Tư tưởng của Phật giáo Hòa Hảo đã góp phần đem lại lợi ích cho xã hội, đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước và thực sự trở thành nhu cầu tất yếu khách q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thành Phương
Đồng Tháp - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ đầy chân tình của các cá nhân, các cơ quan đơn vị đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp tìm kiếm tư liệu hoàn thành luận văn
Trước hết cho Tôi gửi lời cám ơn chân thành đến TS Nguyễn Thành Phương – giảng viên trường Đại học Đồng Tháp, đã tận tình hướng dẫn, góp ý
trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cám ơn đến quý thầy cô giảng viên trường Đại học Đồng Tháp, Phòng sau đại học của trường Đại học Đồng Tháp của tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Chân thành cám ơn quý bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã thường xuyên động viên tôi trong thời gian nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất!
Lê Nguyên Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
từ bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các kết quả, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả do tôi nghiên cứu trong luận văn này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC Trang bìa
Trang phụ bìa
Mục lục
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
3.3 Nhiệm vụ của đề tài 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
4.1 Nguồn tư liệu 6
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
4.3 Đóng góp của luận văn 8
5 Kết cấu luận văn 8
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN CHỢ MỚI SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO QUA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP, CHỐNG MỸ 9
1.1 Chợ Mới qua các thời kỳ lịch sử 9
1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội- dân cư huyện Chợ Mới 11
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 11
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội – dân cư 13
1 3 Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân huyện Chợ Mới qua các thời kì lịch sử 17
1.4 Nguồn gốc, sự ra đời và giáo lý cơ bản của Phật giáo Hòa Hảo 24
1.4.1 Nguồn gốc 24
1.4.2 Sự ra đời 28
1.4.3 Giáo lý cơ bản 32
1.5 Hoạt động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ 37
Trang 61.5.1 Hoạt động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trước 7/1954 37
1.5.2 Hoạt động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo giai đoạn 7/1954 – 4/1975 41
Tiểu kết chương 1 47
CHƯƠNG 2 KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO TẠI HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG 1975 – 1999 49
2.1 Tình hình kinh tế của cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Chợ Mới từ năm 1975-1999 49
2.1.1 Nông nghiệp 49
2.1.2 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 60
2.2 Tình hình xã hội, sinh hoạt văn hóa tôn giáo 64
2.2.1 Đơn giản hóa giáo lý, khuyến khích tu hành theo chánh đạo 64
2.2.2 Gìn giữ nề nếp cũ 67
2.2.3 Đề cao vai trò của người Phật tử tại gia 68
2.2.4 Y tế 70
Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO TẠI HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG 1999 –2016 74
3.1 Các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo 74
3.2 Đại hội đại biểu Phật giáo Hòa Hảo qua các nhiệm kỳ từ năm 1999 đến nay 77 3.3 Sự chuyển biến kinh tế trong cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Chợ Mới từ năm 1999 - 2016 80
3.3.1 Nông nghiệp 80
3.3.2 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 87
3.3.3 Về giao thông 91
3.3.4 Về thương mại-dịch vụ 91
3.3.5 Về tài chính, ngân hàng 91
3.4 Sự chuyển biến xã hội trong cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Chợ Mới từ năm 1999 - 2016 93
3.4.1 Về giáo dục – đào tạo 93
3.4.2 Về Y tế 94
Trang 73.4.3 Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong công cuộc xây dựng nông thôn mới 95
3.4.4 Về quốc phòng, an ninh trật tự 96
3.4.5.Về vốn xã hội của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo 97
3.5 Những thay đổi trong sinh hoạt văn hóa tôn giáo trong cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Chợ Mới 100
3.5.1 Xu thế hòa hợp tín ngưỡng dân gian trong cộng động tín đồ 100
3.5.2 Hình thức giảng đạo 104
3.5.3 Bài trừ mê tín dị đoan 106
3.6 Các hoạt động thiện nguyện, an sinh xã hội 107
3.6.1 Mô hình xe cứu thương miễn phí 109
3.6.2 Mô hình tổ xây nhà tình thương 110
3.6.3 Mô hình tổ xây cầu đường 111
3.6.4 Mô hình bếp ăn từ thiện 112
3.6.5 Xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa 115
3.6.6 Mô hình cấp phát thuốc Đông y miễn phí 118
3.7 Nhận định sự chuyển biến kinh tế từ 1999 - 2016 Bài học kinh nghiệm 120
Tiểu kết chương 3 127
Kết luận 130
Tài liệu tham khảo 135 Phụ lục
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Phật giáo Hòa Hảo được Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) sáng lập ngày 18 tháng
5 năm 1939 tại làng Hòa Hảo thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang và phát triển rộng khắp các tỉnh Nam Bộ Sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo gắn liền với đặc điểm tâm lý, lối sống, các giá trị văn hóa truyền thống của người Tây Nam Bộ và
có liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội – chính trị trên vùng đất này
Về căn bản, tư tưởng của Huỳnh Phú Sổ là sự dung hòa nhuần nhuyễn tinh hoa tam giáo Phật, Nho, Lão với Bửu Sơn Kỳ Hương, là sự tiếp nối trung thực, trong sáng tinh hoa rực rỡ của tư tưởng Phật giáo Việt Nam - một nền Phật giáo dân tộc đặc thù, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống Phật giáo Hòa Hảo với phương châm "Đời, Đạo liên quan rạng chói ngời", tức là trong Đời phải có Đạo, trong Đạo phải có Đời Về phần Đạo, Phật giáo Hòa Hảo kế thừa giáo lý của Đức Thích Ca Mâu Ni:
" Đạo vô vi của Phật ân cần Noi theo chí Thích ca ngày trước"
Về phần Đời, Phật giáo Hòa Hảo gạn lọc triết lý Nho giáo, diễn giải một số lời giáo huấn thành những vần thơ dễ hiểu, dễ thuộc phù hợp với hoàn cảnh thực tại, hòa quyện với nếp sống dân tộc, có thể áp dụng dễ dàng ở nhiều môi trường sống khác nhau
Phật giáo Hòa Hảo với pháp môn "Học Phật, tu Nhân", đặt tứ ân vào hàng đầu: ân tổ tiên, cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại Huỳnh Phú Sổ quan niệm: "Sanh ra, ta phải nhờ tổ tiên, cha mẹ, sống ta cũng nhờ đất nước, quê hương Rán nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo, và làm cho được trở nên cường thạnh Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu, mình ta mới ấm Hãy tùy tài, tùy sức, nổ lực hy sinh cho xứ sở " Tư tưởng của Phật giáo Hòa Hảo đã góp phần đem lại lợi ích cho xã hội, đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước và thực sự trở thành nhu cầu tất yếu khách quan của quá trình duyên hợp đạo đời, luôn gắn bó với đời sống hàng
Trang 9ngày của từng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong mối tổng hòa các quan hệ xã hội, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, đạo đức, lối sống
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tư tưởng tôn trọng tự do tín ngưỡng, người nói "phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc Phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả tôn giáo" Đảng và Nhà nước ta cũng chỉ rõ:"Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới" Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo rất quan tâm đến việc giáo dục tín
đồ tu tâm dưỡng tánh, sống trong sạch, vị tha, nhân ái, đoàn kết thương yêu giúp
đỡ đồng bào, đặc biệt là người có hoàn cảnh khó khăn, không xa lánh, trốn hiện thực mà phải tích cực lao động, làm ăn chân chính, cùng nhau xây dựng và phát triển quê hương đất nước Đó cũng là phẩm chất đạo đức cần thiết cho người lao động trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ngày nay
Những nghiên cứu về quan điểm, giáo lý, lời răn dạy của Huỳnh Phú Sổ đã tác động như thế nào đến đời sống tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An giang, giúp tín đồ hăng say, nhiệt tình lao động sản xuất, đóng góp to lớn
và bền vững đặc biệt trên lĩnh vực an sinh xã hội, từ thiện, xây dựng đời sống nông thôn mới vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được quan tâm một cách đầy đủ, chính xác và có
hệ thống.Việc đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước hiện nay của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang phải được nghiên cứu một cách sâu sắc theo chiều dài và chiều sâu của lịch sử Việc nghiên một cách bài bản, chính xác, đầy đủ những đóng góp trên các lĩnh vực kinh tế, đạo sự xã hội, văn hóa tinh thần, an sinh xã hội, từ thiện của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới là cần thiết và cấp bách, giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn, nhằm đưa một tôn giáo mang bản chất đặc thù, súc tích chân lý, triết lý của cuộc sống nhanh chóng hòa nhập vào vận hội thăng hoa của quê hương con Hồng cháu Lạc
