1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng một số bài tập phát triển thể lực cho nữ vận động viên karatedo trẻ lứa tuổi 16 18 tỉnh đồng tháp

115 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.1 Đánh giá kết quả dựa bảng phân loại của Ruffier 27 Bảng 3.1 Bảng tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn 42 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể l

Trang 2

TRẦN HỮU ĐIỀN

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP

PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHO NỮ VẬN ĐỘNG VIÊN

KARATEDO TRẺ LỨA TUỔI 16 - 18

Trang 3

học TDTT Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức lớp cao học và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi và các bạn cùng lớp hoàn thành khóa học này.

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý Thầy, Cô giảng dạy lớp cao học khóa 18, đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để truyền thụ cho chúng tôi những kiến thức quý báu về công tác giáo dục thể chất, về lý luận

và thực tiễn trong công tác đào tạo giáo dục thể chất Từ đó là những tiền đề rất quan trọng và là nền tảng cho luận văn được hoàn thành

Đặc biệt xin cảm ơn thầy TS Hoa Ngọc Thắng đã tận tâm hướng dẫn

cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cá nhân và tập thể:

 Ban giám hiệu trường Đại học TDTT Thành phố Hồ Chí Minh

 Khoa đào tạo sau Đại học – Trường Đại học TDTT – TP.HCM

 Trung tâm nghiên cứu khoa học và Y học TDTT – Trường Đại học TDTT TP.HCM

 Ban giám đốc Trung Tâm TDTT Đồng Tháp, Bộ môn Karatedo Đồng Tháp

Trang 4

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trần Hữu Điền

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thể dục thể thao: 4

1.2 Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực trong huấn luyên thể thao: 6

1.3 Lịch sử hình thành môn Karatedo: 8

1.3.1 Sự ra đời của Karatedo ở Nhật Bản [45,46] 8

1.3.2 Karatedo tại Việt Nam[47] 10

1.3.3 Đặc điểm và xu hướng thi đấu môn Karatedo: 11

1.3.4 Một số điều luật thi đấu Karatedo:[39] 14

1.4 Đặc thù thể lực của các môn võ thuật: [26] 15

1.5 Đặc điểm sinh lý về trình độ tập luyện thể lực 16

1.5.1 Đặc điểm hình thái cơ thể ở lứa tuổi 16-18: [9,10] 16

1.5.2 Đặc điểm chức năng cơ thể ở lứa tuổi 16-18: [9,10] 16

1.6 Huấn luyện thể lực cho VĐV Karatedo: 18

1.6.1 Huấn luyện thể lực chung: 18

1.6.2 Huấn luyện thể lực chuyên môn: 18

1.7 Các tố chất thể lực đặc trưng cho môn Karatedo : 19

1.8 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: 23

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25

2.1.Phương pháp nghiên cứu: 25

2.1.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu và phân tích tư liệu: 25

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn: 25

2.1.3 Phương pháp kiểm tra chức năng: 26

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm (phương pháp test): 28

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 34

2.1.6 Phương pháp toán thống kê: 34

Trang 6

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 37 2.2.3 Địa điểm nghiên cứu: 38

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 39

3.1 Đánh giá thực trạng thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Đồng Tháp ( nhiệm vụ 1 ) 39

3.1.1 Xác định các chỉ tiêu đánh giá thực trạng chức năng sinh lý và thể lực VĐV Karatedo Đồng Tháp 39 3.1.2 Đánh giá thực trạng chức năng sinh lý và thể lực của nữ VĐV Karateo Đồng Tháp 48

ồng Tháp 51 3.2 Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các bài tập phát triển thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp ( nhiệm vụ 2 ) 54

3.2.1 Xác định các bài tập thể lực cho VĐV Karatedo Đồng Tháp: 54 3.2.2.Nội dung và phương pháp tập luyện thể lực cho VĐV Karatedo Đồng Tháp 59 3.2.3 Chương trình tập luyện thể lực của VĐV Karatedo tỉnh Đồng Tháp: 62 3.2.4 Bàn về ứng dụng các bài tập nâng cao thể lực cho vận độ

ồng Tháp 63 3.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Đồng Tháp ( nhiệm vụ 3 ) 64

3.3.1 Chức năng: 65 3.3.3 Kiểm nghiệm sự phát triển về thể lực của nữ VĐV Karate Đồng Tháp 69

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

KẾT LUẬN 75 KIÉN NGHỊ: 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

1 HLV Huấn luyện viên

Trang 9

Bảng 2.1 Đánh giá kết quả dựa bảng phân loại của Ruffier 27 Bảng 3.1 Bảng tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn 42 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực cho VĐV Karate Đồng Tháp 44 Bảng 3.3 Hệ số tương quan cặp giữa 2 lần kiểm tra 46

Bảng 3.4 Thực trạng về chức năng sinh lý của nữ VĐV

Bảng 3.5 Thực trạng về thể lực chung của nũ VĐV Karatedo 49

Bảng 3.6 Thực trạng về thể lực chuyên môn của nữ VĐV

Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn lựa chọn hệ thống bài tập phát

triển thể lực cho nữ VĐV Karateđ Đồng Tháp 55

Bảng 3.8 Nhịp tăng trưởng các chỉ số chức năng của VĐV

nữ Karate Đồng Tháp qua các đợt kiểm tra 65

Bảng 3.9 Nhịp tăng trưởng các chỉ số thể lực chung của nữ VĐV Karate Đồng Tháp qua các đợt kiểm tra 66

Bảng 3.10

Nhịp tăng trưởng các chỉ số thể lực chuyên môn của nữ VĐV Karatedo Đồng Tháp qua các đợt kiểm tra

68

Bảng 3.11

So sánh sự phát triển thể lực ở một số test giữa nữ VĐV Karatedo Đồng Tháp và nữ VĐV Karatedo Bình Dương giai đoạn ban đầu

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn 43 Biểu đồ 3.2 Nhịp tăng trưởng các chỉ số chức năng của nữ VĐV Karate 66

Biểu đồ 3.3 Nhịp tăng trưởng các chỉ số thể lực chung của của

nữ VĐV Karatedo Đồng Tháp sau 1 năm tập luyện 67

Biểu đồ 3.4 Nhịp tăng trưởng các chỉ số thể lực chuyên môn của của nữ VĐV Karatedo Đồng Tháp sau 1 năm

tập luyện

69

Trang 11

PHỤ LỤC 1 Phiếu phỏng vấn

PHỤ LỤC 2 Mô tả bài tập

PHỤ LỤC 3.1 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu về chức năng trước thực nghiệm PHỤ LỤC 3.2 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu về chức năng sau thực nghiệm PHỤ LỤC 4.1 Kết quả kiểm tra các test về thể lực chung trước thực nghiệm PHỤ LỤC 4.2 Kết quả kiểm tra các test về thể lực chung sau thực nghiệm PHỤ LỤC 5.1 Kết quả kiểm tra các test về thể lực chuyên môn trước thực nghiệm PHỤ LỤC 5.2 Kết quả kiểm tra các test về thể lực chuyên môn sau thực nghiệm PHỤ LỤC 6 Bảng 3.8: Chương trình huấn luyện tuyển Karatedo Đồng Tháp PHỤ LỤC 7 Bảng quy đổi VO2max

Trang 12

Trong quá trình hội nhập và phát triển về mọi mặt thì sự định hướng và đầu tư cho sự nghiệp thể dục thể thao (TDTT) là hết sức cấp thiết, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước đối với ngành thể thao (TT) nước nhà Không chỉ riêng Việt Nam mà phần đông các nước trên thế giới xem võ thuật là một trong những môn TT hấp dẫn và cũng có rất đông người tham gia tập luyện thi đấu Đối với Việt Nam thì võ thuật còn được xem là môn mũi nhọn đi tiên phong và giành nhiều huy chương cho TT Việt Nam trên đấu trường quốc tế như các môn Karatedo, Taekwondo, Judo, Vovinam,…

