Tiểu kết chương 1 CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI LỖI DÙNG TỪ, BIỆN PHÁP SỬA LỖI DÙNG TỪ TRONG BÀI VIẾT VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP 2.1..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2018 – 2019
KHẢO SÁT LỖI DÙNG TỪ TRONG BÀI VIẾT VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2018 – 2019
KHẢO SÁT LỖI DÙNG TỪ TRONG BÀI VIẾT VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP
SPD 2018.02.31
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng Chủ nhiệm đề tài (ký, ghi rõ họ tên) (ký, họ tên)
Đồng Tháp, 5/2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu với tên Khảo sát lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở Trường Thực hành sư phạm, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp Chúng tôi đã nhận được sự cộng tác nhiệt tình của thầy cô giáo và các em học sinh Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Giáo dục, các cô giáo và học sinh trường tiểu học Thực hành sư phạm Đặc biệt, tôi vô cùng cảm ơn TS Trần Đức Hùng, người
đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu về phân môn Tập làm văn
2.2 Tình hình nghiên cứu về lỗi dùng từ
3 Mục tiêu
4 Đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc đề tài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm về từ
1.1.2 Lỗi dùng từ trong tiếng Việt
1.2 Một số vấn đề về lỗi ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm Lỗi ngôn ngữ
1.2.2 Quan điểm về phân tích lỗi
1.2.3 Yêu cầu chung của việc dùng từ trong tiếng Việt
1.3 Chương trình phân môn Tập làm văn và văn miêu tả lớp 4
1.4 Tâm sinh lí của học sinh tiểu học
1.4.1 Tâm lí của học sinh tiểu học
1.4.2 Khả năng nhận thức của học sinh lớp 4
1.5 Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI LỖI DÙNG TỪ, BIỆN PHÁP SỬA LỖI
DÙNG TỪ TRONG BÀI VIẾT VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4
Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP
2.1 Mục đích, nội dung, địa điểm, phương pháp khảo sát
Trang 52.3.1 Lỗi dùng từ không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
2.3.2 Lỗi dùng từ không đúng nghĩa
2.3.3 Lỗi dùng từ không đúng về quan hệ kết hợp
2.3.4 Lỗi dùng từ không đúng về phong cách văn bản
2.3.5 Lỗi lặp từ, thừa từ
2.4 Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN THỰC TRANG LỖI DÙNG TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG THỰC HÀNH SƯ PHẠM, THÀNH CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP
3.1 Nguyên nhân mắc lỗi
3.1.1 Nguyên nhân khách quan
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan
3.2 Một số đề xuất cải thiện thực trạng lỗi dùng từ trong các bài văn miêu tả 3.2.1 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả dùng từ của học sinh
3.2.2 Một số bài tập củng cố và chữa lỗi dùng từ của học sinh
3.3 Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỤC LỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Nội dung chương trình phân môn Tập Làm Văn lớp 4
Bảng 2.1: Phân loại lỗi từ của học sinh lớp 4, Trường Thực hành sư phạm Bảng 2.2:Phân loại lỗi dùng từ không đúng nghĩa của học sinh
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GD: Giáo dục HS: Học sinh GV: Giáo viên VD: Ví dụ SGK: Sách giáo khoa TLV: Tập làm văn LTVC: Luyện từ và câu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Dạy - học từ ngữ từ trước đến nay luôn được xác định là một nhiệm
vụ quan trọng trong giáo dục phổ thông, đặc biệt là trong bộ môn Ngữ văn Vai trò của dạy học từ ngữ trong nhà trường được cụ thể hóa bằng những yêu cầu, mục tiêu và phương pháp cụ thể gắn liền với nội dung dạy học này Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả dạy - học từ ngữ chưa đáp ứng được những yêu cầu đã đặt ra Xoay quanh việc dạy và học từ ngữ còn nhiều vấn đề tồn tại, trong đó phải kể đến vấn đề về lỗi sử dụng từ ngữ của học sinh trong nhà trường
1.2 Từ ngữ có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp của con người, trong đó có học sinh tiểu học Ở tiểu học, học sinh lớp 4 có số lượng vốn từ phát triển khá phong phú Nhưng chúng tôi thấy ở lứa tuổi này do trình
độ ngôn ngữ còn hạn chế, vốn tiếng mẹ đẻ còn chưa phong phú, do đặc điểm lứa tuổi còn chi phối nhiều đến việc tiếp nhận từ của các em…Vì vậy các em mắc rất nhiều lỗi về dùng từ thuộc nhiều kiểu, dạng lỗi khác nhau với những nguyên nhân và cơ chế mắc lỗi rất phong phú đa dạng Một câu hỏi đặt ra với tôi là làm thế nào để khắc phục được lỗi dùng từ sai của học sinh và liệu có biện pháp gì giúp các em phòng ngừa được những lỗi thường mắc hay không? 1.3 Văn miêu tả có vai trò quan trọng rất lớn đối với học sinh tiểu học Viết văn miêu tả giúp HS có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền những rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm Một bài văn hay là một bài văn mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình: con người, cảnh vật, đồ vật…cụ thể, sống động như nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc sống Như vậy, có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ Và
để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng
Trang 9hợp của các môn học Kiến thức của các môn học này cộng với vốn sống thực
tế sẽ giúp học sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động Qua đó, bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp
1.4 Hiện nay, có nhiều học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp 4 không hiểu hết được nghĩa của từ đó là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm Trên thực tế, không phải bất cứ ai cũng có thể hiểu từ và sử dụng một cách tối
ưu khi nói và viết nhất là học sinh tiểu học Chúng tôi thấy ở lứa tuổi này do trình độ ngôn ngữ còn hạn chế, vốn tiếng mẹ đẻ còn chưa phong phú, do đặc điểm lứa tuổi còn chi phối nhiều đến việc tiếp nhận từ của các em Từ việc không hiểu được hết nghĩa của từ, dẫn đến việc các em gặp khó khăn trong quá trình viết văn bản nói chung và các bài văn miêu tả nói riêng Do đó, các bài viết của các em sẽ kém hấp dẫn và thuyết phục
Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở trường tiểu học thực hành sư phạm thành phố Cao Lãnh Đồng tháp” với mong muốn sửa lỗi dùng từ cho học sinh sẽ giúp các em dùng từ đúng hơn trong văn bản, trong giao tiếp, đồng thời giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu về phân môn Tập làm văn
Phân môn Tập làm văn được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có vị trí và vai trò nhất định trong việc cung cấp kiến thức cho các
em Đối với phân môn Tập làm văn ở Tiểu học, văn miêu tả có vị trí đặc biệt quan trọng Ở Việt Nam, có không ít nhà nghiên cứu đã nghiên cứu đề tài liên quan đến bài văn miêu tả của học sinh tiểu học
Năm 2000, tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Dạy tập làm văn ở trường Tiểu học đã nêu những nhận xét khái quát về văn miêu tả: thế nào là văn miêu
Trang 10tả? đặc điểm của văn miêu tả và văn miêu tả trong trường Tiểu học Đồng thời, tác giả cũng đưa ra phương pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học và một số kinh nghiệm bài tập làm văn cho tốt
Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Thư đã có công trình nghiên cứu về Chữa lỗi dùng từ, đặt câu cho học sinh tiểu học lớp 4,5 qua các bài tập làm văn Trong khóa luận của mình, tác giả Nguyễn Thị Thư chỉ mới đề cập đến hai loại lỗi về dùng từ và đặt câu của học sinh lớp 4, 5 ở tiểu học
Năm 2008, tác giả Đặng Thị Nghiêm đã nghiên cứu về vấn đề Biện pháp khắc phục lỗi dùng từ sai văn cảnh của học sinh tiểu học
Năm 2012, Tác giả Hồng Thị Nga đã nghiên cứu về Tìm hiểu những lỗi thường gặp trong các bài văn miêu tả của học sinh tiểu học Trong bài nghiên cứu này tác giả tác giả đã phân loại được 4 lỗi như sau: lỗi về chữ viết, lỗi về dùng từ ngữ, lỗi câu, lỗi về tổ chức văn bản, đoạn văn bản Nhưng chưa tìm hiểu sâu sắc về lỗi dùng từ cho học sinh
Cũng trong năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Hồng Liên đã nghiên cứu về vấn đề Xây dựng hệ thống bài tập luyện viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5 Trong công trình của mình, tác giả đã xây dựng những bài tập luyện viết câu, luyện viết đoạn văn, luyện viết bài văn Như vậy, tác giả tập trung vào hệ thống bài tập văn miêu tả theo các phần cụ thể
Năm 2013, tác giả Đinh Thị Yến có công trình nghiên cứu về Một sô biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5 trường tiểu học Tường Hạ huyện Phú Yên tỉnh Sơn La Tác giả đã đưa ra một số biện pháp: Giúp học sinh hiểu rõ đối tượng của văn miêu tả; Rèn kỹ năng quan sát cho học sinh; Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý; Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ miêu tả và tưởng tượng khi miêu tả; Rèn kỹ năng viết câu, đoạn trong bài tập làm văn cho học sinh; Hướng dẫn xây dựng đoạn văn mở bài thân bài kết bài và xây dựng bố cục, Bổ sung vốn hiểu biết và kỹ năng sống của học sinh, ra đề bài văn miêu tả
Trang 11Như vậy, qua các công trình trên, chúng tôi thấy đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề văn miêu tả của học sinh Các tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề: Khái quát về văn miêu tả, đặc điểm văn miêu tả; làm thế nào
để các em viết văn hay hơn, trau chuốt hơn? Đề xuất một số biện pháp, một số
hệ thống bài tập để giúp học sinh luyện viết văn hay hơn
2.2 Tình hình nghiên cứu về lỗi dùng từ
Trong quá trình phát triển tư duy, xét từ nhiều góc độ khả năng cảm thụ
và sử dụng từ của học sinh tiểu học giữ một vai trò hết sức quan trọng Bởi vì vốn từ càng phong phú thì khả năng diễn đạt càng đa dạng Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này
Năm 1997, hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp trong
“Tiếng Việt thực hành” NXB ĐHQG Hà Nội nêu lên một số kiểu lỗi như: “ Lỗi do lặp từ” tác giả đã nêu lên khái niệm lặp từ và các ví dụ phân tích để thấy lặp từ sẽ làm cho câu văn mất đi giá trị, chứng tỏ sự nghèo nàn về vốn từ của người viết, người nói, đồng thời tác giả còn đưa ra cách khắc phục là bỏ
từ trùng lặp hoặc thay nó bằng từ đồng nghĩa; “Lỗi dùng từ không đúng nghĩa” do người viết, người nói không nắm được nghĩa của từ, nhất là từ Hán Việt, ngôn ngữ khoa học, nhầm lẫn từ gần âm, gần nghĩa dấn đến dùng từ diễn đạt không đúng với nội dung cần thiết; “Lỗi dùng từ không hợp phong cách” - là lựa chọn từ không hợp văn cảnh, hoàn cảnh giao tiếp hay thể loại văn bản dẫn đến sai nội dung văn bản Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra một số bài tập để phân tích từng loại lỗi
Năm 1998, nhóm tác giả Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng trong giáo trình Tiếng Việt thực hành, đã nêu lên một số kiểu lỗi về dùng từ trong văn bản và cách sửa chữa như: “Lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo từ” theo các tác giả thì “từ” là một đơn vị có nhiều bình diện trong đó không thể thiếu mặt âm thanh và hình thức cấu tạo Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, là cái biểu đạt của từ Trong chữ quốc ngữ, thứ chữ theo nguyên tắc ghi âm, âm thanh
và hình thức cấu tạo của từ được ghi lại bằng các chữ cái Khi viết văn bản cần
Trang 12ghi lại đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được sử dụng Nếu không sẽ không biểu hiện được chính xác và không làm cho người đọc văn bản lĩnh hội được hết nội dung, ý nghĩa một cách chính xác nhất “Lỗi về nghĩa của từ” - từ được dùng phải phù hợp với nội dung định thể hiện, phù hợp với đối tượng được nói đến trong câu; dùng từ cần đạt các yêu cầu: đúng nghĩa biểu vật, biểu niệm, biểu thái Đôi khi do không phân biệt nghĩa đen, nghĩa bóng cũng dẫn đến việc dùng từ sai nghĩa “Lỗi về kết hợp từ” - là các từ kết hợp nhau không đúng bản chất ngữ pháp, không đúng quan hệ ngữ nghĩa, dùng từ thiếu hụt từ, thừa các quan hệ từ, không đúng đặc điểm kết hợp Dùng từ trong văn bản tránh bệnh sáo rỗng, công thức - nghĩa là dùng những từ sáo mòn, những chữ sẵn, điệu nói sẵn như con vẹt bất kể nội dung diễn đạt như thế nào Bệnh sáo rỗng, công thức tạo
ra những câu văn “đao to búa lớn” mà nội dung chung chung nghèo nàn Qua đó, nhóm tác giả đã đưa ra phần lớn các lỗi mà HS thường mắc phải do không nắm vững kiến thức hay cẩu thả dẫn đến dùng từ
Năm 2002, các tác giả Hồ Lê (chủ biên) – Trần Thị Ngọc Lang – Tô Đình Nghĩa trong “Lỗi dùng từ và cách khắc phục” Nxb KHXH đã chỉ ra lỗi
từ vựng thường gặp và cách khắc phục bao gồm: “Lỗi viết sai âm gây ra những lẫn lộn về nghĩa”; “Lỗi do hiểu sai nghĩa từ” trong đó có các từ bị hiểu sai nghĩa hoàn toàn hoặc sai một phần; “Lỗi do sự phối hợp nghĩa một số từ không khớp hoặc bị trùng lặp” Các tác giả đã đưa ra các ví dụ cụ thể về từng loại lỗi và phân tích cái sai của từng ví dụ, đưa ra cách khắc phục Ngoài ra các tác giả còn đưa ra một số bài tập sửa lỗi từ vựng và rèn cách dùng từ sao cho phù hợp nhất
Năm 2015, tác giả Võ Thị Hà Giang đã nghiên cứu về Thực trạng lỗi dùng từ trong bài tập làm văn của học sinh lớp 2, 3 và biện pháp khắc phục Năm 2015, tác giả Bùi Thị Thu đã nghiên cứu về: “Lỗi dùng từ của học sinh lớp 4 nguyên nhân và biện pháp khắc phục” Trong công trình nghiên cứu tác giả đã đưa ra các căn cứ phân loại lỗi dùng từ: dùng từ đúng âm thanh
và hình thức cấu tạo, dùng từ phải đúng về nghĩa, dùng từ phải đúng về quan
Trang 13hệ kết hợp, dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản, dùng từ phải đúng tính hệ thống của văn bản, cần tránh hiện tượng lập, thừa
từ không cần thiết và sáo rỗng công thức Bên cạnh đó tác giả đã đưa ra biện pháp khắc phục lỗi dùng từ cho học sinh lớp 4: xây dựng các bài tập nhằm sửa chữa, khắc phục lỗi dùng từ sai về nghĩa; dùng từ không đúng quan hệ kết hợp và dùng từ không đúng phong cách
Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn miêu tả và lỗi dùng từ của học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng Những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với việc giáo dục cho học sinh, nhưng chưa có công trình nào quan tâm một cách toàn diện về việc chữa lỗi dùng từ trong văn miêu tả của học sinh tiểu học tại trường thực hành sư phạm thành phố Cao Lãnh Do đó, tìm hiểu về thực trạng về “lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh tiểu học tại trường Thực hành sư phạm thành phố Cao Lãnh” là một yêu cầu khách quan và cần thiết
3 Mục tiêu
- Giới thiệu được những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát được các loại lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở Trường Thực hành sư phạm, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp
- Xác định nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất cải thiện thực trạng lỗi dùng
từ cho học sinh lớp 4 ở Trường Thực hành sư phạm, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là lỗi dùng từ trong bài viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở trường Thực Hành sư phạm Thành phố Cao Lãnh Đồng Tháp
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, phân loại, phân tích, tổng hợp các sách báo, tài liệu, sách giáo khoa… có liên quan nhằm làm cơ sở lí luận cho đề tài
Trang 14- Phương pháp điều tra: chúng tôi sử dụng phương pháp này để điều tra, đánh giá thực trạng lỗi dùng từ trong văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở trường Thực hành sư phạm Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, chúng tôi khảo sát tính khả thi của hệ thống bài tập đã xây dựng
- Phương pháp thống kê: đây là phương pháp được sử dụng để thống kê, phân loại các lỗi trong bài viết văn miêu tả của học sinh mà chúng tôi khảo sát được
6 Cái mới của đề tài
Lần đầu tiên nội dung khảo sát lỗi dung từ của học sinh Tiểu học trên địa bàn trường Thực hành sư phạm thành phố Cao lãnh được tìm hiểu, khảo sát, phân tích, miêu tả: nguyên nhân và những biện pháp giải pháp ngôn ngữ học nhằm hạn chế lỗi dung từ được đề xuất
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm về từ
Trong cuộc sống hàng ngày, hoạt động giao tiếp của con người cần phải
sử dụng từ ngữ để tạo lập văn bản (nói, viết), để phục vụ những nhu cầu cần thiết của mình Thế nhưng con người vẫn chưa biết chính xác thế nào là từ Cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Nhưng đa số chỉ đưa ra một số đặc điểm của từ, chưa có một khái niệm hay định nghĩa chung hoàn chỉnh Từ là một số các đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ,
có cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh được dùng để cấu tạo nên câu Từ
có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ) Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp
độ khác nhau, như cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong các học, cú pháp học…
Từ là ngôn ngữ đã có sẵn, thuộc kho từ vựng của ngôn ngữ và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người Nó là tài sản chung của xã hội Khi giao tiếp mỗi người huy động vốn tài sản đó để tạo ra lời nói hoặc văn bản Mỗi người có thể có phong cách ngôn ngữ cá nhân, có thể có đóng góp và sáng tạo trong việc dùng từ Tuy thế trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản
là một hoạt động xã hội, muốn biểu lộ được chính xác ý tưởng của mình và muốn người khác lĩnh hội được chính xác ý tưởng đó thì mỗi người phải biết dùng từ đúng – dùng từ theo những yêu cầu chung Việc hiểu từ và sử dụng từ đúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong giao tiếp cũng như tạo lập văn bản
Các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, thừa nhận tính chất cơ bản trung tâm của từ trong ngôn ngữ nhưng từ đó đi đến
Trang 16một định nghĩa thỏa đáng về từ thì đa số đều cảm thấy rất khó Cái khó trong việc định nghĩa từ một phần do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khác nhau về nguồn gốc, có những đặc trưng rất khác biệt nhau Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà ngôn ngữ học chủ trương rằng không thể tìm được một định nghĩa về từ có tính chất phổ quát cho các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, thậm chí các ngôn ngữ cùng một nhóm Vì vậy, phương châm đúng đắn nhất trong việc xác định từ, trong việc đi tìm một định nghĩa về từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất, chú ý tới tính phổ quát của từ nói chung, mặt khác phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ
Cho đến hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy tồn tại nhiều khái niệm về
từ tiếng Việt Chúng tôi xin điểm qua một số khái niệm Dưới đây, chúng tôi xin nêu ba định nghĩa về từ tiếng Việt:
- Theo tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8; tr.330-331] Ở định nghĩa này, tác giả đã cho ta thấy được từ là một số âm tiết cố định, không thay đổi đặc điểm ngữ pháp, kết cấu nhất định, kết hợp lại để tạo thành câu Tác giả đã nói lên được cấu tạo và đặc điểm ngữ pháp của nó
- Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thế nhỏ nhất
có ý nghĩa dùng để tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [4; tr.10] Đối với Nguyễn Thiện Giáp, ông đã có một định nghĩa ngắn gọn
và súc tích hơn, từ là một chỉnh thể nhỏ, một âm tiết, một chữ được viết rời Ở đây tác giả đã tác giả đã có một cách nhìn tổng quát về hình thức của từ
- Theo tác giả Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ,
có thể tách khỏi các ngôn ngữ khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập
và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp” [dẫn
Trang 17theo 12; tr.72] Với định nghĩa này, chúng ta có thể thấy được từ có tính độc lập, không phụ thuộc, mộ mình nó đã là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa, chức năng
Chúng ta có thể thấy hiện nay tồn tại rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về từ nói nói chung, cũng như từ Tiếng Việt nói riêng Những cách hiểu
đó, xuất phát từ những góc nhìn, những quan điểm khác nhau Nhưng tựu trung lại, qua các định nghĩa trên, có thể thấy được từ tiếng Việt có những đặc điểm cơ bản sau:
- Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ (tiếng Việt)
- Từ có hình thức ngữ âm cố định, bất biến và có ý nghĩa
- Từ có đặc điểm về cấu tạo và ngữ pháp
- Từ có chức năng tạo câu
Như vậy, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi thống nhất cách hiểu về từ theo định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” Đây là định nghĩa đang được nhiều người quan tâm và sử dụng nhiều nhất
1.1.2 Đặc điểm của từ Tiếng Việt
1.1.2.1 Đặc điểm về ngữ âm
Hình thức âm thanh của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu Tính cố định, bất biến có mối quan hệ mật thiết với tính độc lập tương đối cao của từ tiếng Việt đối với câu, với ngôn cảnh Có thể nói ở các ngôn ngữ biến hình, với những mức độ khác nhau, chỉ
có các “từ - cú pháp” mà không có các từ “phi cú pháp” Các từ tiếng Việt khác hẳn Chúng ta có từ sách nói chung, từ sách không mang trong lòng mình bất cứ một dấu vết nào của các quan hệ, các chức năng cú pháp