Không những thế việc nghiên cứu đời sống tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới còn giúp chính quyền địa phương có những căn cứ về lý luận và
Trang 10thực tiễn, đề xuất những giải pháp hợp lý để thúc đẩy hoạt động từ thiện, an sinh
xã hội của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - chính trị của địa phương
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chuyển biến kinh tế, xã hội của cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới tỉnh An Giang 1975 – 2016” với mong muốn làm sáng tỏ một số vấn đề trên, góp sức nhỏ vào công cuộc hòa hợp tôn giáo, dân tộc, cùng chung tay góp sức xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau, có các công trình của các tác giả trong và ngoài nước, trước và sau 1975
Nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo trước năm 1975 có tác giả Nguyễn Văn
Hầu với các tác phẩm: Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo (1968), Thất Sơn màu nhiệm (1970), Muốn về cõi Phật (1969), Nữa tháng trong miền Thất Sơn (1970), Năm cuộc đối thoại về Phật giáo Hòa Hảo ( 1972) nhìn chung các tác phẩm trên vẫn
còn nhuốm màu huyền bí, thiên cơ, màu nhiệm, nhằm giới thiệu về pháp tu "Học Phật - Tu nhân", kêu gọi con người giác ngộ tu hành giải thoát
Học giả Vương Kim qua các tác phẩm: Đời Thượng Ngươn, Hội Long Hoa,
Để hiểu Phật giáo Hòa Hảo với mục đích giúp tín đồ hiểu rõ hơn thế giới quan,
nhân sinh quan của Phật giáo Hòa Hảo, giải đáp các thắc mắc liên quan đến thực hành giáo lý, kêu gọi mọi người trì tâm tu hành phát huệ
Ngoài ra còn có một số luận văn tốt nghiệp thuộc chính quyền Sài Gòn như:
Phật giáo Hòa Hảo trong nền chính trị hiện đại của Nguyễn Ngọc Tuấn, Phật giáo Hòa Hảo của Mai Hưng Long, Ảnh hưởng tôn giáo trong sinh hoạt chính trị Miền Nam của Đoàn Dũng các luận văn này không gì mục đích khác phục vụ cho âm
mưu chính trị của chính quyền Sài Gòn Tuy nhiên, các luận văn đó cũng đóng góp
ít nhiều về lịch sử hình thành, đời sống sinh hoạt tôn giáo của tín đồ Phật giáo Hòa
Trang 11Hảo, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của Lê Thành Thảo với tác phẩm " Sinh hoạt Phật giáo Hòa Hảo trong cộng đồng quốc gia"
Các học giả nước ngoài trước năm 1975 như Robert L.Mole với tác phẩm
"A Brief survey of the Phat giao Hoa Hao" nghiên cứu về đặc điểm nông dân tín
đồ Phật giáo Hòa Hảo Tác giả Savani với tác phẩm " Visage et images du Sud Viet Nam" có bàn đến lực lượng vũ trang Hòa Hảo
Nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo sau năm 1975, có nhiều tác giả đã nghiên cứu chuyên sâu hơn, đầy đủ hơn về Phật giáo Hòa Hảo, nhưng phải kể
trước hết đến công trình: “Một số tôn giáo Việt Nam” của Ban tổ chức Tôn giáo
Chính phủ (1993) Trong có có phần giới thiệu về Phật giáo Hòa Hảo, giới thiệu
về nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển, giáo lý, lễ nghi và cách tổ chức giáo hội của Đạo Cũng trong công trình này, Ban Tôn giáo Chính phủ được coi là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước
về lĩnh vực tôn giáo trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực tôn giáo theo quy định của pháp luật
Tác giả Trần Thanh Phương Sơn và Lê Hoàng Lộc (1993) với tác phẩm:
"Những trang về An Giang" Tác phẩm "Cơ sở văn hóa Việt Nam" của TS Trần
Ngọc Thêm (1996) có giới thiệu khái quát về nguồn gốc, lịch sử hình thành, giáo
lý, pháp môn của Phật giáo Hòa Hảo
Năm 1996 có luận văn PTS Dân tộc học Phạm Bích Hợp: " Đời sống xã hội
và tâm lý nông dân người Việt ở làng Hòa Hảo tại An Giang, trước và sau năm 1975" Năm 1997, tác giả Bùi Thị Thu Hà có luận văn Thạc sĩ bàn về "Đảng bộ An Giang vận động quần chúng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975" Ngoài ra tác giả Bùi Thị Thu Hà còn có các tác phẩm " Phật giáo Hòa Hảo, tri thức cơ bản", " 50 năm công tác Hòa Hảo vận của Đảng bộ An Giang (1945-1995), " Tính nhân dân trong giáo lý Phật giáo Hòa Hảo" (2000), luận án Tiến sĩ " Đồng bào Phật giáo Hòa Hảo An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước" (1998) Các công trình nghiên cứu trên đã đã
Trang 12khai thác ở các lĩnh vực dân vận, chống Mỹ cứu nước của bà con tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, đưa ra các giải pháp để xây dựng chính sách đoàn kết tôn giáo, dân tộc
Học giả nước ngoài sau năm 1975 có J Werner với tác phẩm "The Cao Dai: The Politics of a Vietnammese Syncretic religeous movement (1976), Ho Tai - Hue Tam có tác phẩm " Millenarianism and Peasent Polictic in Viet Nam (1983) có đề
cập đến Phật giáo Hòa Hảo với cuộc xung đột với chính quyền Ngô Đình Diệm
Nhìn chung, những tài liệu trên đã nghiên cứu khá nhiều về Phật giáo Hòa Hảo và tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, nhưng vì những lý do khác nhau, hiện nay chưa
có công trình hoàn chỉnh nào đề cập đến đời sống tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, những đóng góp của bà con đối với công cuộc xây dựng đời sống nông thôn mới, hoạt động từ thiện, an sinh xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà chỉ là những thông tin, bài báo lẻ tẻ, phản ánh một phần hoạt động từ thiện được đăng tải trên mạng và một số tờ báo địa phương Tuy chỉ đề cập đến các khía cạnh khác của Phật giáo Hòa Hảo nhưng các công trình trên thực sự là tài liệu quý giá, phục vụ đắc lực cho tôi hoàn thành luận văn này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu chuyển biến kinh tế, xã hội và những đóng góp trong công tác thiện nguyện, an sinh xã hội của cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 1975 -2016
3.3 Nhiệm vụ của đề tài:
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu chuyển biến kính tế - xã hội, những đóng góp trong hoạt động an sinh, xã hội, thiện nguyện theo phương châm sống tốt
Trang 13đời, đẹp đạo của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 1975 -2016 Trên cơ sở đó, dựng lại bức tranh sinh động trong hoạt động kinh
tế xã hội của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo
Từ thực tiễn sinh động trong bức tranh kinh tế - xã hội đó, góp phần làm sáng tỏ hơn những đóng góp cho quê hương đất nước của của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất một
số giải pháp góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay đối với tín đồ Phật giáo Hòa Hảo
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
Những công trình nghiên cứu về tình hình kinh tế-xã hội An Giang và huyện Chợ Mới để làm tài liệu tham khảo, so sánh, đối chiếu Các niên giám thống kê, các bảng số liệu… lưu trữ tại Cục thống kế An Giang và phòng thống kê huyện Chợ Mới
Những công trình nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo được phát hành từ các nhà xuất bản uy tín trong nước, các bài báo nghiên cứu của các nhà khoa học trên Tạp chí cộng sản, Tạp chí Hương Sen, các báo đài Trung Ương và địa phương
Toàn bộ ấn phẩm Thi văn giáo lý của Huỳnh Phú Sổ do Nhà xuất bản tôn giáo ấn hành Nguồn tư liệu gốc về cơ cấu tổ chức Phật giáo Hòa Hảo, tôn chỉ hành đạo, số liệu tín đồ, báo cáo tổng kết, chương trình đạo sự… của Ban trị sự Trung Ương Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Phú Tân
Trang 14Nguồn tư liệu gốc viết về huyện Chợ Mới như: các báo cáo chính trị của Đảng bộ huyện Chợ Mới, báo cáo tổng kết và phương hướng hàng năm của huyện Chợ Mới
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các tư liệu, số liệu, thông tin được thu thập qua những lần đi khảo sát thực tế tại huyện Chợ Mới, các tư liệu trên báo chí, internet…để làm phong phú và sáng tỏ hơn nội dung của đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu, chúng tôi quán triệt và vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm về đường lối của Đảng để giải quyết các vấn đề lịch sử đặt ra trong luận văn
Để thực hiện đề tài, người viết chủ yếu sử dụng hai phương pháp: phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic chúng tôi mô tả, khôi phục lại quá khứ, từ
đó rút ra những kết luận, nhận định đánh giá về sự chuyển biến kinh tế, xã hội trong cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới từ 1975-2016
Hỗ trợ cho phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp thống
kê các số liệu, dữ kiện, dữ liệu kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp rút ra kết quả đáp ứng các yêu cầu của đề tài Ngoài ra phương pháp so sánh cũng được
sử dụng để để làm sáng tỏ những hoạt động kinh tế-văn hóa-xã hội của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trước và sau năm 1999
Phương pháp khảo sát điền dã: tác giả luận văn tiếp xúc với tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, các Ban trị sự đặt tại các xã ở huyện Chợ Mới, các hoạt động kinh tế của tín đồ như: trồng lúa, hoa màu, nghề gỗ, làm vườn, các hoạt động sản xuất thức ăn chay, các buổi thuyết giảng giáo lý của ban trị sự trung ương