Thể thao Việt Nam nói chung và Karatedo nói riêng trong những năm gần đây đã đạt được những thành tích đáng kể Có thể điểm qua một số thành tích mà môn Karatedo đã đạt được trong những năm gần đây là: Tại Seagames 22 (2003) đoạt 12 HCV và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam

Á, gần đây nhất là 03 HCV – 03 HCB - 07 HCĐ tại Seagames 27 (Myanmar) Đặc biệt phải kể đến là huy chương vàng của Vũ Kim Anh và Nguyễn Trọng Bảo Ngọc tại Asiad 14 (2002), Vũ Nguyệt Ánh tại Asiad 15 (2006), Lê Bích Phương tại Asiad 16 (Trung Quốc) … Những thành tích vẻ vang đó đã khẳng định vị trí của Karatedo trên đấu trường khu vực Đông Nam Á, Châu Á Qua

Trang 13

đó, môn Karatedo đã được ngành TDTT xác định là một trong những môn thể thao mũi nhọn của Việt Nam trên bước đường hội nhập đấu trường thể thao quốc tế Vì thế, việc tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng VĐV trẻ kế thừa cho

lực lượng đội tuyển đang là mục tiêu hành đầu của bộ môn

Đồng Tháp là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu long, có phong trào Karatedo phát triển mạnh trong khu vực nhưng còn non so với các đơn vị mạnh trên toàn quốc, song đã giành nhiều huy chương tại các giải Trẻ quốc gia và giải Vô địch toàn quốc Trong những năm gần đây với các VĐV như: Yến Vy, Bích Loan, Cẩm Lành, Khánh Vy, Bé Ngoan, đã được nhiều thành tích cao cho tỉnh nhà Tuy nhiên, công tác đào tạo và huấn luyện VĐV Karatedo của tỉnh trong những năm qua chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và đánh giá theo cảm tính của HLV mà chưa có một công trình nghiên cứu nào

để hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể nào để đánh giá và so sánh Có thể nói, thể lực chuyên môn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tập luyện, kỹ thuật động tác và đến cả kết quả thi đấu Không có thể lực tốt thì không thể chống lại mệt mỏi cũng không phát huy hết kỹ thuật sẵn có để mang lại kết quả như mong muốn Bản thân từng là VĐV Karatedo, hiện đang là thành viên của ban huấn luyện đội Karatedo tỉnh Đồng Tháp, nên tôi nhận thấy việc nâng cao hiệu quả của sự phát triển về thể lực cho đội tuyển Trẻ Karatedo Đồng Tháp là vô cùng quan trọng

Xuất phát từ vấn đề thực tế trên và nhằm mục đích phát triển thể lực cho VĐV Karatedo Trẻ của tỉnh Đồng Tháp nên chúng tôi mạnh dạn thực hiện nghiên cứu đề tài:

―Nghiên cứu xây dựng một số bài tập phát triển thể lực cho nữ vận động viên Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp

Trang 14

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Triển khai xây dựng một số bài tập thể lực và đánh giá hiệu quả của chúng đối với VĐV nữ đội Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp

NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Để đạt được mục đích trên của đề tài, cần giải quyết ba nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa

tuổi 16 – 18

Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các bài tập phát triển

thể lực cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 - 18 tỉnh Đồng Tháp

Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển thể lực

cho nữ VĐV Karatedo trẻ lứa tuổi 16 – 18 tỉnh Đồng Tháp

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thể dục thể thao:

Trong xu thế hội nhập toàn cầu, tăng cường thể chất và bảo vệ sức khỏe là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng đối với Đảng và nhà nước ta trong việc phát triển công tác thể dục thể thao trong thời kỳ đổi mới Điều này thể hiện qua các văn bản của Đảng và nhà nước:

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X nêu rõ: ―Đẩy mạnh các loại hoạt động thể dục thể thao cả về quy mô lẩn chất lượng Khuyến khích và tạo điều kiện

để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao…‖

Tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 10 của Quốc hội khóa XI số 77/2006/QH11 ngày 29/11 năm 2006 đã thông qua luật TDTT và tại điều 44 có nói rõ về thể thao chuyên nghiệp và định hướng phát triển thể thao chuyên nghiệp như sau:

―Thể thao chuyên nghiệp là hoạt động thể thao, trong đó huấn luyện viên, vận động viên lấy huấn luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao là nghề của mình…‖[9]

Gần đây nhất văn bản mang tính bước ngoặt, thể hiện sự quan tâm và coi trọng công tác thể dục thể thao của Đảng, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết

số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước chuyển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 Với quan điểm chỉ

đạo ―đầu tư cho thể dục, thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển

của đất nước‖ Về thể thao thành tích cao, nhấn mạnh: Dành nguồn lực thích đáng để hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao với đội ngũ kế cận dồi dào và có chất lượng, làm tiền đề cho bước phát triển đột phá về thành tích trong một số môn thể thao Đổi mới tổ chức, quản lý thể thao thành tích cao theo hướng chuyên nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng môn và từng địa

Trang 16

phương Ưu tiên đầu tư của Nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo vận động viên các môn thể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng vận động viên và các điều kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để sẵn sàng đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Châu Á Sử dụng hiệu quả các nguồn lực [53]

Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt ―Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam

đến năm 2020‖ Trong đó về thể thao thành tích cao : chỉ tiêu đề ra là: giữ

vững vị trí trong top 3 của thể thao khu vực Đông Nam Á (SEA Games); Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 45 vận động viên vượt qua các cuộc thi vòng loại, có huy chương tại Đại hội Thể thao Olympic lần thứ 32; Các môn thể thao trọng điểm bao gồm: 10 môn thể thao trọng điểm loại I (Điền kinh, Bơi,

Cử tạ, Taekwondo, Vật (hạng cân nhẹ), Bắn súng, Karatedo, Boxing (nữ), Cầu lông, Bóng bàn [54]

Chỉ thị số 48/CT-BVHTTDL ngày 05 tháng 4 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc thực hiện ―Chiến lược phát triển thể dục, thể

thao Việt Nam đến năm 2020‖ Trong đó nhấn mạnh: Đổi mới cơ chế tổ chức,

nội dung tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao thành tích cao theo định hướng chuyên nghiệp; tăng cường nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho công tác đào tạo tài năng thể thao thành tích cao; ưu tiên đầu tư cho các môn thể thao, vận động viên thể thao trọng điểm; Ưu tiên ứng dụng nghiên cứu khoa học, y học thể thao; tăng cường năng lực chữa trị chấn thương và phòng, chống Doping; thực hiện giám định khoa học đối với quá trình huấn luyện một số vận động viên trọng điểm [55]

Do vậy, việc phát hiện, tuyển chọn và đào tạo và bồi dưỡng tài năng thể thao trẻ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển thể thao thành tích cao

Trang 17

1.2 Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực trong huấn luyên thể thao:

Huấn luyện thể thao là quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐV giành được thành tích thể thao cao nhất trong thi đấu do đó là nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao trước hết phải bắt nguồn từ các yêu cầu cụ thể trong thi đấu thể thao, ngoài ra còn xuất phát từ bản thân các yêu cầu của lượng vận động trong huấn luyện Các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao bắt nguồn từ cấu trúc thành tích Các yếu tố xác định thành tích cá nhân được sắp xếp thành 5 nhóm như sau:[2,3,4]