Trang 18Thuật ngữ ngôn cảnh được hiểu là hoàn cảnh ngôn ngữ trực tiếp của từ như lời nói miệng, bài, đoạn, câu và các từ ngữ khác chung quanh nó Cần phân biệt với ngữ cảnh là hoàn cảnh tổng quát của một hành vi giao tiếp Trong tiếng Việt cũng như trong tất cả các ngôn ngữ khác - và có thể trong tiếng Việt thì nhiều hơn - có không ít những từ mà hình thức âm thanh gợi tả cái mà nó biểu thị: đó là các từ tượng thanh, những từ mà hình thức âm thanh của nó mô phỏng âm thanh của tự nhiên Không kể những từ như ầm ầm, ào
ào, vù vù, vi vu, róc rách, líu lo là từ tượng thanh chân chính trực tiếp miêu
tả âm thanh, các từ như (con) bò, (con) mèo, (con) chút chít (đồ chơi của trẻ
em có miệng sáo); cạch (bắn súng cối: “cẩn thận không chúng nó cạch cho vài quả cối bây giờ!”) cũng là tượng thanh, mặc dù chúng chỉ toàn bộ một sự vật, hoạt động chứ không chỉ miêu tả riêng âm thanh do các sự vật, hoạt động đó phát ra
Những từ này là “tượng thanh” được là vì thể chất vật chất của ngôn ngữ (tức thể chất âm học - thính giác) trùng làm một với toàn bộ hoặc một bộ phận thể chất vật chất của cái được biểu thị thể chất (âm thanh tự nhiên) Nói như thế cũng tức là nói: điều kiện để cho một từ có thể “gợi tả”, mô phỏng sự vật, hiện tượng là thể chất vật chất của từ phải trùng hợp với thể chất vật chất (toàn bộ hay bộ phận) của sự vật, hiện tượng
1.1.2.2 Đặc điểm về ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt không được thể hiện ở hình thức ngữ âm của từ mà chỉ biểu lộ trong cụm từ, trong câu khi từ kết hợp với các từ khác ở trước và sau nó Ví dụ từ cây khi đứng một mình thì không có dấu hiệu nào biêu hiện đặc điểm ngữ pháp của nó Khi tham gia vào việc tạo câu, từ cây cũng không biến đổi hình thức ngữ âm để thể hiện các đặc điểm từ loại Chỉ có thể biết được đăc điểm ngữ pháp của nó khi có sự kết hợp với các từ khác Chẳng hạn trong câu Chẳng mấy chốc, mà ông đã cày xong thửa ruộng
Từ cày kết hợp với phụ từ đã ở trước chứng tỏ nó mang đặc điểm ngữ pháp
Trang 19của động từ Tuy nhiên trong các tổ hợp lưỡi cày, cày chia vôi thì từ cày lại mang đặc điểm ngữ pháp của danh từ
Cùng với đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm ngữ pháp có vai trò quyết định trong sự kết hợp từ thành cụm từ, thành câu Nếu sự kết hợp không tương ứng với đặc điểm ngữ pháp của từ thì sẽ mắc cả lỗi dùng từ và lỗi về đặt câu
Ví dụ: Hằng ngày cô đến trường bằng bộ quần áo giản dị
Ở câu này từ bằng dùng không đúng với đặc điểm ngữ pháp Bằng là quan hệ thường được dùng trước danh từ biểu thị một phương tiện hay cách thức hoạt động do động từ biểu thị Ở đây bộ quần áo không phải là phương tiện hay cách thức hoạt động đến trường mà nó được nêu ra để nói về phong cách, đức đọ của cô giáo Do đó, dùng từ bằng là sai, phải thay bằng từ với mới phù hợp Có thể chữa Hằng ngày cô đến trường với bộ quần áo giản dị 1.1.2.3 Đặc điểm về cấu tạo
Do trong tiếng Việt, hình vị, từ, cụm từ và câu…về mặt ngữ âm đều là những âm tiết tổ hợp âm tiết, cho nên việc nhận thức một âm tiết hoặc một tổ hợp âm tiết nào đó có phải là từ hay không có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với việc sử dụng từ và lĩnh hội ý nghĩa của câu nói
Ví dụ: Câu sau đây: “Cái xe đạp nhẹ lắm!” Có thể hiểu 2 cách: thứ nhất câu này vừa nhận xét đánh giá về trọng lượng của cái xe đạp, thứ hai câu này vừa nhận xét vừa đánh giá về đặc điểm vận hành của một cái xe đạp nào đấy Theo nghĩa thứ nhất chúng ta hiểu là cái xe đạp nặng tầm 5, 6kg trở lại Theo nghĩa thứ hai chúng ta hiểu cái xe đạp đó khi đạp không tốn nhiều sức,
ít mệt người, mặc dù trọng lượng thực của nó có vẻ không nhẹ
Hiểu theo cách nào là tùy thuộc vào chúng ta nhận thức tổ hợp âm tiết
xe đạp là một từ (và do đó phát âm liên tục) hay là một cụm từ xe đạp (do đó
có thể phát âm ngắt giọng ở giữa)
Như thế cùng với đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm cấu tạo cũng là một thành phần hình thức góp phần xác định từ và nghĩa của từ
Trang 20Nhận thức tư cách từ và đặc điểm cấu tạo của một tổ hợp âm thanh nào
Có thể nói rằng, trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có ý nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa - được dùng để cấu tạo ra các từ theo phương thức cấu tạo từ tiếng Việt Chúng ta gọi các yếu tố đặc điểm trên và chức năng trên bằng thuật ngữ quốc tế: hình vị (ví dụ như: xe,
áo, người, bịch, đét, học…)
1.2 Một số vấn đề về lỗi ngôn ngữ
1.2.1 Khái niệm về lỗi ngôn ngữ
Lỗi ngôn ngữ thường được nhìn nhận, đánh giá với những quan điểm không giống nhau
Nhìn từ góc độ cấu trúc và hành vi luận, lỗi ngôn ngữ thường được xem
là biểu hiện của nhận thức kém hoặc chưa đầy đủ về quy luật ngôn ngữ Lỗi ngôn ngữ gắn liền với việc học ngôn ngữ, do không nắm được cấu trúc ngôn ngữ, đặc biệt là quy tắc hành chức của ngôn ngữ Lỗi là biểu hiện lệch chuẩn
do vậy lỗi ngon ngữ là không thể chấp nhận, phải được ngăn chặn bằng mọi cách trong trường học
Nhìn từ góc độ chức năng, ngôn ngữ được tạo ra gắn liền với giao tiếp của từng cá nhân trong xã hội, cho nên lỗi ngôn ngữ là chuyện bình thường
Có thể hình dung lỗi ngôn ngữ là chuyện thường ngày mà ai cũng có thể mắc
Trang 21khi nói năng giao tiếp Trong giao tiếp bằng lời, ngôn ngữ được sử dụng ở dạng nói là tự nhiên nhất phản ánh thói quen con người khác với ngôn ngữ không tự nhiên khi sử dụng trong viết lách Do vậy, người ta cho lỗi đó là bình thường, miễn là người nói diễn đạt được điều định nói và người nghe hiểu được ý người nói
Lỗi có thể được nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tâm lí Nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng lỗi gắn liền với tâm lí, gắn với sự phát triển thể chất con người
Ở một khía cạnh nhất định, lỗi gắn liền với nhận thức, tri thức về ngôn ngữ qua từng thời kì phát triển lứa tuổi Trẻ càng phát triển thì lỗi ngôn ngữ càng giảm dần Yếu tố tâm lí là một trong những nguyên nhân gây nên lỗi
Như vậy, về lí luận, dù nhìn từ góc độ nào chúng ta cũng thấy lỗi đi liền với vấn đề sử dụng ngôn ngữ Có thể nói đối với các ngôn ngữ và đối tượng học sinh học ngôn ngữ đó, ở mức độ nhiều hay ít lỗi luôn luôn song hành với người dùng và biểu hiện rõ nhất là ở đối tượng học sinh
Đối với đối tượng học sinh học tiếng thì người ta thường phân biệt hai đối tượng mắc lỗi khác nhau Lỗi đối với học sinh bản ngữ học tiếng mẹ đẻ của mình Và lỗi của học sinh học ngôn ngữ thức hai – ngoại ngữ Thường lỗi của hai đối tượng này là khác nhau Nguyên nhân của lỗi cũng khác nhau cho nên cách chữa lỗi cũng khác nhau
Đối với người học tiếng bản ngữ - tiếng mẹ đẻ, lỗi sử dụng ngôn ngữ có thể xảy ra với nhiều hình thức với các loại đơn vị ngôn ngữ, các phương tiện, cấp độ khác nhau Có thể đó là lỗi chính tả chữ viết, có thể là lỗi từ vựng, có thể là lỗi ngữ pháp
Nguyên nhân của lỗi ngôn ngữ thường rất phức tạp, có thể về cấu trúc ngôn ngữ, có thể do thói quen, có thể do nhận thức Lỗi có thể có những loại lỗi chung với nhiều người lại có thể có những lỗi chỉ đến với từng cá nhân Song người ta thường chú ý đến hai loại lỗi, do nhận thức, hiểu biết về ngôn