và địa phương được chính quyền cho phép, các hoạt động từ thiện, xây cầu, nhà cơm miễn phí…qua các kênh thông tin đó tác giả thu thập tài liệu điền dã để có thêm nhận định chính xác, thực tế đời sống của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới
Trang 154.3 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần tái hiện lại được sự chuyển biến kinh tế, xã hội của cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 1975-2016, đặc biệt nêu bật được những thành tựu kinh tế, xã hội đạt được từ năm 1999 đến nay
Luận văn góp phần lí giải vì sao tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại huyện Chợ Mới đã nhiệt liệt hưởng ứng các phong trào xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống nông thôn mới, tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại, tăng gia sản xuất nông nghiệp, tích cực làm từ thiện xã hội, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa…
Làm rõ nét đặc trưng cơ bản của người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là đạo sự
từ thiện xã hội, đó là hoạt động xương sống của toàn đạo, là thực hành giáo pháp
“học Phật – tu Nhân”
Đề xuất một số giải pháp cho huyện Chợ Mới trong công tác quản lý và phát huy hơn nữa tiềm năng của tín đồ phật giáo Hòa Hảo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay
5 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương I: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Chợ Mới Sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo và hoạt động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
Chương II: Kinh tế, xã hội của cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Chợ Mới tỉnh An Giang 1975 – 1999
Chương III: Chuyển biến về kinh tế - xã hội của cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo huyện Chợ Mới tỉnh An Giang 1999 – 2016
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN CHỢ MỚI SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO TRONG HAI CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP, CHỐNG MỸ 1.1 Chợ Mới qua các thời kỳ lịch sử
Tỉnh An Giang nay thuộc đất Tầm Phong Long xưa bao gồm từ Vĩnh Long,
Sa Đéc lên tận Châu Đốc Vùng đất Chợ Mới cũng thuộc đất Tầm Phong Long này Khi chúa Nguyễn thiết lập chính quyền ở Gia Định (1698), ngay hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu của Chợ Mới đã có người Việt rải rác sinh sống Năm 1805 vùng đất Chợ Mới thuộc Vĩnh Trấn, năm 1808 Vĩnh Trấn đổi lại thành Vĩnh Thanh, Chợ Mới thuộc huyện Vĩnh An của trấn Vĩnh Thanh.[62,tr 22]
Đến năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính đổi trấn thành tỉnh An Giang là một trong sáu tỉnh của Nam Kỳ lục tỉnh Tỉnh An Giang lúc này có 2 phủ và 4 huyện Huyện Đông Xuyên có 4 tổng, 33 xã thôn Huyện Vĩnh An có 4 tổng, 36 xã thôn Chợ Mới lúc này thuộc huyện Đông Xuyên và một phần huyện Vĩnh An gồm có 15 thôn Kiến Long, Kiến Thạnh, Tú Điền, Mỹ Luông, Toàn Đức, Toàn Đức Đông, Mỹ Chánh, Mỹ Hưng, Phú Hưng, Phú Toàn, Tân Phước, Mỹ Phú, Mỹ Hội Đông, Nhơn An Từ đây, vùng đất Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang.[62,tr8]
Năm 1868, thực dân Pháp sau khi chiếm xong Nam Kỳ đã thiết lập các đơn
vị quân quản (tham biện), tỉnh An Giang xưa chia thành 3 hạt tham biện Chợ Mới thuộc hạt Châu Đốc, đến năm 1876 lại thuộc về hạt Long Xuyên Để thực hiện chính sách “chia để trị” vào ngày 16-9-1875, toàn quyền Đông Dương ra
Nghị định: “Cù lao ông Chưởng tách riêng gọi là Hưng Châu, cù lao Bà Cà thuộc làng Mỹ Hội Đông nhập vào làng An Nhơn”[87,tr41] Đến năm 1900 tỉnh
An Giang xưa chia thành 5 tỉnh Chợ Mới lúc này thuộc tỉnh Long Xuyên Năm
Trang 171907, Quận Chợ Mới được thành lập đặt bên bến đò Kiến An, sau dời về làng Long Điền (tức thị trấn Chợ Mới ngày nay)
Năm 1917, quận lỵ Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên gồm 3 tổng (Định Hòa, An Bình, Phong Thạnh Thượng) với 20 xã Chợ Mới lúc này thuộc địa phận tổng Định Hòa có 8 xã: Kiến An, Mỹ Hội Đông, Mỹ Hòa, Nhơn An, Long Điền,
Mỹ Luông, Long Kiến, An Thạnh Trung.[11, tr 12]
Về phía chính quyền cách mạng thì năm 1945 Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên, đến năm 1948 thuộc tỉnh Long Châu Tiền, năm 1951 theo Nghị định 173/NB51 của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ thì Chợ Mới thuộc tỉnh Long Châu Sa.[11,tr10-11]
Giữa năm 1957 đến 1975, quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang do chính quyền Sài Gòn cai quản, gồm 2 tổng với 12 xã như sau: Tổng Định Hòa có 7 xã: Kiến An, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, Long Điền, Long Kiến, An Thạnh Trung, Hòa Bình; tổng An Bình có 5 xã: Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, Mỹ Luông, Hội An.[93,tr41]
Về phía chính quyền cách mạng, giai đoạn từ 1957 đến 1965, Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang, đến tháng 2 năm 1965, quận Chợ Mới thuộc tỉnh Kiến Phong, từ tháng 6 năm 1974 đến tháng 12 năm 1976 Chợ Mới thuộc tỉnh Sa Đéc Sau ngày giải phóng Miền Nam, tháng 2 năm 1976 Chợ Mới trở về thuộc tỉnh An Giang với 12 xã, 1 thị trấn
Sau ngày giải phóng Miền Nam, tháng 02 năm 1976, Chợ Mới trở về thuộc tỉnh An Giang Ngày 25/4/1979 thành lập thêm 3 xã: Kiến Thành, Long Điền B, Hòa An (tách ra từ xã Kiến An, Long Điền, Hòa Bình) Ngày 12/01/1984, thành lập thêm xã Long Giang (tách ra từ xã Long Kiến), lúc này Chợ Mới có 16
Trang 18Điền B, Long Kiến, An Thạnh Trung, Hòa Bình, Hòa An, Mỹ An, Hội An, Tấn
Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân
Từ những ngày có dấu chân người đặt đến vùng đất Chợ Mới, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, huyện Chợ Mới luôn có những giá trị rất riêng của mình là được tạo hóa ưu ái cho hai con sông Tiền, sông Hậu được phù sa bồi đắp cho đất đai xanh tươi bốn mùa mà nơi đây còn tiềm tàng hào khí của những con người yêu nước, của những người dân bình dị kiên cường bất khuất, luôn đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm, một lòng một dạ theo Đảng đến cùng
1.2 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội – dân cư Huyện Chợ Mới
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Chợ Mới là một huyện cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có diện tích
tự nhiên là 369,62 km2, nằm về phía Đông nam của tỉnh An Giang Phía Bắc giáp Phú Tân, phía Tây bắc giáp Châu Phú, phía Tây giáp Châu Thành, phía Tây nam giáp thành phố Long xuyên, Nam và Đông nam giáp với tỉnh Đồng Tháp Là cù lao
có dạng như một chiếc thuyền lật úp, cao ở giữa và thấp dần ra hai bờ sông Độ cao trung bình ở giữa là 3 – 4m, còn hai bên bờ sông là 1,5 – 3m Thiên nhiên và bàn tay lao động của con người đã làm cho Chợ Mới có một hệ thống sông, rạch chằng chịt, chẳng những cung cấp nguồn nước ngọt phong phú, phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân và còn là đường giao thông thuận lợi cho việc
đi lại, vận chuyển.[64,tr 5]
Địa hình Chợ Mới chia thành nhiều ô bởi những đê bao khép kín nên hạn chế được ngập lụt vào mùa lũ, Chợ Mới là huyện cù lao, có đến 2 con sông lớn chảy qua địa phận là sông Tiền và sông Hậu nên đất đai màu mỡ do được phù sa bồi đắp hàng năm, giàu chất dinh dưỡng rất thích hợp nhiều loại cây trồng, đặc biệt là lúa, hoa màu, cây ăn trái Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện tính đến năm 2016 là 36.906,07 ha, trong đó đất sử dụng cho nông nghiệp là 27.893,33 ha, chiếm 74,9% diện tích Đất trồng lúa chiếm diện tích khá lớn là 17.828,06 ha, chiếm 77% diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp.[53,tr 6]
Trang 19Bên cạnh các con sông lớn, huyện Chợ Mới còn có một hệ thống kênh rạch
tự nhiên Trong Địa chí An Giang có ghi:”Trải qua thời gian dài, một số rạch bị phù sa sông Tiền và sông Hậu chảy vào bồi đắp lâu ngày thành ruộng, một số được con người đào cải tạo thành các con kênh thẳng, nên số còn lại hiện nay không nhiều” Những rạch lớn ở Chợ Mới hiện có là Ông Chưởng, Cái Tàu
Thượng, Cái Nai…
Tuy nhiên, do địa hình cù lao được bao bọc bởi các sông lớn nên bên cạnh thuận lợi cũng phần nào gây ảnh hưởng không nhỏ đến giao thông cũng như lưu thông hàng hóa của huyện (nhất là các sản phẩm nông nghiệp) đến các vùng lân cận Mạng lưới sông ngòi dày đặc, kênh rạch chằng chịt nên Chợ Mới có nguồn nước ngọt dồi dào, chất lượng nước tốt thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Việc khai thác và sử dụng nguồn nước càng có hiệu quả hơn khi huyện xây dựng được hệ thống đê bao kiểm soát lũ kết hợp hệ thống giao thông thủy lợi tương đối hoàn chỉnh Là nơi tập trung dân cư đông nhất tỉnh, nhưng đất ít, nên từ lâu người dân Chợ Mới phải chịu thương chịu khó khai hoang mở đất không chỉ trong huyện mà còn ở các huyện khác, nhất là vùng
Tứ giác Long Xuyên
Chợ Mới nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu tương đối đồng nhất,
ít thay đổi giữa các tháng và chế độ mưa phân hóa theo mùa rõ rệt Nhiệt độ trong năm tương đối cao và ít thay đổi Nhiệt độ trung bình nhiều năm khoảng 270