- Các phẩm chất cá nhân của VĐV

- Các tố chất thể lực

- Khả năng kỹ thuật, phối hợp vận động và kỹ xảo

- Khả năng chiến thuật và trí tuệ

- Sự hiểu biết của VĐV trong lĩnh vực khoa học TDTT

Và để đạt được thành tích cao người ta phải sử dụng các phương tiện khác nhau:

Trang 18

- Thông qua việc lựa chọn hợp lý từng bài tập thể chất và thông qua việc phân chia một cách tối ưu lượng vận động của từng bài tập và nhóm bài tập có thể bảo đảm cho VĐV phát triển đầy đủ năng lực của họ trong lứa tuổi đạt thành tích cao nhất

- Hiện nay, thể thao thành tích cao là một trong nhũng lĩnh vực được quan tâm đặc biệt không kém các lĩnh vực văn hóa xã hội, thể hiện khát vọng vươn lên cao nhất của con người Vì vậy, tiềm năng con người đã và đang được khai thác triệt để, nhằm đạt thành tích thể thao cao trong các cuộc thi đấu [3,4] Các khả năng về kỹ chiến thuật, thể lực, hoạt động tâm lý, ý chí, tri thức của VĐV là những yếu tố quyết định nên thành tích thể thao [19] Trong đó, khả năng hoạt động thể lực, đặc biệt là thể lực chung và thể lực chuyên môn là nhân tố quan trọng nhất [7], điều đó đã được các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước nghiên cứu và các HLV luôn quan tâm chú trọng trong quá trình huấn luyện Trong tuyển chọn VĐV, khả năng chịu đựng lượng vận động là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá [6] Khả năng chịu đựng lượng vận động lớn của con người nhờ vào nhiều yếu tố, trong đó

có yếu tố quan trọng là sự phát triển thể lực [14]

- Do vậy huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là mặt cơ bản để nâng cao thành tích thể thao Song, về bản chất mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của cơ quan và hệ cơ trong cơ thể [7] Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực, cũng chính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi hoạt động của cơ bắp cụ thể [36]

- Theo quan điểm của Zúalivxki V.P Philin cho rằng: ―Các tố chất thể lực phát triển có tính giai đoạn và không đồng đều, tùy thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi‖ [43] Vì vậy, người HLV không những phải nắm vững quy luật phát triển tự nhiên, đặc biệt thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ của lứa tuổi phát triển

Trang 19

các tố chất) trong cơ thể, mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển

tố chất thể lực theo độ tuổi của từng cá thể VĐV [4]

Theo Harre D 1996, Philin V.P 1996, … thì cho rằng: ―Dù bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt, bởi thể lực chung cùng với thể lực chuyên môn được coi là nền tảng của việc đạt thành tích cao‖ [6],[43]

Huấn luyện thể lực (còn gọi là quá trình huấn luyện các tố chất thể lực chung và chuyên môn) là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và theo một kế hoạch được sắp xếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm phát triển các mặt chất lượng và khả năng vận động Quá trình ấy tác động sâu sắc đối với hệ thần kinh, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con

người [14] Đương nhiên, muốn có thành tích xuất sắc trong môn bóng

chuyền, trước cần có tố chất thể lực tốt phù hợp với yêu cầu chuyên môn Song, không có nghĩa là coi nhẹ các mặt khác như kỹ - chiến thuật Thông thường tố chất thể lực được chia làm 5 loại cơ bản: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động (khả năng linh hoạt) [14]

1.3 Lịch sử hình thành môn Karatedo:

1.3.1 Sự ra đời của Karatedo ở Nhật Bản

Võ thuật Nhật Bản- một sắc thái văn hóa

Nhật Bản là một đất nước bao gồm nhiều hòn đảo nhỏ nằm xung quan quần đảo lớn nằm ở phía Đông của Châu Á, là quốc gia đầu tiên đón ánh nắng mặt trời của một ngày mới Chính vì vậy, Nhật Bản còn được gọi là đất nước ―mặt trời mọc‖ Người ta biết đến đất nước nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng có nền văn hóa lâu đời và phong phú cũng như sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai

Có thể nhận xét rằng, võ thuật với tư cách là bộ phận của nền văn hóa Nhật Bản tiến hóa và chịu ảnh hưởng của sự phát triển chính trị qua các thời đại như thế nào Khía cạnh sáng giá nhất của võ thuật Nhật Bản là khả năng xây dựng con

Trang 20

người toàn diện qua việc tập luyện các kỹ năng thể chất và tinh thần đã được hun đúc qua nhiều thế hệ một cách sáng tạo, đồng thời bồi dưỡng lòng kính yêu truyền thống của cha ông để lại [50], [51]

Okinawa – cái nôi của Karatedo

Karate – cái tên được gọi như hiện nay là một môn võ thuật có xuất xứ từ Trung Quốc hay còn gọi là Chinese Kempo (quyền thuật Trung Hoa) được du nhập vào Okinawa – một thuộc địa của Nhật Bản trước đây Okinawa có nghĩa là ―Sợi dây thừng‖ ngoài biển khơi, hòn đảo này có tên cổ là Ryukyu nằm ở cực Nam của quần đảo Nhật Bản, một đầu hướng về Trung Quốc còn đầu kia hướng về Nhật Vào thế kỷ XV, đây là một quốc gia độc lập và phồn thịnh nhờ giao thương với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước láng giềng khác họ mang theo môn quyền thuật đến đây và trở thành sản phẩm đặc biệt của người dân xứ đảo này

Thuở ban đầu, người dân luyện tập môn võ thuật này với cái tên Okinawa-té, nghĩa là dùng tay chân để chống lại tầng lớp áp bức Người dân ở đây đã luyện tập biến tay chân của họ trở thành vũ khí lợi hại, bên cạnh đó, những công cụ tưởng chừng như chỉ hữu dụng trong sản xuất cũng được nghiên cứu, luyện tập trở thành những binh khí sắc bén

Năm 1879, Okinawa trở thành một tỉnh của Nhật Bản và các võ sư vẫn âm thầm truyền dạy Okinawa-té cho đệ tử tại võ đường cho đến khi nó được đổi tên thành Karate và công khai truyền dạy ở Okinawa và Nhật Bản

Ngày nay, Karate được phổ biến và trở thành môn học giáo dục thể chất ở các trường phổ thông cơ sở và trung học tại Okinawa Người ta đã thống kê được hơn 250 võ đường Karate đang hoạt động tại Okinawa theo các chi phái khác nhau

và một phần ba nam giới ở Okinawa đã từng tập Karate

Sự quyến rũ của Okinawa, cái nôi Karate, khiến người nước ngoài thường nô nức đến đây học tập Các võ sinh nước ngoài say mê tập luyện môn võ này, họ tìm thấy ở ðây những kĩ nãng võ nghệ cổ truyền thật cuốn hút cũng như sự cởi mở thân thiện của người dân Okinawa, miền đất yêu chuộng hòa bình, tự hào về truyền thống võ thuật đặc sắc lâu đời

Trang 21

1.3.2 Karatedo tại Việt Nam

Karatedo du nhập vào Việt Nam trước năm 1975

Vào thập niên 50 Karatedo được du nhập vào Việt Nam do cố võ sư Suzuki người Nhật lưu sống tại các tỉnh miền Trung bấy giờ truyền dạy Ông đã thu hút được nhiều thanh niên tham gia tập luyện, đặc biệt là ở Cố đô Huế vào thập niên 60 Cũng thời gian này tại thành phố Sài Gòn có sự đóng góp quan trọng của võ sư Hồ Cẩm Ngạc người có công truyền bá phong trào Karatedo miền Nam Trước 1975 phong trào tập luyện Karatedo ở miền Nam phát triển trong đó có sự đóng góp của

thầy Nguyễn Văn Ái ở Đồng bằng sông Cửu Long [51]

