Qua đó, sẽ góp phần giúp các em sinh viên học tốt hơn các phân môn âm nhạc còn lại trong chương trình đạo tạo giáo viên THCS, từ đó nâng cao chất lượng dạy âm nhạc cho hệ THCS của tỉnh,
Trang 1
LẠI THỊ THANH THỦY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN CHO SINH VIÊN ĐHSP ÂM NHẠC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
SƯ PHẠM ÂM NHẠC
HUẾ - 2015
Trang 2
LẠI THỊ THANH THỦY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN ÂM NHẠC CỔ TRUYỀN CHO SINH VIÊN ĐHSP ÂM NHẠC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
SƯ PHẠM ÂM NHẠC
HUẾ- 2015
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huế, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Lại Thị Thanh Thủy
Trang 4
Tôi xin chân thành cám ơn Quý Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, cung cấp tài liệu và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng đến Phó Giáo
sư, Tiến sĩ Bùi Huyền Nga đã tận tâm, tận tình và cẩn thận hết mực, trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong việc định hướng đề tài, định hướng các vấn đề nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Dù cố gắng rất nhiều, nhưng do khả năng hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp chân tình của Quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp Trân trọng cảm ơn!
Huế, tháng 12 năm 2015
Tác giả
Lại Thị Thanh Thủy
Trang 5Viết tắt Viết đầy đủ
ĐHSP Đại học sƣ phạm
GV Giảng viên
SV Sinh viên
ÂNCT Âm nhạc cổ truyền
GD& ĐT Giáo dục và đào tạo
ĐH Đại học
SP Sƣ phạm
ĐHĐT Đại học Đồng Tháp
TN Thực nghiệm
NCKH Nghiên cứu khoa học
CNTT Công nghệ thông tin
SVSP Sinh viên sƣ phạm
Trang 6MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 5
5
1.1.1.Trường Đại học Đồng Tháp 5
1.1.2 Khoa SP Nghê Thuật 5
1.2 Thực trạng giảng dạy môn âm nhạc cổ truyền của hệ ĐHSP âm nhạc 16
1.2.1 Chương trình và giáo trình 16
1.2.2 Phương pháp giảng dạy 21
1.2.3 Kiểm tra đánh giá 29
31
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 35
2.1 Cải tiến chương trình và nội dung giáo trình giảng dạy 35
2.1.1 Đề xuất cải tiến chương trình 35
2.1.2 Bổ sung biên soạn giáo trình giảng dạy 39
2.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy 42
2.2.1 Bổ sung một số phương pháp mới 43
2.2.2 Bài thực hành cho sinh viên 56
2.2.3 Phương pháp dạy âm nhạc thông qua các trò chơi 58
2.3 Đổi mới kiểm tra đánh giá 65
2.4.Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy 66
2.4.1 Lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong dạy học 67
2.4.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học môn âm nhạc cổ truyền 69
2.5 Đưa một số nội dung môn âm nhạc cổ truyền vào chương trình ngoại khoá 72
2.6 Hướng dẫn sinh viên tự học 76
2.6.1 Tự học 77
2.6.2 Các hình thức của tự học 77
2.7.Thực nghiệm giảng dạy 79
2.7.1 Tổ chức giảng dạy thực nghiệm: 80
2.7.2 Đánh giá kết quả 80
Tiểu kết chương 2 83
KẾT LUẬN –KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Khuyến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
MỤC LỤC PHỤ LỤC 91
Trang 7Trang
Bảng 1.1.Chương trình đào tạo SVSP âm nhạc hệ Đại học 7
Bảng 1.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên âm nhạc của ĐH Đồng Tháp 8
Bảng 1.3 Phân công giảng dạy năm học 2014- 2015 9
Bảng 1.4 Phân phối chương trình môn Âm nhạc cổ truyền 17
Bảng 1.5: Mức độ tiêu chí lựa chọn phương pháp dạy học 22
Bảng 1.6: Mức độ sử dụng phương pháp dạy học 23
Bảng 1.7: Mức độ sử dụng phương tiện trong dạy học 24
Bảng 1.8: Mức độ nhận thức về vai trò môn học của sinh viên 25
Bảng 1.11: Mức độ thái độ của SV đối với môn học 26
Bảng 1.12: Mức độ tích cực trong giờ học của SV 27
Bảng 1.13: Kết quả học tập môn Âm nhạc cổ truyền 31
Bảng 2.1 Phân phối chương trình môn Âm nhạc cổ truyền 39
Trang 8MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về tất cả các mặt như kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển văn hóa xã hội: “ duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, các ngành đều có bước phát triển, qui mô nền kinh tế tăng lên ( ), đời sống của nhân dân được cải thiện, chính trị xã hội ổn định , giáo dục và đào tạo có bước phát triển khá vững chắc ” ( Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI) Bên cạnh những thành tựu đã đạt được đó, giáo dục Việt Nam nói chung
và giáo dục Đại học nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, gây lo lắng trong toàn xã hội về cơ bản vẫn là một nền giáo dục định hướng nội dung chậm cập nhập, chưa bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại Phương pháp dạy học theo lối truyền thụ truyền thống quá chú trọng tới việc cung cấp kiến thức, ít phát huy được những khả năng độc lập, chủ động sáng tạo của sinh viên Việc kiểm tra đánh giá cũng tồn tại nhiều bất cập là rào cản lớn cho việc đổi mới phương pháp dạy học Việc đánh giá sinh viên chỉ chú trọng tới việc kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức chứ chưa chú trọng đến việc đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, tư duy sáng tạo của sinh viên Vì những lý do trên đây mà việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học là đặc biệt quan trọng
Môn Âm nhạc cổ truyền của hệ ĐHSP là một môn học nhằm giới thiệu các khái niệm và thuật ngữ âm nhạc cổ truyền, giúp sinh viên có được những kiến thức sơ giản và tổng quát về hệ nhạc khí, các thể loại ca nhạc cổ truyền và một
số nét khác biệt giữa các vùng dân ca trong nước Để việc tiếp thu của sinh viên
có hiệu quả, tránh tình trạng học chay, học vẹt, người dạy cần phải giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, phải thường xuyên có kế hoạch để nâng cao chất lượng dạy học của mình
Trang 9Từ thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng
giảng dạy môn âm nhạc cổ truyền cho sinh viên ĐHSP Âm nhạc trường
ĐH Đồng Tháp”
2 Lịch sử đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu về hoạt động giảng dạy môn Âm nhạc
cổ truyền cho sinh viên ĐHSP Âm nhạc- Trường ĐH Đồng Tháp Đây cũng
là đề tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này đầu tiên của trường Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tham khảo một số tài liệu liên quan đến đề tài của luận văn như sau:
- Nguyễn Thụy Loan- Giáo trình Âm nhạc cổ truyền- NXB Đại học Sư phạm ( Giáo trình của đào tạo dự án giáo viên THCS dành cho các trường CĐSP& ĐHSP 2005) Đây là giáo trình dành cho sinh viên cao đẳng sư phạm âm nhạc và đại học sư phạm âm nhạc, nội dung gồm ba chương, chương 1: Nhạc khí cổ truyền, chương 2: Thể loại ca nhạc cổ truyền, chương 3: Sơ lược về các vùng dân ca, trong đó chương 1 và chương 2 là trọng tâm của giáo trình
Nhóm đề tài về nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học âm nhạc cho các bậc học từ phổ thông cho đến các trường CĐ và ĐH SPAN, khối trường chuyên nghiệp với giảng dạy chuyên ngành đã có khá nhiều công trình
đề cập đến Song với đề tài Nâng cao chất lượng giảng dạy môn âm nhạc cổ
truyền cho sinh viên CĐ và ĐHSP nói chung hầu như còn ít người quan tâm