C, phù hợp với sản xuất nông nghiệp Chế độ mưa ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp ở Chợ Mới Lượng mưa trong khu vực Chợ Mới phân bố rõ rệt theo mùa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm nên thừa lượng nước, kết hợp với nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ
về có thể gây ra ngập úng đối với sản xuất Ngược lại mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10% cả năm gây thiếu nước tưới cho sản xuất và cây trồng [53, tr 15] Chợ Mới là nơi có các loại rau màu, cây ăn trái đa dạng như xoài, mận, mít, chuối Bên cạnh đó, còn có các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, heo, gà, vịt Ngoài ra, Chợ Mới còn có đất sét làm gạch ngói phục
vụ cho xây dựng
Trang 201.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội- dân cư
Chợ Mới là huyện đông dân số nhất tỉnh An Giang với 348.206 người, mật
độ dân số: 943 người/km2
(2016) Dân tộc Kinh chiếm 99,78%; dân tộc Hoa chiếm 0,16%; còn lại là các dân tộc khác Trên địa bàn huyện có 5 tôn giáo Phật giáo Hòa Hảo hiện có 204.663 người chiếm 59,6%, đạo Phật chiếm 24%; đạo Công giáo chiếm 4,2%, đạo Cao đài 4%, còn lại là đạo Tin lành [53,tr 6] Đây là một đặc điểm xã hội nổi bật ở Chợ Mới Người dân Chợ Mới hiền hòa, chất phác nên hầu hết các tôn giáo, tín ngưỡng đều được tiếp nhận, dung hòa không có sự phân biệt đối xử giữa người có đạo và người không có đạo
Về hành chính, huyện bao gồm thị trấn Chợ Mới, thị trấn Mỹ Luông và 16
xã là: Kiến An, Kiến Thành, Mỹ Hội Đông, Long Điền A, Long Điền B, Nhơn
Mỹ, Long Giang, Long Kiến, Mỹ An, An Thạnh Trung, Hội An, Hoà Bình, Hoà
An, Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân Huyện có các cù lao xanh tốt trên
sông, là đều kiện để phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt là cù lao Giêng nằm trên địa bàn 3 xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân Di tích Cột Dây Thép đã được xếp hạng cấp quốc gia Bên cạnh đó, huyện còn có hệ thống chùa chiền, đền miếu….thu hút hàng chục ngàn lượt du khách mỗi năm
Dân số trong độ tuổi lao động của huyện là 212.246 người, chiếm 61,03% dân số toàn huyện (2016).Trong đó, lao động trong nông nghiệp là 71.681 người,
có 7.614 người trong độ tuổi lao động không có việc làm hoặc làm nội trợ Cán
bộ viên chức nhà nước có trình độ cao đẳng, đại học là 4.548 người.Toàn Huyện
có 18 xã, thị trấn với 142 ấp, 86.849 hộ, trong đó 2084 hộ nghèo, chiếm 2,40%(số liệu năm 2016) Năm 2015, giải quyết việc làm cho 21.744 lao động, trong đó lao động tại các khu công nghiệp ngoài tỉnh là 9000 người, tổ chức tư vấn xuất khẩu lao động cho 1719 người Tổng sản phẩm GDP là 3.668,7 tỉ đồng Tốc độ tăng trưởng 13,7%, trong đó cơ cấu khu vực I là 27,4%, khu vực II là 24,1%, khu vực III là 48,5% Tính đến tháng 6/2016, có 7/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch đề ra; thu nhập bình quân đầu người theo tiêu chí nông thôn mới là 44,29 triệu đồng/người/năm (tăng 9,42 triệu đồng so đầu nhiệm kỳ)
Trang 21Tổng thu ngân sách địa phương là 2.526,2 tỷ đồng, trong đó: thu từ kinh tế địa bàn 436 tỷ đồng, đạt 68% so Nghị quyết, (tăng bình quân 12,25%/năm); chi ngân sách địa phương trên 2.482,2 tỷ đồng (tăng bình quân 7,45%/năm), đạt 70% so với Nghị quyết.[53,tr26-27]
Nông nghiệp: Đất đai huyện Chợ Mới rất màu mỡ nhờ được phù sa bồi đắp hàng năm nên thế mạnh của Chợ Mới là sản xuất nông nghiệp, trước hết là cây lúa rồi đến các loại cây ăn quả, hoa màu và cây công nghiệp Đánh bắt thủy sản
và nuôi cá trong hầm, bè cũng là nghề truyền thống của huyện Chợ Mới Với vị trí cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, Chợ Mới đứng đầu về sông lớn, ba mặt giáp sông cái, cộng thêm hệ thống kênh rạch chằng chịt Chợ Mới là nơi rất
giàu về tôm cá Theo Thái Văn Kiểm, vào đầu thế kỉ XX, ở Chợ Mới có “93 loài
cá, tôm, cua đang chen chúc bơi lội trên sông rạch”[65, tr40] Sản xuất nông
nghiệp tuy gặp nhiều bất lợi nhưng vẫn có bước tăng trưởng khá và tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng thúc đẩy kinh tế phát triển
Trên cơ sở Chương trình hành động về phát triển nông nghiệp và Đề
án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, với phương châm lấy thị trường làm mục tiêu định hướng cho sản xuất, nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của hàng hóa nông, thủy sản Ban Thường vụ Huyện uỷ đã chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng giảm dần diện tích trồng lúa, tăng tỉ trọng rau màu, cây ăn trái (Chuyển dịch được 3.926,87 ha; trong đó chuyển đổi từ đất lúa sang màu, cây ăn trái là 2.488ha; chuyển đổi từ đất màu sang cây ăn trái 1.383ha; chuyển đổi từ vườn tạp 55,1 ha Thu nhập, bình quân diện tích chuyển đổi sang trồng màu tăng gấp 3,6 lần và cây ăn trái tăng gấp 2,7 lần so với trồng lúa (giá sản xuất bình quân cây lúa đạt 108,23 triệu đồng/ha, cây màu đạt 392,27 triệu đồng/ha, cây ăn trái đạt 300 triệu đồng/ha) gắn với ứng dụng công nghệ cao, nhân rộng các mô hình liên kết chuỗi giá trị, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, giá trị sản xuất nông nghiệp không ngừng nâng lên (giá trị sản xuất bình quân 01 ha đất cây hàng năm đạt 315 triệu đồng/ha, vượt so Nghị quyết) Sản xuất xoài đạt chứng nhận VietGAP không ngừng được mở rộng, đến nay đã có 127,3 ha
Trang 22xoài đạt chứng nhận VietGAP tại 03 xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp và Bình Phước Xuân (đạt 115% so Nghị quyết) Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ thực hiện dự án ”Xây dựng mô hình sản xuất xoài ba màu có quy
mô 500 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP gắn với chuỗi tiêu thụ sản phẩm” sẽ triển khai thực hiện đến năm 2020 công nhận thêm 500 ha xoài, nâng tổng diện tích xoài được công nhận đạt chuẩn VietGAP là 627,3 ha.[53,tr 29]
Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật được chú trọng nhằm giảm chi phí giá thành sản xuất, như: thực hiện các mô hình trồng rau màu trong nhà lưới, nhà màn ươm cây con, chương trình 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, công nghệ sinh thái,… đang triển khai thực hiện dự án xây dựng hệ thống thủy lợi công nghệ cao (tưới nhỏ giọt cho cây xoài 3 xã Cù Lao Giêng với diện tích 540 ha và tưới phun sương trên rau màu tại xã Kiến An với diện tích 80 ha) với tổng kinh phí 41,1 tỷ đồng Đã xây dựng nhãn hiệu Hợp tác
xã trái cây GAP Cù Lao Giêng (xã Bình Phước Xuân) và xuất được hơn 8 tấn xoài qua Út, Hàn Quốc tạo bước phát triển trong thời gian tới.[53,tr 31]
Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai quyết liệt và
thực chất, không chạy theo thành tích, tạo đồng thuận trong nhân dân
Trên cơ sở phân công phụ trách các xã xây dựng nông thôn mới, từng đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Huyện uỷ, Huyện uỷ viên thường xuyên sâu sát cơ sở, cùng với địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới Phấn đấu đến hết năm 2016 có thêm 3 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, nâng số xã đạt chuẩn nông thôn mới của huyện lên 8/16 xã; bình quân các xã trên địa bàn huyện đạt 13 tiêu chí (tăng 1,13 tiêu chí so với năm 2015) và 42 chỉ tiêu (tăng 2,94 chỉ tiêu so với năm 2015)
Công nghiệp - Xây dựng: Công nghiệp - Xây dựng phát triển khá ổn định
có đóng góp lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện Huyện có các làng nghề thủ công truyền thống như: đóng bàn tủ, vẽ tranh trên kính, đan tre (rổ, bồ, thúng, rá), dệt, nhuộm, chạm khắc, đóng ghe xuồng, gạch ngói Giá trị sản xuất toàn ngành
Trang 23bình quân tăng 6,2%/năm Tổng số cơ sở hiện có 3.496 cơ sở, giải quyết việc làm cho 11.487 lao động.[53,tr 32] Một số ngành có thế mạnh của huyện có bước phát triển ổn định Chương trình khuyến công đã hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm; hỗ trợ khôi phục ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Toàn huyện hiện
có 13 làng nghề truyền thống được công nhận và 05 cụm công nghiệp được quy hoạch, đang trong giai đoạn mời gọi đầu tư gồm: 02 cụm công nghiệp chế biến lương thực Hòa An và Hòa Bình; 01 cụm công nghiệp xay xát, chế biến lương thực xuất khẩu, cơ sở dây keo và các ngành nghề khác phù hợp theo quy định tại xã Nhơn Mỹ; 01 cụm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Long Giang; 01 cụm công nghiệp Hội An do tỉnh quản lý
Thương mại - Dịch vụ: Thương mại - Dịch vụ là ngành chiếm tỷ trọng
cao nhất trong cơ cấu kinh tế của huyện Hoạt động buôn bán ngày một sầm uất Chợ nông sản Kiến An là đầu mối giao thương hàng nông sản lớn trong khu vực, mỗi ngày có trên 14 tấn hàng được bán đi các nơi Sau khi các thương lái thu mua
ở nhà vườn sẽ mang đến tập trung tại chợ, rồi vận chuyển bằng đường thủy phân
phối khắp các nơi trong và ngoài tỉnh, thậm chí đến tận Campuchia.[53;tr 34]
Cơ sở hạ tầng: Công tác xã hội hóa đầu tư các công trình xây dựng,