Trang 22ngữ, nhất là quy tắc sử dụng ngôn ngữ đó và lỗi do thói quen, đặc bieekt là thói quen của dân từng vùng phương ngữ
Vậy lỗi ngôn ngữ là gì? Theo Cao Xuân Hạo: “Lỗi của người học trong khi nói hoặc viết là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (một từ, một đơn
vị ngữ pháp, một hành động dạng lời nói) bằng cái cách mà người bản ngữ, người giỏi thức tiếng đó cho là sai, là lệch chuẩn hoặc chưa đầy đủ”
1.2.2 Quan điểm về phân tích lỗi
Theo nhiều nghiên cứu về lỗi ngôn ngữ xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX và trải qua nhiều giai đoạn phán triển với những khuynh hướng khác nhau Dưới đây, chúng tôi xin khái quát ba lý thuyết cơ bản trong lịch sử nghiên cứu lỗi ngôn ngữ
1.2.2.1 Thuyết hành vi
Thuyết hành vi hình thành và phát triển với những cái tên tiêu biểu như Watson, Skinner Lý thuyết hành vi gắn liền với hai khái niệm thói quen và lỗi Khái niệm thói quen theo các nhà nghiên cứu ở trường phái này xuất hiện trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của con người cả khi học tiếng mẹ đẻ
và khi học ngôn ngữ thứ hai Thói quen hình thành khi có một kích thích dẫn đến một phản ứng thông qua bắt chước và phản xạ
Lỗi trong thuyết hành vi là hệ quả của những chuyển di tiêu cực trong quá trình giao thoa giữa thói quen ngôn ngữ cũ và thói quen ngôn ngữ mới Thuyết hành vi cho rằng, lỗi là một hiện tượng không chấp nhận được Tuy nhiên, nó đã bị loại bỏ triệt để bằng những quan điểm khác nhau do N Chomsky đưa ra Ông cho rằng con người chắc chắn phải có một loại khả năng bẩm sinh nhất định có thể hướng dẫn các khả năng tạo câu và giúp cho một đứa trẻ có khả năng thụ đắc ngữ pháp của một ngôn ngữ cho đến khi chúng 5 hoặc 6 tuổi Và ông gọi khả năng này là “ngữ pháp phổ quát” và cho rằng đây chính là khả năng của con người mà ngôn ngữ học nhằm mục đích theo đuổi
Trang 231.2.2.2 Khuynh hướng phân tích đối chiếu
Khuynh hướng phân tích đối chiếu ra đời vào những năm 40 và kéo dài đến những năm 60 của thế kỷ XX với những cái tên như C Fries, R.Lado… Khuynh hướng này có một số những đặc trưng sau:
Thứ nhất, khuynh hướng này dựa trên quan điểm của lý thuyết hành vi coi việc thụ đắc ngôn ngữ là hình thành một thói quen
Thứ hai, khuynh hướng này cũng giống như lý thuyết hành vi cho rằng lỗi xuất hiện do chuyển di tiêu cực của quá trình giao thoa hai ngôn ngữ mà không có những nguyên nhân khác
Thứ ba, khuynh hướng này cũng cho rằng lỗi là sự thể hiện không thành công và cần phải loại trừ
Thứ tư, khuynh hướng này so sánh hai hệ thống ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ
và ngôn ngữ thứ hai) để tìm ra những điểm khác nhau nhằm tiên đoán và ngăn chặn lỗi
1.2.2.3 Khuynh hướng phân tích lỗi
Khuynh hướng phân tích lỗi ra đời vào cuối những năm 60 với những cái tên tiêu biểu S.P Corder, Selinker, William Nemser, E.Tarone…
Khuynh hướng phân tích lỗi đi vào nghiên cứu và phân tích các lỗi do người học ngôn ngữ gây ra hay là quá trình xác định sự tác động, bản chất và nguyên nhân cũng như kết quả của việc học ngôn ngữ không hiệu quả Khuynh hướng phân tích lỗi cho rằng lỗi là cái gì đó “không thể thiếu được”
vì mắc lỗi có thể được coi là một cách thức mà người học dùng thụ đắc ngôn ngữ đặc biệt là trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai
Khuynh hướng phân tích lỗi được S P Corder khái quát thành ba giai đoạn: nhận diện lỗi, miêu tả lỗi, giải thích lỗi
Nhận diện lỗi là việc người dạy đặt giả định rằng tất cả các câu của người học đều có thể sai sau đó xác minh giả định đó là đúng hay sai
Trang 24Ở giai đoạn này, chúng ta có ba loại lỗi: lỗi trước hệ thống, lỗi sau hệ thống, lỗi hệ thống Trong giai đoạn miêu tả lỗi giáo viên cần chỉ cho người học thấy được những lỗi mà họ đã mắc phải thông qua so sánh hai câu sai và đúng đã tạo dựng được ở giai đoan một
Giải thích lỗi có thể thực hiện theo hai cách: theo lý thuyết hành vi coi
đó là những chuyển di tiêu cực của tiếng mẹ đẻ hoặc coi nó là một bộ phận tất yếu của quá trình tri nhận ngôn ngữ
Theo khuynh hướng phân tích lỗi, có hai cách phân loại:
- Phân loại lỗi dựa vào nguồn gốc có lỗi giao thoa và lỗi tự ngữ đích
- Phân loại lỗi dựa vào các đơn vị ngữ pháp: cách thức tiến hành là đi miêu tả ngữ pháp của các lỗi Đây là cách phân loại mà các công trình thực nghiệm về phân tích lỗi thường tiến hành Luận văn của chúng tôi cũng triển khai theo hướng phân loại lỗi này
Nguyên nhân mắc lỗi theo khuynh hướng phân tích lỗi xuất phát từ chiến lược của người học bao gồm chiến lược học và chiến lược giao tiếp Chiến lược học bao gồm chuyển di và vượt tuyến Chuyển di là chiến lược mà người học vận dụng những tri thức của tiếng mẹ đẻ vào để học ngôn ngữ đích Vượt tuyến là việc người học sử dụng những tri thức đã có hoặc tri thức suy đoán trong quá trình tri nhận ngôn ngữ để phát triển năng lực ngôn ngữ của mình dẫn đến vượt ra khỏi phạm vi của ngôn ngữ
Trên đây là một vài khái quát về các khuynh hướng nghiên cứu lỗi ngôn ngữ Trong đó, chúng tôi nghiêng về những giả thuyết của khuynh hướng phân tích lỗi và coi đây là cơ sở lý thuyết trong quá trình thực hiện đề tài
Theo ý kiến của Gs Nguyễn Văn Hiệp và Gs Nguyễn Minh Thuyết trong các văn bản thường mắc phải các loại lỗi sau:
+ Lỗi lặp, thừa từ
+ Lỗi thiếu từ
+ Lỗi dùng từ sai nghĩa
Trang 25+ Lỗi sai về phong cách
Với tác giả Hoàng Anh lại chia thành 4 loại lỗi:
Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia lỗi dùng
từ, mỗi quan điểm có ưu nhược điểm riêng Đề tài này chúng tôi dựa vào “yêu cầu chung của việc dùng từ” làm căn cứ phân loại Bao gồm các yêu cầu cơ bản sau:
+ Dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
+ Dùng từ phải đúng về nghĩa
+ Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
+ Dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản
+ Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
+ Dùng từ cần tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng công thức
1.2.3 Yêu cầu chung của việc dùng từ trong Tiếng Việt
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia lỗi dùng từ, mỗi quan điểm có ưu nhược điểm riêng Đề tài này tôi dựa vào “yêu cầu chung của việc dùng từ” làm căn cứ phân loại Bao gồm các yêu cầu cơ bản sau:
Trang 261.2.3.1 Dùng từ không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
Từ là đơn vị có nhiều bình diện, trong đó hông thể thiếu mặt âm thanh
và hình thức cấu tạo Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, cái biểu đạt của từ Trong chữ viết của ta (chữ quốc ngữ) thứ chứ theo nguyên tắc ghi
âm, âm thanh và hình thức cấu tạo của tử được ghi lại bằng các chữ cái Cho nên khi viết văn bản cần ghi lại đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được sử dụng Nếu không sẽ không biểu hiện được chính xác và làm cho người đọc văn bản không lĩnh hội được nội dung, ý nghĩa Và như thế sự giao tiếp sẽ không đạt được kết quả như mong muốn
VD: “Tham quan” lại nói thành “thăm quan”; (tiền) “thù lao” nói thành
