, xuyên suốt cuộc đời của một con người để có thể sống và hoạt động đáp ứng được yêu cầu của xã hội Ở đây, chúng tôi chỉ nghiên cứu quá trình TH của HS khi còn học trên ghế nhà trường

Theo Thái Duy Tuyên [25], Trần Bá Hoành [11] quá trình tự học bao gồm các bước: 1 Hình thành động cơ tự học; 2 Lập kế hoạch học tập; 3 Thực hiện

kế hoạch; 4 Tự kiểm tra việc thực hiện kế hoạch

Từ các kết quả tự học của HS sẽ nảy sinh các động cơ tự học mới, làm khởi đầu cho hoạt động tự học tiếp theo Như vậy, quá trình tự học gồm nhiều quá trình đồng hóa và điều ứng kế tiếp nhau

Để đúc kết kinh nghiệm trong việc học, người học đánh giá mình đã đạt được những mục tiêu đã đề ra ban đầu chưa và phương pháp thực hiện có hiệu quả không, để qua đó họ tự điều chỉnh việc hoạch định và thực hiện kế hoạch học tập của mình Để làm rõ hơn chúng tôi minh họa quá trình tự học bằng vòng tròn khép kín sau:

Sơ đồ 1.2: Quá trình tự học

a

a a

a

Trang 24

Như vậy, để việc tự học đạt được mục đích, GV có các biện pháp phù hợp

để HS tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, tham gia các hoạt động học tập và chủ động xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình tự học của cá nhân với ý thức trách nhiệm cao

1.1.3 Vai trò của tự học trong hoạt động học tập

Theo Nguyễn Cảnh Toàn - Nguyễn Kỳ - Lê Khánh Bằng - Vũ Văn Tảo [19]: Vai trò của tự học với tư cách là nội lực, cốt lõi của học là tự học Nói đến

tự học là nói đến nội lực và ngoại lực của người học Mối quan hệ giữa dạy học

và tự học là mối quan hệ giữa ngoại lực và nội lực Nội lực là quá trình chuyển đổi bên trong (của bản thân người học), ngoại lực là những quá trình biến đổi bên ngoài như tác động của GV, môi trường, bạn bè…hai quá trình này thống nhất tạo nên sự phát triển của tự học

Các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động và giao lưu của con người Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo

và đạt được mục tiêu giáo dục là học bằng hoạt động tự học, tự nghiên cứu của

HS, thông qua chính bằng hoạt động tự lực, chiếm lĩnh kiến thức mà hình thành năng lực và thái độ cho HS Trong xu thế toàn cầu hóa, học tập suốt đời là một trong những chìa khóa nhằm vượt qua những thử thách của thế kỷ XXI

Qua nghiên cứu vai trò tự học đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng: HS muốn học tập tốt thì phải do chính sự nỗ lực phấn đấu TH của bản thân không

ai có thể làm thay bởi vì quá trình nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đó là quá trình tự khám phá của HS Tác động của GV đối với HS trong nhà trường rất quan trọng nhưng tác động đó vẫn là ngoại lực đóng vai trò hỗ trợ cho HS trong quá trình học tập như bài giảng trên lớp, hướng dẫn giải bài tập, phương pháp tự học…Chính sự nỗ lực học tập của bản thân HS mới đem lại hiệu quả cao và vững chắc là nhân tố quyết định chất lượng học tập Giáo viên giỏi góp

Trang 25

phần quan trọng đến sự phát triển tư duy của HS Tuy nhiên, GV giỏi cố gắng đến đâu nếu không có quyết tâm tự học, tự nỗ lực của bản thân HS thì kết quả học tập cũng chỉ đạt ở mức độ hạn chế Mối liên hệ giữa dạy và TH tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ với nhau tức là GV giỏi nhiệt tình, tâm quyết với nghề nghiệp; HS quyết tâm học tập và phải thường xuyên tự học, tự tìm tòi làm giàu thêm kiến thức cho bản thân mình thì kết quả học tập mới có thể đạt đỉnh cao

HS cần phải có ý thức tự học nghiêm túc, phát huy nội lực của bản thân ngay cả khi có GV bên cạnh; không ỷ lại vào sự giúp đỡ của GV mà phải có thái độ tự lực Tác động dạy, hướng dẫn của GV là quan trọng nhưng vẫn là ngoại lực giúp HS tự phát triển, việc tự học của HS mới là nhân tố quyết định

sự phát triển của bản thân của chính mình

Tự học đạt hiệu quả đòi hỏi người học phải kiên trì, vượt qua khó khăn, thái độ học tập nghiêm túc, có tinh thần tự giác, quyết tâm cao không phải đợi đến sự nhắc nhở, giúp đỡ của GV mới chú ý học tập, người học phải siêng năng, cần cù say sưa học tập Muốn đạt được điều đó thì người học phải có ý thức rèn luyện trở thành thói quen tự học, tự tìm tòi làm giàu thêm kiến thức cho bản thân mình về mọi lĩnh vực Khi đã trở thành thói quen ham mê, hứng thú tự học

và tự học có kết quả thì việc thích thú TH không kém gì các hoạt động vui chơi giải trí khác Để làm được điều đó thì ở trường GV cần phải giúp cho HS có ý thức, thói quen và biết cách tự học

Học sinh học ở nhà trường một thời gian nhất định và các kiến thức HS học tập được là có hạn, chỉ làm nền tảng để có thể tự tìm hiểu học tập thêm cả thời gian dài còn lại Không một nhà trường nào trang bị đầy đủ cho HS tất cả kiến thức bao la ngoài xã hội Vì thế khi HS rời khỏi ghế nhà trường còn phải

TH thêm rất nhiều kiến thức trong cuộc sống và thực tiễn công tác Kiến thức

xã hội vô cùng phong phú, luôn biến động và phát triển không ngừng nhất là ở thời đại bùng nổ thông tin, sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật và công

Trang 26

nghệ hiện đại đòi hỏi con người phải tự học, tự nghiên cứu Chính vì vậy, quan niệm mới “học tập suốt đời” sẽ giúp con người đáp ứng được các yêu cầu đó

và học cách tự học, tự đào tạo là điều không thể thiếu được của mỗi người Quan điểm của UNESCO về 4 trụ cột của giáo dục “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người” Như vậy, ngoài việc HS tự học để có kiến thức phục vụ cho công việc của bản thân và để làm người, TH còn giúp cho mọi người trong cộng đồng hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn để “cùng chung sống” với nhau thuận lợi hơn

Hoạt động học nhằm mục tiêu cải tạo, phát triển chính HS là hoạt động do bản thân HS tạo ra không ai đem lại được Vì thế đòi hỏi GV phải dạy HS tự học và tự giác, tích cực, sáng tạo, phải thường xuyên bồi dưỡng NLTH

1.2 Năng lực tự học toán của học sinh Trung học cơ sở

1.2.1 Vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy tự học

1.2.1.1 Đối với học sinh

Để bồi dưỡng NLTH cho HS thì trước mắt về mặt lý luận nên tập trung giải quyết một số vấn đề quan trọng sau đây:

*Xây dựng động cơ cho người học: Xây dựng động cơ học tập cho HS là một trong những vấn đề quan trọng nhất của việc bồi dưỡng tinh thần tự học,

vì sự tự giác học tập phải được bắt nguồn từ bên trong, từ năng lực nội sinh

Ta có thể chia các động cơ học tập ra làm 2 nhóm chính:

- Các động cơ và hứng thú nhận thức: thường đến với các em khi bài học

có nội dung mới, đột ngột, bất ngờ và chứa các yếu tố nghịch lý thỏa mãn yêu cầu đa dạng của các em Nó cũng thường xuyên xuất hiện khi HS tham gia các hoạt động khởi động, các cuộc thảo luận và các phương pháp kích thích học tập khác

- Các động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm trong học tập: liên hệ với ý thức

xã hội của sự học tập là nghĩa vụ đối với tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình,

Trang 27

nhà trường từ đó mà HS có kỉ luật học tập tốt, thực hiện một cách tự giác yêu cầu của giáo viên Cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ học tập của

HS phù hợp với đặc điểm của từng em và điều quan trọng là dạy các em tự kích thích động cơ học tập của mình

* Làm việc với sách, tài liệu: Đọc sách là một trong những công việc quan trọng nhất của mọi người vì vậy đọc sách thế nào cho có hiệu quả là điều ai cũng muốn biết Khi đọc sách cần chú ý rút ra những tư tưởng chính trong mỗi đoạn, so sánh, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa…đề xuất cái mới và nêu câu hỏi Điều này rất quan trọng vì sự sáng tạo thường nảy sinh ra ngay lúc đọc sách Cần giáo dục cho HS tinh thần đọc sách, tài liệu một cách sáng tạo, không phải chỉ dừng lại ở đọc sách tái hiện và cảm thụ

* Nghe và ghi theo tinh thần tự học: Nghe và ghi là những kỹ năng cơ bản Trình độ nghe và ghi của các em là khác nhau và điều đó ảnh hưởng đến kết quả học tập Đa số HS tự lo liệu lấy cách nghe và cách ghi mà hầu như không trao đổi với nhau Từ thực tiễn có thể nhận thấy rằng, để nghe và ghi tốt ta thường phải sử dụng một số biện pháp tập trung tư tưởng khi nghe giảng, tăng cường tốc độ ghi và ghi tắt Nếu tìm hiểu sâu hơn, có thể thấy rằng để ghi tốt, khi nghe giảng cần chú ý đến những điểm sau:

+ Tập trung theo dõi bài giảng, không nên nghĩ đến việc sẽ làm gì vì điều

đó sẽ phá hoại lôgic của bài giảng

+ Chú ý ghi dàn bài để nhìn được khái quát cấu trúc chung của bài giảng + Tập trung vào những cái chính, những điểm quan trọng nhất mà GV thường nhấn mạnh qua ngữ điệu, qua việc lặp đi lặp lại nhiều lần

+ Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ tư duy, các hình vẽ, tranh và các tài liệu trực quan khác mà GV giới thiệu vì đây là lúc GV hệ thống hóa,

so sánh, phân tích… để đi đến kết luận và rút ra cái mới

Trang 28

+ Khi gặp các chỗ khó, không hiểu hãy tạm thời gác lại và sẽ cố gắng tìm hiểu những điều đó trong các phần sau để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn + Khi bài giảng dừng lại, có thể nêu câu hỏi để đào sâu kiến thức và làm

rõ những chỗ chưa hiểu

1.2.1.2 Đối với giáo viên

Theo Thái Duy Tuyên [25]: Để có thể TH không những học sinh cần nhận biết được tầm quan trọng của nó, biết được nội dung và quy trình tự học, mà

GV phải thay đổi cách dạy, các giáo trình và những điều kiện dạy học cũng cần phải có sự điều chỉnh thích hợp Vậy dạy trên lớp cần được tổ chức như thế nào

để HS có thể TH tốt là vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu đổi mới PPDH Thực

tế dạy học cho thấy người GV phải trải qua 3 bước:

- Chuẩn bị giáo án lên lớp

- Dạy học trên lớp

- Kiểm tra, đánh giá

Để bồi dưỡng NLTH cho HS thì hoạt động dạy của GV phải thay đổi như thế nào?

* Chuẩn bị giáo án

Xác định các mục tiêu: Trong dạy học xác định mục tiêu là điều cần phải làm đầu tiên Để xác định được mục tiêu của bài học GV cần phải tìm hiểu yêu cầu của chương trình, đọc sách tham khảo, tìm hiểu trình độ, năng lực, thái độ hiện có của HS, hình dung được những kiến thức, kỹ năng … mà HS cần nắm Trên cơ sở đó GV sẽ xác định những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ của HS

- Xây dựng nội dung bài học: Nét nổi bật dễ nhận thấy của bài học theo hướng

tổ chức TH cho HS là hoạt động của các em chiếm tỉ trọng cao so với hoạt động của giáo viên về thời gian cũng như cường độ làm việc Để có một tiết học như vậy ở trên lớp, giáo viên cần đầu tư rất nhiều về công sức và thời gian

Trang 29

- Lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học: Khi thiết kế bài học giáo viên cần lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, cụ thể cần dựa vào: Mục đích dạy học; nội dung bài học; đặc điểm trình độ của HS và GV; điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường; tính chất, đặc điểm của các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Đây là một giai đoạn vô cùng phức tạp, phụ thuộc rất lớn vào kiến thức, kinh nghiệm, tài năng và trực giác nhạy bén của người GV Do vậy, người GV cần tập trung chủ yếu vào các hoạt động tự học của HS: đọc tài liệu, thảo luận, báo cáo các vấn đề đã chuẩn bị, giải quyết các tình huống nhận thức và thực tiễn; Suy nghĩ một cách công phu để tạo ra tình huống câu hỏi phát triển tư duy, chuẩn bị một hệ thống bài tập và nhiệm vụ học tập nhằm tổ chức hoạt động TH cho HS

Tóm lại, để giúp các em TH có hiệu quả thì khi thiết kế bài học cần phải

có sự đổi mới, chuyển người học vào vị trí trung tâm, tăng cường tổ chức các hoạt động học tập độc lập hoặc theo nhóm bằng các nhiệm vụ học tập cụ thể

* Tổ chức dạy học trên lớp: Việc tổ chức dạy học trên lớp theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS là việc làm đòi hỏi GV phải chuẩn bị bài dạy công phu,

tỉ mỉ và chú ý từng hoạt động của HS Có thể tổ chức dạy học trên lớp theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS như sau:

- Các hoạt động của GV tổ chức cho HS học tập thông qua TH trên lớp: Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

Tạo tình huống để HS thấy rõ vấn đề,

thấy mâu thuẫn cần giải quyết

Nghe, tiếp thu, chuyển mâu thuẫn bên ngoài thành mâu thuẫn bên trong, có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn

Giao nhiệm vụ học tập Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

Trang 30

Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

Hướng dẫn HS hoạt động (đọc giáo

trình, tài liệu, tổ chức thảo luận…)

Đọc giáo trình, tái hiện, suy nghĩ, sáng tạo, trả lời câu hỏi, thảo luận… Theo dõi sự tự học của các em, tổ chức

thảo luận nhóm, đặt các câu hỏi bổ

sung và giúp đỡ các em khi cần thiết

Phát huy tính tích cực, nỗ lực sáng tạo, trao đổi với bạn bè, hỏi thầy cô giáo

để giải quyết các nhiệm vụ học tập Giải đáp câu hỏi Nêu câu hỏi

Phân tích, bổ sung, khẳng định những

điểm đúng, sửa chữa những sai lầm

Sửa chữa, hoàn thiện, hệ thống hóa tri thức, kỹ năng

- GV vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học nâng cao vai trò TH của HS

Phương pháp Nội dung hoạt động

Nêu và giải quyết

vấn đề

- Tạo ra tình huống có vấn đề

- GV và HS cùng giải quyết vấn đề qua các thao tác: đặt câu hỏi, thuyết trình, đặt vấn đề các em cần trao đổi, thảo luận tìm cách giải quyết vấn đề

Tự đọc - HS đọc SGK, tài liệu

- Viết tóm tắt, lập sơ đồ, biểu bảng Thảo luận nhóm - HS được chia thành các nhóm để thảo luận và

giải quyết vấn đề GV đưa ra

- Đại diện các nhóm trình bày trước lớp

- GV tổng kết Phương pháp trực

quan

- Xem hình vẽ, tranh ảnh

- Thảo luận nhóm

- GV tổng kết

Trang 31

Phương pháp Nội dung hoạt động

thuyết trình, báo cáo

- HS báo cáo một vấn đề đã được chuẩn bị trước

- Cả lớp nghe, trao đổi và thảo luận

- GV tổng kết Xemina - Cả lớp chuẩn bị

- Một số HS đại diện báo cáo vấn đề GV giao

- Cả lớp cùng thảo luận

- GV tổng kết

* Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra đánh giá luôn đóng một vai trò rất quan trọng, là một nhân tố cấu thành của quá trình dạy học; là một biện pháp thu thông tin phản hồi để điều chỉnh quá trình dạy học kịp thời và phù hợp với mục tiêu góp phần phát triển trí tuệ, củng cố hệ thống tri thức và các phương pháp học tập; kích thích HS luôn vươn tới kết quả cao trong học tập Có thể nói, kiểm tra đánh giá là một động lực thúc đẩy quá trình đào tạo và tự đào tạo

Để bồi dưỡng NLTH cho HS, GV cần chú ý các yêu cầu về kiểm tra đánh giá như:

- Sử dụng nhiều hình thức kiểm tra khác nhau

- Cần thực hiện các hình thức thi: viết, vấn đáp, trắc nghiệm…

- Đổi mới khâu chấm, sửa bài, đánh giá kết quả học tập

GV cần phân biệt cách kiểm tra, đánh giá kết quả truyền thống với cách kiểm tra đánh giá kết quả theo hướng bồi dưỡng NLTH

Trang 32

STT Kiểm tra đánh giá theo kiểu

Đánh giá kết quả học tập theo các

tiêu chí: kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo…

Đánh giá kết quả học tập theo các tiêu chí: độc lập, sáng tạo, vận dụng…

1.2.2 Các thành tố của năng lực tự học toán của học sinh Trung học cơ sở Theo tác giả Đào Tam [17] các thành tố của năng lực tự học gồm:

1.2.2.1 Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực này đòi hỏi học sinh phải nhận biết, quan sát, phân tích, tổng hợp,

so sánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu toán học, kiến thức toán học, suy xét

từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những tri thức kinh nghiệm cá nhân; phát hiện ra các khó khăn thách thức, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, cần bổ sung và phát hiện các bế tắc các nghịch lý cần khai thông, làm sáng tỏ Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thói quen hoạt động trí tuệ, luôn tích cực khám phá tìm tòi ở mọi nơi mọi lúc, mọi trường hợp

và với nhiều đối tượng khác nhau góp phần phát triển năng lực tự học của học sinh nói chung và năng lực tự học toán nói riêng

1.2.2.2 Năng lực giải quyết vấn đề

Trang 33

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, khảo sát các khía cạnh thu thập và xử lý thông tin, đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Như vậy mỗi quá trình giải quyết vấn đề đều sử dụng những thao tác trí tuệ và hướng đến những mục tiêu xác định Nếu nói rằng trong dạy học việc quan trọng là phải dạy cho học sinh cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho học sinh kỹ thuật giải quyết vấn đề Với kỹ thuật này học sinh có thể áp dụng vào nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Giáo viên nên xem kỹ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho học sinh phương pháp tự học

1.2.2.3 Năng lực xác định những kết luận đúng từ quá trình giải quyết vấn đề Đây là một trong những năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được khi chính bản thân học sinh có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác

bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới hoặc áp dụng (nếu cần thiết)

1.2.2.4 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là học sinh vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc là trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức

1.2.2.5 Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của học sinh (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) học sinh

Trang 34

đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lý, cái có hiệu quả hơn

Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề đòi hỏi người học phải luôn đánh giá và tự đánh giá Người học phải biết chính xác mặt mạnh, yếu, cái đúng, sai của mình, của việc mình làm, mới có thể tiếp tục vững bước trên con đường học tập chủ động Không có khả năng đánh giá người học khó có thể tự tin trong phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học

Các năng lực trên vừa đan xen vừa tiếp nối nhau tạo nên năng lực tự học ở học sinh Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy rèn luyện được các năng lực đó chính là học sinh biết đặt mình vào

vị trí của người nghiên cứu khoa học hay nói cách khác đó là sự rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu

Trang 35

1.3 Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun

1.3.1 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo mô đun

Sơ đồ 1.3: Tự học có hướng dẫn theo mô đun Nội dung chính của phương pháp dạy học này là nhờ các mô đun mà học sinh được dẫn dắt từng bước để đạt tới mục tiêu dạy học Nhờ nội dung dạy học được phân nhỏ ra từng phần, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt và hệ thống bài kiểm tra, học sinh có thể tự học và tự kiểm tra mức độ nắm vững các kiến thức, kỹ năng và thái độ trong từng tiểu mô đun Bằng cách này HS có thể tự học theo nhịp độ riêng của mình

Trong phương pháp tự học có hướng dẫn theo mô đun thì giáo viên chỉ giúp đỡ khi học sinh cần thiết, chẳng hạn như: giải đáp các thắc mắc, sửa những

Không

đạt

Không

đạt

Giới thiệu cách dùng mô đun

HS nghiên cứu mô đun thứ nhất để giải quyết vấn đề

HS tự học theo nhịp độ riêng của mình

HS tự đánh giá bằng các bài kiểm tra trung gian

Nghiên cứu mô đun tiếp theo

Giáo viên giúp đỡ khi cần thiết

Đạt

GV đánh giá bằng bài kiểm tra kết thúc

Trang 36

sai xót của học sinh, động viên họ học tập Kết thúc mỗi mô đun, giáo viên đánh giá kết quả học tập của họ Nếu đạt học sinh chuyển sang mô đun tiếp theo Nếu không đạt học sinh thảo luận với giáo viên về những khó khăn của mình và sẽ học lại một phần nào đó của mô đun với nhịp độ riêng

Phương pháp tự học có hướng dẫn theo mô đun đảm bảo tuân theo những nguyên tắc cơ bản của quá trình dạy học sau đây:

+ Nguyên tắc cá thể hoá trong học tập

+ Nguyên tắc đảm bảo hình thành ở học sinh kỹ năng tự học từ thấp đến cao + Nguyên tắc giáo viên thu thập thông tin về kết quả học tập của học sinh sau quá trình tự học, giúp đỡ họ khi cần thiết, điều chỉnh nhịp độ học tập

Ưu điểm:

+ Giúp học sinh học tập ở lớp và ở nhà có hiệu quả vì mô đun là tài liệu tự học học sinh có thể mang theo mình để học tập bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào

có điều kiện

+ Tạo điều kiện cho học sinh học tập với nhịp độ cá nhân, luyện tập việc

tự đánh giá kết quả học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề, do đó nâng cao được chất lượng dạy học thực tế

+ Tránh được sự tuỳ tiện của giáo viên trong quá trình dạy học vì nội dung

và phương pháp dạy học đều đã được văn bản hoá

+ Cập nhật được những thông tin mới về khoa học và công nghệ do đó có điều kiện thuận lợi trong việc bổ sung nội dung mới và tài liệu dạy học (nhờ các mô đun phụ đạo)

+ Cho phép sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, theo dõi kèm cặp một cách tối ưu tuỳ theo mức độ phức tạp của nhiệm vụ dạy học

+ Đảm bảo tính thiết thực của nội dung dạy học

Trang 37

+ Đảm bảo được tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vì người học

tự chiếm lĩnh nó, đồng thời hình thành và rèn luyện được thói quen tự học để học sinh tự đào tạo suốt đời

Nhược điểm:

+ Việc thiết kế hệ thống mô đun dạy học và biên soạn tài liệu dạy học theo

mô đun khá công phu và tốn kém

+ Đòi hỏi học sinh phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định + Có thể nảy sinh tâm lý buồn chán do tính đơn điệu của việc tự học 1.3.2 Cấu trúc của tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun

Theo L.D’Hainaut, một mô đun dạy học gồm 3 bộ phận hợp thành: Hệ vào; thân mô đun; hệ ra Ba bộ phận này là một chỉnh thể thống nhất [26]

Sơ đồ 1.4: Cấu trúc tổng quát của một mô đun dạy học

* Hệ vào của mô đun bao gồm:

+ Tên gọi hay tiêu đề của mô đun

+ Giới thiệu vị trí, tầm quan trọng và lợi ích của mô đun

+ Nêu rõ các kiến thức và kỹ năng cần có trước

+ Hệ thống mục tiêu của mô đun

+ Kiểm tra vào mô đun

* Thân mô đun: Chứa đựng đầy đủ nội dung dạy học được trình bày theo một cấu trúc rõ ràng kèm theo những chỉ dẫn cần thiết về cách học, giúp HS chiếm lĩnh được nội dung và hình thành được phương pháp TH Thân mô đun

là bộ phận chủ yếu của mô đun, bao gồm một hệ thống những mô đun nhỏ kế tiếp Mỗi mô đun nhỏ gồm ba phần: Mở đầu; nội dung và phương pháp học tập; bài kiểm tra trung gian Khi cần thiết, thân mô đun có thể có thêm các mô đun

Trang 38

giúp HS bổ sung những kiến thức còn thiếu, sửa chữa sai sót, ôn tập và hệ thống hóa

* Hệ ra của mô đun: Một bản tổng kết chung; một bài kiểm tra kết thúc;

hệ thống chỉ dẫn để tiếp tục học tuỳ theo kết quả TH của HS Nếu đạt tất cả mục tiêu của mô đun, HS sẽ được hướng dẫn sang mô đun tiếp theo, nếu không qua được phần lớn các bài kiểm tra kết thúc thì HS sẽ được yêu cầu học lại mô đun

1.3.3 Quy trình thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun

Quy trình xây dựng tài liệu là trình tự công việc, là sự cụ thể hóa thứ tự thực hiện việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun Theo chúng tôi việc xây dựng tài liệu phải theo các bước sau:

- Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về: mục tiêu dạy học, phương pháp dạy học, nội dung kiến thức, hình thức kiểm tra đánh giá, tìm hiểu đặc điểm nhận thức của người học và mục đích sử dụng tài liệu để có những định hướng

cơ bản nhằm phục vụ cho việc viết tài liệu

- Bước 2: Xác định nội dung dạy học, lập danh mục các mô đun, các tiểu

mô đun Đây là bước quan trọng, dựa vào mục tiêu dạy học (về kiến thức, kỹ năng, thái độ, định hướng phát triển năng lực), hình thức tổ chức dạy học, hoạt động nhận thức, cấu trúc chương trình để phân loại, xác định nội dung dạy học,

và lập danh mục các mô đun

- Bước 3: Viết tài liệu: Thiết kế nội dung các mô đun và tiểu mô đun, cách thức trình bày, bố cục nội dung, khi xây dựng tài liệu phải đảm bảo phù hợp với nội dung chương trình dạy học, đối tượng dạy học, thời lượng trên lớp, thời lượng tự học ở nhà, đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập (nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao), chú trọng những kiến thức ứng dụng trong thực tiễn của đời sống và khoa học kỹ thuật

Trang 39

- Bước 4: Biên tập tài liệu và chỉnh lý tài liệu: Tài liệu sau khi được xây dựng cần biên tập sao cho: Tài liệu thỏa mãn những mục đích, yêu cầu đã đề ra; Cấu trúc đảm bảo tính thống nhất, cân đối; Hệ thống tri thức chính xác; Hệ thống phương pháp đảm bảo giúp người học tự học

- Bước 5: Thử nghiệm tài liệu: Cần phải đưa tài liệu vào thử nghiệm sử dụng trong quá trình dạy học, để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của tài liệu và những bất cập khi sử dụng

- Bước 6: Hoàn thiện tài liệu: Tài liệu sau khi thử nghiệm sẽ được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần để hoàn thiện tài liệu, phục vụ cho quá trình học tập của người học và giảng dạy của GV

1.4 Vị trí, mục tiêu, nội dung của phần “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác”

+ Chương 1: Đường thẳng vuông góc Đường thẳng song song

+ Chương 2: Tam giác

+ Chương 3: Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác

Chương “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” là chương thứ 3, phần hình học trong sách toán 7 tập 2

Trang 40

1.4.2 Mục tiêu

- Về nội dung:

+ Giới thiệu cho HS quan hệ giữa các yếu tố cạnh, góc của một tam giác; đặc biệt trong tam giác vuông là quan hệ giữa đường vuông góc - đường xiên - hình chiếu

+ Giới thiệu các loại đường đồng quy, các điểm đặc biệt của một tam giác

+ Tuy nhiên, để nối tiếp quan điểm trực giác ở chương 1 và chương 2, chương 3 vẫn còn yêu cầu HS vẽ hình, gấp giấy để qua đó các em tự phát hiện

ra các tính chất của hình hoặc gợi ý các em phép chứng minh các định lí Điều này giúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên Tuyệt nhiên không thể coi rằng gấp giấy cũng là một cách chứng minh định lí

+ Một yêu cầu cũng được đề cao trong chương này là cố gắng gắn những kiến thức trong bài học với các bài toán thực tế; dùng những kiến thức đã học

để giải quyết và giải thích các yêu cầu và hiện tượng của thực tế

1.4.3 Nội dung

Chương “Quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác Các đường đồng quy của tam giác” bao gồm 9 bài và một bài ôn tập chương được sắp xếp theo trình tự sau:

- Bài 1: Quan hệ giữa góc và cạnh đối diện trong một tam giác, trang bị cho HS các kiến thức về:

Ngày đăng: 23/12/2020, 08:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w