cơ sở hạ tầng trong thời gian qua đã đem lại nhiều kết quả khích lệ Đến nay, có 18/22 dự án kêu gọi đầu tư đã và đang thực hiện, chủ yếu là các dự
án về trung tâm thương mại, chợ, cầu, cụm công nghiệp, các dự án đi vào hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư và đã giải quyết được nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện Tập trung các nguồn lực ngân sách đầu tư vốn xây dựng trên 714 tỷ đồng, chủ yếu thực hiện các công trình phát triển kinh tế - xã hội có ý nghĩa quan trọng như: đưa vào sử dụng nâng cấp mở rộng đường Tỉnh lộ 944; cầu Chợ Mới - Tân Long; Trung tâm thương mại thị trấn Chợ Mới; các công trình dự án Nam Vàm Nao, nông thôn mới, trạm bơm mẫu mương Ông Cha,… đã tạo thêm diện
mạo mới của huyện,tr 35]
Trang 24Huyện cũng đang phấn đấu xây dựng thị trấn Mỹ Luông thành đô thị loại IV Thời gian tới, huyện sẽ triển khai nhiều công trình trọng điểm trên địa bàn thị trấn Hiện, dự án đầu tư xây dựng khu vui chơi phức hợp tại ấp Thị 1, thị trấn Mỹ Luông
đã được phê duyệt, với tổng diện tích trên 2,2 ha Dự án thiết kế 5 tầng (kể cả tầng hầm) gồm các hạng mục công trình: Khu vui chơi, giải trí, hồ bơi và trung tâm thương mại cao cấp…
1.3 Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân huyện Chợ Mới qua các thời kì lịch sử
Năm 1833 quân Xiêm sang xâm lược nước ta Cuối tháng 11 quân Xiêm với lực lượng gồm 20000 quân và 350 chiến thuyền theo sông Tiền tiến vào sông Vàm Nao Dưới sự chỉ huy của Trương Minh Giảng, quân triều đình và nhân dân Chợ Mới nói riêng, An Giang nói chung đã anh dũng đánh bại quân Xiêm trên
sông Vàm Nao, “quân ta hò reo đuổi gấp, phóng lửa đốt cháy thuyền giặc hơn 10 chiếc, chém bắt được rất nhiều”[64,tr 47] đuổi chúng ra khỏi biên giới
Chỉ một tháng sau, đầu năm 1834, quân Xiêm lại xua quân vào nước ta theo ngả sông Tiền và chiếm được Vàm Nao Quân ta phải tạm lui về Chợ Thủ, đóng đồn dọc hai bên bờ rạch, bố trí cơ động trên sông, chọn nơi đây là điểm quyết chiến chiến lược Quân Xiêm bắt đầu tiến vào Chợ Thủ dùng hỏa công, thả đèn lửa theo nước ròng chảy xiết đốt thuyền của ta Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc binh đánh từ 3 giờ sáng đến 10 giờ trưa, vô số quân giặc bị giết, thây chồng lên nhau, buộc chúng phải rút lui Trương Minh Giảng, Hồ Minh Khuê,Tống Phước Lương vượt Vàm Nao truy kích giặc ra khỏi biên giới.[64, tr 50]
Chiến thắng quân Xiêm trên sông Vàm Nao - Chợ Thủ đã khẳng định rằng nhân dân Chợ Mới lúc bấy giờ đã quyết tâm với lòng gan dạ dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, cùng nhau đồng lòng đánh đuổi kẻ thù hùng mạnh lúc bấy giờ, giữ vững thành quả lao động của mình trên mảnh đất vừa khai phá
Đến 1858 giặc Pháp xâm lược Việt Nam Trong phong trào Văn Thân, Cần Vương, nhân dân Chợ Mới đã ủng hộ và tham gia tích cực các cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành, Ngô Lợi…Chợ Mới
Trang 25còn là nơi hội tụ những nhà yêu nước về đây mưu việc lớn Phạm Hữu Huệ (con cháu của Phạm Thế Hiển) cùng nghĩa quân tổ chức tuyên thệ tại đình thần Chợ Thủ để khởi xướng phong trào kháng Pháp nhưng bị hương bộ Chơn mật báo cho giặc bao vây nghĩa quân và đày ông đi đảo Cayenès (thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ) Phan Kiết Thủ là sĩ phu yêu nước trong phong trào Cần Vương đã về đây dạy học và truyền bá tư tưởng ái quốc, nung đúc tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm cho người dân sở tại.[11, tr 28]
Trong những năm 1924- 1926 trào lưu dân chủ đang diễn ra sâu rộng trong
cả nước đã tác động đến nhân dân Chợ Mới, đưa phong trào yêu nước chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ chuẩn bị mảnh đất tươi tốt cho hạt giống đỏ nảy mầm từ năm 1927 với Chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đầu tiên của An Giang thành lập tại Long Điền… Đến tháng 4/1930 chi bộ Đảng ở Long Điền được thành lập có 3 đồng chí: Lưu Kim Phong, Đoàn Thanh Thủy và Bùi Trung Phẩm Đây là chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của Chợ Mới đồng thời cũng là chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Long Xuyên.[11,tr 29] Với sự hình thành tổ chức Đảng đầu tiên, lịch sử đã trao vai trò Chợ Mới trở thành cái nôi cách mạng của cả vùng Long Xuyên – Châu Đốc
Để chào mừng sự kiện lịch sử đó, Chi bộ Đảng giao trọng trách cho ông Lê Văn Đỏ - một quần chúng trung kiên treo lá cờ Đảng trên cột dây thép xã Long Điền Cờ búa liềm phất phới bay tung bay giữa sông Tiền khiến kẻ thù lo sợ, còn quần chúng thì hân hoan, phấn khởi Lá cờ hiên ngang như một lời thách thức với thực dân Pháp, tác giả Nguyên Hùng trong tác phẩm “Đệ nhất cù lao” đã ghi lại:
“Ở đây có Đảng lãnh đạo nhân dân chống lại bọn chúng, đòi độc lập
tự do, để cho nó biết là dân mình không sợ Pháp, đồng lòng chống Pháp” “Chợ Mới xôn xao khi lá cờ đỏ búa liềm tung bay phất phới giữa sông Tiền, cao tít trên sợi dây cáp nối liền hai đầu Cột dây thép, gặp gió thổi bung ra giữa sông cái Dân làng Cù lao Giêng và làng Long Điền không ai lo việc làm ăn mà cứ kéo ra bờ sông nhìn
lá cờ với tâm trạng vui mừng Bọn làng lính kinh sợ, bót cò Mỹ
Trang 26Luông vội điều một xe lính tới cột dây thép Long Thuận Dưới sông tàu Tây chạy qua, chạy lại hai bên bờ sông, chĩa sung bắn vào lá cờ, nhưng không thể bắn trúng mấy cái róc rách giữ lá cờ dính liền với sợi dây cáp Cuối cùng Tây đành phải cho người trèo lên đỉnh Cột dây thép chặt đứt sợi cáp mới gỡ được lá cờ! Dù lá cờ búa liềm chỉ xuất hiện một ngày, nó sống mãi trong lòng người dân Chợ Mới”!
Giai đoạn 1930 – 1931: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933)
đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân Việt Nam Năm 1930, Long Xuyên – Châu Đốc bị mất mùa nghiêm trọng, người dân vất vả, bị thuế má, sưu dịch chồng chất làm cho đời sống thêm cùng cực, đói khổ Cảnh nông dân lâm
nợ, thợ thủ công thất nghiệp tràn lan Các khám chật ních người thiếu tô, thiếu thuế, lòng căm thù sôi sục, thúc giục nông dân và thợ thủ công đứng lên đấu tranh chống chính quyền thực dân, Đảng cộng sản Việt Nam nắm vai trò lãnh đạo cách mạng, mở đầu cho phòng trào đấu tranh nhân kỉ niệm ngày quốc tế lao động 1/5/1930.[64,tr 50]
Hòa nhịp với phong trào đấu tranh chung trong cả nước, Đặc Ủy Hậu Giang chọn Cao Lãnh và Chợ Mới làm điểm chỉ đạo Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đặc ủy, Chợ Mới quyết định phát động phong trào đấu tranh rầm rộ vào tháng 5 nhằm giành lấy những quyền lợi thiết thân cho nông dân và thợ thủ công, đồng thời biểu hiện tinh thần đoàn kết, đấu tranh với nhân dân lao động thế giới.[11,tr 42]
Đầu tiên là tổng Phong Thạnh Thượng, Đặc ủy phân công đồng chí Thanh Sơn lãnh đạo Chi bộ Bình Thành, chi bộ Cao Lãnh đấu tranh Sáng ngày 1/5/1930 hơn 700 nông dân các xã trong tổng và đồng bào Cao Lãnh kéo đến trực diện với cai tổng Cần đòi giảm tô, hoãn thu thuế, thả những người thiếu thuế thân và không đi phu Chính quyền địch với bản chất xảo quyệt, thâm độc vừa chấp nhận yêu sách vừa bắt đi 9 người tham gia cuộc biểu tình.[11,tr 42]
Ngày 3/5/1930, Đặc ủy lãnh đạo nông dân các xã Tiến Đức, Mỹ Chánh, Tân Phú, Bình Thành, Tân Thạch phối hợp với nhân dân Cao Lãnh đấu tranh đòi
Trang 27thả 9 người bị bắt Sau hai cuộc đấu tranh phối hợp với chi bộ Cao Lãnh, tuy đã dành thắng lợi một bước buộc kẻ thù phải nhượng bộ, nhưng chúng ngoan cố không thực hiện lời hứa Đặc ủy Hậu Giang trực tiếp là các đồng chí Hà Duy Giáp, Lê Văn Sô, Lưu Kim Phong cùng đồng chí Nguyễn Văn Cưng – Bí thư tỉnh
ủy Long Xuyên quyết định tiếp tục phát động đấu tranh bằng một cuộc biểu tình lớn tại quận lỵ Chợ Mới Đặc ủy rút kinh nghiệm hai cuộc đấu tranh vừa qua tại Cao Lãnh, phân công trực tiếp đồng chí Thanh Sơn lãnh đạo cuộc buổi tình ngày 1/5/1930 ở Bình Thành cùng một số quần chúng cốt cán đã tham gia biểu tình kéo lên ủng hộ Chợ Mới.[11,tr 43] Đặc ủy quyết tâm cuộc ra quân ở trung tâm đầu sỏ của địch phải dành thắng lợi Nguyên nhân chọn Chợ Mới do nơi đây có truyền thống yêu nước, có tổ chức cách mạng tương đối đông và đang tập trung nhiều cán bộ Đặc ủy, tỉnh ủy bám trụ tại địa phương Theo kế hoạch đã thống nhất, sáng sớm ngày 9/5/1930 đông đảo nông dân, thợ thủ công trong quận xuất phát từ điểm tại cột dây thép Long Thuận rầm rộ theo Mỹ Luông – Long Điền về dinh quận trưởng Chợ Mới đấu tranh với các yêu sách:
Đình thuế thân 3 tháng
Chống sưu cao thuế nặng
Chống cường hào, ác bá ức hiếp nhân dân
Nó đã tạo nên khí thế và niềm tin trong cán bộ và quần chúng Sau cuộc biểu tình thắng lợi, khí thế của quần chúng lên cao chưa từng thấy, ai ai cũng phấn khởi nô nức Các truyền đơn, biểu ngữ và cờ Đảng xuất hiện ở nhiều nơi
Trang 28Giai đoạn 1932 – 1935: Sau cao trào 1930 – 1931, địch liên tục đánh phá