“cù lao”, “bù lao”, “phù lao”… sẽ làm cho ta hiểu sai ý đồ định diễn đạt Thật ra, giữa âm thanh và ý nghĩa của từ có mối quan hệ quy ước, do xã hội thỏa thuận, một sự thỏa thuận ngầm trong lịch sử Nhưng sự quy ước đó được các thế hệ tiếp tục duy trì và tôn trọng Không ai có thể tùy tiện thay đổi mặt âm thanh và mặt ý nghĩa của từ
Tuy thế vẫn cần phân biệt việc dùng từ không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo với hai hiện tượng sau đây:
- Việc dùng các từ đồng âm - các từ có âm thanh giống nhau nhưng nghĩa khác nhau Những từ này không thừa, cũng không gây cản trở cho quá trình giao tiếp, vì chúng còn có chỗ dựa là hoàn cảnh giao tiếp, là ngữ cảnh Chẳng những thế, người ta còn dùng các từ đồng âm làm một biện pháp nghệ thuật (nghệ thuật chơi chữ), dẫn tới những bất ngờ thú vị Hiện tượng này thường xuyên gặp, thấy trong sinh hoạt, trong văn học dân gian và cả trong văn học bác học
VD:
“Bà già đi chợ cầu Đông Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng Thầy bói xem quẻ nói rằng Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”
Trang 27Không thể cho rằng trong những trường hợp này, các từ được dùng không đúng âm thanh Cùng một âm thanh nhưng ở đây được gọi hai ý nghĩa khác nhau, nhưng cũng không triệt tiêu nhau Cái tài của người chơi chữ bằng các từ đồng âm là ở đó
Việc sáng tạo các từ mới: khi nói hay viết, người ta vẫn có thể tạo ra các từ mới với một hình thức âm thanh và một nội dung ý nghĩa có phần khác
và mới so với những từ vốn có Đây không phải là việc dùng từ sai một từ vốn
có, mà là việc tạo ra một từ mới
Thế nhưng, từ mới này không phải được tạo ra một cách tùy tiện, ngẫu hứng, mà trên cơ sở của những từ vốn có, dựa vào những từ vốn có cả về mặt
âm thanh và ý nghĩa, do đó có mối quan hệ theo hệ thống và những từ vốn có Chính mối quan hệ này làm cho người nghe, người đọc khi tiếp nhận từ mới
đó lần đầu tiên vẫn có thể lĩnh hội được, hiểu được Nghĩa là tuy xuất hiện lần đầu tiên nhưng từ đó vẫn thực hiện được nhiệm vụ giao tiếp
Hơn nữa, ngay cả những từ vốn có, trong khi sử dụng người ta vẫn có thể dùng một cách linh hoạt, uyển chuyển, có thể có thể biến đổi ít nhiều bộ mặt âm thanh và hình thức cấu tạo theo những quan hệ và quy luật chung diễn
ra ở nhiều từ:
+ Biến âm: nào – nao
Ví dụ: Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
+ Tách và chen các thành tố cấu tạo
Như vậy, một mặt cần phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu dùng từ đúng
âm thanh và hình thức cấu tạo, mặt khác không nên hiểu nó một cách máy móc, cứng nhắc Cần phân biệt nó với việc dùng từ một cách sáng tạo uyển chuyển, dựa trên những mối quan hệ và quy luật của ngôn ngữ
1.2.3.2 Dùng từ không đúng về nghĩa
Nội dung ý nghĩa là một bình diện của từ Nó là cái được biểu đạt của mỗi từ Do đó muốn đạt được hiệu quả giao tiếp, khi nói cũng như viết phải
Trang 28dùng từ cho đúng với ý nghĩa của từ Khi hướng tới yêu cầu này, cần chú ý đến những phương diện sau:
- Từ được dùng phải biểu hiện được chính xác nội dung cần thể hiện, nghĩa là ý nghĩa của từ phải phù hợp với nội dung cần thể hiện Có những trường hợp không đạt được sự phù hợp này
Nghĩa của từ bao gồm cả thành phần nghĩa sự vật, cả thành phần nghĩa biểu thái (biểu hiện thái độ tình cảm, cảm xúc của con người)
Chẳng hạn: các từ biếu, tặng, dâng hiến, bố thí…đều có nghĩa sự vật là:
“chuyển các vật thuộc sở hữu của mình để người khác dùng mà không cần trả lại hoặc đổi bằng vật khác”, nhưng mỗi từ lại có sắc thái biểu cảm khác nhau: + biếu: cho người trên với thái độ kính trọng
+ bố thí: cho kẻ dưới với thái độ khinh bỉ
+ hiến: cho một sự nghiệp thiêng liêng cao cả (hiến thân mình cho Tổ quốc)
Dùng từ theo yêu cầu đúng nghĩa còn cần chú ý đến sự chuyển nghĩa của từ Từ không phải chỉ có một nghĩa mà ngoài nghĩa gốc còn có nghĩa chuyển Hơn nữa, trong giao tiếp từ còn thường xuyên có sự biến đổi và chuyển hóa về nghĩa tạo nên hiện tượng nhiều nghĩa, các nghĩa này phát triển
từ nghĩa gốc và có quan hệ với nhau trên cơ sở tư duy một nét nghĩa giống nhau nào đó Nhưng sự chuyển nghĩa được coi là đúng nếu nó thực hiện theo đúng quy tắc chuyển nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng được nói đến
Hiện tượng chuyển nghĩa đúng quy luật của từ trong sử dụng, đang còn
là cơ sở để lĩnh hội từ khi từ lần đầu tiên được dùng theo một nghĩa mới Trong giao tiếp nhiều từ được dùng một cách sáng tạo, mới mẻ, theo những nghĩa chuyển đổi mới Nhưng dựa vào mối quan hệ với nghĩa gốc, người nói hoặc người viết có cơ sở, dùng linh hoạt, còn người nghe hay người đọc có cơ
Trang 29sở lĩnh hội mà không cần (và không thể) tra cứu từ điển hay đi hỏi người khác
Dùng từ đúng nghĩa còn là việc dùng từ cho phù hợp với nội dung của từng văn bản của toàn ngôn bản Mỗi ngôn bản là một chỉnh thể, có nội dung,
tư tưởng chủ đạo, có cả sắc thái ý nghĩa (sắc thái biểu cảm, sắc thái đánh giá…) thống nhất Vì vậy mỗi từ trong ngôn bản cần phục vụ cho nội dung thống nhất này Phải dùng từ sao cho nghĩa của nó phù hợp với nội dung ý nghĩa toàn ngôn bản Điều này vừa có quan hệ tới phong cách chức năng, vừa
có quan hệ với tính hệ thống của ngôn bản
Tóm lại, yêu cầu dùng từ đúng nghĩa cần được hiểu với một phạm vi rộng và linh hoạt Cần đảm bảo chính xác giữa nghĩa vốn của từ với nội dung định biểu hiện, đảm bảo đúng cả nghĩa sự vật, lẫn nghĩa biến thái của từ song
từ có thể được dùng không phải chỉ với nghĩa đen, nghĩa gốc mà có thể dùng với nghĩa chuyển đổi, nhưng nhờ có mối liên hệ với nghĩa gốc nên sự giao tiếp giữa người với người vẫn đạt được hiệu quả tốt
Ngoại trừ những lỗi khác, trong câu này, quan hệ kết hợp giữa “lượng mưa” và “kéo dài” là không phù hợp: “lượng mưa” có thể lớn hay nhỏ, nhiều
Trang 30hay ít, chứ không thể “kéo dài” Cần thay từ “lượng mưa” (mùa mưa năm nay kéo dài) hoặc từ “kéo dài” (lượng mưa năm nay lớn)
1.2.3.4 Dùng từ không đúng về phong cách văn bản
Ta đã biết từ có nhiều bình diện phong cách và có những từ đa phong cách, nhưng cũng có từ chuyên phong cách Mỗi phong cách ngôn ngữ của văn bản (mỗi loại hình văn bản) được sử dụng trong phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội và nhằm thực hiện một chức năng nhất định Do đó mỗi phong cách văn bản đòi hỏi và cho phép việc dùng những lớp (nhóm) từ nhất định, nghĩa là từ trong mỗi phong cách văn bản mang những đặc điểm nhất định
Chẳng hạn, các thuật ngữ khoa học được dùng chủ yếu trong lĩnh vực giao tiếp khoa học thuộc một ngành khoa học nhất định Việc dùng các thuật ngữ là để biểu hiện chính xác các khái niệm khoa học, phục vụ cho tư duy khoa học trừu tượng khái quát và chặt chẽ
Trái lại, trong giao tiếp thuộc phong cách sinh hoạt hằng ngày, các từ khẩu ngữ, các từ tình thái lại xuất hiện với tần số cao Việc sử dụng chúng lại có tác dụng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm, cả sắc thái tế nhị trong quan hệ của con người
Ví dụ: Trong đoạn hội thoại sau đây, việc dùng từ tình thái là phù hợp:
“Đoan ngẩng thở dồn:
- Chị định đi đâu, chị Thảo? Còn ốm yếu thế, không đi được đâu!