đề cập đến Cho đến thời điểm này, tôi chưa hề được tiếp cận với công trình nào đề cập đến mảng đề tài này Vì thế, đề tài của chúng tôi không chỉ không trùng lặp mà còn khiến chúng tôi gặp nhiều khó khăn khi thiếu vắng nguồn tài liệu tham khảo
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Qua điều tra, khảo sát thực tế giảng dạy môn âm nhạc cổ truyền cho sinh viên ĐHSP Âm nhạc , khoa SP Nghệ Thuật tại trường ĐH Đồng Tháp, từ
Trang 10đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này cho sinh viên trường ĐH Đồng Tháp
- Giúp cho sinh viên có thêm hứng thú và tiếp thu tốt hơn môn Âm nhạc cổ truyền Qua đó, sẽ góp phần giúp các em sinh viên học tốt hơn các phân môn âm nhạc còn lại trong chương trình đạo tạo giáo viên THCS, từ đó nâng cao chất lượng dạy âm nhạc cho hệ THCS của tỉnh, đặc biệt là con em dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa sau khi các em ra trường về công tác tại địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu:
+Chương trình môn âm nhạc cổ truyền tại trường ĐH Đồng Tháp
+Phương pháp giảng dạy
+Sinh viên và giảng viên hệ đại học sư phạm
-luận có liên quan
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn
để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài:
Trang 11- Phương pháp điều tra;
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ:
- Góp phần vào việc cải tiến chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy âm nhạc (môn ANCT), nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên
hệ ĐH, khoa SP Nghệ Thuật tại trường ĐH Đồng Tháp
- Góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy âm nhạc các trường THCS trong tỉnh Đồng Tháp cũng như một số tỉnh khác trong nước
- Làm tài liệu tham khảo về vấn đề giảng dạy môn âm nhạc cổ truyền tại trường ĐH Đồng Tháp nếu cần
7 Bố cục của luận văn
Dự kiến luận văn của tôi ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng
Chương 2: Một số giải pháp
Trang 12CHƯƠNG 1
1.1.1.Trường Đại học Đồng Tháp
Trường ĐH Đồng Tháp được thành lập ngày 10/01/2003 theo Quyết định số 08/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 5830/VPCP-KGVX ngày 04 tháng 09 năm 2008 về việc đổi tên Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp thành Trường Đại học Đồng Tháp
Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật có trình độ ĐH và sau ĐH cho vùng Đồng bằng sông C
kinh tế – xã hội
02 trung tâm, 01 Tạp chí khoa học (có chỉ số ISSN), 01 Thư viện trung tâm,
01 Trường Mầm non Hoa hồng, 01 Trạm y tế và 01 Ban q
Trang 13Mục tiêu chung:
Đào tạo cử nhân sư phạm Âm nhạc có trình độ lý luận và thực hành để giảng dạy âm nhạc ở các cấp học phổ thông, các trường sư phạm, các khoa sư phạm âm nhạc của các trường nghệ thuật và văn hóa nghệ thuật, góp phần giáo dục thẩm mỹ âm nhạc cho học sinh , sinh viên
Mục tiêu cụ thể:
- Về phẩm chất đạo đức: Có phẩm chất cơ bản của người giáo viên XHCN Việt Nam: thấm nhuần thế giới quan Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước, yêu CNXH, yêu học sinh, yêu nghề, có ý thức trách nhiệm cao, có đạo đức tốt, có tác phong mẫu mực của người giáo viên
- Về kiến thức:
+ Nắm vững kiến thức khoa học có hệ thống về trình độ đại học sư phạm về giảng dạy âm nhạc, bao gồm các kiến thức về khoa học xã hội- nhân văn, tâm lý học, giáo dục học, ngoại ngữ và âm nhạc
+ Có khả năng nghiên cứu khoa học giáo dục âm nhạc và khả năng quản lý công tác dạy học âm nhạc ở các cơ quan quản lý giáo dục
- Về kĩ năng:
+ Biết xây dựng kế hoạch giảng dạy âm nhạc
+ Có năng lực tổ chức các hoạt động về dạy và học âm nhạc
+ Có khả năng thể hiện các ca khúc nghệ thuật, diễn tấu được các bản nhạc soạn cho đàn Eletric keyboar
+ Có nghiệp vụ dạy học âm nhạc ở các cấp học phổ thông và trình độ cao đẳng, đại học
+ Nắm được phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục âm nhạc + Có năng lực tuyên truyền, giáo dục âm nhạc
+ Biết tổ chức, vận động cha mẹ học sinh, sinh viên, các tổ chức xã hội, phối hợp với nhà trường trong công tác chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ
+ Biết theo dõi và kịp thời xử lý các thông tin về chuyên ngành bậc học nhằm không ngừng nâng cao trình độ
Trang 14+ Trợ giúp cho các cơ quan quản lý giáo dục về công tác dạy học âm nhạc + Có khả năng đóng góp vào phong trào âm nhạc chung
+ Biết phát hiện, bồi dưỡng, tạo điều kiện phát triển cho những học
sinh có năng khiếu âm nhạc
*Chương trình đào tạo SVSP âm nhạc hệ Đại học
Chương trình đào tạo gồm 141 tín chỉ Trong đó kiến thức giáo dục đại cương = 42 tín chỉ, kiến thức giáo dục chuyên nghiệp= 99 tín chỉ trong đó kiến thức ngành 73 tín chỉ, kiến thức chuyên ngành tự chọn 15 tín chỉ, thực hành, thực tập nghề nghiệp là 14 tín chỉ, khóa luận tốt nghiệp hoặc môn học thay thế là 7 tín chỉ
Bảng 1.1.Chương trình đào tạo SVSP âm nhạc hệ Đại học
(xem bảng chương trình đào tạo SVSP ở phụ lục số 1)
Với sự phân bổ tín chỉ như trên chúng ta thấy chương trình vẫn còn coi trọng vai trò của kiến thức hơn kỹ năng, còn nhiều kiến thức”kinh điển” thừa so với yêu cầu vận dụng thực hành thực tế ngoài xã hội, số lượng môn học đưa vào chương trình quá nhiều khiến sinh viên không còn đủ thời gian tự học, trau dồi kỹ năng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
*Về đội ngũ và trình độ CBGV của khoa
Hiện tại đội ngũ giảng viên khoa sư phạm Nghệ thuật của ĐH Đồng Tháp có 22 Giảng viên giảng viên và 03 chuyên viên (13 nam, 12 nữ), trong
đó, có 01 Nghiên cứu sinh, 14 Thạc sĩ, 05 giảng viên đang hoàn thành chương trình thạc sỹ, 02 Cử nhân và được cơ cấu thành 02 tổ bộ môn: Âm nhạc và
Mỹ thuật.Riêng âm nhạc gồm có 8 Giảng viên, trong đó:
- Một GV trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý giáo dục
- Một GV trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý văn hóa
- Một GV trình độ thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc
- Một GV trình độ cử nhân chuyên ngành: Thanh nhạc
Trang 15- Một GV đang học nghiên cứu sinh chuyên ngành: Âm nhạc dân gian
- Một GV đang học cao học chuyên ngành: Quản lý văn hóa
- Hai GV đang học cao hoc chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc
Bảng 1.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên âm nhạc của ĐH Đồng Tháp
Chỉ huy
Thanh nhạc
SP âm nhạc
Qua kết quả ngiên cứu( bảng 1.2) cho thấy: số GV tuổi đời trên 45 chỉ
có 1 người, chiếm tỉ lệ 12,5%, còn lại 87,5% GV dưới 45 tuổi, có 37,5% GV nam Đây là nguồn lực mạnh mẽ cho công tác giáo dục âm nhạc, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có GV nào trình độ tiến sĩ(mới có một GV đang nghiên cứu sinh), giảng viên chính không có, trình độ thạc sĩ 50%, trình độ đại học 50%, trong đó, số lượng GV có bằng tốt nghiệp đại học chính qui chiếm 50%