cơ sở Đảng, đàn áp quần chúng để dập tắt phong trào Cuối năm 1931 phong trào cách mạng địa phương được tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Từ những đảng viên còn lại cùng với các cán bộ mới được rèn luyện, bổ sung trong phong trào đấu tranh của quần chúng đã làm cơ sở cho Đặc ủy Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đặc ủy, nhân dân Chợ Mới tiếp tục phong trào đấu tranh một cách kiên cường qua các cuộc mít tinh, biểu tình liên tục trực diện đòi giảm sưu cao thuế nặng ở thị trấn Chợ Mới ngày 17/11/1934, ở Mỹ Luông, Long Điền ngày 1/5/1935, ở Kiến An nhân dân đốt cháy hàng tấn thuốc là và tuyên bố không nộp thuế [11, tr 56] Qua đấu tranh, quần chúng được nâng cao giác ngộ, các tổ chức công khai, bán công khai, ngày càng mở rộng tập hợp đông đảo quần chúng, tạo điều kiện phát triển đảng viên mới Hầu hết các xã đều có chi bộ hoặc có đảng viên được phân công Bên cạnh tổ chức đảng, tổ chức công hội, nông hội được phát triển Nhờ tổ chức đảng trực tiếp cấp trên lãnh đạo, giáo dục, phong trào phong trào cách mạng địa phương vẫn được duy trì, cán bộ kiên trung, dũng cảm trong lao tù không khai báo, ra tù vẫn tìm mọi cách để hoạt động, nhất là lòng dân Chợ Mới,
có tình thần yêu nước sâu đậm, thiết tha với độc lập tự do, nước nhà dù là giai đoạn thoái trào chung của cả nước nhưng Chợ Mới vẫn giữ được phong trào và phát triển tổ chức
Giai đoạn 1936-1939: Cùng với áp lực của quần chúng ở chính quốc và thuộc địa, chính quyền Pháp đã ban bố sắc lệnh toàn xá tù chính trị, ban hành các quyền tự do dân chủ cho các thuộc địa Nhân cơ hội đó, ở Việt Nam, Đảng cộng sản đã phát động phong trào đấu tranh giành những quyền lợi dân sinh, dân chủ Phòng trào nông dân đấu tranh chống địa chủ, cường hào vẫn diễn ra sổi nổi Sau tết nguyên đán năm 1938 hàng trăm nông dân 4 xã Long Điền, Mỹ Luông, Tấn
Mỹ, Long Kiến kéo lên Láng nước đây là vựa cá thiên nhiên của anh em điền chủ Mạo chiếm đoạt và hăm dọa quần chúng Phong trào đấu tranh nổi lên mạnh mẽ hơn nữa khi hàng trăm đồng bào hai xã Kiến An và Long Điền kéo thẳng vào dinh quận đúng ngày địch tổ chức bắt thăm đi lính đánh Xiêm.[64,tr 62]
Trang 29Cách mạng tháng Tám năm 1945: Tại quận Chợ Mới, 12 giờ đêm ngày 23 tháng 8 năm 1945, đồng chí Lê Thiện Tứ cùng một số đảng viên chỉ huy lực lượng thanh niên xung kích đến quận Thi nói thẳng với hắn: ”Nhật đã đầu hàng, Việt Minh hạ lệnh cướp chính quyền” Tên Thi run sợ chấp nhận đầu hàng Sáng sớm ngày 24/8/1945 cả vạn đồng bào lương giáo khắp nơi trong quận đồng loạt nổi lên quét bọn tề còn lại Như vậy, trong 2 ngày 23 và 24/8/1945, toàn quận Chợ Mới đã khởi nghĩa thắng lợi, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân Ngày 25/8/1945, hàng vạn đồng bào Chợ Mới kéo qua Long Xuyên cướp chính quyền [64,tr 70]
Ngày 23 tháng 8 năm 1945 đã đi vào lịch sử vẻ vang của nhân dân Chợ Mới Đó là kết quả của quá trình đấu tranh 15 năm chống ngoại xâm của nhân dân Chợ Mới Với lòng yêu nước sâu đậm, cán bộ và nhân dân Chợ Mới đã vươn lên
từ những thử thách khó khăn khốc liệt nhất, từng bước gây dựng cơ sở cách mạng, được nhân dân che chở, bảo vệ đã bám rễ, ăn sâu vào lòng dân, lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vẻ vang
Giai đoạn 1945- 1954: Đây là giai đoạn thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng Chợ Mới, thực dân Pháp tăng cường bình định, kềm kẹp và mở rộng càn quyết vùng chiếm đóng Lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề, tại Mỹ Hội Đông, hàng chục cán bộ Đảng viên và hàng trăm quần chúng yêu nước bị giết hại.[11, tr97] Trước tình hình trên, chính quyền cách mạng tạm lui về vùng Đốc Vàng, Láng Tượng tại đây chính quyền cách mạng tăng cường củng cổ tổ chức, xây dựng lực lượng quân sự, thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, dần dần ổn định cuộc sống người dân trong vùng kháng chiến [11,tr 98]
Vùng kháng chiến ngày càng được củng cố, mở rộng và đẩy mạnh hoạt động ra vùng tạm chiếm, tạo điều kiện cho cho cách mạng củng cố, giáo dục, giác ngộ, lôi kéo quần chúng nhân đứng về chính quyền cách mạng Năm 1954, cùng với quân và dân trong tỉnh, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân Chợ Mới đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, liên tục tấn công buộc quân địch phải rút lui hoặc co cụm phòng ngự Ngày 07/01/1954, quân dân Chợ
Trang 30Mới mở cuộc tấn công vào đại đội 1 và đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn khinh quân đóng ở Kiến An, quân cách mạng phá hủy hoàn toàn căn cứ của Pháp Chiến thắng trên cùng với tin chiến thắng vang dội từ chiến trường Điện Biên Phủ đã làm nức lòng chiến sĩ và nhân dân huyện Chợ Mới, mọi người nô nức đóng góp công sức của mình liên tục tấn công quân Pháp, góp phần giúp sức cho cách mạng mau giành thắng lợi.[64, tr 75]
Ngày 20/7/1954 quân Pháp buộc phải kí Hiệp định Genève chấm dứt chiến tranh Chín năm kháng chiến oanh liệt của nhân dân huyện Chợ Mới đã tạo tiền
đề vững chắc cho nhân dân huyện Chợ Mới tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ với đế quốc Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhân dân Chợ Mới vẫn kiên cường đấu tranh tiếp tục giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng ngày càng vững chắc Những năm 1973-1975 sau hàng loạt những thắng lợi quyết định trên chiến trường trong cả nước, quân và dân Chợ Mới đã anh dũng đấu tranh giải phóng nhiều nơi trong huyện Ngày 2/5/1975 Tỉnh ủy Sa Đéc chỉ đạo 3 tiểu đoàn gồm tiểu đoàn 502A, 502B và 502C cùng 1 chi đoàn xe M.113 phối hợp lực lượng Chợ Mới giải phóng huyện Sau 4 ngày liên tục truy kích, vây ép tấn công bằng
ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận kết quả là Chợ Mới đã giải phóng hoàn toàn Ngày 09/5/1975 Ủy ban quân quản huyện ra mắt đồng bào và Lễ mit- tinh mừng thắng lợi được tổ chức tại sân vận động Chợ Mới với rừng hoa và biểu ngữ mừng cho ngày đại thắng lợi.[11,tr 210-211]
Từ vùng đất địa linh nhân kiệt, phong trào đấu tranh cách mạng Chợ Mới
tự hào là “chiếc nôi” cách mạng, là “nơi trung tâm cộng sản nổi tiếng” [9,tr 69],
giữa hàng triệu quần chúng Nam Kỳ đã nổi lên nhiều gương mặt tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, sự dấn thân, trí thông minh, gan dạ, tài năng, sáng kiến, những thành tích xuất sắc góp phần vào sự nghiệp chung Trong số đó có không ít những người là tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo
Trang 311.4 Nguồn gốc, sự ra đời, giáo lý cơ bản và hoạt động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
1.4.1 Nguồn gốc
Các Mác từng nói tôn giáo cũng như mọi hiện tượng xã hội khác còn tồn tại
vì nó có những điều kiện để tồn tại “Nhà nước ấy xã hội ấy nảy sinh ra tôn giáo”,
sự ra đời phát triển của các tôn giáo địa phương ở Nam Bộ cũng không nằm ngoài những điều kiện mang tính quy luật này
Khoảng đầu thế kỉ XVII những người Việt đầu tiên đã đến vùng đất Nam
Bộ để khai phá đất đai Vùng đất An Giang ngày nay là gồm hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc cũ và đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung còn rất hoang vu, lau lách um tùm, bệnh tật luôn đe dọa con người Trong cuộc khẩn hoang đấy gian truân này có lẽ An Giang là vũng đất mà người lao động gặp nhiều khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, đây là nơi đầu nguồn của hai con sông Tiền và sông Hậu Giang phù sa thì phong phú nhưng thiên tai lũ lụt thì cũng rất tai ương Không lùi bước trước thiên nhiên người Việt cùng những cư dân địa phương đã lao động để cải tạo chinh phục đất đai xây đắp nên cuộc sống ngày nay Cùng với sự vật lộn với thiên nhiên cư dân ở đây phải thường xuyên hứng chịu loạn lạc, chiến tranh, cướp bóc Trong lao động cũng như trong chiến đấu người dân ở đây đã hun đúc nên tinh thần đoàn kết, đấu tranh anh dũng vì sự bình yên của quê hương đất nước Họ đã giúp đỡ nhau để tạo dựng cuộc sống trong hoàn cảnh thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt Trong điều kiện xã hội kinh tế lúc bấy giờ khiến cho cư dân Nam Bộ, đặc biệt nhân dân lao động không khỏi bị lệ thuộc quá nhiều vào tự nhiên Họ có những mong ước chính đáng trong đấu tranh để giành cuộc sống tốt đẹp cho mình nhưng cũng vừa mong sự giúp đỡ của một đấng thiêng liêng che chở cứu vớt để vượt qua những hiểm nghèo Đây cũng chính là điều kiện kinh tế -
xã hội dẫn tới sự ra đời của các tôn giáo vùng đất này
Làng Hòa Hảo cho đến đầu thế kỉ XX thuộc tổng An Lạc, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc Cái tên Hòa Hảo gợi nên “sự hài hòa hết mực” Vị trí địa lí cũng
Trang 32như những điều kiện thủy văn và thổ nhưỡng địa phương (vùng đất cao, ít phèn, ít lụt lội) cắt nghĩa sự tụ cư lâu đời và thịnh vượng của nó so với khu vực Ngôi làng không chỉ được bao quanh bởi hai nhánh của sông Mê Kông mà còn bởi một dòng hợp lưu tự nhiên của chúng là con sông Vàm Nao Chiếm vị trí tận cùng của một doi đất, ngôi làng hướng mặt về phía đất liền của doi đất này, hoàn toàn mở