Thúy sà đến, giật tay bác gái:
- Ừ, ừ, cháu không cho bác đi đâu đâu!
- Bác phải về quê Về còn đi cấy vụ xuân chứ, Thúy!
- Đâu mà! Bác nói dối cháu”
Lớp từ địa phương được sử dụng linh hoạt hằng ngày và có thể thích hợp với văn bản nghệ thuật để tạo nên một sắc thái quê hương gần gũi, một tình cảm thân thương của người cùng nơi chôn rau cắt rốn
Ví dụ 1:
Trang 31“Rứa là hết! Chiều ni em đi mãi
Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi !’’
Tố Hữu
Nhưng trong một văn bản nghị luận chính trị hay một văn bản hành chính, hoặc khoa học thì không thể dùng những từ địa phương như vậy Chẳng hạn: trong đoạn trích Tuyên Ngôn Độc Lập sau đây, ở vị trí của các từ:
“nay” và “thế” không thể dùng các từ “ni” và “rứa” như trong đoạn thơ trên
Ví dụ 2: “Ngày 9 tháng 3 năm nay (không thể dùng ni) Nhật tước khí giới của quân đội Pháp Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hang Thế
là (không thể dùng rứa là) chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại trong năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”
1.2.3.5 Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
Một văn bản được tổ chức tốt là một hệ thống chặt chẽ, trong đó mọi yếu tố ngôn ngữ, mỗi loại yếu tố ngôn ngữ cần được huy động một cách nhất quán để đảm bảo cho văn bản thành một chỉnh thể, thực hiện được mục tiêu giao tiếp thống nhất Về mặt này, các từ trong văn bản cũng cần đảm bảo tính
hệ thống, nhất quán trên Chúng chẳng những phải thỏa mãn những yêu cầu nêu trên, mà còn cần cùng nhau phối hợp để tạo nên một chỉnh thể chung Muốn thế người viết văn bản khi dùng từ cần chú ý đến sự thống nhất của các
từ ngữ về trường nghĩa, về phong cách văn bản, sắc thái chuyên môn, nghề nghiệp, về sắc thái địa phương hay sắc thái lịch sử…
Ví dụ: Trong một văn bản viết về một phẩm chất trừu tượng như tinh thần yêu nước, Hồ Chủ Tịch đã so sánh nó với một vật cụ thể như “của quý” thì cũng huy động hàng loạt các từ ngữ khác thuộc trường nghĩa “của cải”
“Tinh thần yêu nước cũng như thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo
ấy đều được đưa ra trưng bày nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ
Trang 32chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đề được thực hành vào công cuộc yêu nước, công việc kháng chiến.”
Trong một bài nghị luận viết về cuộc khủng hoảng kinh tế, nếu ta nhìn nhận tình trạng khủng hoảng đó như một căn bệnh trầm trọng thì có thể và cần phải sử dụng các từ ngữ khác cũng thuộc lĩnh vực bệnh tật như cháy máu (vàng), cơn sốt (gạo), phát triển què quặt, thấp khớp, bắt đúng mạch, phương thức, chữa chạy, điều trị… Còn trong một bài báo cáo viết về cuộc tranh cử tổng thống của nước Mỹ, nếu đã gọi đó là cuộc chạy đua vào nhà trắng thì có thể cần và sử dụng một cách thống nhất các từ nói về cuộc đua thể thao: địch thủ, sung sức, điểm xuất phát, về đích, đánh bại, thua cuộc, cổ động viên… thậm chí có cả các từ đo ván, đánh gục
Tính hệ thống của văn bản có quan hệ đến đặc điểm phong cách của văn bản
Do đó, những yêu cầu về dùng từ thuộc loại phương diện này có sự thống nhất và đều nhằm phục vụ tốt nhất cho mục đích của văn bản, cho sự giao tiếp bằng văn bản
1.2.3.6 Dùng từ cần tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng trong công thức
a Văn bản trong giao tiếp cần cô đọng, vừa đủ về dung lượng Do đó trong việc dùng từ cần tránh hiện tượng thừa từ hoặc lặp từ khi không cần thiết
VD: Trong những câu sau đây có hiện tượng thừa từ:
+ “Nghiên cứu mạng lưới y tế cơ sở nhằm góp phần cải thiện và nâng cao năng lực hoạt động để không ngừng ngày một đáp ứng tốt hơn yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân”
(Thừa một trong hai từ: không ngừng, ngày một)
+ Qua hai bảng trên cho ta thấy bệnh nhân khám và điều trị tại nhà chiếm trên 50% dân số
Trang 33(Thừa từ qua hoặc từ cho, do đó câu văn sai ngữ pháp Cần bỏ đi một trong hai từ này)
Các lỗi thừa từ, lặp từ này khác với biện pháp điệp từ, điệp ngữ để tăng thêm hiệu quả biểu đạt Trong nhiều trường hợp, biện pháp điệp từ, điệp ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, hoặc bổ sung thêm ý nghĩa, hoặc tạo cho câu văn một nhịp điệu thích hợp với nội dung biểu đạt
VD: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập
b Viết văn bản, cũng cần tránh bệnh dùng từ sáo rỗng, công thức; nghĩa là dùng những từ ngữ mòn, sáo, những chữ sẵn, điệu nói sẵn, như một con vẹt, bất kể nội dung định diễn đạt thích hợp ở mức độ nào với các từ ngữ
ấy Bệnh sáo rỗng, công thức dẫn đến những câu văn “đao to búa lớn” mà chung chung, nghèo nàn
VD: “Anh là nhà thơ vĩ đại đã viết nên những tác phẩm tuyệt diệu với một nội dung trữ tình sâu sắc, một hình thức nghệ thuật điêu luyện, xứng đáng ở đỉnh cao chói lọi trên văn đàn thơ ca rực rỡ của dân tộc”
1.3 Chương trình phân môn Tập làm văn và văn miêu tả lớp 4 Chương trình TLV lớp 4 có tổng cộng 62 tiết/năm, được thiết kế với ba thể loại chính: văn kể chuyện, văn miêu tả và các loại văn bản khác Thời lượng dạy học cho phân môn này là tương đối nhiều Nội dung dạy học cụ thể trong chương trình SGK lớp được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1: Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4
Học kì Thể loại Tên bài Trang Học kì
I
Thế nào là kể chuyện? 10 Nhân vật trong truyện 13
Kể lại hành động của nhân vật 20
Trang 34Kể chuyện
Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn
Mở bài trong bài văn kể chuyện 112 Kết bài trong bài văn kể chuyện 122
Trả bài văn kể chuyện 130
Ôn tập văn kể chuyện 132
Miêu tả
Thế nào là văn miêu tả? 140 Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật 143 Luyện tập miêu tả đồ vật 150 Quan sát đồ vật 153 Luyện tập miêu tả đồ vật 162 Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật 169 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ
Các loại văn bản
Viết thư ( kiểm tra viết ) 52
Trang 35khác Trả bài văn viết thư 61
Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân 95 Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân 109 Luyện tập giới thiệu địa phương 160
miêu tả đồ vật 11 Miêu tả đồ vật (kiểm tra viết) 18 Trả bài văn miêu tả đồ vật 28 Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối 30 Luyện tập quan sát cây cối 39 Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây
miêu tả cây cối 82 Luyện tập miêu tả cây cối 83 Miêu tả cây cối (kiểm tra viết) 92 Trả bài văn miêu tả cây cối 94 Cấu tạo bài văn miêu tả con vật 112
Trang 36Luyện tập quan sát con vật 119 Luyện tập miêu tả các bộ phận của con
Luyện tập giới thiệu địa phương 19 Tóm tắt tin tức 63 Luyện tập tóm tắt tin tức 72 Luyện tập tóm tắt tin tức 109 Điền vào tờ giấy in sẵn 122 Điền vào tờ giấy in sẵn 132 Điền vào tờ giấy in sẵn 161 Như vậy, phân môn TLV lớp 4 được chú trọng vào hai thể loại chính
đó là kể chuyện (19 tiết) và miêu tả (30 tiết) Điều này khẳng định lượng kiến thức trọng tâm của phân môn TLV lớp 4 là văn kể chuyện và văn miêu tả 1.4 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh tiểu học
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
Việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ ở các các lứa tuổi khác nhau đều bị chi phối bởi phát triển tâm sinh lí ở cùng lứa tuổi Dạy tiếng Việt nói chung và sửa lỗi dùng từ cho học sinh nói riêng, chúng ta cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để có những biện pháp sửa lỗi dùng từ thích hợp Học sinh lớp 4 có những thay đổi lớn về tâm sinh lí và nhận thức Cụ thể:
Trang 371.4.1.1 Về mặt đặc điểm phát triển ngôn ngữ
So với học sinh đầu bậc tiểu học thì ngôn ngữ của học sinh lớp 4 phong phú hơn, khả năng nắm ngôn ngữ cũng nhanh hơn (kể cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết), các em có thể phán đoán ý nghĩa của từ (tuy mức độ chưa cao) Điều này giúp các em hiểu được tương đối đầy đủ những gì người khác nói (viết) và diễn đạt cho người hiểu cũng ngắn gọn và chính xác hơn nhiều Các em đã biết lựa chọn những từ ngữ phù hợp với mục đích giao tiếp Đồng thời dùng các yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt) để thể hiện rõ hơn điều cần diễn đạt
1.4.1.2 Về nhận thức
Nếu như học sinh đầu bậc tiểu học (lớp 1, 2, 3) nhận thức của học sinh còn mang tính cụ thể trực quan, các em dễ nắm và ghi nhớ được nghĩa của những từ chỉ sự vật hiện tượng cụ thể thì đến đầu lớp 4 nhận thức lí tính đã bắt đầu phát triển, hoạt động học tập cũng như việc sửa lỗi dùng từ cũng có khác nhiều so với trước Các em đã biết được dựa trên các dấu hiệu bản chất bên trong và những biểu hiện chung của hàng loạt sự việc hiện tượng để khái quát thành khái niệm quy luật hiện tượng tuy còn ở mức độ thấp Có nghĩa là các em có thể nắm ý nghĩa biểu niệm hay nghĩa của từ có tính chất trừu tượng
1.4.1.3 Về ghi nhớ
Ở lứa tuổi học sinh lớp 4, ghi nhớ không chủ định giẩm dần và tăng dần ghi nhớ có chủ định Nhờ vậy, các em ghi nhớ và sắp xếp từ một cách khoa học Từ đó tăng khả năng sử dụng từ tinh tế, chính xác
1.4.1.4 Về tư duy
Dạy từ ngữ ở trường tiểu học có nhiệm vụ phát triển năng lực tư duy trừu tượng cho học sinh nên việc sửa lỗi dùng từ cho học sinh phải được tiến hành từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Thông qua quá trình phát hiện
và sửa lỗi dùng từ học sinh có được các thao tác và các phẩm chất tư duy như:
Trang 38phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… Mặt khác ở học sinh lớp
4, tư duy trừu tượng bắt đầu phát triển, thuận lợi cho việc dùng từ đúng bằng các phương pháp trừu tượng
1.4.1.5 Về hứng thú học tập
Đối với trẻ em, đặc biệt là học sinh tiểu học khi làm một việc gì đó mà không hứng thú thì sẽ không tập trung chú ý, ngược lại, khi có hứng thú thì các em thường hướng toàn bộ quá trình nhận nhận thức của mình vào đó làm cho sự quan sát, tư duy, suy nghĩ tinh tế hơn, nhớ nhanh và lâu bền hơn Việc phát hiện và sửa lỗi dùng từ cho học sinh bao gồm nhiều việc phức tạp không đơn giản, nếu giáo viên không khơi nguồn hứng thú học tập của học sinh thì giờ học sẽ trở nên khô khan thậm chí là nặng nề với học sinh và học sinh sẽ không tham gia tích cực, chủ động trong việc sửa lỗi dùng từ của mình
Như vậy, người giáo viên tiểu học cần phải nắm bắt được những sự thay đổi tâm lí đó của học sinh lớp 4 để có phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung và biện pháp sửa lỗi dùng từ nói riêng phù hợp, để kích thích được hứng thú học tập của học sinh và nâng cao hiệu quả giờ học
Đây cũng là cơ sở quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp sửa lỗi dùng từ cho học sinh lớp 4
1.4.2 Đặc diểm nhận thức của học sinh tiểu học
Trang 39Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
- Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này
bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
1.4.3 Khả năng nhận thức của học sinh lớp 4
Tác giả Nguyễn Văn Đồng cũng khẳng định vai trò của nhận thức rất quan trọng trong việc tự ý thức – phải đạt đến một mức phát triển nhận thức nhất định thì trẻ mới có thể tự ý thức được bản thân
Trang 40Như đã trình bày ở trên, tự nhận thức bản thân là một trong những biểu hiện của tự ý thức, được bắt đầu từ sự hiểu biết về bản thân làm cơ sở cho tự ý thức về mình Đó là quá trình các nhân tự ý thức về bản thân mình từ hình thức bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội
Học sinh lớp 4 có thể tự nhận thức một các độc lập về hình thức bên ngoài, khả năng và phẩm chất tâm lí của mình Từ đó làm nên cơ sở trẻ có thể
tự đánh giá các yếu tố trên
+ Về hình thức bên ngoài: Trẻ rất trú trọng đến bề ngoài của mình, muốn làm người mình sạch sẽ ăn mặc đẹp, gọn gàng
+ Về năng lực và phẩm chất bên trong: Ở trẻ lớp 4 hoạt động học tập giữ vai trò một cách chủ đạo nên nhận thức về năng lực thể hiện ở năng lực học tập Một trong những biểu hiện của năng lực học tập là kết quả học tập của trẻ ở trường
Trẻ được xem là học giỏi môn nào khi có kết quả các bài kiểm tra học
kì của môn ấy cao so với những môn khác
Một trong những phẩm chất tâm lí mà trẻ dễ dàng nhận ra là tính cách,
cụ thể ở các biểu hiện của nét tính cách như: trầm lặng, ít nói, mạnh dạn, nhút nhát, nóng nảy, chăm chỉ, cẩu thả… Trẻ nhận thức về nét tính cách thông qua những thói quen thể hiện trong ứng xử hằng ngày của bản thân và bạn bè + Về vị thế và quan hệ xã hội: Trẻ lớp 4 có ba mối quan hệ giao tiếp chính: trẻ - bạn bè, trẻ - gia đình, trẻ - thầy cô
Trẻ thường nhận thức một cách tự tin và mạnh dạn những gì cụ thể, gần gũi với mình, một cách dè dặt, thận trọng và khiêm tốn với những nội dung trù tượng như năng lực học tập, vị thể trong tập thể, khả năng nhận thức Trẻ tự nhận thức
về bản thân mình chưa cao và có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực
1.5 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, đề tài của chúng tôi dựa vào những nghiên cứu về khái niệm từ, lỗi dùng từ, yêu cầu chung của việc dạy từ trong tiếng Việt, lí