và tại chức là 50% Mặc dù đội ngũ GV tuy đã tương đối đủ về số lượng và đáp ứng được yêu cầu thực hiện chương trình của Bộ GD& ĐT qui định Tuy nhiên, chất lượng của một số bộ phận GV vẫn còn hạn chế Một số GV cao tuổi, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy nhưng đi theo lối mòn của phương pháp cũ(do lịch sử để lại) và một số GV mới ra trường chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy và cuộc sống, phương pháp sư phạm còn non nớt, ít chịu học hỏi, chưa nhạy bén và thích ứng với những tình huống và sự biến đổi phức tạp của giáo dục đại học Kỹ năng sư phạm của một bộ phận giảng viên còn yếu,
Trang 16phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, chưa thực sự thay đổi cách dạy theo hướng “ dạy cho người học biết cách học” mà vẫn nặng nề “ dạy kiến thức cho người học”, chưa chú trọng phát triển năng lực, giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống theo nếp sống có văn hóa cho sinh viên Số giảng viên có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học còn chiếm tỷ lệ thấp, do đó ảnh hưởng nhất định tới việc khai thác tài liệu nước ngoài, nghiên cứu khoa học Điều nàyít nhiều đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học âm nhạc hiện nay
Bên cạnh đó số lượng các lớp học quá nhiều nhưng số lượng GV thì lại quá ít cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng dạy học Thực trạng hiện nay cho thấy có tình trạng quá tải giờ dạy của đội ngũ giảng viên (bảng 1.3)
Bảng 1.3 Phân công giảng dạy năm học 2014- 2015
Kết quả bảng 1.3 cho thấy có những GV dạy 1000 tiết/năm trong khi qui định là: 320 tiết/ năm dành cho GV trình độ thạc sĩ và 300/năm dành cho
GV trình độ cử nhân Tình trạng quá tải giờ dạy diễn ra liên tục trong thời gian dài khiến cho rất nhiều GV không còn thời gian dành cho học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không cập nhật được một cách thường
STT Họ và tên GV Chính qui Liên thông Tổng số giờ
1 Trương Thị Kim Hạnh 510 645 1155
2 Trần Thanh Phong 610 475 1085
3 Trần Văn Thành 471 405 786
4 Võ Xuân Hùng 594 422 1016
5 Lại Thị Thanh Thủy 390 0 390
6 Nguyễn Hoàng Phương Thi 189 0 189
7 Trần Nguyễn Thanh Thảo 264 495 759
8 Nguyễn Thị Quỳnh Như 165 180 419
Trang 17xuyên các kiến thức và kỹ năng mới, thiếu thời gian cần thiết để chuẩn bị giáo
án, tiếp xúc với sinh viên và nghiên cứu
Công tác NCKH chưa được chú trọng: nội dung NCKH không có chất lượng, hiệu quả, không có tính thực tiễn và khả năng ứng dụng mà chỉ nhằm đối phó hoặc để chấm điểm bình xét thi đua, xét phong danh hiệu
Ngoài ra, cơ chế quản lý, sử dụng đội ngũ giảng viên hiện nay không phát huy hết tiềm năng của cả đội ngũ và từng cá nhân, không khuyến khích được sự phấn đấu trong chuyên môn Cơ chế, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng, vẫn dựa chủ yếu vào khối lượng giảng dạy và thâm niên công tác mà không căn cứ vào thành tích và khả năng nghiên cứu của cá nhân, chưa đảm bảo cho giảng viên có cuộc sống đủ để có thể toàn tâm, toàn ý cho việc bảo đảm chất lượng hoạt động giảng dạy và NCKH
*
Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hóa của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới kể cả văn hóa phương Đông và phương Tây Việc học tập tiếp thu những tinh hoa, văn hóa của các nền văn hóa khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ
Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ đang nắm trong tay tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển của đất nước nói riêng Về mặt số lượng, sinh viên là một lực lượng không nhỏ Họ là lớp người đang được đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học Họ là những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
Trang 18nghề nghiệp ở các trường cao đẳng, đại học Một trong những đặc điểm tâm
lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên- sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế phát triển xã hội
Sinh viên là những tri thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình Một đặc điểm tâm lý nổi bật ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp- một động lực giúp
họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thật sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn
Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ
là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên do qui luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát tiển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bên cạnh đó sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sinh viên
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn hiện nay là sau bao năm học phổ thông vất vả, nặng nhọc để giành được một chiếc ghế lên giảng đường Đại học thì không ít sinh viên đã vội vàng tự mãn, xem Đại học chỉ là nơi xả hơi
để tụ tập gặp gỡ, ăn chơi đua đòi cùng chúng bạn thay vì biết trân trọng thành quả của mình họ sẽ không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân Tại sao lại như vậy? Một trong những lý do là khả năng tiếp cận
Trang 19thông tin của của sinh viên còn kém Khi còn học phổ thông, đặc biệt là cấp III, các bạn học sinh đã phải mang trên vai gánh nặng tâm lý từ gia đình, người thân là phải vào Đại học Nhưng bản thân những cô, cậu ấy chưa hoặc không nhận thức vào Đại học để làm gì? Và chuyên ngành mình chọn có phù hợp với mục tiêu, sở thích, tính cách năng lực của bản thân hay không? Chính
vì thế mà khi đậu vào Đại học rồi thì cũng đồng nghĩa với việc đã làm xong nghĩa vụ với bố mẹ và người thân chứ không phải đạt được ước mơ của chính bản thân thì làm gì có được sự trân trọng thành quả cố gắng học tập
Sinh viên âm nhạc của trường ĐH Đồng Tháp có độ tuổi từ 18 - 25, các em đến từ nhiều tỉnh khác nhau của các vùng như Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, trong đó có nhiều em là người dân tộc Chăm và dân tộc Khơmer Nhìn chung các em đã nhận thức rõ ràng được về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm
đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó SV đã xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển
mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ và phương pháp học tập của SV
yêu cầu không cao như trước đây Chất lượng tuyển sinh
khả năng tự nghiên cứu của SV còn hạn chế Rất nhiều SV chưa xác định được động cơ học tập, thái độ học tập chưa phù hợp, đặc biệt còn xem nhẹ việc tự học, chưa thấy được vai trò của việc tự học trong quá trình đào tạo Ở
họ chưa hình thành được phương pháp học tập khoa học (đọc lại, học vẹt, học đối phó để lấy điểm ) Phong trào tự học, tự đọc sách, tự nghiên cứu chưa nhiều, chỉ dừng lại ở một số SV, khả năng ghi chép còn hạn chế, trình bày bài
Trang 20kiểm tra chưa đạt yêu cầu, đặc biệt là kỹ năng thực hành các môn chuyên ngành của nhiều SV chưa tốt vì đa số SV khi vào học chưa có kỹ năng, hiểu biết nhiều về ngành học đã chọn nên việc nắm bắt kiến thức cơ bản còn gặp nhiều khó khăn và chưa chắc chắn