ra về phía Đồng Tháp Mười, Hậu Giang và huyện Chợ Mới (tỉnh Long Xuyên) ở phía đối diện với nó Đồng thời, ngôi làng cũng phát triển về phía ven sông và có một vùng đất rộng trồng lúa
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, ra sức khai thác đàn áp bóc lột, làm đời sống nhân dân vô cùng đói khổ Trong khi đó cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 nổ ra, thực dân Pháp lại tăng cường khai thác bóc lột, tăng sưu cao thuế nặng đời sống dân đã khổ lại càng khổ hơn, đói rét bệnh tật không tiền thuốc thang Trong bối cảnh ấy không ít người dân không tìm ra lối thoát nên hướng về Phật, Trời cầu mong được cứu vớt giữ được mạng sống qua ngày
Dưới con mắt cảnh giác của chính quyền thuộc địa, các thôn làng khác ở vùng này vẫn bị coi là chống đối, tựa như các địa phương này ngay từ những năm
1860 đã tỏ ra là các căn cứ kháng chiến chống cuộc xâm chiếm của Pháp (cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành ở Bảy Thưa), rồi thời gian sau đó còn là nơi trú ngụ của các tổ chức yêu nước đầu tiên, hay là nơi xuất hiện các chi bộ tiền cộng sản trong thời kì giữa hai cuộc đại chiến Sau các cuộc biến loạn những năm 1930-1931, sự kiểm soát được siết chặt hơn đối với các tổ chức này Đó cũng là những tổ chức kể từ thời gian đó trở đi đã tố cáo thẳng thừng sự đồi bại của chế
độ thực dân và sự hỗn loạn trong cơ cấu của chế độ khai thác lúa gạo theo kiểu điền trang, mà trực tiếp vì nó, tầng lớp nông dân nhỏ ở đồng bằng sông Mê Kông
bị đẩy vào khốn khó, nợ nần và phá sản
Các tôn giáo lớn trên thế giới được truyền vào nước ta như Phật giáo và Thiên chúa giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh của nước ta: Phật giáo vào nước ta từ rất sớm và từng là quốc giáo thời Lý, Trần có đóng góp lớn đến việc xây dựng Nhà nước phong kiến trong buổi đầu độc lập Còn Thiên chúa giáo
Trang 33tuy được truyền vào Đàng Trong từ sớm song với những giáo lý mới mẻ lạ lẫm nên ít được nhân dân ở đây tiếp nhận
Tuy nhiên các tôn giáo này vẫn được truyền bá vào Nam Bộ bằng con đường dân gian và đã bị cư dân ở đây tiếp nhận, cải biên nó thành tôn giáo bản địa Trong những điều kiện kinh tế xã hội, thiên nhiên còn hoang sơ bí hiểm thì Thần và Phật vẫn là chỗ dựa tinh thần cho họ Do đó ở vùng đất mới này Phật giáo và Đạo giáo có vai trò lớn Trong khu vực này, từ thời khai khẩn, khi mà tầng lớp nho sĩ không nhiều, quần chúng nông dân, những người khai phá đất đai, thay vì tìm đến họ, đã hướng về những người lập làng lập ấp, những nhà sư hay những ẩn sĩ Đạo giáo Những người này đã cùng nhau thúc đẩy đời sống xã hội, truyền bá những giáo huấn về đạo đức, và còn là những thầy lang chữa bệnh theo cách thức cổ truyền
Những cuộc tiếp xúc lẫn nhau giữa các thành phần dân cư, mỗi thành phần mang theo một kho tàng riêng về văn hóa cổ truyền, về các truyền thuyết, về các văn bản cổ, hệ quả là dẫn đến những cách thức tiếp xúc văn hóa bình đẳng có thể nhận thấy trong lĩnh vực tín ngưỡng bình dân Mặt khác, thời kì thuộc địa của Pháp đã đẩy nhanh những biến đổi xã hội ở đồng bằng sông Mê Kông và áp đặt một tầng thứ hai của sự tiếp xúc văn hóa trong hoàn cảnh thống trị về chính trị (những tiếp xúc Đông – Tây), thuận lợi cho các tư duy liên tôn giáo, hay ngược lại, cho những phản ứng văn hóa
Xét vấn đề từ tính chất phức tạp của tình trạng ở địa phương – tình trạng làm xuất hiện trên một mặt bằng như vậy những truyền thống tôn giáo cùng những biểu lộ không chính thống hay hỗn hợp của chúng, và sau đó lại có nhân tố đến từ phương Tây vừa gây ra sự phản ứng về văn hóa vừa tạo điều kiện cho những tín ngưỡng cứu thế – chính quyền thuộc địa do những lệch lạc về tư tưởng
tự coi là mình có sứ mệnh khai hóa đã nhanh chóng hướng cái nhìn phê phán về phía các tín ngưỡng bình dân cũng như về các tôn giáo và triết học lớn của phương Đông Thêm vào đó, lo lắng cho sự vững vàng lâu dài của chế độ, chính quyền thuộc địa đã coi những người truyền giảng các đạo này như những nhà sư
Trang 34phản nghịch hay các gian đạo sĩ Chính quyền thuộc địa đã ngờ rằng những người
có uy tín nhất trong số đó đang sống ẩn dật trong các vùng núi cao hiu quạnh vùng Thất Sơn là nguồn gốc của các bất ổn trong dân chúng hay các cuộc nổi loạn Quan niệm này ít nhất đã góp phần coi các tín ngưỡng bình dân địa phương, trước hết là Bửu Sơn Kì Hương (hương thơm trên núi quý), là nhân tố xấu
Nhiều hiện tượng giáo phái trên thực tế đã dựa vào Bửu Sơn Kì Hương về mặt giáo lí (Đạo Lành, Tứ Ân Hiếu Nghĩa) hay tín điều (vụ hoàng đế tự phong Phan Xích Long trong những năm 1913-1916) Từ nửa đầu thế kỉ XIX, người sáng lập Bửu Sơn Kì Hương là Đoàn Minh Huyên đã truyền bá dưới hình thức sấm giảng một đạo Phật thân thiện và thế tục, phù hợp với cuộc sống nghèo khổ của những người nông dân khai phá đất đai ở trong vùng Trong khi chữa bệnh và viễn du liên miên, những hoạt động ấy của ông cũng đem lại cho ông một vai trò
xã hội trong việc thành lập những thôn ấp mới Phật Thày Tây An (vị Phật-Thầy
an lành cho Miền Tây) đã khuyến khích đồng bào sống theo tình thương Phật
giáo, hướng dẫn họ thực hành đạo lí của ông về tu thân, coi trọng Tứ ân đối với
Tổ tiên, Đất nước, Tam bảo và toàn thể Nhân loại Thực hành giáo huấn của ông, mọi người sẽ đạt tới sự giải thoát sau cuộc tham dự vào Đại hội Long hoa trên Bửu Sơn (núi quý, được giải thích như là đỉnh cao nhất của Thất Sơn) để đón Minh Vương (Vua Sáng) Sự xuất hiện của Minh Vương sẽ chấm dứt thời đại hỗn loạn và bắt đầu một kỉ nguyên mới của hài hòa (Kì Hương) chuẩn bị bước tới Tây Phương (Thiên Đường ở phương Tây) của Phật Adiđà Không kể tấm gương cụ thể về sự khuyến khích của nó trong đời sống (khai khẩn đất đai và lập nên các làng mới), Bửu Sơn Kì Hương còn là cái nôi về giáo lí cho nhiều phong trào giáo phái nơi vùng biên giới của Nam Kỳ Chẳng hạn, một số giáo phái đã áp dụng, thực hành lại hay có bổ sung, những nguyên tắc tinh thần của Bửu Sơn Kì Hương, trong khi đó, một số khác hoặc là mưu toan kế thừa di sản tiên tri của Phật Thày Tây An, tự đóng vai trò là người thừa kế trung thành và chính đáng của ông, hoặc
là giải thích lại nhân vật Minh Vương huyền thoại đồng thời khởi phát một tín ngưỡng cứu thế có nguồn gốc từ truyền thống Phật giáo và những thứ đạo khác có liên quan
Trang 35Theo quan điểm của Mác-Ăng ghen thì ba yếu tố được coi là nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo là: yếu tố nhận thức là những quan niệm về tự nhiên, về con người và quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, trong đó quan niệm về lực lượng siêu nhiên (thần thánh) luôn luôn thống trị con người, là nền tảng giáo lý Yếu tố xã hội là sự tác động của xã hội loài người với chính con người, làm cho
họ cảm thấy bị đè nén, bất lực trước cuộc sống và phải tìm đến con đường giải thoát là tôn giáo Yếu tố tâm lý chính bắt nguồn từ nhu cầu tinh thần, con người
đã nảy sinh tình cảm đối với các sinh hoạt tôn giáo[22, tr 48] Hai ông đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn gốc xã hội gắn liền với những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong bối cảnh đó, quần chúng nảy sinh nhu cầu khao khát tìm cho mình một chỗ dựa tinh thần Vì vậy, khi Huỳnh Phú Sổ đứng ra khai đạo thì những người nông dân vốn thuần phác nơi miền Tây Nam Bộ xa xôi đã nhanh chóng tìm đến, tự nguyện làm tín đồ Có thể nói đây vừa là điểm gặp nhau giữa đặc điểm tâm lý của những “Tân” tín đồ với giáo lý đơn giản, dân dã của đạo Phật giáo Hoà Hảo, vừa là điểm mà Phật giáo Hoà Hảo tập trung khai thác để tôn giáo này tồn tại và phát triển trong cộng đồng nông dân Nam Bộ Tiến sĩ Phạm Bích Hợp trong công trình nghiên cứu về tâm lý nông dân làng Hoà Hảo đã viết : “Đạo Hoà Hảo không làm một cuộc cách tân nào về giáo lý cả, không thay đổi chỗ dựa của đức tin, không có giải thích khác biệt nào về giáo lý Chiều sâu giáo lý không phải là chỗ mạnh của đạo Hoà Hảo Nhưng bù lại chính chiều sâu tâm lý với việc dung dị hoá các giáo lý, đơn giản hoá các biểu tượng và ngôn ngữ tôn giáo bám sát vào truyền thống bản địa… đã làm cho đạo Hoà Hảo được hưởng ứng rộng rãi và có
tư thế bền trong đời sống tinh thần của người nông dân Nam Bộ” [12,tr 98]
Trang 36thuyết thần bí được phát hiện ở Châu Đốc Đây cũng là lần đầu tiên cái tên Huỳnh Phú Sổ và “sứ mệnh” tự xưng của ông được nhắc đến.[12,tr 52]
Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1920 (tức 25/11 năm Kỷ Mùi), tại làng Hòa Hảo quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc nay thuộc Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, thân sinh là ông Huỳnh Công Bộ - còn gọi là Hương cả (chức dịch cao nhất trong làng), một con người điềm đạm trầm tính, ít nói, thường xa lánh chốn đông người ồn ã và mẹ là Lê Thị Nhậm Gia đình thuộc tầng lớp phú nông, ông là con thứ ba trong nhà thường được gọi là Tư Xển Ông được cha cho học hết bậc sơ Pháp - Việt tại một trường ở huyện, có năng khiếu thơ, văn và thông minh, nhạy cảm Nhưng do sức khỏe luôn đau ốm nên ông không tiếp tục học lên bậc cao hơn phải nghỉ học ở tuổi 15 Tuy được chạy chữa nhiều thầy thuốc nổi tiếng trong vùng mà mãi không khỏi lại ngày càng trầm trọng hơn, thân sinh của ông phải tìm đến các ông đạo ở vùng núi Thất Sơn nổi tiếng trị bệnh thuốc Nam và bùa ngải để chạy chữa cho con.[71, tr 28]