Karatedo Việt Nam phát triển từ năm 1975 đến nay

Sau năm 1975 tại các tỉnh phía Bắc, Hà Nội là trung tâm phát triển phong trào Karatedo do thầy Hoàng Vĩnh Giang xây dựng tổ chức phát triển và là nơi có

mô hình đào tạo chất lượng nhất nước ta Những năm đầu 1980 phong trào Karatedo đã đi vào quỹ đạo có tổ chức của nghành Thể dục thể thao Và cũng trong thời gian này, phong trào Karatedo do các tỉnh phía Bắc đặc biệt là Hà Nội phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Tháng 7/1989 Liên đoàn Karatedo Nhật Bản đã cử thầy Koichi Yamamura chuyên gia phát triển Karatedo Châu Á của Liên đoàn Karate Nhật Bản và trọng tài thế giới sang giảng dạy cho các võ sư, huấn luyện viên, vận động viên Việt Nam Đây là mốc đánh dấu lần đầu tiên Karatedo tiếp xúc hội nhập với Karatedo hiện đại quốc tế Cũng thời gian này Liên đoàn

Trang 22

Karatedo lâm thời Việt Nam được thành lập và ra mắt Ban chấp hành dưới sự chủ trì của ông Dương Nghiệp Chí đại diện cho Tổng cục thể dục thể thao Việt Nam, ông Hoàng Vĩnh Giang- giám đốc Sở TDTT Hà Nội giữ cương vị chủ tịch, ông Nguyễn Văn Thạnh (Thừa thiên – Huế) và ông Nguyễn Văn Ái (TP.HCM) là phó chủ tịch, ông Phạm Quốc Trọng (Hà Nội) làm tổng thư ký và và cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao là Bộ môn Karatedo trực thuộc Vụ thể thao thành tích cao của Tổng cục thể dục thể thao, trưởng bộ môn là ông Vũ Sơn Hà

Liên đoàn Karatedo lâm thời Việt Nam là một tổ chức thành viên của Liên đoàn Karatedo thế giới, đứng đầu là chủ tịch Hoàng Vĩnh Giang Trụ sở chính đặt tại 141 Trịnh Hoài Đức, Hà Nội; phụ trách văn phòng là tổng thư ký Phạm Quốc Trọng

Trong thành tựu chung của toàn ngành TDTT, có sự đóng góp của môn Karatedo Thành tích thi đấu quốc tế của Karatedo Việt Nam ngày càng khẳng định

vị trí trong khu vực và Châu Á và là môn thể thao mũi nhọn của Việt Nam.

1.3.3 Đặc điểm và xu hướng thi đấu môn Karatedo:

Thực chất môn võ Karatedo là môn võ mang tính khoa học, đơn giản và

dễ tập, đồng thời nó được xác định là môn thể thao nhằm nâng cao sức khỏe cho người tập Tính thực dụng thể hiện ở việc tập luyện nhằm chuẩn bị thể lực tốt hơn phục vụ cho hoạt động lao động cũng như nâng cao năng suất lao động Ngoài ra nó còn thể hiện là môn võ mang tính chiến đấu thể hiện thông qua 2 yếu tố là: phòng thủ và tấn công Karatedo là nghệ thuật chiến đấu bằng tay không, tập luyện môn này không chỉ dừng lại ở việc nắm một số kỹ thuật

cơ bản và giành một số thành tích trong thi đấu Kỹ thuật tự vệ Karatedo là kết quả của một quá trình kế thừa, gạn lọc, hiện đại hóa, khoa học hóa đến mức đơn giản nhất và có hiệu quả nhất Tính thực dụng của môn Karate thể hiện thông qua việc phối hợp hài hòa giữa kỹ thuật tay với kỹ thuật chân và toàn bộ cơ thể Ngoài ra tất cả các đòn đánh, đỡ, né tránh đều vận dụng trên nguyên tắc khoa học tuân theo quy luật đường thẳng và lực xoắn Mặt khác

Trang 23

các kỹ thuật môn Karatedo yêu cầu ở tính hiệu quả cao, dứt điểm nhanh trong thi đấu và kết thúc đòn phải có tư thế thủ (Zansin) Chính vì vậy để tấn công nhanh thì đường thẳng là hiệu quả nhất Đường thẳng không chỉ thể hiện trong tấn công mà còn thể hiện ngay trong quá trình di chuyển tấn công hay phản công, thông qua các bước di chuyển sang ngang, về phía trước, phía sau thì đều có đường thẳng là chủ yếu Mặt khác tính thực dụng còn thể hiện ở việc kỹ thuật động tác đơn giản dễ tập mang lại hiệu quả cao trong một thời gian tập luyện tương đối ngắn so với một số môn võ khác

1.3.3.1 Về kỹ thuật:

Kỹ thuật Karatedo yêu cầu tốc độ cực nhanh và sự bùng nổ đột ngột

Kỹ thuật chiến đấu Karatedo rất đa dạng và phong phú qua việc phối hợp biến hóa kỹ thuật tay và chân Đòn đánh thường đi theo đường thẳng, đơn giản, nên rất nhanh và khó đỡ

Kỹ thuật của Karatedo được xây dựng trên nền tảng của các nguyên lý khoa học và thực hiện chủ yếu trên đường thẳng đơn giản, nên rất nhanh và khó đỡ Hiện nay, kỹ thuật Karatedo được phân làm 3 loại chính sau đây:

- Tấn pháp (Basic stances): 14 thế tấn cơ bản

- Thủ pháp (Hand techniques): 15 đòn đấm

- Cước pháp (Foot Techniques):10 đòn đá

Tính hiệu quả của các kỹ thuật: cần đặc biệt chú ý phát triển sức mạnh chân, tay và hông trong thi đấu Karatedo hiện đại.Cũng như nhiều môn thể thao khác, nội dung huấn luyện kỹ thuật trong Karatedo cũng rất quan trọng Cấu trúc kỹ thuật, động tác càng phức tạp thì huấn luyện kỹ thuật càng quan trọng Một kỹ thuật hiệu quả là một kỹ thuật mà chỉ các nhóm cơ cần thiết tham gia vào chuyển động được kích hoạt, không lãng phí năng lượng để co các nhóm cơ khác không cần thiết cho chuyển động

Trang 24

- Kỹ thuật tay: trong Karatedo đòn tay chiếm khoảng 75% tổng số kỹ thuật, các kỹ thuật cánh tay và bàn tay rất nhanh và rất mạnh Trong những khoảng cách gần, cận chiến kỹ thuật tay là giải pháp tốt nhất để các đấu thủ ra đòn tấn công, phản công ghi điểm hiệu quả

- Kỹ thuật chân: theo Bob Chaney (2005) – một tác giả nghiên cứu võ học nổi tiếng của Mỹ cho rằng: trong Karatedo có khoảng 45% kỹ thuật chân được vận dụng trên sàn đấu Đòn chân của Karatedo thường cao nhưng tung

ra rất nhanh, mạnh liên hoàn nên khó đỡ và phản đòn Đòn chân thường được xem là mạnh hơn đòn tay 3 đến 4 lần, do khối lượng của chân to hơn và sự tham gia trực tiếp của hông cũng như xung lực vuông góc của hông VĐV có

kỹ thuật chân điêu luyện sẽ thuận lợi trong việc di chuyển, tung ra những cú

đá cực mạnh và bất ngờ, làm giảm khả năng, sức chiến đấu của đối phương

* Yêu cầu về năng lực thực hiện kỹ thuật:

Khả năng phối hợp vận động cụ thể là thể hiện sự phân biệt dùng sức, tính nhịp điệu của động tác, thực hiện động tác với sức mạnh tốc độ cao, trong khoảng thời gian ngắn nhất của bản thân

Về tố chất: thể hiện đầy đủ các tố chất nhưng biểu hiện cao nhất là: sức mạnh tốc độ, sức bền, sức nhanh và khả năng phối hợp vận động cao

Nội dung thi đấu Karatedo được tiến hành trên thảm thi đấu 8m x 8m theo qui định, vượt ra khỏi thảm thi đấu được xem như là vi pham luật và bị lỗi phạt, một VĐV bị phạt 4 lần trong thời gian tiến hành trận đấu thì bị loại (thua cuộc) Thực hiện kỹ chiến thuật trong thi đấu Karatedo là vận dụng kỹ thuật, thể lực, tâm lý nhằm mục đích bắt đối thủ phải chịu đựng gánh nặng tâm lý, làm kìm hãm khả năng của đối phương

Do những giới hạn trong luật thi đấu (loại trực tiếp, thi đấu trong 1

ngày, các vi phạm trong luật….), tính chất đối kháng quyết liệt trong môn

Karatedo, đòi hỏi sự nỗ lực ý chí và tính tranh đấu thể thao rất lớn, nên các

Trang 25

yếu tố tâm lý và kỹ, chiến thuật, thể lực có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình huấn luyện Khi mỗi nhân tố trong việc huấn luyện được phát huy như nhau giữa hai VĐV, thì người thắng kẻ thua sẽ xác định do trạng thái tinh thần Do thời gian thực hiện các hoạt động, kỹ chiến thuật rất hạn chế trong sự đối kháng mãnh liệt từ đối phương, chỉ cần sai lầm nhỏ cũng dễ dẫn đến thất bại, VĐV phải có những nỗ lực ý chí rất lớn huy động sức lực, khả năng tối đa của mình trong thời điểm quyết định để đi đến chiến thắng đối phương

1.3.3.2 Về chiến thuật:

Chiến thuật trong Karatedo mang tính đối kháng cá nhân, đòi hỏi VĐV phải tinh thông về mặt chiến thuật, luôn luôn có sự biến hóa hợp lý VĐV lập kế hoạch tấn công chớp nhoáng đồng thời đưa ra phương án phản công hiệu quả Nhìn chung chiến thuật được xây dựng theo hai phương án chính (chủ động tấn công và thụ động phản công)

- Chủ động: không chờ đối phương tấn công mà tìm hướng tấn công hay thực hiện động tác giả để thực hiện đòn tấn công

- Thụ động phản công: sau khi đối phương đã tấn công thì tìm hướng phản công hoặc sáng tạo đòn phản công

1.3.4 Một số điều luật thi đấu Karatedo:

Môn Karatedo là môn thi đấu đối kháng trực tiếp trong thời gian ngắn (1 trận thi đấu 3 phút cho VĐV nam và 2 phút cho VĐV nữ), thi đấu liên tục trong một ngày cho đến khi kết thúc trận chung kết nếu thắng cuộc liên tiếp (phương thức thi đấu loại trực tiếp) Do vậy đòi hỏi VĐV phải có trình độ thể lực tốt để đáp ứng hoạt động trong thời gian liên tục với khoảng nghỉ ít

Một kỹ thuật ghi điểm khi nó được thực hiện và hội đủ 6 tiêu chuẩn và đánh trúng vùng ăn điểm:

Trang 26

+ Các tiêu chuẩn: đòn thế đẹp, tinh thần thể thao, đòn đánh mạnh (có lực), ý thức phòng thủ (zanshin), đúng thời điểm, cự ly chuẩn

Trong đó, hai tiêu chuẩn quan trọng nhất để được công nhận điểm đó là sức mạnh khi ra đòn và sự tập trung tiêu điểm của lực (Kime or focus) Quan trọng hơn, trong mỗi đợt tấn công điểm chỉ được tính cho VĐV ra đòn trước

và hiệu quả Kết quả trận đấu được quyết định cho VĐV thắng cuộc khi VĐV này dẫn cách biệt 8 điểm so với VĐV kia; hết giờ, khi VĐV có số điểm cao hơn; hay là theo quyết định Heantei của tổ trọng tài; hoặc do VĐV phải nhận Hansoku, Shikkaku, Kiken theo luật qui định

+ Các vùng ăn điểm: đầu, mặt, cổ, bụng, ngực, lưng, lườn

Điểm ghi được sẽ bao gồm: Ippon (3 điểm), waza-ari (2 điểm), yuko (1 điểm) + Ippon được dành cho: các đòn đá Jodan, quật ngã hoặc quét ngã đối thủ nằm trên sàn rồi bồi tiếp bằng một kỹ thuật ăn điểm

+ Waza-ari được dành cho: các đòn đá vào vùng chudan

+ Yuko được dành cho: các đòn đấm chudan hay Jodan [17]

1.4 Đặc điểm thể lực của các môn võ thuật:

Theo Cochran S chuyên gia sức mạnh và thể lực, thành viên của Hiệp hội Sức mạnh và Thể lực Quốc gia Mỹ – NSCA – chuyên nghiên cứu về các môn võ thuật (2001) đã tổng kết các yêu cầu đặc thù của từng môn võ riêng biệt như sau:

Bảng 1.5: Các yêu cầu thể lực ở một số môn võ thuật

ƢA KHÍ

SỨC BỀN YẾM KHÍ

LINH HOẠT

SỨC MẠNH

CÔNG SUẤT (SM tốc độ)

Muay Thai Cao Trung bình Trung bình Trung bình Cao Jujitsu Thấp Thấp Trung bình Trung bình Trung bình

Trang 27

Qua đó có thể nhận định: ở từng môn võ thuật với các đặc thù thi đấu khác biệt, đều có những sự khác biệt về yêu cầu thể lực khác nhau Trong đó, Karatedo là môn có yêu cầu cao ở hầu hết các tố chất, năng lực vận động VĐV Karatedo phải có năng lực tố về sức bền ưa khí, sức bền yếm khí, công suất (sức mạnh tốc độ) và linh hoạt [28]

1.5 Đặc điểm sinh lý về trình độ tập luyện thể lực

1.5.1 Đặc điểm hình thái cơ thể ở lứa tuổi 16-18:

Ở lứa tuổi 16-18, về cơ bản các hệ thống cơ quan chức năng quan trọng của cơ thể đã hoàn thiện Chiều cao ngưng phát triển vì phần sụn nằm ở đầu xương đã được cốt hóa, độ cứng của xương chủ yếu đã hình thành, trừ những xương ống to, bộ xương trở nên vững chắc hơn, ít bị cong vẹo Cơ thể phát triển mạnh theo bề ngang và tăng trọng lượng Cơ bắp phát triển mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập luyện TDTT nhất là sức mạnh, sức bền

Cân nặng là chỉ tiêu có độ di truyền thấp, phản ánh mức độ phát triển các

tổ chức trong cơ thể, trong đó trọng lượng cơ bắp giữ vai trò chủ đạo Lượng

cơ lứa tuổi 16-18 đạt tới 43 – 45% khối lượng chung và đã có chất lượng mới, sức mạnh cơ tăng [10,11]

1.5.2 Đặc điểm chức năng cơ thể ở lứa tuổi 16-18:

Trong GDTC, chức năng của tim, huyết quản và phổi là nhân tố sinh lý quan trọng; trong đó, mạch đập, huyết áp và dung tích sống là các chỉ tiêu sinh lý bình thường dùng để tìm hiểu công năng tim phổi Tần số tim và mạch đập thống nhất ở trạng thái bình thường Lứa tuổi 16-18, mạch đập trung bình

ở nam là 77.5 4.4 lần/ phút; mạch đập trung bình ở nữ là 77.5 8.93 lần/ phút Huyết áp tâm thu của nam là 117.5 mmHg, huyết áp tâm thu của nữ là 110.2 mmHg Giá trị trung bình dung tích sống của nam khoảng 4124 ml, của

nữ khoảng 2871 ml

Trang 28

Hệ tim mạch, cùng với sự phát riển chung của khối lượng tim và hoạt động của tim, ở tuổi thanh niên thỉnh thoảng có hiện tượng to tâm thất trái, điều này trong y học gọi là ―sự nở to tim ở lứa tuổi thanh niên‖ Sự thích ứng của tim trở nên hoàn thiện hơn Tần số co bóp của tim giảm xuống tới 70-75 lần/ phút, huyết áp khoảng 115 mmHg

Hệ hô hấp, Sự phát triển của cơ quan hô hấp được hoàn thành, dung tích sống của phổi đạt tới 3-3.5 lít Điều hòa hô hấp thần kinh trở nên hoàn chỉnh hơn Quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh hơn, nhưng càng lớn thì sự trao đổi chất càng giảm dần

Cùng với việc đo và đánh giá sự phát triển bên ngoài, để nhận định đúng trình độ thể lực và khả năng hoạt động thể lực, cần kiểm tra chức năng các hệ

cơ quan trong cơ thể Thông thường trạng thái chức năng của các hệ cơ quan tương ứng với hình thể bên ngoài của cơ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tầm vóc có thể phát triển tốt nhưng tình trạng chức năng của hệ thần kinh trung ương, hệ hô hấp và hệ tuần hoàn phát triển không tốt [10,11]

1.5.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực ở lứa tuổi 16-18:

Tố chất thể lực của con người là tổng hòa các chất lượng của cơ thể biểu hiện trong từng điều kiện cụ thể của đời sống, lao động, học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động TDTT Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của các tố chất thể lực TDTT là phương tiện để nâng cao khả năng vận động, góp phần cải tạo thể chất con người

Các nhân tố về trạng thái chức năng của hệ thần kinh, chất lượng của các

cơ quan vận động và chức năng của các cơ quan đảm bảo năng lượng cho cơ thể hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đến các tố chất thể lực Hoạt động thể lực

có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất vận động

Trang 29

Trong hoạt động thể thao, tố chất thể lực là nội dung rất quan trọng trong huấn luyện thể lực cho VĐV Sự nâng cao thành tích thể thao không thể không dựa vào sự phát triển cao các tố chất thể lực Trong huấn luyện thể lực,

tố chất thể lực là các loại năng lực biểu hiện khi vận động của VĐV Ngoài các yếu tố tri thức, đạo đức, ý chí, kỹ thuật, chiến thuật, thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động thể chất của con người, trong đó có hoạt động TDTT [10,11]

1.6 Huấn luyện thể lực cho VĐV Karatedo:

1.6.1 Huấn luyện thể lực chung:

Là quá trình nhằm phát triển toàn diện các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau không đặc trưng cho một hoạt động riêng biệt nào

mà nó tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện thể lực chuyên môn.[14]

Huấn luyện thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn Tuy nhiên theo quan điểm thể thao hiện đại nó không phải là quá trình huấn luyện chung chung mà là xuất phát từ yêu cầu huấn luyện thể lực chuyên môn để lựa chọn phương tiện và phương pháp phù hợp Giáo dục mỗi tố chất thể lực cần thiết phải tuân thủ những quy luật riêng những phương pháp và biện pháp giáo dục riêng Có thể nói rằng thành tích thi đấu của VĐV Karatedo phụ thuộc rất nhiều vào thể lực chuyên môn

1.6.2 Huấn luyện thể lực chuyên môn:

Là quá trình giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm của môn chuyên sâu Nó có nhiệm vụ phát triển đến mức tối đa những năng lực đó của VĐV Huấn luyện thể lực chuyên môn hướng đến củng cố và nâng cao khả năng làm việc của cơ quan chức phận, các

tố chất thể lực phù hợp với môn thể thao lựa chọn

Trang 30

Tất cả các yếu tố thể lực như: sức nhanh, mạnh, bền, khéo léo… đều có vai trò đặc biệt quan trọng trong thi đấu Karatedo Do thi đấu trong thời gian dài với cường độ vận động liên tục trong thời gian 3 phút nên sức bền cũng là vấn đề quan trọng đối với VĐV Sức nhanh, sức mạnh… tạo cho VĐV đủ uy lực khi thực hiện chiến thuật tạo yếu tố bất ngờ cho đối thủ để giành chiến thắng

Qua đó có thể nhận định rằng ở môn Karatedo là môn có yêu cầu khá cao ở hầu hết các tố chất, năng lực vận động VĐV Karate phải có năng lực tốt

về sức bền ưa khí, sức bền yếm khí, công suất (sức mạnh tốc độ) và linh hoạt

Theo tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng: ―Tố chất thể lực

là những đặc điểm, mặt, phần tương đối riêng biệt trong thể lực của con người thường được chia làm 5 loại cơ bản: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khả năng phối hợp vận động và độ dẻo‖ [27]

1.7 Các tố chất thể lực đặc trƣng cho môn Karatedo :

Hoạt động thi đấu với cường độ cao nên hoạt động cơ thể chịu sự chi phối của cơ chế yếm khí và ưa khí hỗn hợp và hoạt động ở vùng cường độ tương đối cao Trong thi đấu mối quan hệ giữa thể lực và kỹ thuật mang tính nguyên tắc, yếu tố thể lực luôn đóng vai trò nền tảng, là cơ sở tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật, các tố chất sức nhanh, sức mạnh tốc độ, sức bền ưa yếm khí có vị trí cực kỳ quan trọng trong Karatedo

*Tố chất sức mạnh trong môn Karatdo:

Theo D Harre (1996) [6] và Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (2000) [26] sức mạnh là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng nỗ lực của cơ bắp, tức là khả năng sức mạnh khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp Daxưorơxki V.M (1978) phân chia sức mạnh thành sức mạnh tối đa (sức mạnh tuyệt đối), sức mạnh tương đối, sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) và sức mạnh bền

Trang 31

Sức mạnh-tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung [7]

Năng lực sức mạnh - tốc độ, sức mạnh bền đặc trưng cho phần lớn các môn thể thao nói chung và môn Karatedo nói riêng Đặc điểm sức mạnh của VĐV Karatedo hiện ở áp lực do VĐV tạo nên ra đòn

*Tố chất sức nhanh trong môn Karatdo: Theo khái niệm của

Daxưorơxki V.M (1978): Sức nhanh được coi là tố chất thể lực quan trọng là khả năng của con người hoàn thành những hoạt động vận động khoảng thời

gian ngắn nhất [7]

Người ta phân biệt 3 hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:

- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động

- Tốc độ động tác đơn (với lực đối kháng bên ngoài nhỏ)

- Tần số động tác

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau

Trong nhiều động tác thực hiện với tốc độ tối đa người ta quan sát thấy

2 giai đoạn:

+ Giai đoạn tăng tốc độ

+ Giai đoạn tốc độ ổn định tương đối

Trong tập luyện và thi đấu Karatedo, sức nhanh có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV Karatedo thể hiện ở khả năng ra đòn tấn công nhanh, phòng thủ di chuyển phản công nhanh

*Tố chất sức bền trong môn Karatedo:

Theo Daxưorơxki V.M (1978) sức bền là năng lực thực hiện lâu bền một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận

Trang 32

động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được Nói cách khác sức bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó [7] Theo Trịnh Hùng Thanh: ―Sức bền của con người do nhiều nguyên nhân khác quyết định, đặc biệt do các tố chất và hoạt động của hệ thần kinh trung ương Để có sức bền, VĐV phải rèn luyện không chỉ với cơ quan vận động, các cơ quan tuần hoàn mà cả ý chí và nghị lực‖ [7]

Vì sức bền luôn luôn là thành phần tất yếu của nhân tố thể lực, nên nó quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh Những mối quan hệ này thể hiện khá nổi trội trong môn Karate bằng các tố chất như: Sức mạnh - bền, sức bền - tốc độ Như vậy, có thể nói rằng sức bền rất đa dạng,

nó đặc trưng cho các môn thể thao nói chung và môn Karate nói riêng

*Tố chất mềm dẻo trong môn Karatedo:

Theo D.Harre (1996) [6] và Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (2000)

[28],”độ mềm dẻo là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối

đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo”

Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (2000) cho rằng: “Năng lực mềm dẻo

phụ thuộc vào đàn tính của cơ bắp và dây chằng Tính chất đàn hồi cao của

bộ máy vận động và sự phát triển chưa ổn định của hệ thống xương, khớp trong lứa tuổi thanh, thiếu niên là điều kiện rất thuận lại để phát triển năng lực mềm dẻo‖ [28]

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao Mềm dẻo rất cần thiết cho VĐV Karatedo để hoàn thành các bài tập với biên

độ động tác lớn Nhờ các bài tập chuyên môn, VĐV đạt được độ mềm dẻo tốt hơn, từ đó đáp ứng được đòi hỏi khi thực hiện các động tác trong thi đấu, nhất

là khi phải sử dụng nhiều đòn tay Tố chất mềm dẻo giúp VĐV Karate thực

Trang 33

hiện các đòn đá với biên độ lớn dễ dàng, nhanh hơn, mạnh hơn, chính xác hơn Tố chất mềm dẻo đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa đối với thành tích thi đấu của VĐV môn Karate Nếu không có dự trữ về khả năng mềm dẻo VĐV không thể đạt được sức mạnh tối đa trong động tác cũng như không đạt được hiệu quả tốt

*Năng lực phối hợp vận động (Tố chất khéo léo) trong môn Karate:

Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của VĐV (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết ở khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin) và được VĐV hình thành và phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lực khác như: sức mạnh, sức nhanh và sức bền

Năng lực phối hợp của VĐV còn được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹ xảo về kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động

và kỳ xảo về kỹ thuật có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể thì năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau

Theo D.Harre [6], Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (2000) [28]: Năng lực phối hợp vận động gồm 7 loại:

- Năng lực liên kết, năng lực định hướng, năng lực thăng bằng, năng lực nhịp điệu, năng lực phản ứng, năng lực phân biệt vận động, năng lực thích ứng

Một VĐV có trình độ rộng và cao về khả năng phối hợp vận động (bên cạnh vốn kỹ xảo phong phú) có thể lĩnh hội và nắm vững các bài tập vô cùng phức tạp, cho phép lĩnh hội hợp lý hơn các bài tập thể chất, đồng thời có tác dụng tích cực đối với việc hoàn thiện kỳ thuật thể thao cần thiết VĐV có khả năng phối hợp vận động tốt là điều kiện cơ bản để tuyển chọn những VĐV

Trang 34

Boxing có năng lực đặc biệt Trái lại, môn Karate, do đặc điểm nổi trội của

nó, có khả năng đảm bảo cho VĐV nắm bắt nhanh chóng và có chất lượng các kỹ thuật cơ bản ở môn học này, từ đó cũng có tác động trở lại là nâng cao các mặt khác nhau của năng lực phối họp vận động

1.8 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:

Thực tế đào tạo cho một VĐV cấp cao ở bất cứ môn thể thao nào cũng phải tuân thủ một quy trình khép kín từ:

Tuyển chọn - huấn luyện - kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện Việc kiểm tra đánh giá trình độ tập luyện không chỉ đánh giá hiện trạng năng lực của VĐV ở giai đoạn huấn luyện nhất định, mà còn thông tin phản hồi kết quả huấn luyện của HLV

Nhận thức được vấn đề này, có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đi sâu vào từng mặt hình thể, chức năng, khả năng tâm lý, sinh lý các tố chất thể lực chung và chuyên môn nhằm xác định các tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của VĐV cho phù hợp từng môn thể thao Đối với Môn karatedo, một số công trình nghiên cứu trong nước đã công bố như:

Nguyễn Anh Tú (2006) nghiên cứu về thể lực có 5 test: bật nhảy Adam l0s (lần); nhảy dây 15s (lần); nằm sấp chống đẩy 15s (lần); xoạc ngang (cm); xoạc dọc (cm); gập thân về trước (cm), về kỹ thuật có 7 test: di chuyển tấn theo

đồ hình (điểm); tấn kiba đấm tốc độ 15s (lần); thực hiện đòn đá thẳng trước trong 30s (lần); thực hiện đòn đá vòng cầu trong 30s (lần); đấm 3 đích hình nan quạt trong 30s (lần); đá 2 đích đối diện cách 3.4m đối với nam và 3m đối với nữ trong 30s (lần); Đấm tay sau hai đích đối diện cách 2.5m 30s (lần),

Cao Hoàng Anh (2000) nghiên cứu một số bài tập phát triển thể lực cho

võ sinh nam Karatedo lứa tuổi 15 – 16

Hồ Hải Quang (2006) sử dụng một số test và bài tập đánh giá khả năng linh hoạt của người tập Karate

Vũ Văn Huế (2008) đã đánh giá trình độ thể lực và kỹ thuật của VĐV Karatedo đội tuyển TP.HCM, tác giả sử dụng hệ thống các chỉ tiêu thể lực, kỹ

Trang 35

thuật, y sinh học để đánh giá chức năng, nhiều test trùng lặp với công bố của Viện khoa học

Đỗ Thùy Giang Phượng (2011) Nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu tuyển chọn cho nam VĐV trẻ môn Karatedo TPHCM lứa tuổi 13 – 14 qua 01 năm tập luyện

Trần Tuấn Hiếu (2003), Nghiên cứu sự phát triển sức mạnh tốc độ của VĐV Karatedo từ 12 – 15 tuổi

Trương Quang Vũ Triết (2013), Nghiên cứu tác động của bài tập thể lực đến VĐV Karatedo tỉnh Bình Dương sau 1 năm tập luyện

Ở nước ngoài, có một số công trình nghiên cứu như:

Beneke (2004) nghiên cứu về trao đổi chất và năng lượng của VĐV Karate thi đấu nội dung Kumite [52]

Iide (2008) nghiên cứu về phản ứng sinh lý của nam VĐV thanh niên

và trẻ đối với các trận thi đấu [46]

Imamura (1998) nghiên cứu về VO2 max, thành phần cơ thể và sức manh của VĐV thi đấu Karate [47]

Sterkowicz (2009) nghiên cứu về hệ thống test điều khiển học về thể chất đối với VĐV Karate [48]

Như vậy, có thể thấy rằng, trong các nghiên cứu của Karatedo nói chung, Karatedo ở Đồng Tháp nói riêng chưa được chú ý, kể cả là hệ thống lý luận, tuyển chọn huấn luyện khoa học, và đặc biệt là các test đánh giá trình độ thể lực cho VĐV Karatedo Vì vậy trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu Đánh giá trình độ thể lực của nữ VĐV đội tuyển trẻ Karatedo Đồng Tháp qua

1 năm (2014- 2015), dựa trên các test y- sinh và các test thực nghiệm sư phạm Đồng thời phải qua phương pháp phỏng vấn tìm ra các test có độ tin cậy cao, phù hợp với đội tuyển Karatedo Đồng Tháp

Trang 36

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1.Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.1.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu và phân tích tư liệu:

Việc sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu là phục vụ chủ yếu cho việc giải quyết nhiệm vụ của đề tài Các tài liệu chuyên môn có liên quan được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, đây là sự tiếp nối bổ sung các luận cứ khoa học và tìm hiểu những vấn đề liên quan đến thể lực Nghiên cứu phân tích tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để tìm ra cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, xác định mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp

và tổ chức nghiên cứu, dự báo kết quả nghiên cứu, lựa chọn các bài tập chuyên môn, các test đánh giá thể lực phù hợp với thực tiễn của môn Karate Các tài liệu bao gồm về nhân trắc, sinh lý, sư phạm, lý luận giáo dục thể chất

và HLTT, các kiến thức về huấn luyện thể thao thành tích cao trong môn võ thuật

Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tư liệu khác nhau để tìm ra các luận cứ khoa học phù hợp với thực tiễn Việt Nam

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn:

Nhằm tham khảo ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học trong trong lĩnh vực thể thao và môn Karatedo Đối tượng phỏng vấn gồm các chuyên gia, huấn luyện viên , trọng tài Karatedo… Những vấn đề đề tài quan tâm khi sử dụng phương pháp này là chọn lựa chỉ tiêu đánh giá thể lực, các yếu tố chịu ảnh hưởng đến thể lực dưới tác động của lượng vận động tập luyện và thi đấu,

là cơ sở xem xét việc thực hiện kế hoạch huấn luyện năm của nữ đội tuyển Karatedo Đồng Tháp

Trang 37

2.1.3 Phương pháp kiểm tra chức năng:

Công năng tim (HW):

Công năng tim là bài test có hoạt động định lượng, là phương pháp kiểm tra y học rất có giá trị, cho ta lượng thông tin về trình độ tập luyện của VĐV cũng như tuyển chọn

Trong và ngay sau khi thực hiện một lượng vận động định lượng, vận động viên nào có trình độ tập luyện tốt hơn thì nhịp tim tăng chậm hơn và khả năng hồi phục nhanh hơn Nghĩa là sau 1 đến 2 phút nhịp tim nhanh chóng trở lại sát với nhịp tim lúc nghỉ

Phương pháp tiến hành thử nghiệm

Hướng dẫn trước cho tất cả nghiệm thể các bước sẽ phải tiến hành Từ bước lấy mạch trước vận động đến động tác đứng lên, ngồi xuống sao cho đúng nhịp đếm, khi ngồi hai gót chân phải chạm mông và khi đứng phải thẳng không chùng

Trước khi lấy mạch trước vận động, nghiệm thể cần được ngồi nghỉ ngơi thoải mái từ 15 phút trở lên Sau đó bắt mạch lúc nghỉ trong 15 giây, lấy

3 lần liền Nếu cả 3 lần bắt mạch có số mạch trùng nhau thì ta được mạch lúc nghỉ và ký hiệu là P1 Nếu trong 3 lần bắt mạch đó có sự chênh lệch nhau một nhịp trở lên thì nghiệm thể phải ngồi nghỉ

Cho người thực hiện đứng lên – ngồi xuống theo máy đếm nhịp 30 lần trong 30 giây Nếu làm sai nhịp phải ngồi nghỉ, sau 15 phút làm lại

Bắt mạch trong 15 giây ngay sau vận động ký hiệu là P2

Bắt mạch trong 15 giây sau vận động 1 phút ký hiệu là P3 Sau đó kết thúc kiểm tra

Phương pháp tính toán và đánh giá kết quả

Chỉ số công năng tim được tính theo công thức sau:

Trang 38

(f 1 + f 2 + f 3 ) - 200

10 Trong đó: HW (Heart Work) là chỉ số công năng tim

Dụng cụ: máy phế dung kế

Phương pháp tiến hành:

- Nghiệm thể được nghỉ ngơi thoải mái

- Hướng dẫn cách thở cho nghiệm thể Người thực hiện đứng ở tư thế thoải mái hít vào thở ra bình thường rồi hít vào thật sâu và thở ra chậm cho đến hết sức vào ống thở của phế dung kế và xem kết quả trên máy Đo 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 15 giây Lấy dung tích sống ở lần có kết quả cao nhất

HW =

Trang 39

Chỉ số VO2max:

- Phương pháp kiểm tra VO2max gián tiếp: (Leger L, 1989) thông qua

Shuttle run test

Trang thiết bị: Trên sân bóng, chuẩn bị đường chạy dài 20m Chiều

rộng đủ cho cả đội chạy cùng một lúc, máy Cassete, băng phát nhịp chuẩn

Quy trình thực hiện: Sau bài tập khởi động thông thường, các VĐV đứng

thành hàng ngang trên sân Khi nghe tiếng ―từng, tứng, tưng‖ và ―bắt đầu mức 1‖ phát ra từ máy cassete thì các VĐV bắt đầu chạy về vạch đối diện theo đúng nhịp độ phát trên máy cassete (không nhanh hơn và cũng không chậm hơn) Khi tới vạch đổi diện, nghe tiếng ―bíp‖ VĐV phải chạy về và cứ liên tục như vậy Cứ sau một phút nhịp độ tiếng ―bíp‖ tăng lên

Đánh giá: Khi VĐV không thể chạy tiếp hoặc không bắt kịp nhịp độ

tiếng ―bíp‖ thì cho VĐV ngưng và ghi lại số mức đạt được So sánh số mức đạt được với bảng tính chuẩn để suy ra giá trị V02max dự báo Bảng chuẩn tính V02max gián tiếp (xem phụ lục 2)

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm (phương pháp test):

Thông qua các test sư phạm để tiến hành kiểm tra và đánh gíá về thể lực chung và thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên Karatedo đội tuyển Đồng Tháp, các test được tiến hành bao gồm:

Phương pháp thực hiện: Cho 5 em thực hiện 1 lần chạy (xuất phát cao,

không đà) mỗi em thực hiện 3 lần lấy thành tích cao nhất, được tính bằng giây(s)

Dụng cụ thực hiện: Đồng hồ bấm, còi

Trang 40

Illinois Agility test:

Mục đích: Đánh giá khả năng linh hoạt khi đổi hướng của VĐV

- Dụng cụ trang thiết bị sử dụng trong thục hiện test:

+ Còi: 1 cái

+ Đồng hồ bấm giây 1 cái

+ Cọc giới hạn (cọc cao từ 30cm – 40cm có màu sáng)

+ Địa điểm: Rộng rãi, thoáng mát, bằng phẳng và không có chướng

ngại vật xung quanh, diện tích 25m x 25m, chuẩn bị đường chạy

Sơ đồ test chạy Illinois Agiliti

Quy trình thực hiện:

+ Chiều dài của sơ đồ là 10m, ngang 5m Bốn cọc dung làm vạch xuất phát và kết thúc và 2 mốc chạy ngược lại Bốn cọc giữa đặt cách nhau 3,3m VĐV đứng tại vị trí xuất phát, thực hiện chạy càng nhanh càng tốt theo hình

sơ đồ

+ Đánh giá kết quả:Thực hiện 1 lần, đơn vị tính giây (s)

Ngày đăng: 23/12/2020, 08:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w