Một lý do khác nữa là sinh viên năm thứ nhất thường chịu ảnh hưởng nhiều từ “ sự hướng dẫn” của các anh chị đi trước Các bạn đang cực kỳ thõa mãn với chính mình, 12 năm đèn sách rồi, chọi với bao nhiêu đối thủ mới nghiễm nhiên trở thành sinh viên Đại học, thõa mãn mong ước của bố mẹ, thầy cô, bè bạn Càng nghĩ các bạn càng tự hào và hài lòng về bản thân mình lắm Rồi các bạn dần cảm thấy cái lí lẽ “ nghỉ xả hơi” rất có tình, có lý Đúng quá, theo quan điểm năm nhất ăn chơi, năm hai thong thả, năm ba cố gắng, năm tư chuẩn bị ra trường thì các bạn đang ở giai đoạn I mà thôi vội gì “Thả phanh” ung dung suốt học kỳ để rồi đến kỳ thi lại lao đầu vào học, thức khuya dậy sớm chạy mãi mà không đuổi kịp kiến thức mà cả học kỳ không thèm để mắt tới Cứ chọn đại một “ tủ” may mắn thì trúng còn không thì thi lại Thi lại mà rớt thì học lại Những bạn này thường đến lớp thì bằng khuôn mặt mệt mỏi và đương nhiên kết quả đạt được chỉ có trời mới biết May mắn thì qua, coi như thoát hiểm, còn không lục đục mượn vở bạn bè ôn luyện, lại thi Kết quả là các cô cậu sinh viên được tốt nghiệp sớm hoặc tốt nghiệp trễ hay tốt nghiệp đúng lúc nhưng không biết gì Đây cũng là hiện trạng học để lấy bằng chứ không phải lấy kiến thức
Ở góc độ chuyên môn giảng dạy với môn âm nhạc cổ truyền,chúng tôi nhận thấy khả năng biết hát nhiều bài dân ca hoặc những hiểu biết về dân ca địa phương vẫn còn rất hạn chế Ví dụ: Một trong những đặc trưng của dân ca Nam Bộ là những thể loại hò , lý hay thể loại đờn ca tài tử nhưng khi được hỏi đến phần kiến thức hay hát một số bài dân ca thì SV tỏ ra e ngại và rất lúng túng Các em biết rất ít về dân ca Nam Bộ Bên cạnh đó, việc học của SV cũng đang còn mang nặng tính hình thức Rất nhiều sinh viên thường xuyên tìm cách vắng mặt hoặc có đến lớp thì thường có thái độ học đối phó, thi cử
Trang 21chưa nghiêm túc, không cầu thị kiến thức, chất lượng nhận thức yếu.v.v SV thường xuyên làm thêm, dạy kèm, bán hàng, tiếp thị, chạy xô, dẫn đến lơ là học tập hoặc không theo nổi chương trình học Đại học là những lý do sinh viên bị buộc thôi học Tuy nhiên đó không phải là lý do chính, vì có những sinh viên vừa học vừa làm thêm nhưng kết quả vẫn đạt kết quả cao
Ngoài ra, đối với môn Âm nhạc cổ truyền SV chưa chủ động trong việc học, phong cách học thụ động, ngại đưa ra ý kiến khi học và thảo luận Các
em không chịu tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho môn học của mình(mặc dù trong phương pháp giảng dạy môn Âm nhạc cổ truyền), GV lên lớp đã hướng dẫn và đưa ra những tư liệu, đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo) Thực tế hiện nay, số SV tìm đến thư viện không nhiều, chỉ lac đác vài bạn đến thư viện những ngày bình thường, và có nhiều hơn một chút khi mùa thi đến.Nhân viên quản lý thư viện cho biết một ngày bình quân chỉ có khoảng chục em đến đây ngồi học, tìm tòi tư liệu Bên cạnh đó cũng có một
số sinh viên có mượn hai ba cuốn sách nhưng hết học kỳ mà vẫn không thấy bóng dáng các em đến thư viện để trả sách lại
Thêm nữa, tâm lý quen với việc “đọc – chép” mỗi khi trên lớp cũng dẫn tới tình trang thụ động trong học tập của sinh viên, nếu GV không đọc thì SV cũng không chép, chỉ ngồi nghe và thực tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi
đó là rất ít, thậm chí là không có gì Trong khi đó, SV cũng không có thói quen đọc giáo trình và các tài liệu liên quan đến môn âm nhạc cổ truyền khi ở nhà Ngoài ra, trong mỗi giờ học chuyện SV phát biểu ý kiến là rất ít thay vào đó là “ GV nêu vấn đề, đặt câu hỏi, còn SV thì cứ cúi mặt xuống bàn…” Mặc dù đó không phải là những câu hỏi khó Thông thường nó đều nằm trong phạm vi hiểu biết và có thể trả lời của sinh viên Thế nhưng rất ít có cánh tay nào giơ lên Điều này ảnh hưởng khá lớn đến không khí học tập trong lớp Nó gây ra một cảm giác rất áp lực mỗi khi GV đặt câu hỏi, SV thì cảm thấy áp lực, còn GV cũng cảm thấy chán nản vì chỉ có sự làm việc một chiều
Trang 22Sinh viên còn yếu ở các kỹ năng : thuyết trình, sử dụng máy tính, viết báo cáo tham luận và vận dụng vào thực tế Sinh viên luôn thụ động với khối lượng kiến thức về lý thuyết, việc thực hành bị xem nhẹ, thậm chí bị bỏ qua,
từ đó tạo ra một bộ phận không nhỏ SV thụ động, vụng về thiếu khả năng thích ứng xã hội Trách nhiệm này không phải chỉ ở khâu quản lý sinh viên- thuộc các đơn vị làm công tác quản lý mà còn có một nguyên nhân trực tiếp rất sâu xa tác động rất lớn vào quá trình quản lý sinh viên đó là nội dung chương trình học, phương pháp giảng dạy, năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình yêu thích, say mê học tập của sinh viên
*
Công tác quản lí cơ sở vật chất trong một trường đại học là một hoạt động
vô cùng quan trọng trong toàn bộ công tác quản lí của nhà trường Được sự đầu
tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp, sự nỗ lực cao của cán bộ quản lý, giảng viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trường Đại học Đồng Tháp đã có những phát triển đáng kể Hiện nay trường đã có cơ sở vật chất khang trang , đẹp hơn, có hệ thống phòng thí nghiệm, hệ thống máy tính kết nối internet từng bước đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Về cơ sở vật chất trường có 01 khu nhà học chuyên ngành dùng cho thực hành , 2 khu nhà học lý thuyết Các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học được trang bị với máy chiếu, dàn
âm thanh, giảng đường lớn dùng để họp hay biễu diễn các chương trình văn nghệ, nhà thi đấu, đàn piano, organ, và nhiều trang thiết bị hiện đại khác.Trường có một Trung tâm Thư viện đầu sách chuyên ngành, sách tham khảo.01 Kí túc xá, 03 nhà ăn cùng Câu lạc bộ sinh viên
Tuy nhiên sự đầu tư chưa hợp lý một số vấn đề như: phòng học không được cách âm, phòng học chưa đúng qui cách của một phòng học thực hành
âm nhạc nên việc dạy và học âm nhạc còn gặp một số khó khăn nhất định
Trang 23Các trang thiết bị sử dụng cho môn Âm nhạc cổ truyền như máy chiếu, loa đã quá cũ kỹ và thường xuyên hư hỏng, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học Sách tham khảo và các sách công cụ khác trong thư viện chưa phong phú
Nhìn chung sự phát triển của cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay chưa đáp ứng kịp với sự phát triển quy mô đào tạo của nhà trường Trong hoàn cảnh khó khăn và hạn chế của nguồn tài chính hiện nay, nhà trường có rất ít công trình xây dựng mới và cũng có ít cơ sở vật chất trang thiết bị được mua mới Điểm yếu của nhà trường hiện nay là chưa có được một chiến lược cụ thể để quản lý có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất và hoạt động dịch vụ của nhà trường
1.2 Thực trạng giảng dạy môn âm nhạc cổ truyền của hệ ĐHSP âm nhạc
1.2.1 Chương trình và giáo trình
1.2.1.1.Chương trình
Môn Âm nhạc cổ truyền là môn học bắt buộc trong chương trình khung giáo dục Đại học đào tạo giáo viên hệ ĐHSP ngành Âm nhạc do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Môn học gồm 2 tín chỉ(30 tiết) được xếp vào
kỳ II của năm thứ 2
Mục tiêu đặt ra cho môn học là sau khi tốt nghiệp môn Âm nhạc cổ truyền Việt Nam sinh viên phải có những kiến thức và năng lực thực hành sau đây:
- Nắm vững những kiến thức sơ giản và tổng quát về hệ nhạc khí, các thể loại ca nhạc cổ truyền và một số nét khác biệt giữa các vùng dân ca trong nước
- Có ý niệm tương đối rõ ràng, cụ thể về một số loại nhạc khí phổ thông hoặc tiêu biểu, một số thể loại dân ca và kịch hát cổ truyền phổ biến
- Hát và dựng được một số bài dân ca thuộc các thể loại đồng dao, hát
ru, hò lao động và lí
- Tập làm quen bước đầu với một vài kĩ thuật cơ bản của một loại nhạc
cụ cổ truyền đơn giản hoặc phổ biến nào đó của địa phương mình hoặc của vùng, tộc khác trong nước
Trang 24- Thấy được truyền thống yêu âm nhạc của ông cha ta, sự phong phú và một số nét sáng tạo trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam, qua đó củng cố và nâng cao lòng yêu mến, tự hào với những di sản âm nhạc cổ truyền của dân tộc để có thể truyền lại cho học sinh phổ thông trong những bài giảng về âm nhạc thường thức sau này
Chương trình môn Âm nhạc cổ truyền gồm các nội dung chính được phân bổ theo số tiết học như sau:
- Nhập môn (2 tiết): Một số khái niệm và thuật ngữ
- Chương 1(8 tiết): Hệ nhạc khí cổ truyền
- Chương 2(16 tiết): Các thể loại ca nhạc
- Chương 3(4 tiết): Các vùng âm nhạc, một số tương đồng và khác biệt
Bảng 1.4 Phân phối chương trình môn Âm nhạc cổ truyền
(xem bảng phân phối chương trình môn học ở phần phụ lục số 2)
Chương trình ANCT được triển khai trong 10 tuần ở học kỳ II của năm thứ hai Mỗi tuần học 03 tiết, mỗi tiết 45 phút Và được sắp xếp trong 10 tuần,cứ sau mỗi chương thì sinh viên sẽ làm bài kiểm tra Phần thi kết thúc môn học, nhà trường tổ chức thi chung với các môn khác Cách tính điểm bài kiểm tra giữa kỳ thường hệ số điểm nhân 0,4, bài thi kết thúc học phần hệ
số điểm nhân 0,6, tổng điểm 10
Nhìn chung, nội dung chương trình giảng dạy là chưa hợp lý Đó là nội dung chương trình còn mang nặng lý thuyết, chưa có phần thực hành để giúp
SV có thể hát và dựng được một số bài dân ca thuộc các thể loại đồng dao, hát
ru, hò lao động và lí, hay tập làm quen bước đầu với một vài kĩ thuật cơ bản của một loại nhạc cụ cổ truyền đơn giản hoặc phổ biến nào đó của địa phương mình hoặc của vùng, tộc khác trong nước đúng như mục tiêu mà chương trình môn học đề ra
Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết để soạn thảo chương trình người ta phải dựa vào mục tiêu đào tạo Do trong mục tiêu đào tạo chỉ mô tả mẫu, mô hình một cách ngắn gọn, khái quát nên việc cụ thể hóa mục tiêu bằng nội
Trang 25dung chương trình phải được tính đến thật cụ thể và khoa học Nếu so với yêu cầu tối đa của mục tiêu đào tạo là đào tạo những cử nhân âm nhạc có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt đẹp và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao thì tất cả những nội dung thuộc chương trình âm nhạc cổ truyền hiện hành là rất cần thiết không có gì thừa thậm chí là thiếu, cần phải bổ sung Tuy nhiên, theo chúng tôi, ngoài việc lấy mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho việc soạn chương trình, cũng phải xuất phát từ thực tế dạy học của người giáo viên, đặc biệt là thực tế dạy học môn âm nhạc thường thức, những nhiệm vụ của họ phải giải quyết khi dạy âm nhạc ở các khối của nhà trường THCS
Trong đào tạo giáo viên THCS, tuy không chủ trương chỉ trang bị những kiến thức “cần và đủ” theo kiểu thực dụng nhưng rõ ràng phải cung cấp cho họ những kiến thức cần thiết, sát thực hơn, sâu sắc hơn để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học môn âm nhạc Nếu xuất phát từ thực tế việc dạy môn âm nhạc ở bậc THCS, có thể thấy chương trình môn âm nhạc cổ truyền vừa thừa lại vừa thiếu và có những điểm chưa hợp lý về phân phối thời lượng Vì vậy, đã đến lúc nên soát lại chương trình này, tiến hành bổ sung, điều chỉnh sao cho vẫn đảm bảo được nội dung khoa học bộ môn, cập nhật kịp thời những thành tựu lý luận mới và đồng thời phải đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mà thực tiễn giáo dục đòi hỏi
Ngoài ra, việc phân bổ thời gian cho chương trình cũng chưa hợp lý trong từng bài Thí dụ: Có những bài nội dung khá dài như bàigiới thiệu về kịch hát hay bài giới thiệu về một số thể loại khí nhạc thì lại bố trí 1 tiết, có bài nội dung đơn giản như các bài giới thiệu khái quát về ca nhạc đời thường,
ca nhạc lễ nghi tín ngưỡng và tôn giáo, ca nhac lễ nghi phong tục thì lại bố trí
từ 2-3 tiết
1.2.1.2.Giáo trình
Ở hệ ĐHSP Âm nhạc – trường ĐH Đồng Tháp, giáo trình của môn ANCT là Âm nhạc cổ truyền Việt Nam Đây là cuốn giáo trình dành cho chương trình đào tạo giáo viên THCS bậc Đại học của Bộ giáo dục và
Trang 26Đào tạo ban hành do tác giảNguyễn Thụy Loan biên soạn, nhà xuất bản ĐHSP 2005
Cuốn giáo trình này gồm 3 chương chính: chương I, II, III và một phần mở đầu vó tính chất nhập môn với việc làm rõ một số khái niệm liên quan tới âm nhạc cổ truyền Việt Nam và các thành phần của nó
Trọng tâm của giáo trình gồm: chương I Hệ nhạc khí, chương II Các thể loại ca nhạc và chương III Những khác biệt cơ bản giữa các vùng dân ca
và giá trị của dân ca Việt Nam
Về nội dung, so với phần giới thiệu âm nhạc cổ truyền Việt nam trong cuốn Thường thức về âm nhạc cổ truyền Việt Nam và lịch sử âm nhạc(chương trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành năm 1996) thì nội dung giảng dạy âm nhạc cổ truyên Việt Nam trong chương trình mới được mở rộng thành môn học riêng với một cuốn sách giáo khoa độc lập Bởi vậy không chỉ bó gọn trong việc giới thiệu sơ lược các vùng dân ca và hai thể loại kịch hát cổ truyền của người Việt như trong chương trình trước đây, cuốn sách này được giới thiệu một cách toàn diện, đầy đủ hơn mặc dù vẫn chỉ là những điều thường thức khái quát và sơ giản Do thời lượng chỉ được nới rộng tới 2 đơn vị học trình(30 tiết) đồng thời một phần do đặc điểm của đối tượng dùng sách cũng như của mục tiêu đào tạo, cho nên tỉ lệ nghịch với việc mở rộng kiến thức (nhằm cung cấp một kiến thức tổng quát về âm nhạc cổ truyền Việt Nam), có những vấn đề trong chương trình trước giới thiệu được kĩ hơn thì ở chương trình này lại giới thiệu
sơ giản hơn Mặt khác, để đáp ứng khối lượng kiến thức cho những giáo viên phổ thông trong tương lai, cuốn sách này sẽ tập trung sâu hơn vào một số hiện tượng tiêu biểu và phổ thông trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam
Bên cạnh những nội dung chính, trong sách còn có Bảng từ vựng và thuật ngữ là phần hỗ trợ cho kiến thức được giới thiệu trong nội dung chính
và Bảng chỉ dẫn giúp cho SV khi cần có thể tìm dễ dàng một nội dung hoặc thuật ngữ, khái niệm được dùng trong sách hoặc các hình ảnh bài dân ca được
Trang 27giới thiệu Phần phụ lục cung cấp cho SV thêm một số “ vốn” dự trữ Ngoài ra trong sách còn bổ sung một số hình ảnh và làn điệu bài bản dân ca, đồng thời sau mỗi chương có phần gợi ý về câu hỏi và bài tập Đó cũng là những nét mới so với chương trình năm 1996
Nhìn chung, cuốn giáo trình này được bố cục chặt chẽ, đảm bảo được tính hệ thống và sự liên thông giữa các chương, các mục, cũng đưa ra nhiều dạng bài tập như bài tập lý thuyết, bài tập thực hành, bài tập mở rộng và các
ví dụ về âm nhạc để minh họa cho các thể loại…Nội dung kiến thức của các bài khá phù hợp với trình độ phát triển của sinh viên và với cơ sở vật chất của nhà trường Bên cạnh đó cấu trúc của chương, bài hợp lý, kênh hình, kênh chữ rõ ràng, dễ nhận biết (dù còn hơi ít hình) Ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc, cỡ chữ to-nhỏ, gây hứng thú học tập cho SV
Song, giáo trình cũng còn những hạn chế như: Chưa có sự cân đối giữa
lý thuyết với thực hành Lý thuyết nhiều, thực hành ít Chưa thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của sinh viên trong việc chiếm lĩnh kiến thức Kênh hình còn ít, nhất là hình ảnh các nhạc khí của các dân tộc thiểu số, các thể loại ca nhạc Hệ thống câu hỏi còn
sơ sài Chủ yếu là câu hỏi cuối chương, không có câu hỏi cụ thể ở mỗi bài học Phần bài tập trong mỗi bài, chương của giáo trình do các tác giả biên soạn chỉ mang tính định hướng, căn cứ vào điều kiện cụ thể của sinh viên mà giảng viên dạy môn học này phải tự soạn thêm bài tập hợp lý cho sinh viên làm tại lớp, về nhà Ngoài ra nhiều nội dung còn mang tính lý thuyết ít có giá trị ứng dụng đối với người học vì vậy chưa thực sự thu hút được các em Một
số từ ngữ chuyên ngành khó hiểu như dăm, dăm đơn, dăm kép không được giải thích rõ ràng.Các tên nhạc cụ của một số dân tộc rất khó đọc gây khó khăn cho SV trong quá trình tìm hiểu bài học Ví dụ như: Scorek, tpơ Một số
ví dụ bài hát được gợi ý với các thể loại rất khó tìm đã ảnh hưởng đến việc nghe nhạc hoăc thực hành
Trang 281.2.2 Phương pháp giảng dạy
Trong những năm qua hoạt động giảng dạy môn Âm nhạc cổ truyền của
GV âm nhạc ở khoa SP Nghệ Thuật, trường ĐH Đồng Tháp đang trong giai đoạn đổi mới Bên cạnh những kết quả tốt đã đạt được vẫn còn những bất cập Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nhằm đánh giá đúng thực trạng và đưa ra giải pháp khoa học nhằm cải thiện thực trạng nêu trên Vì thế tăng cường các biện pháp nhằm khắc phục thực trạng là vấn đề cấp thiết hiện nay
Để tìm hiểu về thực trạng dạy môn âm nhạc cổ truyền tại trường ĐH Đồng Tháp, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 102 SV khóa 11,12,13 trong học
kỳ 2 năm học 2014- 2015 và 8 giảng viên âm nhạc của khoa SP Nghệ Thuật, trường ĐH Đồng Tháp Trong quá trình khảo sát chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như : khảo sát bằng câu hỏi, quan sát, phỏng vấn Kết quả khảo sát được xử lý thông qua phương pháp thống kê toán học
1.2.2.1.Thực trạng hoạt động dạy
Để tìm hiểu về tiêu chí lựa chọn phương pháp dạy học môn âm nhạc cổ truyền của GV, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: Trong quá trình dạy học Thầy(Cô) lựa chọn tiêu chí dạy học nào?
Bảng 1.5: Mức độ tiêu chí lựa chọn phương pháp dạy học
TT Tiêu chí Số lượng Tỷ lệ
1 Sinh viên lĩnh hội lý thuyết 4 50
2 Sinh viên ghi nhớ 2 25
3 Sinh viên học cách học 1 12,5
4 Sinh viên hoc cách giải quyết tình huống 1 12,5
5 Phương pháp khác 0 0
Trang 29Nhận xét: đánh giá ở bảng 1.5 cho thấy có 50% giảng viên lựa chọn tiêu chí sinh viên lĩnh hội lý thuyết, 25% gv lựa chọn tiêu chí ghi nhớ, chỉ có 12,5% GV lựa chọn tiêu chí SV học cách học và 12,5 % GV lựa chọn
Như vậy, thực trạng GV đọc SV ghi chép là vấn đề có thực, cần phải xem xét lại phương pháp dạy học của GV
Tiếp theo, để tìm hiểu về phương pháp dạy học chúng tôi đã khảo sát thông qua câu hỏi: Trong quá trình dạy học Thầy( Cô) sử dụng phương pháp dạy học nào?
Bảng 1.6: Mức độ sử dụng phương pháp dạy học
TT Phương pháp dạy
Mức độ đánh giá Rất thường
xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
SL % SL % SL % SL %
1 Thuyết trình 4 50 3 37,5 1 12,5
2 Vấn đáp 1 12,5 2 25
3 Thảo luận nhóm 1 12,5 2 25
4 Nêu và giải quyết vấn đề 1 12,5 2 25 3 37,5
Kết quả (Bảng 1.6) cho thấy có 50% GV rất thường xuyên, 37,5% thường xuyên và 12,5 GV thỉnh thoảng sử dụng phương pháp thuyết trình Phương pháp vấn đáp chỉ có 12,5% GV thường xuyên và 25% GV thỉnh thoảng sử dụng Phương pháp thảo luận nhóm có 12,5% thường xuyên và và 25% GV thỉnh thoảng sử dụng Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề chỉ có 12,5% rất thường xuyên, 25% thường xuyên và 37,5% thỉnh thoảng sử dụng Như vậy với câu hỏi thứ hai, chúng ta xác định được thực trạng sử dụng
phương pháp trong quá trình dạy học của đội ngũ GV đó là chủ yếu sử dụng
phương pháp thuyết trình và đồng nhất với tiêu chí lựa chọn “ SV lĩnh hội lý thuyết” ở trên
Trang 30Như vậy, từ việc lựa chọn tiêu chí” SV lĩnh hội lý thuyết” và chủ yếu sử
dụng phương thuyết trình đã dẫn đến hình thức tổ chức dạy học là toàn lớp về
cơ bản hoàn toàn phù hợp Các hình thức tổ chức dạy học nhóm, cá nhân sử dụng mức độ rất thấp vì GV ở khoa ít quan tâm, sử dụng phương pháp dạy học theo quan điểm tích cực
Tìm hiểu thực trạng sử dụng phương tiện dạy học tại khoa SP Nghệ Thuật, trường ĐH Đồng Tháp chúng tôi tiến hành khảo sát với câu hỏi: “ Thầy( Cô) sử dụng phương tiện nào trong quá trình dạy học”
Bảng 1.7: Mức độ sử dụng phương tiện trong dạy học
TT Phương tiện dạy học Mức độ đánh giá
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Trang 31Âm nhạc cổ truyền Tuy nhiên, kỹ năng ứng dụng CNTT của một bộ phận
GV vẫn còn mang nặng tính biễu diễn hơn là tính hiệu quả GV thực hiện giáo
án điện tử quá đơn giản, chỉ như là thay thế bài viết trên bảng bằng cách trình chiếu những điều được soạn bằng máy tính( tham khảo giáo án điện tử ở mục
a, phụ lục số 7)
Ngoài ra để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn thêm các Thầy( Cô) giảng dạy lâu năm và các thầy (Cô) trưởng, phó bộ môn âm nhạc về việc các GV đổi mới phương pháp dạy học để có được kết luận khách quan đó là do tình trạng lớp học đông, thời gian chỉ có 30 tiết, bên cạnh đó GV chưa được tập huấn nhiều về các phương pháp dạy học theo quan điểm tích cực, một số GV ngại thay đổi cứ theo lối dạy truyền thống Vì thế, phương pháp thuyết trình được hầu hết GV sử dụng trong các bài giảng của mình, rất ít các GV vận dụng các phương pháp dạy học theo quan điểm tích cực và hình thức dạy học nhóm
1.2.2.2 Thực trạng hoạt động học
Để tìm hiểu SV có nhận thức được rõ vai trò của môn học âm nhạc cổ truyền, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “ Theo bạn môn âm nhạc cổ truyền có vai trò như thế nào đối với SV âm nhạc trường ĐH Đồng Tháp”
Bảng 1.8: Mức độ nhận thức về vai trò môn học của sinh viên
TT Nhận thức về vai trò của môn học Số lượng Tỷ lệ
1 Giúp SV có kiến thức sơ giản và tổng quát về
ANCTVN
80 78,4
2 Giúp SV có thể nhận biết và phân biệt được một số
loại nhạc khí phổ thông hoặc tiêu biểu, một số thể
loại dân ca và kịch hát cổ truyền phổ biến
70 68,6
3 Giúp SV hát và dựng được một số bài dân ca thuộc
các thể loại đồng dao, hát ru, hò lao động và lý
60 58,8
4 Giúp SV tập làm quen bước đầu với một vài kỹ thuật
cơ bản của một loại nhạc cụ cổ truyền đơn giản của
30 29,4
Trang 32địa phương hoặc vùng, tộc khác trong nước
5 Giúp SV củng cố và nâng cao lòng yêu mến, tự hào
với những di sản âm nhạc cổ truyền của dân tộc
Từ nhận thức đối với môn học của sinh viên chúng tôi tìm hiểu về thái
độ của SV trong giờ học môn Âm nhạc cổ truyền qua câu hỏi: “ Trong giờ học môn âm nhạc cổ truyền bạn thấy thế nào?”
Bảng 1.9: Mức độ thái độ của SV đối với môn học
TT Mức độ thái độ của SV đối với môn học Số lượng Tỷ lệ
Trang 33thích và rất thích học) Vậy có phải phương pháp giảng dạy của GV chưa phù hợp cần phải đổi mới hay cần phải đổi mới nội dung môn học
Từ thái độ, chúng tôi tiếp tục khảo sát về tính tích cực của SV qua câu hỏi: “ Trong giờ học môn âm nhạc cổ truyền bạn đã làm gì?
Bảng 1.10: Mức độ tích cực trong giờ học của SV
TT Hoạt động trong giờ học
Mức độ đánh giá Rất thường
xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
SL % SL % SL % SL %
1 Chú ý nghe giảng 25 24,5 60 58,8 15 14,7 5 4,9
2 Nói chuyện riêng 5 4,9 15 14,7 40 39,2 45 44,1
3 Giơ tay phát biểu 4 3,9 7 6,8 15 14,7 25 24,5
4 Luyện tập 15 14,7 40 39,2 30 29,4 17 16,6
5 Ngủ gật 5 4,9 20 19,6 25 24,9 28 27,4
6 Bỏ về giữa giờ học 7 6,8
7 Ghi chép 30 29,4 55 53,9 12 11,7 8 7,8
8 Tham gia các tình huống 6 5,8 30 29,4 35 34,3 25 24,5
Từ kết quả( Bảng 1.10) chúng ta thấy hành động ghi chép và chú ý nghe giảng mức độ khá cao; hành động giơ tay phát biểu và tham gia các tình huống khá thấp chỉ có 3,9% SV rất thường xuyên và 6,8 % SV thường xuyên giơ tay phát biểu; 50% SV không bao giờ giơ tay phát biểu Như vậy, chúng
ta thấy GV chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình thì SV chủ yếu là tập trung ghi chép, SV ít tham gia hoặc không có cơ hội tham gia vào các tình huống, xây dựng bài
Ngoài ra, để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng dạy học môn Âm nhạc cổ truyền tại trường ĐH Đồng Tháp, chúng tôi đã tiến hành quan sát dự giờ môn
Âm nhạc cổ truyền tại lớp ĐHSAN13 do giảng viên Võ Xuân Hùng phụ trách
Trang 34Để từ đó có thể đánh giá đúng thực trạng cũng như có thể đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Âm nhạc cổ truyền
* Đối tượng quan sát
- GV: Võ Xuân Hùng, phụ trách dạy môn Âm nhạc cổ truyền
- Lớp ĐHSAN13 tổng số 42 SV
* Nhiệm vụ quan sát
- Ghi chép lại quá trình dự giờ như:
+ Nội dung bài giảng
+ Phương pháp làm việc của thầy trò
+ Phương tiện dạy học
+ Hệ thống câu hỏi và bài tập rèn luyện kỹ năng
+ Mối quan hệ hợp tác giữa thầy và trò, giữa trò và trò
+ Vấn đề về sức khỏe: tư thế ngồi học của SV trong lớp
- Đánh giá chất lượng của tiết học và kết quả học tập của SV
* Nội dung quan sát
Tìm hiểu thực trạng dạy học môn âm nhạc cổ truyền(Phần nhập môn) tại trường ĐH Đồng Tháp
* Thời gian và địa điểm thực nghiệm
- Thời gian: sáng thứ năm(tiết 4,5) ngày 05 tháng 03 năm 2015
- Địa điểm: Phòng 502 dãy C1- Trường ĐH Đồng Tháp
a)Dự giờ
- Tên đơn vị kiến thức: (Tham khảo giáo án ở mục a, phụ lục số 8)
- Qui trình lên lớp lớp gồm các bước cụ thể như sau: (Tham khảo qui trình ở mục a, phụ lục 9)
Trang 35+ GV thực hiện tốt đúng lịch trình, trình bày bài hợp lý Sắp xếp nội dung bài giảng theo trình tự khoa học, đúng với giáo trình Bảo đảm tính hệ thống, đủ nội dung, làm rõ được trọng tâm
+ Có ứng dụng CNTT trong dạy học
+ Kỹ năng ngôn ngữ diễn đạt trên lớp rõ ràng, giúp SV hiểu bài
GV có thái độ thân thiện, cởi mở với SV làm giảm sự căng thẳng tạo bầu không khí cho SV khi tham gia lớp học
- Về nhược điểm:
+ Qua quan sát tôi nhận thấy GV chưa bao quát và kiểm soát lớp học, chưa duy trì được sự chú ý của SV trong lớp Nhiều SV còn nói chuyện và ngủ gậc trong giờ học
+ Bên cạnh đó kết quả quan sát cũng đã chỉ ra rằng việc GV chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình trong suốt quá trình dạy học mà không kết hợp với các phương pháp dạy học khác đã khiến cho SV rất thụ động trong việc tiếp thu kiến thức
+ Việc tổ chức điều khiển hoạt động dạy học của GV chưa chú ý quan tâm, giải đáp thắc mắc về nội dung bài học cho SV, chưa phát huy được vai trò chủ động của SV trong học tập và chiếm lĩnh tri thức
+ GV thực hiện giáo án điện tử quá đơn giản, chỉ như là thay thế bài viết trên bảng bằng cách trình chiếu những điều được soạn bằng máy tính Chưa minh họa cụ thể các ví dụ
Trang 361.2.3 Kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu rất quan trọng trong công tác đào tạo bậc đại học Kiểm tra đánh giá không chỉ nhằm đánh giá năng lực, trình độ nhận thức của sinh viên mà hơn thế nữa nó phải tạo ra động lực thúc đẩy cả quá trình dạy và học Thông qua kiểm tra đánh giá, sinh viên điều chỉnh phương pháp học tập, GV điều chỉnh phương pháp giảng dạy Yêu cầu đầu tiên đôi với kiểm tra đánh giá là tính chính xác, khách quan và công bằng Ngoài ra, phương thức tổ chức kiểm tra đánh giá phải phù hợp với phương thức đào tạo và thực tiễn của nhà trường để tạo điều kiện thuận lợi cho SV và bộ phận quản lý
Trong những năm qua hoạt động kiểm tra đánh giá môn Âm nhạc cổ truyền của GV âm nhạc ở khoa SP Nghệ Thuật, trường ĐH Đồng Tháp cũng
đã có những đổi mới Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên hiện nay vẫn đang thực hiện theo Quy chế Đào tạo Đại học sư phạm hệ chính quy (Ban hành kèm theoQuyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Việc kiểm tra đánh giá chất lượng học tập cho mỗi học phần gồm 2 loại điểm: điểm kiểm tra thường kỳ, điểm thi kết thúc học phần Cụ thể:
- Kiểm tra thường kì:
+ Trọng số 0,4
+ Hình thức: tự luận
+ Nội dung: Các kiến thức của mỗi chương
+ Thời gian: Sau khi kết thúc mỗi chương
- Thi kết thúc học phần
+ Trọng số 0,4
+ Hình thức trắc nghiệm
+ Nội dung: Các kiến thức của mỗi chương
+ Thời gian: Sau khi kết thúc mỗi chương
Trang 37Mặc dù các GV đã có những cố gắng trong việc đổi mới kiểm tra đánh giá nhưng công tác kiểm tra vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về phương pháp
và cách thức Kết quả bảng 1.16 cho thấy phương pháp kiểm tra đánh giá SV chủ yếu là làm bài kiểm tra trên giấy với hình thức tự luận hoặc trắc nghiệm Với hình thức này chủ yếu là chứng minh SV nắm vũng kiến thức để giải một số bài tập hoặc giải thích một số hiện tượng liên quan đến những kiến thức đã học Năng lực mà SV được đánh giá với phương pháp này chủ yếu
là năng lực trình bày, diễn đạt lập luận, kỹ năng giải bài tập Điều này khiến nội dung đánh giá chưa toàn diện, thiếu khách quan Kết quả đánh giá chủ yếu phản ánh mức độ biết kiến thức, khả năng hiểu và vận dụng kiến thức của SV còn thấp
Bên cạnh đó với cách thức kiểm tra này SV thường bị áp đặt , SV không được lựa chọn và chủ động trong bài kiểm tra hay bài thi, trả lời phải đúng đáp án mới đạt điểm, khác đáp án(có khi là sáng tạo) Ngoài ra,SV sẽ không ý thức được vấn đề tự giác trong học tập; đôi khi chưa đảm bảo được
sự chính xác, khách quan, công bằng Qua các giờ kiểm tra cho thấy học sinh vẫn còn quay cóp, nhìn và trao đổi bài, ít học sinh có tính tự giác học tập Hoặc nếu có thì chỉ mang hình thức đối phó Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy và học môn Âm nhạc cổ truyền
Để tìm hiểu sâu hơn và một lần nữa đánh giá về chất lượng học tập của
SV, chúng tôi đã thống kê kết quả học tập môn Âm nhạc cổ truyền của các khóa 2011-2012, 2012-2013 Kết quả thống kê như sau:
Bảng 1.13: Kết quả học tập môn Âm nhạc cổ truyền
Khóa Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu kém
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
% 2011- 2012 40 10 25,5 18 45 12 30 0 0 2012- 2013 44 12 27,2 21 47,7 11 25 0 0
Trang 38Kết quả bảng 1.13 cho thấy tỷ lệ SV đạt loại giỏi 26,3%,đạtloại khá 46,3%, đạt loại trung bình 27,5%, loại yếu kém 0% Với kết quả đó ta thấy mặc dù tỷ lệ SV khá giỏi chiếm khá cao, tuy nhiên với hình thức thi là trắc nghiệm hay tự luậnnhư vậy thì GV có đảm bảo được sự chính xác, khách quan và công bằng không Và liệu với hình thức thi như trên thì SV sẽ có được những kỹ năng cũng như những năng lực gì của môn âm nhạc cổ truyền khi ra trường Đó là một vấn đề mà chúng cần lưu tâm
Như vậy, làm sao để có thể vừa có được những kết quả học tập tốt như trên mà lại vừa bảo đảm đúng chất lượng cho SV khi ra trường, chúng tôi thiết nghĩ cần phải đổi mới phương pháp dạy học cũng như cần phải đổi mới kiểm tra đánh giá hơn nữa Từ đó mới nâng cao được chất lượng dạy và học môn Âm nhạc cổ truyền ở khoa SP Nghệ Thuật, trường ĐH Đồng Tháp, đáp ứng tốt với nhu cầu của xã hội ngày nay
1.2.4.
1.2.4.1 Nhận xét về thực trạng giảng dạy
a) Ưu điểm
Thực hiện nghiêm túc lịch trình dạy học, kỹ năng quản lý lớp
GV ngày càng quan tâm nhiều đến tất cả các khâu trong chu trình lên lớp như thiết kế bài giảng, chuẩn bị bài giờ lên lớp, các phương pháp và kỹ thuật lên lớp, quản lý SV trên lớp, hướng dẫn SV chủ động học tập
b)Nhược điểm
Một số GV chưa nhận thức hết tầm quan trọng của giảng dạy- hoạt động chủ đạo của nhà trường trong giai đoạn đổi mới hiện nay
Một số vấn đề khác diễn ra xung quanh hoạt động giảng dạy của GV như:
- Xây dựng kế hoạch giảng dạy chưa được thực hiện đồng bộ hoặc chưa bảo đảm tính đột phá theo chương trình đổi mới
- Chưa đảm bảo đủ chất lượng các khâu theo chu trình lên lớp từ việc thết kế bài giảng, áp dụng hiệu quả các phương pháp và kỹ thuật lên lớp, quản
lý SV trên lớp cho đến việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV
Trang 39- Các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chưa có sự gắn kết, ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng vẫn mang nặng tính biễu diễn hơn là tính hiệu quả
1.2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
Trong những năm gần đây các giảng viên giảng dạy môn Âm nhạc cổ truyền mặc dù đã có nhiều cố gắng như: quan tâm đến nhu cầu của người học, điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học tuy nhiên kết quả còn hạn chế, chưa tiến triển một cách tích cực như mong muốn bởi những nguyên nhân như sau:
a) Nguyên nhân chủ quan
Ý thức học tập của sinh viên yếu Các em chỉ chú trọng học các môn thực hành mà ít quan tâm đến các môn học lý thuyết.Việc tham gia học tập thường chỉ mang tính đối phó, không thực chất
Các tài liệu, giáo trình phục vụ việc dạy và học cũng chưa được thống nhất, có những nội dung còn mang tính lý thuyết ít có giá trị ứng dụng đối với người học vì vậy chưa thực sự thu hút được các em
Phương pháp dạy học còn nặng về thuyết trình,chưa có sức hấp dẫn , thu hút cao với người học Mặc dù việc ứng dụng CNTT đã thực hiệntuy nhiên vẫn còn một số GV thực hiện giáo án điện tử quá đơn giản, chỉ như là thay thế bài viết trên bảng bằng cách trình chiếu những điều được soạn bằng máy tính
Hoạt động giảng dạy vẫn còn dựa vào kinh nghiệm truyền thống, bỏ qua xây dựng kế hoạch Vì thế, GV đã phải vướng mắc không ít những khó khăn trong điều kiện các hoạt động dạy và học đang được đổi mới mạnh mẽ
Đổi mới chương trình dạy học, đổi mới phương pháp và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV chưa có sự gắn kết, điều này dẫn đến chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động đổi mới dạy học không được như mong muốn b) Nguyên nhân khách quan
Trang 40Về nhân sự: Trình độ của GV không đồng bộ Trong những năm qua
số lượng các lớp học tăng dẫn đến số tiết giảng dạy thì nhiều nhưng đội ngũ GV thì ít khiến cho không ít GV bị quá tải trong giờ dạy, chất lượng dạy học kém Đội ngũ GV trẻ chiếm khá đông nhưng lại thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp
Về lương và chế độ chính sách: Các chế độ đối với GV chưa phù hợp,
so với yêu cầu nhiệm vụ thì còn bất hợp lý, nguồn tài chính dành cho hoạt động dạy học còn thấp
Về cơ sở vật chất: Hệ thống các phòng chức năng còn thiếu, hệ thống trang thiết bị và các điều kiện hỗ trợ dạy học chưa thật sự đáp ứng được điều kiện dạy học trong giai đoạn đổi mới và phát triển giáo dục
Tiểu kết chương 1
Từ những thực trạng trên và những nghiên cứu, điều tra thực tế tại khoa
SP Nghệ Thuật, trường ĐH Đồng Tháp, chúng tôi thấy hoạt động dạy học hiện nay của môn Âm nhạc cổ truyền tuy đã đạt được những kết quả tốt, song vẫn còn những tồn tại nhất định như:
-Xây dựng kế hoạch giảng dạy chưa được thực hiện đồng bộ hoặc chưa đảm bảo tính đột phá theo chương trình đổi mới
- Chương trình học còn nặng về phần lý thuyết, chưa gắn với thực tiễn, thực hành
- Chưa đảm bảo chất lượng các khâu theo chu trình lên lớp từ việc thiết
kế bài giảng, áp dụng hiệu quả các phương pháp và kỹ thuật lên lớp, quản lý
SV trên lớp, hướng dẫn SV tự học…cho đến việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV
- Các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chưa có sự gắn kết; ứng dụng CNTT trong soạn giảng vẫn mang nặng tính