Trong những năm chữa bệnh ở Thất Sơn Huỳnh Phủ Sổ được tiếp thu ý tưởng của giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa Vốn thông minh ông suy ngẫm về lời hay lẽ phải của đạo, cầu mong nhiều người khác không bị rơi vào cảnh bệnh tật Người có ảnh hưởng lớn nhất đối với Huỳnh Phú Sổ có lẽ là Thầy Xom (Lê Hồng Nhật), đệ tử của “Sư Vãi bán khoai” Thầy Xom không chỉ trị bệnh cho ông mà còn truyền lại các bài thuốc dân gian và tư tưởng “cứu nhân độ thế” [71, tr 41] Ông được Thầy Xom dẫn đi gặp các ông đạo khác Qua đây ông nhận thấy lòng nhân ái và nghĩa khí của họ, tỏ vẻ khâm phục và quyết tâm học đạo, cũng từ đây ông biết về các cuộc đấu tranh chống Pháp nhưng được kể dưới màu sắc tôn giáo, thần bí về các hoạt động của Nguyễn Trung Trực, phái Bửu Sơn Kỳ Hương, cuộc khởi nghĩa của Võ Duy Dương…
Chịu ảnh hưởng về lòng thương người, yêu nước của các đạo giáo vùng Thất Sơn đã khơi dậy và nuôi dưỡng ở Huỳnh Phú Sổ những ý tưởng ban đầu về tinh thần nhân ái
Trang 37Năm 1937, Thầy Xom mất, Huỳnh Phú Sổ trở về làng Hòa Hảo Tuy bệnh tình chưa chữa khỏi hẳn nhưng ông vẫn lo chạy chữa cho nhiều người nghèo khổ
bị mắc bệnh dịch, đang lan tràn nhiều nơi Nhiều bệnh nhân được chữa khỏi, tiếng lành đồn xa ngày càng có nhiều người đến nhờ ông chữa bệnh Bấy giờ dân chúng gọi ông là “Thầy tư Hòa Hảo”, ông vừa chữa bệnh vừa giáo giảng kinh kệ Bửu Sơn Kỳ Hương, khuyên người tu niệm “làm lành lánh dữ” Huỳnh Phú Sổ tự xưng là “Khùng” hay “Điên” ý là để đối lại một số người đời khôn lanh quỷ quái Ông viết:
“Ai phú quý vào đài ra các,
Ta điên khùng thương hết thế trần.”[17,tr 18]
Ông cũng xưng mình là hiện thân của Phật thầy Tây An, khi còn sống Phật thầy Tây An có nói rằng một ngày nào đó sẽ trở lại trần thế:
“Chừng nào gốc mục đâm chồi,
Ta vâng sắc lệnh tái hồi trần gian” [17, tr 27]
Vì tin vào sự bất tử của Phật thầy Tây An và chờ đợi ngày Ngài tái thế, nên khi Huỳnh Phú Sổ cho mình là hiện thân của Phật thầy Tây An thì phần đông tín
đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương đều tin theo Ông còn tự nhận mình là bậc "sinh như tri", biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà
và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để "Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông
mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc" Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học và chính những lúc đi chữa bệnh đó ông đã kết hợp rao giảng về Tứ ân hiếu nghĩa của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên qua những bài sấm kệ do ông soạn thảo Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.[67,tr 15]
Lòng tin này tuy mang tính thần bí, song nó phản ánh đòi hỏi bức xúc của quần chúng trong cảnh lầm than của người dân mất nước, muốn thoát khỏi ách nô
lệ của thực dân Pháp và sự áp bức của địa chủ cường hào, tham ô quan lại Phần
Trang 38nào thấy được ước mong của quần chúng nhân dân về độc lập tự do nên trong các cuộc thuyết pháp Huỳnh Phú Sổ biết gợi lên tinh thần yêu nước theo quan niệm
mà ông đã được truyền dạy trong thời gian chữa bệnh trên núi Thất Sơn Điều này cũng làm cho đông đảo nhân dân vốn có lòng yêu nước tin theo Các tín đồ khâm
phục ông về sự hiểu biết khá rộng về Phật giáo, về lịch sử theo họ “ông có tài ăn nói không ai bằng và có tài thuyết phục không ai cưỡng lại được” Những hoạt
động truyền đạo của Huỳnh Phú Sổ lúc này cũng gặp điều kiện xã hội thuận lợi: Phong trào đấu tranh của nhân dân huyện Tân Châu và ở ngay xã Hòa Hảo trong những năm 1936 - 1939 phát triển rầm rộ Lúc này phong trào Mặt trận bình dân hoạt động mạnh, một số cán bộ địa phương liên lạc với Xển Mặc dù Xển không tham gia hoạt động nhưng cũng có đôi bài thơ tố cáo tội ác của bọn cường hào, quan làng, vì thế mà dân chúng cho rằng Huỳnh Phú Sổ cũng bênh vực người nghèo
Như vậy, Phật giáo Hòa Hảo được hình thành trong tình hình xã hội nước
ta nói chung, vùng đồng bàng sông Cửu Long nói riêng, đang khá căng thẳng, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai sắp nổ ra Thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam; nhiều người hoạt động cách mạng ở Tân Châu bị bắt vào tù, một số tín đồ yêu nước của các đạo giáo ở An Giang cũng bị khủng bố, tiêu biểu là những người tham gia cuộc đấu tranh chống pháp của ông đạo Tưởng ở làng Long Phú (Tân Châu ) Ông bị giết, nhiều tín đồ thân cận bị bắt đày đi Côn Đảo; phong trào đấu tranh yêu nước này bị dập tắt, một số người lao động đã rời bỏ cuộc đấu tranh Trong tình hình vậy, Huỳnh Phú Sổ quyết định làm lễ ra mắt Phật Giáo Hòa Hảo tại nhà riêng vào ngày 18-5 năm Kỷ Mão (tức ngày 4-7-1939), ngày này sau đó được xem là ngày thành lập Phật Giáo Hòa Hảo[71, tr52] Thực tế về ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão (1939) được các tài liệu ghi nhận rằng: Hôm đó, khi trời đã về chiều, Huỳnh Phú Sổ đã thỉnh bát hương từ nhà thờ dòng họ Huỳnh (đặt tại nhà ông Hương cả Bộ sang chùa An Hoà tự ở gần đó) để làm lễ “Linh Thứu Sơn trung Thọ Mạng” Đây là một dạng lễ truyền thống theo kiểu “Dâng mình cửa Phật” Sự kiện này đã gây sự chú ý của nhiều người, một mặt vì tò mò nhưng chủ yếu là sự kính phục tôn sùng “Thầy Tư Hoà Hảo”
Trang 39Tại cuộc lễ, theo các trí thức đạo Hoà Hảo thì Huỳnh Phú Sổ đã xuất thần và “đốn ngộ” Về vấn đề này tác giả Tạ Chí Đại Trường viết:
“Mọi người không thấy gì biến chuyển bên trong tâm tư trí tuệ của người thanh niên đã lớn ấy, lại càng không nhận rõ ra mối kích động của cuộc lễ long trọng trên con người cảm thấy mình thoát được nâng cao lên tầm mức của thiêng liêng” Vì thế sau đó, “Ông tướng bình dân” nói nhiều hơn xưa “Nói đâu trúng đấy cho một đám quần chúng sẵn sàng tin theo, tin ở những lời nói trúng vì các lý do ngoại lai, và đẩy vào tương lai, vào lĩnh vực phi biện giải những lời còn gây thắc mắc mãi mãi”
Như vậy, ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão (1939) được xem là ngày khai đạo
và Phật giáo Hoà Hảo ra đời từ đây Sau lễ “Linh Thứu Sơn Trung Thọ Mạng”, những người sùng bái Huỳnh Phú Sổ ngày càng đông, ảnh hưởng của ông không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng ra nhiều tỉnh khác, Huỳnh Phú Sổ đã bắt đầu thuyết pháp về đạo của mình, còn tín đồ thì tôn sùng ông là Phât sống là giáo chủ
Vì vậy toàn bộ nội dung thuyết pháp cũng như các bút tích, thư từ trong giai đoạn
1939 – 1947 được tổng hợp thành tập “Sấm giảng thi văn toàn bộ” của Đức Huỳnh Phú Sổ và được tín đồ coi là nền tảng giáo lý của đạo Phật giáo Hoà Hảo
Tổng hợp lại có những quyển sau đây:
Quyển thứ nhất, Khuyên người đời tu niệm, viết vào năm 1939, theo thể
thơ lục bát, gồm 912 câu
Trang 40Quyển thứ hai, Kệ dân của người Khùng, xuất bản lần đầu vào năm 1939,
viết theo thể thơ thất ngôn, gồm 846 câu
Quyển thứ ba, Sấm giảng, cũng được viết vào năm 1939, theo thể thơ lục
bát dài 612 câu
Quyển thứ tư, Giác mê tâm kệ (1939), viết theo thể thơ thất ngôn, dài 846 câu Quyển thứ năm, Khuyến thiện, đoạn đầu và cuối viết bằng thơ lục bát, đoạn
giữa viết bằng lối thất ngôn, xuất bản lần đầu năm 1942, dài 756 câu
Quyển thứ sáu, những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền là quyển duy
nhất được viết bằng văn xuôi, xuất bản lần đầu vào năm 1945 Nội dung quyển này trình bày những điểm cơ bản của giáo lý Phật giáo Hòa Hảo
Thông qua sáu quyển kể trên chúng ta nhận thấy giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo gồm 2 phần chính: phần Học Phật và phần Tu Nhân
Phần Học Phật: Nêu lại những điểm chủ yếu của giáo lý đạo Phật, nhưng giản lược đi nhiều và có sửa chữa đôi chút, gồm ba pháp môn chính: Ác Pháp, Chân pháp và Thiện pháp Nhìn chung phần Học Phật là những lời khuyên làm lành, lánh giữ, biết niệm Phật, giữ thân mình trong sạch, ý thanh tịnh
Phần Tu Nhân Đây là sự kế thừa Tứ Ân của Bửu Sơn Kỳ Hương, để giải
thích nội dung của “Ân tổ tiên cha mẹ”, “Ân đất nước”, “Ân tam bảo”, “Ân đồng bào nhân loại”
“Ân tổ tiên cha mẹ” là ân nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất trong Tứ ân
mà mỗi một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo phải thực hiện Bởi vì mỗi con người được sinh ra và nuôi dưỡng trưởng thành là nhờ công lao cha mẹ Cho nên làm con không phải chỉ đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục, phải tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ mà cũng có bổn phận biết ơn tổ tiên nữa
“Ân đất nước” là nghĩa vụ đối với nơi sinh ra và nuôi dưỡng mình lớn lên,
thể hiện ở việc mọi người phải có bổn phận với đất nước, làm cho đất nước giàu mạnh Trong tác phẩm Sấm giảng thi văn giáo lý, Huỳnh Phú Sổ nói: